1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay

372 438 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 372
Dung lượng 7,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nâng cao nhận thức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai trò của thanh niên và công tác thanh niên - đặc biệt là thanh niên các dân tộc thiểu số; tích cực tham mưu với c

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

- -

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ NĂM 2008 - 2009

BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đề tài:

GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ĐOÀN KẾT, TẬP HỢP THANH NIÊN CÁC DÂN TỘC Ở

TÂY NGUYÊN HIỆN NAY

Chủ nhiệm đề tài : TS Lê Văn Đính Thư ký đề tài : ThS Trần Văn Thạch

Cơ quan chủ trì : Học viện CT - HC khu vực III

7490

21/8/2009

Đà Nẵng, tháng 06 năm 2009

Trang 2

TẬP THỂ TÁC GIẢ

1 TS Lê Văn Đính (Chủ nhiệm đề tài) Học viện CT – HC khu vực III

2 ThS Trần Văn Thạch (Thư ký đề tài) Học viện CT – HC khu vực III

3 PGS, TS Nguyễn Hồng Sơn Học viện CT – HC khu vực III

4 PGS, TS Phạm Hảo Học viện CT – HC khu vực III

5 PGS, TS Trương Minh Dục Học viện CT – HC khu vực III

6 PGS, TS Hồ Tấn Sáng Học viện CT – HC khu vực III

7 TS Trần Tăng Khởi Học viện CT – HC khu vực III

8 TS Vũ Anh Tuấn Học viện CT – HC khu vực III

9 TS Nguyễn Thị Tâm Học viện CT – HC khu vực III

11 TS Chu Xuân Việt Ủy Ban Thanh niên Việt Nam

12 ThS Nguyễn Thị Lệ Thủy Học viện CT – HC khu vực III

13 ThS Mai Thị Hồng Liên Học viện CT – HC khu vực III

14 CN Nguyễn Duy Trình Học viện CT – HC khu vực III

15 CN Nguyễn Văn Quang Học viện CT – HC khu vực III

Trang 3

CÁC TỪ VÀ CÁC VĂN BẢN VIẾT TẮT

CCB Cựu chiến binh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Chương 1: Đoàn kết, tập hợp thanh niên - một yêu cầu khách quan trong

chiến lược đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng 08

1.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong công

tác đoàn kết, tập hợp thanh niên và sự vận dụng của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ

1.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác đoàn kết, tập

1.2.2 Chiến lược của Đảng và Nhà nước ta về thanh niên và công tác đoàn kết, tập

1.2.3 Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp thanh niên Việt

Chương 2: Thực trạng công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân

tộc ở Tây Nguyên 30

2.1 Khái quát những đặc điểm về vị trí, điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị,

2.1.2 Một số nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội có ảnh hưởng đến công tác đoàn

2 2 Thực trạng công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên ở Tây Nguyên thời gian qua 49

2.2.2 Thực trạng công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên ở Tây Nguyên trong thời gian qua

(thành tựu, nguyên nhân, hạn chế) 59

Chương 3: Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác đoàn kết,

tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay 157

Trang 5

3.1.2 Phương hướng cụ thể trong công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên ở Tây Nguyên 158

3.2 Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác đoàn kết, tập hợp

3.2.1 Tăng cường công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, giáo dục pháp luật,

3.2.2 Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các cấp bộ Đoàn - Hội;

đẩy mạnh phong trào hành động cách mạng trong thanh niên các dân tộc 172

3.2.3 Nâng cao trình độ học vấn, dạy nghề và giải quyết việc làm cho thanh

niên các dân tộc nói chung và thanh niên dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên nói

riêng 185 3.2.4 Nâng cao nhận thức trong hệ thống chính trị và toàn xã hội về vị trí, vai

trò của thanh niên và công tác thanh niên - đặc biệt là thanh niên các dân tộc

thiểu số; tích cực tham mưu với cấp uỷ Đảng và phối hợp với Chính quyền,

đoàn thể chính trị - xã hội trong công tác đoàn kết, tập hợp rộng rãi thanh niên;

tiếp tục đổi mới công tác chỉ đạo của Đoàn 201

3.2.5 Các đề án cần tập trung triển khai nhằm tăng cường đoàn kết, tập hợp

thanh niên khu vực Tây Nguyên trong thời gian đến 206

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Tính tất yếu khách quan trong công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên ở nước ta hiện nay

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên"1 Trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng ta cũng đã xác định: "Các

vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc, công tác dân tộc và tôn giáo đều là những vấn đề

chính trị lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta" và là

vấn đề "có tính đặc thù quan trọng"2 Trong chiến lược đó, Đảng ta luôn coi công tác vận động TN là đòi hỏi khách quan của nhiệm vụ cách mạng, coi việc xây dựng tổ chức Đoàn và Đội TNTP Hồ Chí Minh vững mạnh thành hạt nhân đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp TN luôn là nhiệm vụ cách mạng có tính chiến lược3 Hiện nay, trước những biến động phức tạp của tình hình trong nước và thế giới; diễn biến tư tưởng, tâm lý của TN đang có nhiều vấn đề đặt ra cần phải suy nghĩ Do vậy, công tác đoàn kết, tập hợp TN càng cần phải được coi trọng và được đổi mới: "Đoàn kết tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên trong các tổ chức của Hội liên hiệp thanh

qua: “Bản thân tổ chức Đoàn cũng chưa có những biện pháp kịp thời, hiệu quả để khắc phục những lệch lạc Trong khi đó, các thế lực thù địch không ngừng chống phá, có nhiều thủ đoạn tinh vi nhằm lôi kéo thanh niên, lợi dụng các chiêu bài dân chủ, nhân quyền, vấn đề dân tộc, tôn giáo để chia rẽ thanh niên, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân Kẻ thù muốn tha hoá thanh niên về chính trị, làm băng hoại về thể lực, trí tuệ hòng dẫn tới sự chuyển hoá chế độ Vì vậy, đoàn kết, tập hợp, giáo dục, rèn luyện thanh niên, tổ chức đưa đoàn viên tham gia các phong trào cách mạng là nhiệm

vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước, của Đoàn và của toàn xã hội, có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh và tương lai của dân tộc”5 Do vậy, đoàn kết, tập hợp TN nói chung và TN các dân tộc ở Tây Nguyên là một bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Đóng vai trò nòng cốt trong công tác này hơn ai hết là vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội LHTN Việt Nam

1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG, Hà Nội, 1995, tr.185 - 186

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003, tr.5 -7

3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VII, Nxb Sự Thật,

Hà Nội, 1993

4 Ban Dân vận Trung ương: Đảng Cộng sản Việt Nam với công tác vận động TN trong thời kỳ đẩy mạnh công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr.54

5 Nông Đức Mạnh: Tuổi trẻ Việt Nam phấn đấu xứng đáng thế hệ anh hùng của dân tộc anh hùng, Báo Nhân dân,

ngày 9/12/2003, tr.7

Trang 7

1.2 Tính tất yếu khách quan trong công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay

Tây Nguyên - khu vực được xác định là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng

về KT - XH, chính trị, quân sự của cả nước - gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Lâm Đồng, Đăk Nông; có diện tích 54.474km2 (bằng 16,8% diện tích cả nước); dân số hơn 4,8 triệu người (chiếm hơn 5,3% dân số cả nước); có 47 thành phần dân tộc anh em (trong đó đồng bào DTTS tại chỗ có 1,5 triệu người) TN khu vực Tây

Nguyên có 1.275.301 người (chiếm trên 26% dân số) – trong đó TN DTTS là

433.602 người (chiếm 34% tổng số TN) Trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay có 4 tôn

giáo chính với khoảng 1,4 triệu tín đồ - trong đó tín đồ là người DTTS khoảng 0,5 triệu, chủ yếu theo đạo Công giáo và Tin Lành

Trên cơ sở đánh giá đúng vị trị chiến lược đặc biệt quan trọng của Tây Nguyên, từ sau ngày đất nước thống nhất đến nay, Đảng và Nhà nước ta đã tập trung nhiều công sức

và trí tuệ, phương tiện vật chất và có nhiều chính sách phát triển KT - XH, quốc phòng an ninh ở đây1 Điều này bước đầu đã làm thay đổi bộ mặt của Tây Nguyên trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giáo dục, y tế và đời sống của đồng bào các dân

tộc Đánh giá một cách khách quan thì tình hình KT - XH, quốc phòng, an ninh đang từng bước đi vào ổn định; đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên nói chung và TN các dân tộc nói riêng từng bước được cải thiện

Tuy nhiên, trên bình diện chung mà xét thì quá trình thực hiện các chính sách (kinh tế, văn hoá, dân tộc, tôn giáo, xã hội, tư tưởng ) của Đảng, Nhà nước ở các tỉnh Tây Nguyên vẫn bộc lộ nhiều khuyết điểm, tồn tại cần khắc phục Những khuyết điểm, tồn tại đó được bộc lộ một cách rõ nét ở các phương diện: Kinh tế (vấn đề đời sống, đất đai, công ăn việc làm, thu nhập ); chính trị - xã hội (vấn đề hệ thống chính trị cơ

sở, vấn đề cán bộ, dân tộc, tôn giáo, quản lý trật tự ở nông thôn, ý thức pháp luật, tư tưởng, phân hoá giàu nghèo ); văn hoá - xã hội (vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống các dân tộc, giáo dục, y tế, nguồn nhân lực ); quốc phòng - an ninh (vấn đề diễn biến hoà bình, biên giới, thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân

dân ) và đặc biệt là trong lĩnh vực đoàn kết, tập hợp TN các dân tộc trên địa bàn Cuộc

bạo loạn chính trị diễn ra vào đầu tháng 2/2001, tháng 4/2004… là hệ quả của những nguyên nhân đã đề cập trên và nó cũng đã lôi kéo không ít TN dân tộc tham gia Trên lĩnh

vực KT - XH, an ninh quốc phòng mà xét thì có thể thấy rằng đời sống đồng bào và TN

vùng DTTS còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức cao; còn một bộ phận không nhỏ TN không đi học, mù chữ, chưa có điều kiện tiếp cận với khoa học kỹ thuật; các nhu cầu bức xúc của TN như thu nhập, việc làm, vui chơi và giải trí chưa thực sự được đầu tư

1 Nghị quyết số 10/NQ/TƯ ngày 18/01/2002 của Bộ Chính trị “Về phát triển KT - XH và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001 - 2010”; Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg ngày 30/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ “Về việc định hướng dài hạn, kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 phát triển KT - XH vùng Tây Nguyên”; Thông báo kết luận số 148 - TB/TƯ ngày 16/7/2004 của Bộ Chính trị “Về tình hình, nhiệm vụ và giải pháp để tiếp tục phát triển vùng Tây Nguyên toàn diện, bền vững”…

Trang 8

và thiếu các giải pháp đồng bộ - tình trạng thiếu việc làm, thu nhập thấp và không ổn định trong TN dân tộc khá phổ biến; các giải pháp trợ giúp TN dân tộc phát triển kinh tế ở một

số nơi còn chưa được quan tâm đúng mức và hiệu quả chưa cao; tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội trong TN còn diễn biến phức tạp – vẫn còn một bộ phận TN bị các thế lực thù

địch kích động, lôi kéo vào các cuộc bạo loạn chính trị Trên bình diện tư tưởng - văn hoá

mà xét thì công tác nắm bắt tình hình tư tưởng trong TN vẫn còn hạn chế; hình thức giáo dục chưa hấp dẫn, chưa phù hợp với trình độ nhận thức, tư duy, phong tục tập quán của

TN DTTS; công tác giáo dục về chính sách dân tộc, tôn giáo và tuyên truyền nâng cao ý thức phòng chống “Diễn biến hoà bình” chưa đáp ứng được yêu cầu “hiệu quả của công tác giáo dục chính trị chưa cao, chưa sâu và chưa thực sự sắc bén nhất là công tác tuyên truyền giáo dục bộ phận TN bị các thế lực mua chuộc, dụ dỗ, lôi kéo Công tác nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm trạng và nguyện vọng của ĐVTN chưa sát và chưa kịp thời Bên cạnh đó việc định hướng lý tưởng lối sống của một bộ phận TN còn nhiều lệch lạc, thiếu ý thức rèn luyện, ngại tham gia các hoạt động chính trị - xã hội, non kém về nhận thức chính trị đã bị các thế lực thù địch lợi dụng, lôi kéo chống phá khối đại đoàn kết toàn dân, đi

ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc” Trên bình diện vai trò của tổ chức Đoàn - Hội trong công tác đoàn kết, tập hợp TN mà xét thì hình thức và phương thức đoàn kết, tập hợp TN

nhiều nơi còn lúng túng và thiếu tính đa dạng, linh hoạt trong nội dung và phương thức sinh hoạt; do vậy, chưa khai thác tốt tiềm năng, sức trẻ và tinh thần xung kích, tình nguyện của TN; phong trào TN tình nguyện một số địa phương chưa mang lại hiệu quả thiết thực; chế độ sinh hoạt chi đoàn – đặc biệt ở cơ sở - không được duy trì thường xuyên

“Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp thanh niên chậm đổi mới về hình thức, phương pháp tiếp cận thanh niên; trình độ, năng lực, kỹ năng của cán bộ đoàn - Hội chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; hình thức tập hợp còn nghèo nàn; một số cơ sở Đoàn - Hội còn nặng tư tưởng bao cấp, phong cách làm việc hành chính chậm khắc phục, chưa nắm chắc được thanh

niên” Trên phương diện công tác tổ chức mà xét thì nhìn chung công tác cán bộ của tổ

chức Đoàn - Hội nhiều nơi còn lúng túng, thụ động; không ít địa phương cán bộ đoàn - Hội vừa thiếu và vừa yếu về chuyên môn, nghiệp vụ; công tác chỉ đạo và kiểm tra đôn đốc

các phong trào còn thiếu sâu sát và chưa kịp thời Trên phương diện công tác lãnh đạo điều hành của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền đối với công tác TN khu vực Tây Nguyên

thì vẫn còn một số cấp uỷ Đảng, Chính quyền và một số ngành chưa thấy hết trách nhiệm đối với công tác TN và chưa quan tâm đầu tư, chưa có cơ chế chính sách cụ thể tạo điều kiện cho tổ chức Đoàn - Hội làm tốt công tác vận động TN…; trong lúc đó “các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách lôi kéo, kích động TN tham gia vào các hoạt động chống phá

an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội nhằm thực hiện âm mưu cơ bản và lâu dài của chúng”1 Hệ quả của những hạn chế đó được thể hiện ở chỗ hiện nay “một bộ phận thanh niên dân tộc thiểu số còn sống thụ động, một số thờ ơ với thời cuộc, đứng ngoài các hoạt

1 Nguyễn Mộng Hoàng (Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy Gia Lai): Đoàn kết, tạp hợp TN là

trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, Đăk Lăk 9,10/01/2007

Trang 9

động do đoàn thể tổ chức Ở một số vùng, bọn phản động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, truyền đạo trái phép, lôi kéo thanh niên, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc”; “một số

kẻ xấu lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng mà đối tượng chủ yếu chúng nhằm vào

là thanh niên”1 Điều đó cho thấy việc “Đoàn kết, tập hợp đông đảo mọi tầng lớp thanh niên vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh vì lợi ích thiết thực chính đáng của mọi tầng lớp thanh niên, xây dựng tổ chức Đoàn - Hội thực sự vững mạnh làm hạt nhân nòng cốt cho các phong trào ở cơ sở, góp phần đấu tranh, ngăn chặn

âm mưu lôi kéo thanh thiếu niên của các thế lực thù địch là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng”2

1.3 Tóm lại, trong sự đan xen của các ưu điểm và các mặt hạn chế trong vấn đề

đoàn kết, tập hợp TN các dân tộc ở Tây Nguyên của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể - trong đó trọng tâm là các cấp bộ Đoàn - Hội; thiết nghĩ cần có một cách nhìn toàn diện, khoa học và công bằng để từ đó nhằm đưa ra những chính sách, giải pháp hữu hiệu để nâng cao chất lượng công tác vận động TN Điều này cũng thực sự

có tính cấp bách; có ý nghĩa trên cả bình diện lý luận và thực tiễn; góp phần vào việc cung cấp luận cứ khoa học trong việc hoạch định và thực hiện những quyết sách chính trị của Đảng, Nhà nước về công tác TN ở địa bàn “đặc thù” như Tây Nguyên Xuất

phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Giải pháp tăng cường đoàn kết,

tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay” đăng ký làm đề tài cấp Bộ

năm 2008

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Trong những năm qua đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các vấn

đề kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá ở Tây Nguyên

- Có thể điểm qua tình hình nghiên cứu chủ yếu như sau: Đề tài nghiên cứu khoa

học cấp Bộ 1997 - 1998: “Một số chính sách kinh tế - xã hội đối với các dân tộc ít người ở Tây Nguyên”, do PGS, TS Nguyễn Văn Chỉnh làm chủ nhiệm Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở 2003: “Điểm nóng chính trị - xã hội và một số kinh nghiệm rút ra từ việc xử

lý điểm nóng chính trị - xã hội ở các tỉnh Tây Nguyên”, của Khoa Chính trị học, Phân

viện Đà Nẵng, Học viện CTQG Hồ Chí Minh Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ

2006: “Một số giải pháp nhằm góp phần bảo đảm ổn định chính trị trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên hiện nay” do PGS, TS Phạm Hảo làm chủ nhiệm Trong thời gian

qua, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học có giá trị liên quan đến vấn đề

Tây Nguyên được xuất bản thành sách như: Sách “Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện người các dân tộc ở Tây Nguyên” do GS, TS Lê Hữu Nghĩa chủ biên, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001 Sách “Một số vấn đề về xây dựng hệ thống chính trị ở Tây Nguyên”, do PGS, TS Phạm Hảo - TS Trương Minh Dục đồng

1 Nguyễn Huy Lộc (chủ biên): Tổng quan tình hình TN, công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi nửa nhiệm

kỳ Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VIII (2002 – 2005), Nxb Thanh niên, 2006, tr.101 - 106

2 Nguyễn Mộng Hoàng: Sđd

Trang 10

chủ biên, Nxb CTQG, Hà Nội, 2003 Sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên” của PGS TS Trương Minh Dục Nxb CTQG,

Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên; Sách “Công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên vùng tôn giáo, dân tộc” của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2003; Sách “Công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên vùng có đông tín đồ tôn giáo” của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1998…

- Các đề tài nghiên cứu, luận án gồm có: Đề tài khoa học cấp Bộ “Công tác đoàn kết, tập hợp thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo” của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

Hà Nội, 1995; Luận án Tiến sĩ Chính trị học “Gia đình Phật tử và công tác đoàn kết, tập hợp thanh thiếu niên tín đồ Phật giáo ở nước ta hiện nay” của tác giả Lê Văn

Đính, Hà Nội, 10/2004

2.3 Những công trình nghiên cứu đó đã tiếp cận, phân tích và luận giải các

vấn đề nổi cộm ở Tây Nguyên ở các giác độ: về KT - XH (vấn đề đất đai, phân hoá giàu nghèo); về chính trị - xã hội (vấn đề hệ thống chính trị cơ sở, cán bộ, dân tộc, tôn giáo, tư tưởng, ý thức pháp luật…); về văn hoá - xã hội (vấn đề dân trí, học vấn, bảo tồn các giá trị văn hoá…); về an ninh - quốc phòng (vấn đề diễn biến hoà bình, biên

giới, bạo loạn ) và cũng đã nêu lên được cơ sở lý luận của chiến lược phát triển TN, vai trò của TN trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước; thực trạng của công tác đoàn kết, tập

hợp TN tín đồ các tôn giáo,…

Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về các giải pháp đoàn kết, tập hợp TN các dân tộc ở Tây Nguyên Tình hình nói trên đã

cho thấy tính cấp thiết trong công tác đoàn kết, tập hợp TN nói chung và TN các dân

tộc ở Tây Nguyên nói riêng Điều đó cho thấy việc lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Giải

pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay”

Trang 11

thực hiện tốt công tác vận động TN trong khối đại đoàn kết toàn dân hiện nay ở địa bàn Tây Nguyên

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:

- Làm rõ cơ sở lý luận và các khái niệm cơ bản của đề tài như công tác đoàn kết, tập hợp TN và vai trò Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội LHTN Việt Nam trong công tác đoàn kết, tập hợp TN

- Phân tích và đánh giá thực trạng của công tác đoàn kết, tập hợp TN các dân tộc

ở Tây Nguyên của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể - trong đó trọng tâm là các cấp bộ Đoàn - Hội - trong thời gian qua

- Dự báo xu hướng và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần thực hiện tốt công tác đoàn kết, tập hợp TN các dân tộc trong khối đại đoàn kết toàn dân ở địa bàn Tây Nguyên hiện nay

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công tác đoàn kết, tập hợp TN các dân tộc ở Tây Nguyên của các cấp ủy đảng, chính

quyền, đoàn thể – trong đó trọng tâm là các cấp bộ Đoàn - Hội

4.2 Khách thể nghiên cứu

TN các dân tộc và các cán bộ Đoàn - Hội của các tỉnh, thành ở Tây Nguyên

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng

- Thời gian nghiên cứu: 18 tháng (1/2008 - 6/2009)

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài

5.1 Cơ sở phương pháp luận

- Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Dựa trên các quan điểm, chủ trương chính sách về chiến lược đại đoàn kết toàn dân, về TN và công tác TN của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà nước và Chiến lược TN của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội LHTN Việt Nam

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Thống kê, phân tích tài liệu: Là những tài liệu thu thập được từ các báo cáo

tổng kết; các thống kê, các tài liệu nghiên cứu khác liên quan đến đề tài nghiên cứu

- Điều tra xã hội học: Điều tra chọn mẫu bằng bảng hỏi (ankét) với số lượng

1000 phiếu Trong đó, 600 phiếu dành cho TN các dân tộc 4 tỉnh (mỗi tỉnh 150 phiếu)

và 400 phiếu dành cho cán bộ đoàn - Hội 4 tỉnh (mỗi tỉnh 100 phiếu)1

1 Mẫu phiếu điều tra xã hội học ở Phụ lục Đề tài

Trang 12

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Góp phần nhận thức đúng về tình hình TN và thực trạng công tác đoàn kết, tập hợp TN các dân tộc ở Tây Nguyên của các các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể

- trong đó trọng tâm là các cấp bộ Đoàn - Hội hiện nay Đây cũng là cơ sở của việc cụ thể hoá chiến lược TN trong thời kỳ mới theo tinh thần Nghị quyết lần thứ tư BCH

Trung ương Đảng (khoá VII) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (Khóa X) về

“Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đoàn kết, tập hợp TN các dân tộc trên địa bàn Tây Nguyên không đơn thuần chỉ nhằm để giữ vững ổn định chính trị - xã hội; mà điều quan trọng và có ý nghĩa chiến lược hơn là nhằm phát huy mọi nguồn lực vật chất và tinh thần của thế hệ trẻ ở Tây Nguyên trong

sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

- Kết quả đề tài có thể dùng làm tài liệu để Đảng, Nhà nước, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Uỷ ban Quốc gia về TN nói chung và các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, các cấp bộ Đoàn - Hội ở địa phương nói riêng tham khảo, nghiên cứu trong việc hoạch định và thực hiện có hiệu quả chính sách TN và công tác vận động TN tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng (nhất là đối với địa

bàn có tính đặc thù như Tây Nguyên)

7 Kết cấu nội dung

Đề tài gồm có phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài được thể hiện trong 3 chương, 6 tiết, trình

bày trên 223 trang trên khổ giấy A4

Sau đây là toàn bộ nội dung đề tài:

Trang 13

1.1.1 Khái niệm thanh niên và công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên

1.1.1.1 Khái niệm thanh niên và tổ chức thanh niên

Theo Từ điển tiếng Việt: “Thanh niên là người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành” 1 Khái niệm này bao hàm: TN là những người có độ tuổi còn trẻ và độ tuổi đó

đang trưởng thành Khái niệm TN hoàn toàn được hiểu theo lứa tuổi2 Một quan niệm khác cho rằng: “Thanh niên là một nhóm nhân khẩu – xã hội đặc thù bao gồm những người trong một độ tuổi nhất định, có quan hệ gắn bó mật thiết với mọi giai cấp, tầng lớp xã hội, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, có vai trò lớn trong hiện tại và giữ vai trò quyết định sự phát triển trong tương lai của xã hội”3 Mục 2 (điều kiện xét kết nạp đoàn viên), Điều 1, Chương I (Đoàn viên) của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh cho rằng: “Thanh niên Việt Nam tuổi từ 16 đến 30, tích cực học tập, lao động và bảo vệ Tổ quốc, được tìm hiểu về Đoàn và tán thành Điều lệ Đoàn, tự nguyện hoạt động trong một tổ chức cơ sở của Đoàn, có lý lịch rõ ràng đều được xét kết nạp vào Đoàn” Chương II, Điều 5 (Hội viên) trong Điều lệ Hội LHTN Việt Nam được Đại hội Đại

1 Viện ngôn ngữ học Từ điển Tiếng Việt Nxb Đà Nẵng 1995, 881

2 Trần Văn Miễu Phong trào TN với việc đào tạo nguồn nhân lực trẻ Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2001, tr.32

3 Vũ Trọng Kim Quản lý nhà nước về công tác TN trong tình hình mới Nxb CTQG, Hà Nội, 1999, tr.14

Trang 14

biểu toàn quốc Hội LHTN Việt Nam lần thứ V thông qua ngày 25 tháng 02 năm 2005 lại ghi rằng: Công dân Việt Nam từ 15 đến 35 tuổi tán thành Điều lệ Hội, tự nguyện gia nhập Hội thì được xét công nhận là hội viên Hội LHTN Việt Nam

+ Ở nước ta hiện nay, độ tuổi TN quy định trong Luật Thanh niên là từ đủ 16 đến 30 tuổi1 Có thể nói tuỳ thuộc vào trình độ phát triển KT - XH, đặc điểm của từng thời đại lịch sử, các yếu tố truyền thống của từng quốc gia dân tộc… mà độ tuổi của

TN có sự quy định khác nhau: Hiện nay hầu như các nước trên thế giới điều quy định tuổi TN bắt đầu từ 15 tuổi, nhưng tuổi kết thúc thì có sự khác nhau (như các nước phương Tây quy định là 25 tuổi; Philippine, Hàn Quốc quy định là 30 tuổi; Ấn độ, Maldives là 35 tuổi; Malaysia là 40 tuổi…)2

Trong công tác TN và việc nghiên cứu chính sách phát triển TN, khái niệm TN được xem xét tổng hợp từ những đặc điểm chung về mặt sinh học và đặc điểm về mặt

xã hội3 Đặc điểm về sinh học của TN là giai đoạn kết thúc tuổi thiếu niên, có sự tăng trưởng nhanh về cơ thể, cường tráng về thể lực, trưởng thành về sinh học, tính dục Đặc điểm về tâm lý lứa tuổi của TN là sự tự ý thức, tự khẳng định, thích sáng tạo, phát triển khả năng phân tích và suy luận Đặc điểm về mặt xã hội của TN là quá trình xã hội hoá cá nhân, định hình nhân cách, xác lập vai trò cá nhân qua các hoạt động độc lập với tư cách công dân Đặc điểm về cơ cấu xã hội của TN là TN có mặt trong tất cả các giai cấp, các tầng lớp xã hội Nếu hình dung cơ cấu xã hội chia thành các giai cấp, tầng lớp là chia theo chiều dọc thì TN là lớp cắt ngang chứa đựng tất cả những người

ở một độ tuổi nhất định của các giai cấp, tầng lớp xã hội đó Nói đến khái niệm TN cần xem xét một cách tổng hợp nhiều mặt, tính đến những quy luật bên trong của sự trưởng thành về thể chất và tinh thần của TN cũng như các đặc điểm lịch sử, các điều kiện KT - XH Như vậy, có thể hiểu TN là thời kỳ quan trọng nhất trong quá trình phát triển con người, kết thúc giai đoạn thiếu niên để đạt đỉnh cao của tuổi trưởng thành với trách nhiệm xã hội của công dân Nghị quyết số 25-NQ/TƯ ngày 25/7/2008 của BCH Trung ương (Khoá X) cũng đã nêu rõ: Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khoẻ và sáng tạo Thanh niên là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình4

+ Từ những vấn đề trên đây, có thể rút ra các đặc điểm sau:

- TN là một bộ phận đông đảo trong dân cư

- TN là một nhóm nhân khẩu xã hội đặc thù: So với lứa tuổi thiếu niên, ở TN có

sự biến đổi nhanh về tâm lý – khả năng phân tích, suy luận, có khả năng sáng tạo, nhạy

1 Điều 1 Luật TN Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ

8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005

2 TS Chu Xuân Việt: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chiến lược phát triển TN, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2003, tr.13

3 TS Chu Xuân Việt: Sđd tr.12

4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (Khóa X), Nxb CTQG, Hà Nội, 2008, tr.7

Trang 15

bén, có nhu cầu tự khẳng định mình, có xu hướng đổi mới, cách mạng… cùng với sự

phát triển của văn minh xã hội, nhìn chung trình độ học vấn, năng lực trí tuệ và thể

chất của thanh niên ngày càng được nâng cao hơn; là lớp người quyết định tương lai

của mỗi quốc gia, dân tộc…1

- TN Việt Nam có mặt trong tất cả các giai cấp và các tầng lớp xã hội: TN nông

dân, công nhân, viên chức, trí thức, học sinh - sinh viên, TN các lực lượng vũ trang

và giữ vai trò quan trọng trong các lĩnh vực KT - XH của đất nước

- TN Việt Nam có mặt trong các dân tộc: Kinh, Thái, Mường, H Mông, Ê Đê

- TN có mặt và giữ vai trò quan trọng trong các lĩnh vực KT - XH của đất nước;

có mặt ở tất cả vùng miền đô thị, đồng bằng, miền núi, ven biển, hải đảo

- TN là đối tượng được nhiều bộ môn khoa học quan tâm nghiên cứu trong đó

đáng chú ý là Sinh lý học, Tâm lý học, Xã hội học ở mỗi thời kỳ trong đời sống của

con người, sự phát triển về thể chất, tâm lý và cả nhân cách có quy luật riêng2

Như vậy, có thể hiểu TN là một nhóm xã hội nhân khẩu đặc thù bao gồm những

người trong độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý,

trí tuệ, thuộc mọi giai cấp, tầng lớp xã hội; có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động xã

hội; có vai trò to lớn trong xã hội hiện tại và giữ vai trò quyết định đối với sự phát

triển trong tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc 3

1.1.1.1.2 Tổ chức thanh niên

Tổ chức TN là tổ chức tự nguyện của TN nhằm đoàn kết, tập hợp TN, bảo vệ

quyền và lợi ích hợp pháp của TN; phát huy vai trò của TN trong xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Việt Nam XHCN

Tổ chức TN bao gồm Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội LHTN Việt Nam, Hội

sinh viên Việt Nam và các tổ chức khác của TN được tổ chức và hoạt động theo Điều

lệ của tổ chức và trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật: Đoàn TNCS Hồ Chí

Minh là tổ chức chính trị - xã hội của TN Việt Nam, giữ vai trò nòng cốt trong phong

trào TN; tổ chức, hướng dẫn hoạt động của thiếu niên, nhi đồng, phụ trách Đội TNTP

Hồ Chí Minh Hội LHTN Việt Nam là tổ chức xã hội rộng rãi của TN và các tổ chức

TN, nhằm đoàn kết tập hợp mọi tầng lớp thanh niên Việt Nam phấn đấu vì sự nghiệp

xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của

thanh niên4

1.1.1.2 Công tác thanh niên và đoàn kết, tập hợp thanh niên

1.1.1.2.1 Công tác thanh niên

1 TS Chu Xuân Việt: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chiến lược phát triển TN, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2003, tr.16 - 17

2 Trần Văn Miễu: Phong trào TN với việc đào tạo nguồn nhân lực trẻ, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2001, tr.33-34

3 Vũ Trọng Kim: Quản lý nhà nước về công tác TN trong tình hình mới, Nxb CTQG, Hà Nội, 1999, tr.14

TS Chu Xuân Việt: Sđd tr.18

4 Điều 32, 33, 34 Luật TN Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ

họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005

Trang 16

Với vai trò và vị trí quan trọng của TN đối với sự phát triển trong tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc; nên bất kỳ một chính đảng, nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội,

tổ chức tôn giáo,… nào đều cũng quan tâm tác động một cách có ý thức tới TN tuỳ theo mục đích của mình Để hiểu rõ hơn bản chất của công tác đoàn kết, tập hợp TN của đề tài, cần thiết xem xét khái niệm công tác TN và quan điểm của Đảng, Nhà nước

ta về vấn đề này: Điều 4, Chương I, Luật Thanh niên chỉ rõ trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội đối với TN là: “Thanh niên là tương lai của đất nước, là lực lượng

xã hội hùng hậu, có tiềm năng to lớn, xung kích trong công cuộc xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc Đào tạo, bồi dưỡng và phát huy thanh niên là trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội Nhà nước có chính sách tạo điều kiện cho thanh niên học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, bồi dưỡng về đạo đức, truyền thống dân tộc, ý thức công dân, ý chí vươn lên phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có trách nhiệm góp phần tích cực vào việc chăm lo, đào tạo, bồi dưỡng và phát huy vai trò của thanh niên” Điều 5,

Chương I, Luật Thanh niên ghi rõ Nội dung quản lý nhà nước về công tác TN bao

gồm: “Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, chính sách, chương trình phát triển thanh niên và công tác thanh niên; đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác thanh niên; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về thanh niên và công tác thanh niên; quản lý hoạt động hợp tác quốc tế về công tác thanh niên Trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác thanh niên được quy định như sau: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công tác thanh niên; các bộ, cơ quan ngang

bộ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh niên theo sự phân công của Chính phủ; Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh niên ở địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ”1

Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh ghi rõ: “Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam, là lực lượng xung kích cách mạng, là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên, đại diện chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của tuổi trẻ; phụ trách Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh; là lực lượng nòng cốt chính trị trong phong trào thanh niên và trong các tổ chức thanh niên Việt Nam Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là thành viên của

hệ thống chính trị, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đoàn phối hợp với các cơ quan nhà nước, các đoàn thể và tổ chức xã hội, các tập thể lao động và gia đình chăm lo giáo dục, đào tạo và bảo vệ thanh thiếu niên; tổ chức cho đoàn viên, thanh niên tích cực tham gia vào việc

1 Điều 4, 5 Chương I Luật TN Sđd

2 Điều lệ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh được Đại hội Đại biểu Đoàn TNCS Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ IX thông qua ngày14/10/2007

Trang 17

niên Việt Nam là tổ chức xã hội rộng rãi của thanh niên và các tổ chức thanh niên Việt Nam yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh và lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp

Các cơ quan của Liên Hiệp Quốc khi nói đến công tác TN thường nhấn mạnh vấn đề tạo cơ hội cho TN phát triển bình đẳng trong các lĩnh vực giáo dục, lao động - việc làm, chăm sóc y tế - sức khỏe và tạo cơ hội cho TN tham gia vào đời sống xã hội

Có ý kiến cho rằng công tác TN là những hoạt động có chủ đích tác động đến đối tượng TN để giáo dục, rèn luyện TN theo những yêu cầu của xã hội Ý kiến này thường chỉ nhấn mạnh yêu cầu của xã hội mà ít chú trọng đúng mức nhu cầu của chính

TN Trước đây và cả hiện nay chúng ta hay sử dụng cụm từ công tác thanh vận – một bộ phận của công tác dân vận – để chỉ công tác vận động các đối tượng TN tích cực thực hiện thắng lợi các đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước nhằm xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN Tuy nhiên, trong thực tiễn nhiều khi cũng đã xảy ra tình trạng hiểu không đầy đủ công tác thanh vận – chỉ hiểu thiên về góc độ phát huy, sử dụng lực lượng TN; mà ít quan tâm đến góc độ giáo dục, bồi dưỡng, đáp ứng những nhu cầu, lợi ích chính đáng của TN; tạo điều kiện cho sự phát triển của TN Như vậy công tác TN cần được hiểu một cách toàn diện là hoạt động của các chủ thể lãnh đạo quản lý trong việc đáp ứng nhu cầu và lợi ích của TN; chăm lo, đào

tạo, bồi dưỡng và phát huy vai trò của TN… Cụ thể là; công tác thanh niên được hiểu khái quát là toàn bộ những hoạt động của Đảng, Nhà nước và các chủ thể xã hội khác trong đó có Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam nhằm tác động đến mọi đối tượng thanh niên một cách đồng bộ để giáo dục, bồi dưỡng, tổ chức, động viên thanh niên phát huy mọi tiềm năng và thế mạnh, tạo điều kiện cho thanh niên phát triển, cống hiến, trưởng thành vì sự nghiệp xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa2

1.1.1.2.2 Đoàn kết, tập hợp thanh niên

Đoàn kết, tập hợp TN là toàn bộ những hoạt động của Đoàn, Hội nhằm tập trung TN thành một lực lượng để giáo dục, bồi dưỡng và tạo điều kiện cho TN phát triển và trưởng thành; phát huy tiềm năng thế mạnh của lực lượng TN trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí

Minh rất coi trọng công tác đoàn kết, tập hợp TTN Những nội dung cơ bản trong công tác đoàn kết, tập hợp TN hiện nay là: Xây dựng lớp TN giàu lòng yêu nước, biết đặt

lợi ích của bản thân trong lợi ích chung của tập thể, đất nước; có lý tưởng cách mạng

và bản lĩnh chính trị vững vàng; có tri thức, chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng lao

1 Điều lệ Hội LHTN Việt Nam được Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội LHTN Việt Nam lần thứ V thông qua ngày

25 tháng 02 năm 2005

2 TS Chu Xuân Việt: Cơ sở lý luận và thực tiễn của chiến lược phát triển TN, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 2003, tr.20

Trang 18

động giỏi; có văn hoá và sống tình nghĩa; có sức khoẻ thể chất và tinh thần lành mạnh; giàu nhiệt huyết sáng tạo và tinh thần tình nguyện Người TN của thời kỳ mới vừa biết giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa biết làm giàu văn hoá dân tộc bằng những giá trị, những tinh hoa văn hoá nhân loại, là hiện thân tiêu biểu của các giá trị văn hoá Việt Nam

1.1.2 Tính tất yếu khách quan trong công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên

Đoàn kết, tập hợp TN luôn là vấn đề trọng yếu trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc: Đoàn kết, tập hợp TN nhằm động viên khả năng to lớn của toàn bộ thế

hệ trẻ phục vụ sự nghiệp chung, xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh là một vấn đề có tính cấp bách, có tính tất yếu khách quan Khách quan

ở chỗ, đó là một bộ phận trong chiến lược đại đoàn kết toàn dân của Đảng ta Nó không chỉ là vấn đề lực lượng cách mạng, mà còn liên quan đến vấn đề chủ quyền quốc gia, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, phát triển đất nước cường thịnh Thật vậy, nếu không được tổ chức lại, không được giáo dục rèn luyện theo định hướng đúng đắn thì nhiều khi họ rất dễ bị sa ngã trước những cám dỗ tầm thường; rất dễ bị các thế lực thù địch lôi kéo, lợi dụng để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân Nó còn là nhu cầu thiết thân của bản thân mỗi TTN Hiện nay trước những biến động phức tạp của tình hình trong nước và thế giới; diễn biến tư tưởng, tâm lý của TTN đang có nhiều vấn đề đặt ra cần phải suy nghĩ Do vậy, công tác đoàn kết, tập hợp TTN càng cần phải được coi

trọng và được đổi mới Một trong năm phương hướng lớn của “Công tác vận động thanh niên và chính sách thanh niên của Đảng ta” được xác định tại Hội nghị lần thứ 4 BCHTƯ

Đảng (khoá VII) là: “Đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên trong các tổ chức

của Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam, do Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh

làm nòng cốt” Đoàn kết, tập hợp TN nói chung và TN Tây Nguyên nói riêng là vấn đề

có tính tất yếu khách quan Tính khách quan đó được biểu hiện ở những nội dung sau:

- Thứ nhất, đó là một bộ phận trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Đảng ta:

TN được xác định “là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc”; “là lực lượng xung kích trong giai đoạn cách mạng mới”; là lực lượng đáp ứng “yêu cầu mới của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế sâu rộng và mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế”1 Việc tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác TN xuất phát từ vị trí, vai trò của TN

và công tác TN: “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân

tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng CNXH Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người” Do đó “Chăm lo, phát triển,

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (Khóa X), Nxb CTQG, Hà Nội, 2008, tr.7, 8

Trang 19

thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước”1

Một trong những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước là đã xây dựng được thế hệ TN có phẩm chất nổi bật là: “Có đạo đức, nhân cách, tri thức, sức khoẻ, tư duy năng động và hành động sáng tạo; tiếp nối truyền thống hào hùng của Đảng và dân tộc, nêu cao lòng yêu nước, ý thức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; không ngại khó khăn, gian khổ, tình nguyện vì cộng đồng; có trách nhiệm với gia đình,

xã hội; có ý chí vươn lên trong học tập, lao động, lập thân, lập nghiệp, làm giàu chính đáng, quyết tâm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu; mong muốn được tin tưởng, được cống hiến cho đất nước, có việc làm, thu nhập ổn định, đời sống văn hoá tinh thần lành mạnh phong phú, môi trường sống an toàn Dù còn nhiều tâm trạng khác nhau, song đa số thanh niên luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và phát triển của đất nước”2

Tuy nhiên, “Thanh niên là lớp người trẻ tuổi, còn thiếu nhiều kinh nghiệm, nên cần được giúp đỡ, chăm lo của các thế hệ đi trước và toàn xã hội”3 Đặc biệt, thời gian qua vẫn còn “một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm tới tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hoá dân tộc Học vấn của một bộ phận thanh niên nhất là thanh niên nông thôn, thanh niên DTTS còn thấp; nhiều thanh niên thiếu kiến thức và kỹ năng trong hội nhập quốc tế Tính độc lập, chủ động, sáng tạo, năng lực thực hành sau đào tạo của thanh niên còn yếu, chưa đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa Tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong thanh niên đang gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp Tỉ lệ thanh niên nhiễm HIV/AIDS còn cao”4 Nguyên nhân của hạn chế đó là: “Không ít cấp uỷ Đảng, cán bộ, đảng viên về thanh niên và công tác thanh niên chưa đầy đủ, nhiều mặt còn khoán trắng cho Đoàn Quản lý nhà nước về công tác thanh niên còn nhiều bất cập; bộ máy quản lý nhà nước về công tác thanh niên và cơ chế phối hợp liên ngành trong công tác thanh niên chưa rõ ràng Công tác GD - ĐT, dạy nghề, giải quyết việc làm, phòng, chống tệ nạn xã hội, hoạt động văn hoá, thể thao, báo chí, xuất bản có nhiều khuyết điểm, yếu kém nhưng chậm khắc phục đã ảnh hưởng không nhỏ đến các thế hệ thanh niên Công tác giáo dục, ngăn ngừa và đấu tranh với những tác động, lôi kéo thanh niên của các thế lực thù địch, sự truyền bá lối sống nước ngoài không phù hợp với truyền thống văn hoá dân tộc còn nhiều yếu kém, thậm chí bị buông lỏng Việc quản lý, tập hợp thanh niên trong tình hình mới khó khăn hơn Điều kiện, phương tiện hoạt động của Đoàn, Hội, chính sách cho cán bộ đoàn, nhất là cán bộ đoàn cơ sở còn bất cập Năng lực, trình độ của không ít cán bộ đoàn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế; khả năng tập hợp, tổ chức phong trào thanh niên

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr.13

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr.9

3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr.7

4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr.11

Trang 20

trong công tác thanh niên còn hạn chế”1 Điều đó phù hợp với những kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu TN trong những năm gần đây cho thấy: Bên cạnh mặt tích cực là đa số TN ta đã biểu lộ niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng; ủng hộ và tham gia tích cực, có hiệu quả công cuộc đổi mới và thực hiện CNH, HĐH đất nước với tinh thần năng động tự lực, tự cường, tự vươn lên lập thân, lập nghiệp, thì trên thực tế nhiều TN không có việc làm, bế tắc trong cuộc sống đã tìm đến tôn giáo - coi

đó là chỗ dựa và lối thoát - hoặc sa vào các tệ nạn xã hội và bị cám dỗ, bị mua chuộc vào những hành động phạm pháp Đây là một hiện tượng cần được quan tâm nghiên cứu, giải quyết; bởi vì nếu không được tổ chức lại, không được giáo dục rèn luyện theo định hướng đúng đắn thì nhiều khi một bộ phận rất dễ bị sa ngã trước những cám dỗ tầm thường; rất dễ bị các thế lực thù địch lôi kéo, lợi dụng để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân

Do vậy, hơn lúc nào hết việc tăng cường “Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên là vấn đề có tính nguyên tắc” và “mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên là nội dung quan trọng của công tác Đoàn”2 trong giai đoạn hiện nay Nghĩa

là, cần “Tăng cường công tác thanh niên tôn giáo, dân tộc, góp phần xây dựng lực lượng chính trị cơ sở, tạo ra sức mạnh đấu tranh làm thất bại âm mưu và hành động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo, dân tộc để chống phá cách mạng”3,

“Mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên của Đoàn là một bộ phận quan trọng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng Đoàn kết, tập hợp thanh niên dân tộc, tôn giáo

là nhiệm vụ hàng đầu của các cấp bộ Đoàn”4; " đại đoàn kết toàn dân tộc là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tức là của Đảng, Nhà nước, của Mặt trận, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức xã hội khác, trong đó hạt nhân là các tổ chức Đảng "5 Điều này phụ thuộc rất nhiều vào: “Sự đổi mới hoạt động của Đoàn thanh niên cộng sản và Hội liên hiệp thanh niên, hoạt động của các tổ chức xã hội khác, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của thế hệ trẻ và hướng thanh thiếu niên… thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tiến hành thắng lợi quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

- Thứ hai, đó là trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội: Chương III, Luật

Thanh niên đã quy định một cách rõ ràng trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã

hội đối với TN trong các lĩnh vực: Trong học tập và hoạt động khoa học, công nghệ;

trong lao động; trong bảo vệ Tổ quốc; trong hoạt động văn hoá, nghệ thuật, vui chơi,

giải trí; trong bảo vệ sức khoẻ và hoạt động thể dục, thể thao; trong hôn nhân và gia

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr.12

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Sđd, tr.13-15

3 Đoàn TN Cộng sản Hồ Chí Minh: Báo cáo của Ban chấp hành đoàn khóa VII tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần

thư VIII, Hà Nội, 2002, tr.32

4 Đoàn TN Cộng sản Hồ Chí Minh: Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Hà

Nội, 2003, tr.6-14

5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb CTQG,

Hà Nội, 2003, tr.83

Trang 21

đình; trong tham gia quản lý nhà nước và xã hội; chính sách của Nhà nước đối với TN DTTS; chính sách của Nhà nước đối với TN xung phong; chính sách của Nhà nước đối với TN có tài năng; chính sách của Nhà nước đối với TN khuyết tật, tàn tật, TN

niên cũng đã quy định một cách rõ ràng trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội

trong việc bảo vệ và bồi dưỡng TN từ đủ mười sáu tuổi đến dưới mười tám tuổi: Có

chính sách bảo đảm cho TN từ đủ mười sáu tuổi đến dưới mười tám tuổi hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục; tạo điều kiện học nghề, lựa chọn việc làm, vui chơi, giải trí, hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao phù hợp với khả năng và lứa tuổi; miễn, giảm phí tham quan bảo tàng, di tích lịch sử, văn hoá, cách mạng Bảo vệ

TN từ đủ mười sáu tuổi đến dưới mười tám tuổi không bị xâm hại tình dục và không bị lạm dụng sức lao động Bảo đảm việc thực hiện các chính sách về hình sự, hành chính, dân sự đối với TN từ đủ mười sáu tuổi đến dưới mười tám tuổi theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ và tạo điều kiện thuận lợi cho những TN này phát triển lành mạnh2

- Thứ ba, là do nhu cầu thiết thân của bản thân mỗi TN: Trước những thắng lợi

của công cuộc đổi mới, TN càng tin tưởng phấn khởi tích cực tham gia vào việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển KT - XH Phần đông trong số họ đều mong muốn có một cuộc sống đầy đủ hơn, sống trong môi trường ổn định về chính trị, được tham gia các hoạt động tập thể và hoạt động xã hội có tính cộng đồng cao Do đó “Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh cần tiến hành công tác đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên thông qua các Hội thanh niên và các phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ, các loại hình CLB, các trung tâm vui chơi giải trí, trung tâm sáng tạo của tuổi trẻ, các chương trình dự án tập trung xây dựng tổ chức và hoạt động Đội trong nhà trường, hoạt động của Đội trên địa bàn dân cư”3

- Thứ tư, là do âm mưu của các thế lực thù địch dùng mọi thủ đoạn để tranh giành

lớp trẻ, nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc: Những năm gần đây, tình hình dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo ở trong nước và trên thế giới có nhiều diễn biến phức tạp - nghĩa là bên cạnh những sinh hoạt lành mạnh, đúng pháp luật; vẫn còn những phần tử lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng, tôn giáo tuyên truyền quan điểm chống Đảng, Nhà nước; gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo Gần đây, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch có chiều hướng mở rộng và diễn biến phức tạp: “Thông qua chiến lược “diễn biến hoà bình”, kẻ thù bằng nhiều con đường khác nhau từ kinh tế, ngoại giao, chính trị tiếp tục

có sự chống phá cách mạng nước ta, âm mưu chuyển đổi thể chế chính trị, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Điển hình như vụ lôi kéo, kích động ở Tây Nguyên và nhiều vụ lợi dụng nhân quyền, các diễn đàn văn hoá, tôn giáo để chống phá chế độ…” Điều đó đòi hỏi, Đảng và nhân dân ta, nhất là tuổi trẻ “Phải có sự cảnh giác cao độ, kiên quyết

1 Điều 17 – 27, Luật TN, Sđd

2 Điều 28, Luật TN Sđd

3 Đoàn TN Cộng sản Hồ Chí Minh: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Thanh niên, Hà Nội,

1997, tr.20-89

Trang 22

đấu tranh, đập tan âm mưu của các thế lực thù địch” Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh cũng đã cảnh báo và chỉ rõ vai trò, trách nhiệm của các cấp bộ Đoàn trong việc đoàn kết, tập hợp, giáo dục rèn luyện TN: “Bản thân tổ chức Đoàn cũng chưa có những biện pháp kịp thời, hiệu quả để khắc phục những lệch lạc Trong khi đó, các thế lực thù địch không ngừng chống phá, có nhiều thủ đoạn tinh vi nhằm lôi kéo thanh niên, lợi dụng các chiêu bài dân chủ, nhân quyền, vấn đề dân tộc, tôn giáo để chia rẽ thanh niên, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân Kẻ thù muốn tha hoá thanh niên về chính trị, làm băng hoại về thể lực, trí tuệ hòng dẫn tới sự chuyển hoá chế độ Vì vậy, đoàn kết, tập hợp, giáo dục, rèn luyện thanh niên, tổ chức đưa đoàn viên tham gia các phong trào cách mạng là nhiệm vụ quan trọng của Đảng, Nhà nước, của Đoàn và của toàn xã hội,

có ý nghĩa sống còn đối với vận mệnh và tương lai của dân tộc”1

Thời gian qua ở nước ta đã xuất hiện tình trạng: "Ở nơi nào hoạt động của Đoàn thanh niên yếu kém, phong trào quần chúng chưa mạnh, ở nơi đó hoạt động của các tôn giáo trở nên mạnh mẽ và sức thu hút thanh thiếu niên tham gia khá đông đảo, đời sống tâm linh phức tạp hơn nhiều, hiệu quả phong trào cách mạng suy giảm"2 Ở nhiều nơi, nhiều lúc một bộ phận học sinh, sinh viên đã có tình trạng "nhạt Đảng, khô Đoàn, chán chính trị"3; trong lúc đó các hội đoàn tôn giáo (trong đó có Phật giáo) đang tăng cường xâm nhập vào lực lượng học sinh, sinh viên bằng nhiều phương thức khác nhau (Ở thành phố Hồ Chí Minh qua thống kê 16 trường cao đẳng, đại học thì có 27.048 sinh viên theo các tôn giáo - trong đó có 11.719 sinh viên là TN tín đồ Phật giáo)

“Công tác giáo dục, ngăn ngừa và đấu tranh với những tác động, lôi kéo thanh niên của các thế lực thù địch, sự truyền bá lối sống nước ngoài không phù hợp với truyền thống văn hoá dân tộc còn nhiều yếu kém, thậm chí bị buông lỏng”4

Tóm lại, nghiên cứu và đề xuất các giải pháp để đoàn kết, tập hợp TN là nhằm

mục đích nâng cao nhận thức tư tưởng, xây dựng niềm tin và thế giới quan khoa học, phát huy tính tích cực chính trị - xã hội trong TN; nhằm phát huy vai trò to lớn của lực lượng trẻ trong việc thực hiện “đồng hành dân tộc” trong công cuộc phát triển KT - XH; tránh cho tuổi trẻ thoát khỏi những cám dỗ mù quáng, lầm lạc trên cơ sở: “Phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước, ý chí tự lực tự cường và lòng tự hào dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng; tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc”5 Điều này không đơn thuần chỉ nhằm để giữ vững ổn định chính trị - xã hội; mà điều quan trọng và có ý nghĩa chiến lược hơn là nhằm phát huy mọi nguồn lực vật chất và tinh thần của thế hệ trẻ

1 Nông Đức Mạnh: "Tuổi trẻ Việt Nam phấn đấu xứng đáng thế hệ anh hùng của dân tộc anh hùng", Báo Nhân

dân, ngày 9/12/2003, tr.7

2 Nguyễn Tài Thư: (chủ biên), Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay,

Nxb CTQG, Hà Nội, 1997, tr.207

3 Nguyễn Tài Thư: (chủ biên), Sđd, tr.29

4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (Khóa X), Nxb CTQG, Hà Nội, 2008, tr.12

5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, Hà Nội, 2001, tr.123

Trang 23

trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Đóng vai trò nòng cốt trong công tác này hơn ai

hết là vai trò của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và Hội LHTN Việt Nam

1.2 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, CỦA ĐẢNG, NHÀ

NƯỚC VIỆT NAM TRONG CÔNG TÁC ĐOÀN KẾT, TẬP HỢP THANH NIÊN

VÀ SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH, HỘI LIÊN HIỆP THANH NIÊN VIỆT NAM

1.2.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thanh niên và công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng vĩ đại của mình, Bác Hồ đã không ngừng chăm lo ân cần, dành nhiều tâm sức cho sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng phát huy TN và công tác TN của Đảng, của Nhà nước đặc biệt là của Đoàn TN Trong di sản tinh thần to lớn mà Người để lại cho chúng ta, có thể khái quát luận điểm của Bác về TN và công tác

TN có liên quan đến việc xây dựng chiến lược TN trong thời kỳ cách mạng mới

1.2.1.1 Khẳng định vai trò và khả năng của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng

Sinh thời; Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng sự phát triển trong tương lai của đất nước và tiền đồ vẻ vang của dân tộc nằm trong tay TTN “thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà”1; “…tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”2

Những luận điểm rất cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thanh niên được thể hiện ở những nội dung cơ bản sau:

a Về vai trò và khả năng cách mạng của thanh niên:

- Khi đất nước còn chìm đắm trong đêm dài nô lệ, khi các cuộc khởi nghĩa, các

phong trào yêu nước bị kẻ thù dìm trong biển máu, nhưng lại có không ít TN thờ ơ với

sự nghiệp cứu nước thì dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí

Minh đề ra luận điểm nổi tiếng là: “Thức tỉnh thanh niên đi tới thức tỉnh dân tộc”

- Sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng: “Thanh niên là bộ phận quan trọng của dân tộc” 3 và “nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các

thanh niên” Thực tiễn cách mạng nước ta đã chứng minh tính đúng đắn và khoa học trong luận điểm này của Người Bất kỳ ở thời kỳ nào, trong cách mạng dân tộc dân chủ hay trong cách mạng XHCN, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, TN luôn là lực lượng xã hội to lớn, đóng vai trò quyết định trong các tiến trình lịch sử của cách mạng Việt Nam, nhà nước thịnh hay suy, yếu hay mạnh phụ thuộc vào TN bởi họ là bộ phận quan trọng của dân tộc Điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định cách đây nửa thế

kỷ vẫn còn nguyên giá trị

b Luôn đặt niềm tin và mong đợi ở thanh niên

1 Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1980, tr.84

2 Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Sđd, tr.69

3 Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1980, tr.84

Trang 24

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tương lai của đất nước, của dân tộc nằm trong tay các thế hệ TN, những người sẽ tiếp bước cha anh đưa ngọn cờ cách mạng đến thắng lợi cuối cùng Khi nói đến nhiệm vụ kiến thiết lại đất nước sau 80 năm bị bóc lột và khai thác tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc, Người đã chỉ rõ: “ dân tộc Việt Nam có được vẻ vang sánh vai cùng các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu”1 Bác biểu lộ một niềm tin vững chắc vào thế hệ trẻ: “Trong công cuộc kiến thiết đó, nhà nước trông cậy, mong đợi ở các cháu rất nhiều” Trong thời kỳ xây dựng cơ

sở vật chất của CNXH ở miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn nhận TN là lớp người

“Xung phong trong công tác phát triển kinh tế, văn hoá, trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội”; TN là “lực lượng cơ bản trong bộ đội, công an, dân quân tự vệ đang hăng hái giữ gìn trật tự, trị an, bảo vệ Tổ quốc” và “trong mọi việc thanh niên thi đua thực hiện khẩu hiệu đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên” Trong những lúc khó khăn nhất của cách mạng ở miền Nam, Bác Hồ luôn khẳng định vai trò của thế

hệ trẻ với niềm tin yêu vô cùng vững chắc: “Các cháu thanh niên miền Nam sinh ra và lớn lên trong hai cuộc đấu tranh yêu nước đã được rèn luyện thành một thế hệ thanh niên vô cùng gan dạ, thông minh, không sợ gian khổ hy sinh, quyết chiến quyết thắng” Bằng sự đánh giá khách quan, khoa học, khả năng cách mạng to lớn của TN, Bác đi tới một dự báo hết sức đúng đắn, thiên tài nay đã thành hiện thực: “Với một thế

hệ thanh niên hăng hái, kiên cường, chúng ta nhất định thành công trong sự nghiệp bảo

vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”2… Đất nước càng phát triển,

vị thế của đất nước và dân tộc ta càng được bạn bè khắp năm châu tôn vinh, nhất là qua hơn 20 năm thực hiện đổi mới với những thành tựu to lớn do Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh càng chứng minh một cách sâu sắc tính đúng đắn, khách quan, khoa học trong sự nhìn nhận về thế hệ trẻ nước ta đối với sự nghiệp cách mạng mà Bác Hồ đã khẳng định suốt nửa thế kỷ qua

1.2.1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác thanh niên

Trên cơ sở nhìn nhận vai trò quyết định của TN đối với sự nghiệp cách mạng và tương lai của dân tộc, đất nước, Hồ Chí Minh dành sự quan tâm đặc biệt đến công tác

TN Chính Người đã là một chiến sĩ tiên phong “đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra tranh đấu giành tự do, độc lập”3 Và cũng chính Người đã sáng lập, rèn luyện Đoàn TNCS, đã chỉ thị trực tiếp cho Trung ương Đảng

về nhiệm vụ công tác TN sau khi Đảng được thành lập Sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo Nhà nước đề ra chính sách TN phù hợp với từng thời kỳ cách mạng, đặc biệt là về mặt giáo dục, đào tạo Công tác TN mà cơ bản

là đào tạo, giáo dục, phát huy TN, theo Người là sự tác động đồng bộ của các chủ thể

từ gia đình, đoàn thể, xã hội cho đến các cấp Đảng và Nhà nước

1 Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Sđd, tr.84

2 Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Sđd, tr.375

3 Hồ Chí Minh: tuyển tập, tập II, Nxb Sự Thật, 1980, tr.129

Trang 25

- “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”: Năm 1958, trong buổi nói chuyện

với lớp học chính trị của các giáo viên cấp II và cấp III toàn miền Bắc, Hồ Chủ tịch đã nhấn mạnh luận điểm nổi tiếng: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”1 Để thực hiện mục tiêu “trồng người” như đã nêu trên, Bác chủ trương thực hiện nguyên lý giáo dục toàn diện Người dạy: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: Đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, khoa học, kỹ thuật, lao động và sản xuất”2 “Trồng người” không chỉ là

sự nghiệp lâu dài, gian khổ, sự nghiệp của cả trăm năm mà còn là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội theo tinh thần mà V.I.Lênin đã dạy: “Chúng ta phải chuẩn bị cho thanh niên như thế nào để họ biết xây dựng đến cùng và hoàn thành triệt

về năng lực hoạt động thực tiễn) theo tư tưởng Hồ Chí Minh là có trình độ chính trị, văn hoá, khoa học, kỹ thuật và quân sự, Bác dạy: “Đảng yêu cầu cán bộ chẳng những thạo về chính trị mà còn giỏi về chuyên môn”5 Để thực hiện nội dung và mục đích công tác TN là hình thành lớp người kế thừa xây dựng CNXH “vừa hồng vừa chuyên” không có cách nào khác là phải giáo dục và tổ chức TN Trong giáo dục phải theo phương châm giáo dục toàn diện Đó là: giáo dục, bồi dưỡng về lý tưởng cách mạng; giáo dục, bồi dưỡng về chí khí cách mạng; giáo dục, bồi dưỡng về đạo đức cách mạng Giáo dục, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, văn hoá, khoa học kỹ thuật và quân

sự Giáo dục, bồi dưỡng về thể chất và nếp sống văn hoá

1.2.1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức, tập hợp thanh niên

Nhằm đảm bảo thực hiện nội dung công tác TN có kết quả, đồng thời với việc chăm lo giáo dục toàn diện cho TN, vấn đề quan trọng mà Bác Hồ nêu lên là phải tổ chức

1 Hồ Chí Minh: tuyển tập, tập II, Sđd, tr.129

2 Hồ Chí Minh: Tuyển tập, tập I, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1984, tr.179

3 V.I.Lênin: Bàn về TN, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1981, tr.231

4 Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Nxb Thanh niên, Hà Nội, 1980, tr.287

5 Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Sđd, tr.296, 404

Trang 26

TN thành lực lượng chính trị hùng hậu chung quanh Đảng Tổ chức, tập hợp TN là tạo điều kiện để giáo dục và ngược lại phải tiến hành đào tạo, giáo dục TN qua tổ chức

a Kiên trì xây dựng một tổ chức thanh niên cộng sản làm cánh tay và đội hậu

bị của Đảng

Là người chủ trì soạn thảo Luận cương nổi tiếng về TN thuộc địa tại Đại hội Quốc tế TNCS lần thứ IV (7/1924) trong đó nêu rõ: “Nhanh chóng hình thành các tổ chức TN cách mạng và xây dựng Đoàn TNCS ở các nước thuộc địa”, Nguyễn Ái Quốc

đã bắt tay ngay vào việc tuyên truyền, giác ngộ và kết nạp những đoàn viên TNCS Việt Nam đầu tiên ở Quảng Châu khi Người từ Mátxcơva đến đây Năm 1956, huấn thị tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II, Bác Hồ dạy: “Đoàn là cánh tay đắc lực của Đảng để thực hiện những chủ trương, chính sách cách mạng”1 Điều lệ Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II (1956) cũng đã xác định: “Đoàn thanh niên lao động Việt Nam là cánh tay và đội hậu bị của Đảng… là trụ cột của khối đoàn kết thanh niên” Cũng tại Đại hội này, Bác Hồ đã đặt ra yêu cầu cao về việc củng cố tổ chức Đoàn và đoàn kết rộng rãi với TN Người dạy: “… Phải củng cố tổ chức Đoàn, phải đoàn kết nội bộ thật chặt chẽ và phải đoàn kết rộng rãi với các tầng lớp thanh niên”2

Bác coi việc củng cố tổ chức Đoàn là điều kiện quan trọng hàng đầu để mở rộng mặt trận đoàn kết các tầng lớp TN Nhưng muốn củng cố tổ chức Đoàn thì trước hết phải “đoàn kết nội bộ thật chặt chẽ” nghĩa là phải tiến hành phê bình, tự phê bình để thống nhất ý chí và hành động trong nội bộ Đoàn, làm cho tổ chức Đoàn phải thực sự

là tổ chức của những TN tiên tiến, có đạo đức, có lý tưởng và phấn đấu kiên cường vì

lý tưởng đó Cũng trong huấn thị tại Đại hội Đoàn lần thứ II, Bác đã chỉ rõ rằng:

“Đoàn là cánh tay đắc lực của Đảng” và giải thích: “Cánh tay để thực hiện những chủ trương và chính sách cách mạng” Hơn nữa, Bác còn chỉ rõ: “Đoàn thanh niên lao động là cánh tay đắc lực của Đảng trong việc tổ chức và giáo dục thế hệ thanh niên và nhi đồng thành những chiến sĩ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

xã hội và chủ nghĩa cộng sản”3 Đây là một chức năng hết sức quan trọng của Đoàn với tư cách một tổ chức quần chúng gần Đảng nhất mà trong điều lệ của Đảng từ trước đến nay đều ghi rõ Năm 1960, khái niệm này đã được Người phát triển rộng thêm trong huấn thị tại buổi lễ trọng thể kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng: “Đoàn thanh niên lao động phải là cánh tay đắc lực của Đảng trong việc tổ chức, giáo dục thế hệ thanh niên và nhi đồng thành những chiến sĩ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản” Tại buổi lễ kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Đoàn (26/3/1966), Bác lại một lần nữa khẳng định: “Đoàn thanh niên là cánh tay

và đội hậu bị của Đảng, là người phụ trách, dìu dắt các cháu nhi đồng”

b Ra sức đoàn kết, tập hợp thanh niên thành một mặt trận rộng lớn

1 Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Sđd, tr.165

2 Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Sđd, tr.165

3 Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Sđd, tr.148

Trang 27

Đoàn kết, tập hợp TN là một mặt công tác, một nhiệm vụ rất quan trọng mà Bác

Hồ kính yêu luôn căn dặn phải thực hiện cho tốt Bác chỉ ra rằng muốn xây dựng và phát triển Đoàn thành một lực lượng vững chắc trước hết phải đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp TN, tránh cô độc, hẹp hòi Người cho rằng: “Muốn củng cố và phát triển thì Đoàn phải liên hệ rộng rãi và chặt chẽ với các tầng lớp thanh niên” Ngay khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà non trẻ mới ra đời, dù bận trăm công nghìn việc nhưng Bác vẫn rất quan tâm chăm lo, dìu dắt Đoàn TN Người chỉ rõ: "Việc cần trước nhất là làm thống nhất các tổ chức thanh niên" Huấn thị tại Đại hội Đoàn TN Cứu quốc Hà Nội (ngày 27/9/1945) điều đầu tiên Bác Hồ nêu ra là TN phải hình thành một mặt trận thống nhất Tại Đại hội xứ Đoàn TN cứu quốc Bắc Bộ (ngày 25/11/1945),

huấn thị với các đại biểu, Bác phê bình: “…Trong tổ chức thanh niên còn giữ một xu hướng chật hẹp, không bao bọc được nhiều giai tầng, không kéo được đại đa số thanh niên” 1 Đầu năm 1946, Bác chỉ thị thành lập mặt trận đoàn kết TN do Đoàn TN Cứu

quốc làm nòng cốt lấy tên là Tổng đoàn TN Việt Nam (sau đổi tên là Liên đoàn TN Việt Nam) và cử đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, đồng chí Nguyễn Chí Thanh làm Chủ tịch Liên đoàn Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc (trong đó có đại đoàn kết TN)

là nội dung hết sức quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh Đây là chiến lược cơ bản, lâu dài trong cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng XHCN

Trong rất nhiều bài nói, bài viết Hồ Chủ tịch đã đề cập đến đoàn kết: "Đoàn kết

là sức mạnh, là then chốt của thành công" Người kêu gọi: "…là người chủ tương lai, cho nên toàn thể thanh niên ta phải đoàn kết chặt chẽ" Theo Bác, đoàn kết trong TN

sẽ tạo ra phong trào to lớn thu hút đông đảo TN tham gia Đoàn kết, tập hợp TN sẽ tạo cho Đoàn TN sức mạnh để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó Để làm được điều đó, Người ân cần nhắc nhở: “Phải thật thà đoàn kết với anh chị em trong Hội liên hiệp thanh niên"

Các hình thức, phương pháp tập hợp đoàn kết vừa đa dạng, thu hút rộng rãi TN tham gia nhưng lại phải được định hướng vững chắc, nghĩa là có mục tiêu phấn đấu rõ ràng, có tính ổn định và triển vọng phát triển Bác dạy: “Đoàn kết là lực lượng”2, điều này có nghĩa rằng nếu ta phát huy được lực lượng tức là tạo ra được sức mạnh Người nhắc nhở cán bộ, đoàn viên “phải thật thà đoàn kết với anh chị em trong Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam”3 Điều kiện quyết định thắng lợi việc mở rộng mặt trận đoàn kết tập hợp TN theo tư tưởng của Bác Hồ là “…muốn đoàn kết thì tất cả cán bộ, đoàn viên phải giữ vững đạo đức cách mạng, phải khiêm tốn, cần cù, hăng hái, dũng cảm… phải xung phong trong mọi công tác chứ không xa rời quần chúng…”4

c Đảm bảo mối liên hệ chặt chữ, mật thiết giữa tổ chức Đoàn với đông đảo thanh niên; bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đoàn viên theo phương châm “trọng chất hơn lượng”

1 Bác Hồ với thanh niên, Nxb Hà Nội, 1999, tr.12

2 Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Sđd, tr.191

3 Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Sđd, tr.191

4 Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Sđd, tr.166

Trang 28

Đoàn TN trước hết là tổ chức của những TN tiên tiến nhưng Đoàn là người đại diện lợi ích chính đáng của TN, vì vậy Đoàn cũng là tổ chức của TN, vì TN Bác dạy:

“…Muốn củng cố và phát triển, Đoàn phải liên hệ rộng rãi và chặt chẽ với các tầng lớp thanh niên Phải quan tâm đến đời sống, công tác, học tập của thanh niên… và tất cả

Minh căn dặn nhiều lần về việc phải phát triển Đoàn về số lượng đồng thời phải coi trọng việc nâng cao chất lượng đoàn viên Bác dạy: “Tổ chức Đoàn phải rộng hơn Đảng… cố nhiên khi kết nạp đoàn viên cần phải lựa chọn cẩn thận những thanh niên tốt”2; “Cần phát triển Đoàn hơn nữa nhưng phải chọn lọc cẩn thận, trọng chất lượng hơn số lượng”3.Vấn đề nâng cao chất lượng đoàn viên là vấn đề được coi trọng trong

tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đoàn vì yêu cầu nhiệm vụ cách mạng càng khó khăn, phức tạp thì yêu cầu về chất lượng đoàn viên càng đòi hỏi cao

d Trung ương và các cấp Đảng bộ địa phương phải săn sóc hơn nữa đến công tác thanh niên; công tác thanh niên “phải liên hệ với lực lượng của Chính phủ”

Là Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, Đoàn ta, Bác Hồ luôn chú trọng vấn đề tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác TN và công tác Đoàn Ngày 20 tháng 4 năm 1931, Bác đã trực tiếp gửi cho BCH Trung ương bức thư quan trọng trong đó đặt ra những yêu cầu cụ thể về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Đoàn TN, người trực tiếp giúp Đảng vận động TN Bác Hồ đánh giá vai trò quan trọng của tổ chức cơ sở Đảng, Người nói: “Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt” và trong những nhiệm vụ của chi bộ, Người căn dặn: “Chi bộ phải chăm lo xây dựng Đoàn thanh niên cho thật tốt” Đồng thời, Bác luôn nhắc nhở: “Trung ương và các cấp Đảng bộ địa phương phải chăm sóc hơn nữa đến công tác thanh niên” trong đó có vấn đề quan trọng

là chăm lo công tác xây dựng Đoàn để “phát huy tác động tiên phong của Đoàn về mọi mặt” Đoàn TNCS là tổ chức quần chúng duy nhất được ghi thành một chương trình trong điều lệ Đảng, điều này nói lên mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và Đoàn và phản ánh trách nhiệm trực tiếp của Đảng đối với công tác TN và Đoàn TNCS

Hồ Chủ tịch còn rất coi trọng vai trò của Nhà nước trong công tác TN Ngay sau khi cách mạng tháng Tám, Người đã chỉ thị thành lập Bộ TN rồi Nha TN trong Chính phủ để chăm lo công tác TN Trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước, Bác Hồ luôn nhắc nhở các Bộ, ngành của Chính phủ ban hành những chính sách nhằm giải quyết các vấn đề thuộc lợi ích chính đáng của TN Bác dạy rằng công tác

TN phải “liên hệ với các lực lượng của Chính phủ” Điều này có nghĩa rằng muốn đưa công tác TN đạt đến kết quả như mong muốn, trước hết Đảng cần tăng cường sự lãnh đạo và cần tổ chức sự phối hợp giữa nhiều lực lượng trong đó có lực lượng của xã hội

và lực lượng của Chính phủ

1 Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Sđd, tr.217

2 Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Sđd, tr.282

3 Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Sđd, tr.381

Trang 29

Tư tưởng Hồ Chí Minh về TN và công tác TN là sự tổng kết lý luận và thực tiễn được nâng lên tầm cao qua các thời kỳ cách mạng Tư tưởng của Bác về TN và công tác TN đang và sẽ tiếp tục dẫn dắt chúng ta trên con đường tổ chức TN thành lực lượng cách mạng chung quanh Đảng và phát huy mọi tiềm năng to lớn của TN vì sự nghiệp CNH, HĐH đất nước góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Học tập, nghiên cứu tư tưởng của Người là để quán triệt và vận dụng vào thực tiễn tạo ra những chuyển biến đối với công tác TN, đặc biệt là quán triệt tư tưởng của Người trong việc xây dựng chiến lược TN trong thời kỳ cách mạng mới

1.2.2 Chiến lược của Đảng và Nhà nước ta về thanh niên và công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến TN và công tác TN Ngay từ khi mới thành lập, năm 1931, Đảng đã có “Án nghị quyết về Đông Dương thanh niên cộng sản Đoàn” Sau đó đã có rất nhiều văn kiện của Đảng đã nêu lên các quan điểm về TN

và công tác TN Có thể hệ thống các quan điểm cơ bản của Đảng về TN và công tác

TN như sau:

1.2.2.1 Thanh niên và công tác thanh niên có vai trò, vị trí cực kỳ quan trọng trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đánh giá đúng vị trí, vai trò quan trọng của TN

và công tác TN trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, Đảng luôn xác định

TN là một “lực lượng xã hội hùng hậu”, là đội quân xung kích cách mạng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và là lớp người thừa kế trung thành và xuất sắc sự nghiệp cách mạng Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư BCH Trung ương Đảng (khoá VII)

về công tác TN trong thời kỳ đổi mới đã khẳng định: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên; công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong

ngày 25/7/2008 của BCH Trung ương Đảng Khoá X “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” cũng chỉ rõ: “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước,

là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội Thanh niên được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược bồi dưỡng, phát huy nhân tố và nguồn lực con người”2 Từ vai trò chiến lược to lớn của TN, Đảng ta coi chính sách TN chứ không phải ai khác, giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát huy nhân tố và nguồn lực con người Vai trò, vị trí to lớn đó thể hiện trong các mặt tổng quát sau: TN là nguồn nhân lực lao động có chất lượng

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư BCH TW (khoá VII), Hà Nội, 1993, tr.82

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (Khóa X), Nxb CTQG, Hà Nội, 2008, tr.13

Trang 30

cao và đồng bộ cho sự CNH, HĐH; chính TN là lực lượng xung kích đi đầu thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội; TN là lực lượng chủ lực xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc và thực hiện chủ động hội nhập quốc tế, phát huy vị trí của đất nước trên trường quốc tế; TN là lực lượng kế thừa và tiếp nội các thế hệ cha anh để thúc đẩy xã hội phát triển, xây dựng đất nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hoà bình, giàu mạnh, người dân được hưởng tự do, dân chủ, công bằng và hạnh phúc

1.2.2.2 Chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển, trưởng thành của thanh niên

Đảng ta luôn luôn chú ý việc giáo dục, bồi dưỡng và rèn luyện thế hệ TN:

“Thường xuyên chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng và tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên phấn đấu để hình thành một thế hệ con người mới có lý tưởng cao đẹp, có ý thức trách nhiệm công dân, có tri thức, có sức khoẻ, lao động giỏi, sống có văn hoá và tình nghĩa, giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính”1; “Chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước Chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thanh niên thành lớp người “vừa hồng vừa chuyên” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng…”2

1.2.2.3 Phát huy vai trò làm chủ và tiềm năng to lớn của thanh niên

Đánh giá đúng vai trò to lớn của TN trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và đặt lòng tin sâu sắc vào thế hệ trẻ Việt Nam; Đảng ta luôn coi trọng việc tổ chức, phát huy lực lượng và tiềm năng của TN Đảng ta luôn cho rằng TN là lực lượng

kế thừa cách mạng, là lực lượng xung kích cách mạng, vì vậy, cần phát huy tốt lực lượng TN: “Đảng đặt niềm tin sâu sắc vào thanh niên, phát huy vai trò làm chủ và tiềm năng to lớn của thanh niên để thanh niên thực hiện được sứ mệnh lịch sử, đi đầu trong cuộc đấu tranh chiến thắng nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng và bảo vệ đất nước giàu mạnh, xã hội văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc”3 Nghị quyết

số 25-NQ/TƯ ngày 25/7/2008 của BCH Trung ương Đảng Khoá X “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” nhấn mạnh: “Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, một trong những nhân tố quan trọng quyết định tương lai, vận mệnh dân tộc… là lực lượng xung kích trong giai đoạn cách mạng mới”; là lực lượng chủ yếu trên nhiều lĩnh vực, đảm nhiệm những công việc đòi hỏi hy sinh, gian khổ, sức khoẻ và sáng tạo; TN là độ tuổi sung sức nhất về thể chất và phát triển trí tuệ, luôn năng động, sáng tạo, muốn tự khẳng định mình,… Do đó, trước yêu cầu “của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế sâu rộng và mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế,… đòi hỏi

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư BCH TW (khoá VII), sđd, tr.83

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (Khóa X), sđd, tr.13,14

3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư BCH TW (khoá VII), sđd, tr.83

Trang 31

phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên nhằm chăm lo, bồi dưỡng và phát huy cao nhất vai trò, sức mạnh của thanh niên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa… Đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực bảo đảm cho sự ổn định và phát triển vững bền của đất nước”1

1.2.2.4 Xây dựng Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh vững mạnh

Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức của những TN tiên tiến, giác ngộ lý tưởng cộng sản, phấn đấu vì độc lập dân tộc và CNXH, do Đảng thành lập, dìu dắt và lãnh đạo Đoàn là trường học XHCN của TN Việt Nam, là người trực tiếp giúp Đảng thực hiện nhiệm vụ công tác TN, phát động và tổ chức phong trào hành động cách mạng của TN, là cầu nối giữa TN với Đảng, là người phụ trách Đội TNTP Trong giai đoạn mới, cần: “Xây dựng Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh vững mạnh về chính trị,

tư tưởng và tổ chức, thực sự là đội dự bị tin cậy của Đảng, là hạt nhân chính trị của phong trào thanh niên”2 Đồng thời, phải mở rộng và củng cố mặt trận đoàn kết tập hợp TN và xây dựng Đội TNTP Hồ Chí Minh vững mạnh: “Xây dựng Đoàn vững mạnh là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, là xây dựng Đảng trước một bước Mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên là nội dung quan trọng của công tác đoàn để giáo dục, bồi dưỡng, động viên và phát huy vai trò thanh niên trong

sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”3

1.2.2.5 Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội làm công tác thanh niên

Công tác TN là nhiệm vụ của Đảng, của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, đồng thời là nhiệm vụ của Nhà nước, của Mặt trận và các đoàn thể, của các lực lượng vũ trang, của toàn xã hội và gia đình Phát biểu tại Hội nghị lần thứ tư BCH Trung ương (khoá VII), đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười nhấn mạnh: “Công tác thanh niên không chỉ là việc của Đảng, của Đoàn mà còn là việc của Nhà nước, của mọi tổ chức, của xã hội và từng gia

X) tiếp tục nhấn mạnh: Chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục TN thành lớp người “vừa hồng vừa chuyên” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới

sự lãnh đạo của Đảng Trong đó: “Đảng lãnh đạo công tác thanh niên và trực tiếp lãnh đạo Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh… Nhà nước quản lý thanh niên và công tác thanh niên; thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng về thanh niên và công tác thanh niên thành pháp luật chính sách, chiến lược, chương trình hành động và cụ thể hoá trong các chương trình, kế hoạch phát triển KT - XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh hằng năm của các cấp, các ngành… Tăng cường vai trò của MTTQ, các đoàn thể, tổ chức KT -

XH và gia đình, phối hợp giáo dục, bồi dưỡng, phát huy thanh niên”5

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (Khóa X), sđd, tr.7,8,13

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư BCH TW (khoá VII), sđd, tr.84

3 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (Khóa X), sđd, tr.14, 15

4 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư BCH TW (khoá VII), Hà Nội, 1993, tr.24

5 Đảng Cộng sản Việt Nam: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (Khóa X), Nxb CTQG, Hà Nội, 2008, tr.13,14, 21

Trang 32

Quan điểm này cần được thể hiện như sau: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ hệ thống chính trị thực hiện nhiệm vụ công tác TN Nhà nước thể chế hoá các quan điểm, chủ trương của Đảng về công tác TN bằng các văn bản pháp luật, các chính sách đối với TN; tăng cường quản lý Nhà nước về công tác TN; xây dựng quy chế phối hợp giữa cơ quan chính quyền với các tổ chức TN; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho công tác TN Các đoàn thể, các lực lượng vũ trang và tổ chức xã hội có chương trình công tác TN của tổ chức mình; xây dựng quy chế phối hợp hành động với Đoàn và các tổ chức TN Tổ chức phối hợp trên quy mô toàn xã hội làm công tác

TN Tăng cường giúp đỡ các gia đình về nội dung, phương pháp và điều kiện nuôi dạy con cái trưởng thành, trở thành những người hữu ích cho xã hội Công tác TN là một khoa học và nghệ thuật; cần thường xuyên điều tra nghiên cứu để hiểu TN và làm tốt hơn công tác TN

Trên đây là những quan điểm cơ bản của Đảng về TN và công tác TN Nắm chắc và vận dụng đúng đắn, sáng tạo các quan điểm của Đảng là yếu tố quan trọng đầu tiên để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công tác TN nói chung và xây dựng chiến lược phát triển TN nói riêng

1.2.3 Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam trong công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định: “Đối với thế

hệ trẻ, thường xuyên giáo dục chính trị, truyền thống, lý tưởng, đạo đức và lối sống; tạo điều kiện học tập, lao động giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ… thu hút rộng rãi thanh niên, thiếu niên và nhi đồng vào các tổ chức do Đoàn thanh niên làm nòng cốt

và phụ trách”1 Là tổ chức chính trị - xã hội của TN, vì TN, đòi hỏi Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tiếp tục đổi mới toàn diện, phấn đấu thực sự trở thành người bạn thân thiết của TN, định hướng cho TN đến với lý tưởng cách mạng và những giá trị cao đẹp, đồng hành với TN lập thân, lập nghiệp, xung kích trong phát triển KT - XH và bảo vệ

Tổ quốc… Các phong trào, các cuộc vận động và hoạt động của Đoàn đều phải hướng tới mục tiêu đoàn kết, tập hợp, giáo dục TN, tạo môi trường lành mạnh, an toàn cho

TN rèn luyện và tự khẳng định, vì sự tiến bộ của TN và sự phát triển của đất nước2 Thời gian qua: “Công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên dân tộc, tôn giáo có tiến

bộ Đoàn đã triển khai các dự án phát triển KT - XH, giúp thanh niên tôn giáo, dân tộc lập thân, lập nghiệp; chỉ đạo xây dựng các mô hình hoạt động thanh niên , kiện toàn bồi dưỡng cán bộ đoàn, hội, đội khu vực miền núi, dân tộc, tuyên truyền, đấu tranh chống lại các âm mưu và hành động lợi dụng vấn đề dân tộc tôn giáo của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng nước ta”3 Nhằm cụ thể Nghị quyết Hội nghị BCHTƯ Đảng lần thứ 07 (khoá IX ) về “Phát huy

1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tr.119, 220

2 Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: Báo cáo của BCHTƯ Đoàn khoá VIII tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX, tr.8

3 Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: Sđd, tr.8

Trang 33

sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, “Về công tác dân tộc”, “Về công tác tôn giáo”… thời gian qua Ban Mặt trận

TN đã chủ động tham mưu và tại Hội nghị lần thứ 3 BCHTƯ Đoàn khoá VIII đã ban hành Nghị quyết 01 “Về tăng cường, củng cố và mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Đây là Nghị quyết có phạm vi rộng và tác động trực tiếp đến đối tượng TN các DTTS và TN các tín đồ tôn giáo Mặt trận đoàn kết, tập hợp TN, nhất là các đối tượng đặc thù như

TN dân tộc, TN tôn giáo, TN trí thức… bước đầu được cấp uỷ, chính quyền các địa phương quan tâm chỉ đạo Được sự phối hợp của các cấp, các ngành và sự quan tâm của toàn xã hội, trong những năm qua, TN ở nhiều khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn đang hưởng thụ một số dự án gắn liền với nhu cầu, lợi ích chính đáng của

TN như hỗ trợ vốn, chuyển giao tiến bộ KHKT… góp phần không nhỏ vào sự phát triển KT - XH của nhiều địa phương, đơn vị1 Mặc dù còn nhiều khó khăn về điều kiện địa lý và tập quán; công tác đoàn kết tập hợp TN DTTS đã có bước chuyển biến quan trọng Trong công tác tổ chức, nhiều cơ sở Đoàn “trắng” đã thành lập được tổ chức Đoàn; số lượng đoàn viên, hội viên có bước phát triển rõ rệt Việc triển khai phong trào “Thi đua, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, hình thức và nội dung phù hợp với điều kiện TN vùng dân tộc miền núi đã góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và củng cố quốc phòng an ninh Trung ương Đoàn và nhiều

bộ, ngành, đoàn thể ở Trung ương quan tâm chỉ đạo và đầu tư nguồn lực cho công tác đoàn kết tập hợp TN DTTS Công tác chỉ đạo của các cấp bộ Đoàn có nhiều đổi mới như bám cơ sở, chủ động phối hợp với các ban, ngành của địa phương, đơn vị nhằm tạo cơ chế và triển khai các hoạt động

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả khả quan nói trên, vẫn còn những bất cập trong công tác đoàn kết tập hợp TN: “Lĩnh vực, địa bàn công tác và đối tượng thanh niên… hiện đang gặp nhiều khó khăn do trình độ dân trí thấp, cơ sở vật chất thiếu thốn, tài liệu phục vụ cho hoạt động, nguồn lực đầu tư hạn chế, có lúc phát sinh những điểm nóng với nhiều vấn đề nhạy cảm, phức tạp và không dễ dàng giải quyết Đội ngũ cán bộ Đoàn thuộc các đối tượng thanh niên đặc thù vừa thiếu về số lượng, hạn chế về trình độ, một số địa phương trong quá trình luân chuyển cán bộ hiện gặp phải tình trạng thiếu lực lượng cán bộ để thay thế, bố trí Các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang dùng mọi thủ đoạn nhằm mua chuộc, dụ dỗ thanh niên, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc như truyền đạo trái phép, khích động thanh niên tham gia tụ tập đông người gây áp lực chính quyền địa phương, vượt biên… Lý luận về công tác vận động thanh niên, về tập hợp thanh niên, mô hình tổ chức và hoạt động của Đoàn ở một số lĩnh vực chưa theo

1 Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: Báo cáo Tổng kết công tác Đoàn và các phong trào thanh thiếu nhi

nhiệm kỳ 2002-2007; Báo cáo kết quả công tác đoàn và phong trào TN dân tộc, tôn giáo; công tác hội và phong trào TN nhiệm kỳ 2002-2007, Hà Nội, 2007, tr.105

Trang 34

kịp sự phát triển kinh tế xã hội…”1 Đối với vùng các DTTS thì: “Công tác tuyên truyền giáo dục còn chưa thường xuyên, nội dung còn chưa phù hợp; đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên của thanh niên dân tộc thiểu số còn thiếu và yếu; việc nắm bắt tình hình tư tưởng trong thanh niên dân tộc thiểu số rất hạn chế Chất lượng tổ chức cơ

sở Đoàn, đoàn viên, thanh niên còn chưa cao Nội dung và hình thức hoạt động chưa phù hợp với từng đối tượng Đội ngũ cán bộ Đoàn là người dân tộc thiểu số còn yếu về năng lực, trình độ và kỹ năng tổ chức các hoạt động của thanh niên Cơ sở vật chất cho hoạt động rất thiếu; sách báo, thông tin, phương tiện truyền thông, địa điểm vui chơi… phục vụ cho hoạt động thanh niên rất hạn chế và chưa được đầu tư thoả đáng”

Do đó cần: “Mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên, xây dựng tổ chức Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam và các tổ chức do Đoàn làm nòng cốt chính trị… Tăng cường công tác thanh niên tôn giáo, dân tộc, tổ chức các loại hình tập hợp thanh niên thích hợp trong các vùng tôn giáo, dân tộc Đoàn cấp tỉnh, huyện tập trung xây dựng cán bộ phụ trách công tác thanh niên dân tộc, tôn giáo, kiện toàn Ban Mặt trận thanh niên cấp tỉnh, xây dựng đội ngũ cốt cán của Đoàn trong các vùng tôn giáo, dân tộc từ những cán bộ, đoàn viên ưu tú và những cán bộ trẻ”2

1 Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: Báo cáo của BCHTƯ Đoàn khoá VIII tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX, tr.10

2 Đoàn TNCS Hồ Chí Minh: Sđd, tr.2

Trang 35

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐOÀN KẾT, TẬP HỢP THANH NIÊN CÁC

DÂN TỘC Ở TÂY NGUYÊN

2.1 KHÁI QUÁT NHỮNG ĐẶC ĐIỂM VỀ VỊ TRÍ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, VĂN HOÁ - XÃ HỘI Ở TÂY NGUYÊN

2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Tây Nguyên gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng, giới hạn trong toạ độ địa lý từ 11045’ đến 15027’ (độ vĩ Bắc) và từ 107012’ đến 108055’(độ kinh Đông) Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam; phía Đông giáp các tỉnh: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai; phía Nam giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp Lào và Campuchia Tổng diện tích tự nhiên: 54.474km2, (chiếm 16,3% diện tích cả nước) Dân số hơn 4,5 triệu người (chiếm khoảng 5,3% dân

số cả nước) Với vị trí nằm ở trung tâm miền núi Nam Đông Dương, địa thế hiểm yếu,

có những hành lang tự nhiên thông với Nam Lào, Đông Bắc Campuchia và duyên hải Trung bộ nên trong chiến tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong sự nghiệp

xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Tây Nguyên có một vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, quân sự: quốc phòng và an ninh…1

khí hậu ẩm và dịu mát, rất thuận lợi cho các loại cây trồng phát triển Rừng là một

trong các yếu tố có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển bền vững của Tây Nguyên Trong tổng số 54.474.000ha đất tự nhiên của toàn vùng, diện tích rừng chiếm tỷ trọng lớn Hiện nay, tài nguyên rừng của Tây Nguyên đã suy giảm trầm trọng do nạn phá rừng - không chỉ thu hẹp về diện tích; mà còn suy giảm mạnh cả về trữ lượng và thành phần các loài động, thực vật Bên cạnh tài nguyên rừng, Tây

Nguyên có lợi thế lớn về đất và đây cũng là một trong các yếu tố quyết định vấn đề

phát triển bền vững của toàn vùng Nó không chỉ có ý nghĩa về mặt tài nguyên thiên nhiên mà còn gắn với vấn đề chính trị, xã hội sâu sắc.Trong tổng diện tích tự nhiên

1 Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong “Huấn luyện về nhiệm vụ chiến lược của miền Nam Trung bộ” ngày 28 tháng 8 năm 1948 có viết: “Tây Nguyên là địa bàn chiến lược quan trọng hơn hết, khống chế Tây Nguyên là

khống chế cả miền Nam”

Trang 36

5.474.000ha thì đất bazan chiếm đến 26% (khoảng 1.425.000ha) Đất bazan có hàm lượng mùn rất cao, độ xốp 65%, độ phì tự nhiên rất cao, được xếp vào loại đất tốt nhất thế giới

- Ngoài tiềm năng, lợi thế lớn về đất, rừng, tài nguyên thiên nhiên và tiềm năng du

lịch, Tây Nguyên còn có hệ thống đường giao thông quan trọng liên kết 5 tỉnh trong vùng

với nhau; đồng thời nối liền Tây Nguyên với các tỉnh duyên hải miền Trung, miền Đông Nam bộ và Đông Bắc Campuchia tạo cho toàn vùng một vị trí địa lý đặc biệt về quốc phòng, an ninh và có điều kiện để xây dựng một nền kinh tế mở Trong hệ thống đường giao thông của Tây Nguyên, quan trọng nhất là: quốc lộ 14 - đoạn qua Tây Nguyên dài 540km (đường Hồ Chí Minh); quốc lộ 14C dài 426km, chạy dọc theo biên giới Lào và Campuchia, có ý nghĩa lớn về quốc phòng, an ninh Quốc lộ 19 dài 248km - nối thành phố Pleiku với thành phố Quy Nhơn và Cảng Quy Nhơn (tỉnh Bình Định); quốc lộ 20 dài 286km, nối Đà Lạt với Dầu Dây (tỉnh Đồng Nai); quốc lộ 24 dài 164km - nối thị xã Kon Tum với tỉnh Quảng Ngãi; quốc lộ 25 dài 114km - nối Gia Lai với thị xã Tuy Hoà (tỉnh Phú Yên), quốc lộ 26 dài 151km - nối thành phố Buôn Ma Thuột với tỉnh Khánh Hoà; quốc lộ 27 dài 282km - nối thành phố Buôn Ma Thuột với thành phố Đà Lạt và thị xã Phan Rang - Tháp Chàm (tỉnh Ninh Thuận); quốc lộ 28 dài 178km - nối Đăk Nông với thành phố Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận) Ngoài ra, Tây Nguyên có 3 sân bay (Buôn Ma Thuột, Pleiku, Liên Khương) đang hoạt động, nối với các trung tâm kinh tế lớn của đất nước là Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh

2.1.1.3 Biên giới

Trong 5 tỉnh Tây Nguyên, 4 tỉnh có đường biên giới giáp với hai nước Lào và Campuchia dài 590km (trong đó biên giới giáp với Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào dài 135km, biên giới giáp với Vương quốc Campuchia dài 455km) Toàn tuyến biên

giới có ba cửa khẩu chính đi sang hai nước Lào, Campuchia là: Cửa khẩu Bờ Y, thuộc

huyện Ngọc Hồi (tỉnh Kon Tum) đi sang tỉnh Atôpơ (Lào) hiện đang được đầu tư xây dựng thành cửa khẩu quốc tế Cửa khẩu Lệ Thanh, thuộc huyện Đức Cơ (tỉnh Gia Lai)

đi sang tỉnh Rattanakiri (Campuchia), đang đề nghị đầu tư Cửa khẩu Bu Prăng, thuộc

huyện Đăk RLấp (tỉnh Đăk Nông) đi sang tỉnh Munđunkiri (Campuchia), đang đề nghị đầu tư

Nhân dân ở biên giới phần lớn là đồng bào DTTS, đời sống kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn Đồng bào một số nơi trên biên giới có quan hệ họ hàng lâu đời với nhân dân vùng biên của hai nước Lào, Campuchia, nên việc qua lại thăm thân là nhu cầu thường xuyên Trên tuyến biên giới, hiện đã có 43 đồn biên phòng, khoảng cách trung bình giữa các đồn là 13,7km Tuy vậy, một số đoạn các đồn biên phòng bố trí còn xa nhau, đường sá đi lại phức tạp nên việc quản lý biên giới còn khó khăn, tình trạng xâm phạm đường biên, phát rẫy xâm canh và săn bắn trái phép vẫn xảy ra Những năm gần đây đã tăng cường bố trí dân cư và quân đội trên vùng biên nhằm khai thác tiềm năng đất đai và tạo thế chiến lược lâu dài; nhưng nói chung biên giới của

Trang 37

Tây Nguyên rất thưa dân, nhiều nơi không có dân như khu vực từ đèo Ngọc Win đến hết xã Mô Ray (tỉnh Kon Tum); khu vực từ đồn Ia Mơ (tỉnh Gia Lai) đến giáp tỉnh Đăk Lăk; khu vực đồn 739, 743, 747 và 750 của Đăk Lăk Cá biệt, xã Mo Ray, tỉnh Kon Tum có đường biên giới dài đến 80km, rất thưa dân; hiện Chính phủ đang giao cho Bộ Quốc phòng chủ trì một dự án đưa khoảng 2.000 dân từ Phú Thọ vào khu vực

này xây dựng vùng kinh tế mới

2.1.2 Một số nhân tố kinh tế - chính trị - xã hội có ảnh hưởng đến công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên

Tây Nguyên có một vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, quân sự:

Trên cơ sở đánh giá đúng vị trị chiến lược ấy, từ sau ngày đất nước thống nhất, Đảng

và Nhà nước ta đã tập trung nhiều công sức và trí tuệ, phương tiện vật chất và có nhiều chính sách phát triển KT - XH, quốc phòng an ninh ở đây Điều này đã bước đầu đã làm thay đổi bộ mặt của Tây Nguyên trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hoá,

xã hội, giáo dục, y tế và đời sống của đồng bào các dân tộc Tuy nhiên, quá trình thực hiện các chính sách (kinh tế, văn hoá, dân tộc, tôn giáo, xã hội, tư tưởng ) của Đảng, Nhà nước ở các tỉnh Tây Nguyên vẫn còn bộc lộ nhiều khuyết điểm, tồn tại cần khắc phục Những khuyết điểm, tồn tại đó được bộc lộ một cách rõ nét ở các phương diện:

KT - XH (vấn đề đời sống; đất đai, rừng; định canh, định cư; phân hoá giàu nghèo ); chính trị - xã hội (vấn đề hệ thống chính trị; đội ngũ cán bộ DTTS; dân chủ ở cơ sở; dân tộc, tôn giáo; tư tưởng; ý thức pháp luật ); văn hoá - xã hội (vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá DTTS; già làng ); quốc phòng - an ninh (vấn đề diễn biến

hoà bình; thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân ) Đây là những điểm mà các thế lực thù địch thường lợi dụng để xuyên tạc, kích động nhằm thực hiện âm mưu phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân

Cụ thể; sau hơn 5 năm thực hiện Nghị quyết 10NQ/TƯ ngày 18/01/2002 của Bộ

Chính trị “Về phát triển kinh tế và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001 -2010” và một số Quyết định của Thủ tướng Chính phủ1… vùng Tây Nguyên đã có những chuyển biến căn bản trên nhiều lĩnh vực

2.1.2.1 Về tình hình phát triển kinh tế - xã hội 2

1 Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg ngày 30/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ “Về việc định hướng dài hạn, kế

hoạch 5 năm 2001 - 2005 phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên”

Quyết định số 132/2002/QĐ-TTg ngày 08/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ “Về việc giải quyết đất sản xuất và

đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên”

Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ “Về một số chính sách hỗ trợ đất

sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn”

Quyết định 139/2002/QĐ-TTg ngày 15/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ “Về việc phê duyệt đề án một số giải

pháp củng cố kiện toàn chính quyền cơ sở vùng Tây Nguyên giai đoạn 2002 -2010”

Thông báo kết luận số 148 - TB/TW ngày 16/7/2004 của Bộ Chính trị “Về tình hình, nhiệm vụ và giải pháp để

tiếp tục phát triển vùng Tây Nguyên toàn diện, bền vững”

2 Tài liệu tham khảo:

- PGS, TS Phạm Hảo: Một số giải pháp góp phần ổn định và phát triển Tây Nguyên hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội, 2007

Trang 38

tế - kỹ thuật của vùng Tây Nguyên Công tác quy hoạch, kế hoạch được quan tâm hơn: Các tỉnh và bộ, ngành đã và đang rà soát, bổ sung, xây dựng các đề án, quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH theo ngành, lĩnh vực và lãnh thổ2; rà soát bổ sung quy hoạch phát triển đô thị đến năm 2020 Việc xây dựng các chương trình phát triển KT - XH giai đoạn

2001 - 2005 và 2006 - 2010 phù hợp với quan điểm chỉ đạo của Trung ương; có sự đổi mới nhận thức về khai thác tiềm năng, thế mạnh của địa phương; chú trọng yếu tố phát triển bền vững và bảo vệ môi trường; tạo điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển3

Cùng với sự chỉ đạo phát triển chung toàn vùng; Đảng, Nhà nước và cấp uỷ,

chính quyền các cấp đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách, giải pháp “đặc thù” để phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS; huy động nguồn lực từ các dự án,

chương trình mục tiêu quốc gia để đầu tư phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống cho đồng bào Nhiều vùng DTTS đã được tổ chức lại sản xuất; xây dựng

mô hình liên kết làm ăn với doanh nghiệp có hiệu quả; hình thành mạng lưới khuyến nông, khuyến lâm cơ sở hoạt động trực tiếp ở buôn làng Nhà nước tiếp tục thực hiện chính sách ưu đãi về tín dụng; hỗ trợ giống vật nuôi cây trồng, vật tư, phân bón; trợ cước trợ giá hàng hoá nông sản và cấp không các mặt hàng chính sách theo Quyết định

168, góp phần ổn định sản xuất, đời sống cho đồng bào ở vùng sâu, vùng xa Chương trình 135 lồng ghép với các chương trình, dự án khác và sự đóng góp của các doanh nghiệp thuộc hai ngành cà phê, cao su đã góp phần làm phát triển phát triển hệ thống đường giao thông nông thôn, giao thông liên vùng; xây dựng 80 trung tâm cụm xã, hàng trăm công trình thiết yếu ở 244 xã, đưa 73 xã ra khỏi diện ĐBKK Tiếp tục thực

- BCH Trung ương, Đoàn kiểm tra NQ 10 – NQ/TW: Báo cáo số 07/BC-ĐKT ngày 10/12/2007 kết quả kiểm tra

thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 18/01-/002 của Bộ Chính trị “Về phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm

quốc phòng, an ninh vùng Tây Nguyên thời kỳ 2001- 2010”

1 Trong đó: Gia Lai 11,08%, Lâm Đồng 10,71%, Kon Tum 11,01%, Đăk Lăk 8,2%, Đăk Nông 9,28%

2 Đến nay, hai tỉnh Đăk Lăk, Đăk Nông đã hoàn thành quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, các tỉnh khác đang triển khai Một số quy hoạch ngành cũng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt gồm: xây dựng, nông nghiệp, thủy lợi, năng lượng, quy hoạch sử dụng đất và kinh tế cửa khẩu

3 Trong cơ cấu GDP toàn vùng, KVKT trong nước chiếm 97,81%, KVKT có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 2,19% Trong KVKT trong nước, KT nhà nước chiếm 29,95%, KT tập thể chiếm 1,51%, KT cá thể chiếm 61,39%, KT tư nhân chiếm 6,52% Trong 5 năm qua, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế tư nhân có xu hướng tăng dần tỷ trọng cả trong trong cơ cấu GDP và trong huy động vốn đầu tư phát triển

Trang 39

hiện ĐCĐC, tách hộ cho 28.000 hộ đồng bào DTTS; sắp xếp, ổn định 13.000 hộ dân di

cư tự do1 Vùng DTTS 100% xã có điện thoại, trạm y tế, trường tiểu học, trường mẫu giáo, nhà trẻ

- Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa vững chắc: Nông nghiệp phát

triển mất cân đối và chuyển dịch cơ cấu chưa đạt yêu cầu2 Chăn nuôi, thuỷ sản, đặc biệt là kinh tế rừng có tiềm năng nhưng chưa phát huy được hiệu quả3 Giai đoạn 2001

- 2005, ngành lâm nghiệp có bước thụt lùi; tỷ trọng lâm nghiệp trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp giảm từ 2,33% xuống 1,91%; tỷ trọng của chăn nuôi và dịch vụ liên tục giảm sút và chỉ chiếm từ 13 - 16%4; tỷ lệ độ che phủ rừng của toàn vùng khoảng 55,4% (mục tiêu là 65%) nhưng chất lượng giảm sút đáng kể so với trước đây Sản

xuất công nghiệp ở quy mô nhỏ, sức thu hút kém5, chưa đáp ứng được yêu cầu chuyển

dịch cơ cấu kinh tế Thương mại, dịch vụ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, nhất là du lịch và xuất khẩu Về du lịch: tiềm năng du lịch sinh thái và du lịch văn hoá

ở Tây Nguyên rất lớn nhưng hầu như chưa khai thác được Về xuất khẩu: mục tiêu đặt

ra đến năm 2005 kim ngạch xuất khẩu đạt bình quân 200 USD/người, nhưng đến năm

2006 chỉ đạt khoảng 142 USD/người

- Huy động vốn đầu tư phát triển chậm, phân tán và hết sức khó khăn6, chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách nhà nước: Vốn đầu tư phát triển tập trung trên 70% cho khu vực đô thị và trung tâm các nông lâm trường Thu ngân sách mới đáp ứng được trên 42% nhu cầu chi Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiếu đồng bộ, nhất là thuỷ lợi, hạ tầng công nghiệp và du lịch Hệ thống thuỷ lợi chưa đáp ứng được quy mô phát triển của nông nghiệp, giữa công trình đầu mối với hệ thống tưới tiêu chưa đồng bộ nên

1 Đến nay, toàn vùng đã ĐCĐC cho khoảng 161.000 hộ đồng bào DTTS tại chỗ (chiếm 82,7%), trong đó 51% đã ĐCĐC vững chắc Lâm Đồng đã cơ bản hoàn thành ĐCĐC, Gia Lai đạt 85%, Kon Tum 83%

2 Tỷ trọng của giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng từ 85,04% (năm 2001) lên 86,81% (năm 2006) trong khi tỷ

trọng giá trị sản xuất ngành chăn nuôi giảm từ 11,56% xuống 10,97%, tỷ trọng giá trị sản xuất ngành dịch vụ nông nghiệp giảm từ 3,4% xuống 2,22%

3 Tỷ trọng của giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp giảm từ 11,56% (năm 2001) xuống 10,97% (năm 2006)

4 Tỷ trọng của chăn nuôi trong Tổng giá trị sản xuất nông nghiệp từ 2002 đến 2006 là: 13,42%, 12,53%, 13,98%, 12,96% và 10,97% Tỷ trọng của dịch vụ tương tự là: 2,94%, 2,49%, 3,38%, 2,68% và 2,22%

5 Tỷ trọng công nghiệp của Tây Nguyên so với công nghiệp của cả nước giảm từ 0,97% (năm 2000) xuống còn 0,83% (năm 2005), thu hút các dự án công nghiệp còn rất khiêm tốn so với nhiều vùng khác

6 Từ năm 2001 đến 2006, Tây Nguyên thu hút được 599 dự án trong nước với tổng vốn 43.169 tỷ đồng; 92 dự án

nước ngoài với tổng số vốn đầu tư 911 tỷ đồng và 254,4 triệu USD Song, số dự án đi vào hoạt động còn chiếm

tỷ lệ thấp (Kon Tum chỉ có 2/32 dự án, Gia Lai 52/101 dự án, Đăk Lăk 16/72 dự án) Dự án đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu ở tỉnh Lâm Đồng (đã triển khai 81/92 dự án với tổng vốn đạt khoảng 70%)

Trang 40

hiệu quả thấp; chưa xây dựng được các mô hình quản lý, khai thác phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng loại công trình, nhất là các công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ Quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên còn nhiều vấn đề bất cập

- Một số chương trình, dự án trọng điểm - trong đó có chương trình trồng mới 100.000 ha cao su đến năm 2010 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ - còn nhiều khó khăn, vướng mắc (nhất là thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất và giao đất)

Rất khó hoàn thành mục tiêu nếu không có những biện pháp tháo gỡ khẩn trương,

quyết liệt Việc chuyển đổi tập quán sản xuất còn chậm: Nhiều địa bàn nông thôn vùng

đồng bào DTTS chưa thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu; còn 2.734 thôn làng chưa có điện (39,6%)1; nhiều buôn làng thiếu đường giao thông, thuỷ lợi, nhà trẻ, mẫu giáo Công tác ĐCĐC và sắp xếp ổn định dân di cư tự do còn nhiều bất cập, thiếu quỹ đất đáp ứng lâu dài cho tách hộ đồng bào DTTS Việc xây dựng một số công trình thuỷ điện không chú ý đúng mức việc tái định canh định cư cho số hộ dân thuộc diện di dời Sản xuất và đời sống của đồng bào ở nơi mới vẫn còn khó khăn sau nhiều năm tái định

cư Việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tái định canh định cư rất chậm trễ và kéo dài, làm thiệt hại đến lợi ích của đồng bào thuộc diện di dời, gây bất bình

- Việc tổ chức thực hiện các chính sách về đất đai, nhà ở, việc làm còn rất chậm

và lúng túng: Những khó khăn, vướng mắc trong việc triển khai thực hiện các Quyết

định 134, 231, 304 chưa có giải pháp khắc phục nên hiệu quả của chính sách bị hạn chế Đến nay, việc “Bảo đảm đất sản xuất cho đồng bào DTTS là nhiệm vụ quan trọng phải hoàn thành trong 1 - 2 năm tới đối với tất cả các địa phương ở Tây Nguyên” theo tinh thần của Nghị quyết 10; theo quy định của QĐ 132/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ là trong năm 2003, và QĐ 134/2004/QĐ-TTg là đến cuối năm 2006 phải cơ bản thực hiện xong về đất sản xuất là không thể thực hiện được như mong muốn của Trung ương và Chính phủ Đến nay, vẫn còn 4.536 hộ thiếu đất ở, 11.164 hộ thiếu đất sản xuất (với gần 5.300 ha), 6.564 hộ chưa có nhà ở và 39.054 hộ thiếu nước sinh hoạt Một số nơi giải quyết đất sản xuất cho đồng bào là đất xấu, độ dốc cao, xa nơi ở nên việc sản xuất không mang lại hiệu quả Như vậy, việc giải quyết đất sản xuất cho đồng bào DTTS nghèo thiếu đất là vấn đề hết sức khó khăn Giải quyết nhà ở cho đồng bào

nghèo (QĐ 154, 134) chưa quán triệt tốt phương châm “nhân dân tự làm, cộng đồng giúp đỡ, nhà nước hỗ trợ” nên rất nhiều nơi chất lượng nhà ở rất thấp và sẽ là vấn đề

đáng lo ngại trong những năm sắp tới

- Chính sách giao đất giao rừng và xã hội hoá nghề rừng chậm tiến triển: Rừng

gắn liền với tập quán sản xuất và sinh sống của đồng bào DTTS nhưng chưa có chính sách và giải pháp phù hợp để đồng bào gắn bó, cải thiện cuộc sống từ rừng, ngay cả đối với các hộ đang sống trong vùng lõi của các Vườn Quốc gia Chủ trương giao rừng

và khoán bảo vệ rừng đến hộ, nhóm hộ, cộng đồng làng, buôn theo Quyết định 304 của

1 Hiện nay, còn 842 buôn làng (khoảng 90.000 hộ) chưa ĐCĐC hoặc ĐCĐC chưa vững chắc; hàng trăm buôn làng sản xuất lạc hậu, tự túc tự cấp, thiếu đất sản xuất và tách hộ; thiếu nước sinh hoạt và nước tưới cho cây trồng

Ngày đăng: 28/03/2016, 17:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 : Thanh niên trong dân số và lực lượng lao động 1 - Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay
Bảng 1 Thanh niên trong dân số và lực lượng lao động 1 (Trang 55)
Bảng 3: Nhận định của thanh niên về tiến bộ xã hội - Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay
Bảng 3 Nhận định của thanh niên về tiến bộ xã hội (Trang 60)
Bảng 7: Tổng hợp số trường, số học sinh bán trú ở Kon Tum - Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay
Bảng 7 Tổng hợp số trường, số học sinh bán trú ở Kon Tum (Trang 74)
Bảng 11: Tổng hợp về kết quả giáo dục học sinh tiểu học ở Kon Tum (2007) - Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay
Bảng 11 Tổng hợp về kết quả giáo dục học sinh tiểu học ở Kon Tum (2007) (Trang 81)
Bảng 16: Thanh niên theo trình độ học vấn - Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay
Bảng 16 Thanh niên theo trình độ học vấn (Trang 93)
Bảng 17: Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Kon Tum - Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay
Bảng 17 Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Kon Tum (Trang 93)
Bảng 18: Tình hình học vấn thanh niên Lâm Đồng - Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay
Bảng 18 Tình hình học vấn thanh niên Lâm Đồng (Trang 94)
Bảng  24: Hoạt động tuổi trẻ xung kích bảo vệ tổ quốc ở Lâm Đồng - Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay
ng 24: Hoạt động tuổi trẻ xung kích bảo vệ tổ quốc ở Lâm Đồng (Trang 124)
Bảng 26:  Thiết chế văn hoá của các cấp bộ Đoàn ở Lâm Đồng - Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay
Bảng 26 Thiết chế văn hoá của các cấp bộ Đoàn ở Lâm Đồng (Trang 131)
Bảng 32: Mong muốn lớn nhất của cán bộ Đoàn - Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay
Bảng 32 Mong muốn lớn nhất của cán bộ Đoàn (Trang 199)
Bảng 1: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ - XÃ HỘI - Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay
Bảng 1 TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU KINH TẾ - XÃ HỘI (Trang 285)
Bảng 2: SỐ LIỆU CÔNG TÁC GIÁO DỤC CỦA ĐOÀN NHIỆM KỲ 2002 – 2006 ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN - Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay
Bảng 2 SỐ LIỆU CÔNG TÁC GIÁO DỤC CỦA ĐOÀN NHIỆM KỲ 2002 – 2006 ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN (Trang 289)
Bảng 4: HOẠT ĐỘNG TUỔI TRẺ XUNG KÍCH BẢO VỆ TỔ QUỐC 2002 – 2006 - Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay
Bảng 4 HOẠT ĐỘNG TUỔI TRẺ XUNG KÍCH BẢO VỆ TỔ QUỐC 2002 – 2006 (Trang 293)
Bảng 7: SỐ LIỆU CÔNG TÁC TỔ CHỨC HỘI LIÊN HIỆP THANH NIÊN VIỆT NAM NĂM 2002 - 2006 - Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay
Bảng 7 SỐ LIỆU CÔNG TÁC TỔ CHỨC HỘI LIÊN HIỆP THANH NIÊN VIỆT NAM NĂM 2002 - 2006 (Trang 299)
Bảng 8: HOẠT ĐỘNG ĐỘI VÀ CÔNG TÁC THIẾU NHI NĂM 2002 – 2006 - Giải pháp tăng cường đoàn kết, tập hợp thanh niên các dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay
Bảng 8 HOẠT ĐỘNG ĐỘI VÀ CÔNG TÁC THIẾU NHI NĂM 2002 – 2006 (Trang 301)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w