Đồng thời cũng đối mặt với một loạt vấn đề mới và dịch HIV/AIDS, là một trong số đó trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tháng 11 năm 1995 đến nay tổng số người nhiễm HIV/AIDS tr
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Đại dịch HIV/AIDS trên thế giới đang ngày càng gia tăng, mang một gánh nặng cho ngành Y tế và xã hội nói chung, cũng như mỗi gia đình có người nhiễm HIV/AIDS nói riêng, một hiểm họa chẳng những cho hôm nay
mà còn kéo dài cho tương lai, gia đình con cháu họ, nếu như chúng ta không
có biện pháp ngăn chặn tích cực và quyết liệt Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS trên thế giới cũng như Việt Nam ngày một tăng lên, diện đối tượng bị nhiễm ngày nay không chỉ phổ biến ở tuổi thanh niên và trung niên mà đã xuất hiện mọi lứa tuổi, ngay cả lứa tuổi trẻ em
Nguyên nhân lây nhiễm HIV/AIDS như ta đã biết bằng nhiều con đường: qua lối sống trụy lạc (như mại dâm, quan hệ đồng tính…) qua tiêm truyền dịch, qua các dịch vụ Y tế không tuân thủ vệ sinh, nhưng con đường lây truyền qua NCMT là một nguy cơ nặng nề nhất
Tại Thanh Hóa là tỉnh có đa dạng địa hình như biển, đồng bằng, trung
du và miền núi biên giới, là tỉnh nằm trong vùng ảnh hưởng của tác động kinh tế trọng điểm Bắc bộ, Bắc Lào và Trung bộ, là tỉnh có điều kiện thuận lợi để giao lưu và phát triển kinh tế, xã hội và có đường biên giới dài hàng chục ki-lô-mét với nước bạn Lào Đồng thời cũng đối mặt với một loạt vấn
đề mới và dịch HIV/AIDS, là một trong số đó trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tháng 11 năm 1995 đến nay tổng số người nhiễm HIV/AIDS trên toàn tỉnh là 5.103 người, đứng thứ 6 trên toàn quốc Trong đó
số người chuyển sang giai đoạn AIDS là 2.494, tổng số tử vong do AIDS là
847 người, có 528/636 xã có người nhiễm HIV/AIDS, tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS/100.000 dân: 150 người trên 100.000 dân Song song với hiện trạng trên thì tình trạng nghiện chích ma túy ở Thanh Hóa cũng tăng lên theo
tỷ lệ thuận với nhiễm HIV Hiện nay bệnh đang có xu hướng tăng lên ở các huyện thị nhất là các khu đô thị du lịch [24] và các huyện miền núi
Trang 2Sầm Sơn là thị xã du lịch biển nằm ở phía đông thành phố Thanh Hóa với diện tích 28,6km2 dân số gần 58.300, phía Tây và phía Nam giáp với huyện Quảng Xương, phía Bắc giáp huyện Hoằng Hóa, phía Đông là biển đông, hàng năm đón khoảng gần hai triệu lượt khách đến thăm quan du lịch, tắm biển, là nơi có tiềm năng du lịch phát triển nhất của Thanh Hóa, bên cạnh
sự phát triển mạnh về du lịch thì các tệ nạn xã hội cũng phát triển mạnh theo như mại dâm, ma túy 100% số xã phường đều có người nhiễm HIV theo số liệu của trung tâm y tế Sầm Sơn tính đến 30/10/2011 số tích lũy 148 người nhiễm HIV, số tích lũy tử vong 23 người, số tích lũy hiện còn quản lý HIV
125 người, AIDS 28 người Ngoài ra còn có hàng trăm đối tượng trong địa bàn và ở các vùng lân cận đến kiếm sống mà không được quản lý
Cho đến nay trên địa bàn thị xã Sầm Sơn chưa có một nghiên cứu khoa học nào về HIV/AIDS Xuất phát từ những lý do trên tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài: “Thực trạng nhiễm HIV trên đối tượng nghiện chích ma túy
đến xét nghiệm tại phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện Trung tâm y tế Sầm Sơn năm 2011”
Với 2 mục tiêu sau:
1- Xác định tỷ lệ nhiễm HIV của người nghiện chích ma túy đến xét nghiệm tại phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện Trung tâm y tế Sầm Sơn trong năm 2011
2- Mô tả một số kiến thức và yếu tố liên quan đến nhiễm HIV của người chích ma túy đến xét nghiệm tại địa điểm trên
Từ đó đề xuất một số biện pháp can thiệp nhằm góp phần làm giảm tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trên đối tượng nghiện chích ma túy của thị xã
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Virút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV)
1.1.1 Một số đặc điểm của Virut HIV
HIV có đặc điểm chung của họ Retroviridae, chúng có dạng hình cầu kích thước khoảng 80 - 100mm Genom là ARN một sợi và có enzym sao chép ngược (RT: Reverse Transcritase)
Có 5 nhóm lớn trong họ Retroviridae một trong số 5 nhóm đó có khả năng lây nhiễm trùng chậm là Lentivirus HIV - 1, HIV - 2 của Lentivirus có khả năng gây bệnh AIDS ở người
1.1.2 Cấu trúc của Virut HIV
Virut hoàn chỉnh có cấu trúc gồm 3 lớp.[12,50]
* Lớp vỏ ngoài là một lớp lipid kép, với 72 cấu trúc lồi trên bề mặt, có bản chất là glucoprotein, với trọng lượng 120 và 41 kilodalton
* Lớp lõi là những thành phần bên trong lớp capsid, trong đó là:
- Genom của HIV, gen Gag mã cho các kháng nguyên đặc hiệu nhóm (group specific antigen) gen polymerase mã hóa cho các Env (Envelop) mã hóa cho các glycoprotein lớp vỏ ngoài Các gen điều hòa quá trình nhân lên của HIV; gen Tat, Nef, Rev Các gen mã cho các protein khác: Vif, Vpv, Vpw
Trang 4* RT enzym sao chép ngược, dạng hoạt động của nó là P66/51 ở HIV-1
và P68/51 ở HIV-2 Enzym đảm nhiệm sao mã bộ gen virus thành AND bổ sung
* Protease (p12) có vai trò tách polyprotein được mã hóa bởi gen Gag và Pol thành các phân tử hoạt động
* Endonuclease (p31 ở HIV-1 và p34 ở HIV-2) có vai trò tích hợp AND của virut vào tế bào chủ
1.1.3 Vòng đời của virut HIV
Thời gian tồn tại của tế bào chủ nhiễm virut bị ngắn do virut sử dụng tế bào chủ là nơi nhân lên virut Hàng chục triệu virut được tạo nên trong 1 ngày Sau 5-7 ngày bị phơi nhiễm, những tế bào bị nhiễm virut di chuyển đến
cơ quan lympho ngoại vi, tại đây virut sẽ nhân lên nhanh chóng Quá trình này diễn ra trong 5 giai đoạn sau:
* Giai đoạn gắn kết Nhờ phân tử CD4 và các đồng cụ thể CCR5 với đại thực bào T, virut được hòa màng envelop của HIV với màng tế bào và xâm nhập vào tế bào chủ
* Giai đoạn sao chép ngược, nhờ RT, ADN bổ sung cho HIV được tạo thành từ khuôn mẫu ảnh của nó, đầu tiên là phân tử lai ARN- ADN, sau đó là ARN được tách ra khỏi ADN nhờ ARN - ase và sợi AND bổ sung mới được tổng hợp tạo thành ADN chuỗi kép
* Giai đoạn nhân lên bằng cách ADN chuỗi kép chui vào nhân tế bào chủ và tích hợp vào AND tế bào nhờ intergrase AND bổ sung của HIV sao
mã thành ARN genom, ARNm, các protein cần thiết của HIV
* Giai đoạn nảy chồi, từ các thành phần đã được tổng hợp, các hạt HIV mới được lắp ráp ở bào tương tế bào, các hạt vi rút tiến gần màng sinh chất
và đẩy màng nẩy chồi
Trang 5* Giai đoạn trưởng thành, từ cách nảy chồi các hạt virus được giải phóng khỏi tế bào và tiếp tục gây nhiễm cho tế bào mới Các tế bào giúp cho virus nhân lên thì bị chết
1.1.4 Động học của virus
HIV nhân lên hàng ngày trong cơ thể người nhiễm Song song với hàng chục triệu virut nhân lên trong mỗi ngày thì tế bào lympho TCD4 bị tiêu diệt trong mỗi ngày tương đương 1/5 số virut nhân lên
Động học của HIV phụ thuộc vào đáp ứng miễn dịch của người nhiễm, phụ thuộc vào HIV- 1 hay HIV-2 Phụ thuộc vào TCD4 hình thành mới nhiều hay ít Điều này được chứng minh bằng động học của kháng nguyên p24 trước sự biến đổi của kháng thể chống kháng nguyên p24, kháng thể tăng thì kháng nguyên p24 giảm và ngược lại hoặc thời gian nung bệnh của HIV- 2 dài hơn HIV-1 hoặc tế bào lympho TCD4 mới nhiều thì sự giảm đi của TCD4
sẽ chậm hơn
Một ít trường hợp virut tích hợp trong tế bào lympho TCD4 không hoạt hóa quá trình sao chép và dịch mã để tổng hợp ra các protein cần thiết của virut thì tạo nên nhiễm trùng tiềm tàng
HIV còn tồn tại trong cơ thể vĩnh viễn mặc dù thuốc kháng Retrovirus kéo dài HIV sẽ nhân lên và phục hồi sau khi ngừng thuốc
1.1.5 Tóm tắt đường lây truyền HIV
* Qua đường tình dục (âm đạo dương vật, miệng sinh dục, hậu môn dương vật) với người bị nhiễm HIV nếu không dùng bao cao su
-* Qua đường máu: Truyền máu không được sàng lọc HIV dùng chung kim tiêm và các vật sắc nhọn đâm qua da mà không được tiệt trùng đúng cách Bị dính máu và dịch cơ thể của người nhiễm HIV qua các vết thương
hở
Trang 6* Mẹ bị nhiễm HIV có khả năng truyền cho con trong quá trình mang thai, khi đẻ, khi cho con bú
* Qua đường tiêm chích ma túy
1.1.6 Các giai đoạn của quá trình nhiễm HIV
Có 3 giai đoạn như sau:
* Giai đoạn nhiễm HIV cấp tính Thường thường người ta không biết mình nhiễm HIV vào lúc nào và cho tới khi thông qua một xét nghiệm vì ốm đau hay là vì một lý do nào đó thì mới biết Có thể có một vài biểu hiện lâm sàng, song ít được chú ý tới vì nó giống như bị cảm cúm
* Giai đoạn HIV không triệu chứng
Người nhiễm HIV vẫn khoẻ mạnh bình thường, hệ miễn dịch vẫn có khả năng chống lại virus giai đoạn này gọi là thời kỳ “ủ bệnh” đây là khoảng thời gian từ khi nhiễm HIV tới khi người nhiễm phát bệnh có virus, thời gian này
ở người lớn trung bình là 10 năm Phần lớn người trong số họ chưa thấy bất
kỳ triệu chứng nào và nhiều người còn chưa biết mình đã bị nhiễm HIV và họ
có thể làm lây nhiễm sang người khác
* Giai đoạn có biểu hiện triệu chứng lâm sàng
Sau thời kỳ ủ bệnh, người nhiễm HIV bắt đầu trở nên ốm yếu, virus làm suy yếu hệ thống miễn dịch của họ tới mức họ mắc các bệnh nhiễm trùng mà
ở người có hệ miễn dịch bình thường có thể vượt qua được Các bệnh nhiễm trùng này còn gọi là nhiễm trùng cơ hội và một số bệnh ung thư là nguyên nhân khiến người nhiễm HIV ốm đau
1.1.7 Phương hướng dự phòng nhiễm HIV
Cho đến nay chưa có loại thuốc nào chữa khỏi được cho các bệnh nhân
bị nhiễm HIV, vì vậy công tác dự phòng là biện pháp tốt nhất mà chúng ta có
Trang 7thể làm được để ngăn chặn sự lây lan của loại virus này Một trong những biện pháp tốt nhất để phòng các bệnh truyền nhiễm là tiêm vaccin phòng ngừa nhưng hiện nay chúng ta chưa có vaccin phòng HIV, hiện nay trên thế giới công việc này mới chỉ đang ở trong giai đoạn nghiên cứu thử nghiệm
Do đó, cách tốt nhất là giáo dục cho mọi người biết cách đề phòng HIV khi
mà họ chưa bị nhiễm, hoặc không làm lây nhiễm HIV sang người khác bằng các biện pháp cụ thể như sau: [2]
- Phòng nhiễm HIV lây qua đường tình dục như sống chung thủy một vợ một chồng Trong trường hợp quan hệ tình dục với một người chưa rõ có bị nhiễm HIV hay không thì cần phải thực hiện tình dục an toàn bằng cách sử dụng bao cao su Dùng thuốc diệt tinh trùng và HIV
- Phòng lây nhiễm HIV qua đường máu như: Chỉ truyền máu khi thật cần thiết và chỉ nhận máu đã xét nghiệm HIV Hạn chế tiêm chích nếu buộc phải tiêm thì nên dùng loại bơm kim tiêm sử dụng một lần Các dụng cụ phẫu thuật phải được khử trùng bằng nhiệt hay bằng hóa chất Tránh tiếp xúc trực tiếp các dịch cơ thể của người nhiễm HIV Đối với những người NCMT thì dùng bơm kim tiêm sạch
- Phòng lây nhiễm từ mẹ sang con như: Phụ nữ nhiễm HIV không nên mang thai, nếu có thai thì uống thuốc dự phòng
1.2 Dịch tễ học của nhiễm HIV/AIDS ở thế giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây
1.2.1 Tổng hợp dịch HIV/AIDS trên thế giới đến năm 2010
- Số người sống chung với HIV là 33,2 triệu, trong đó: người lớn có 30,8 triệu, Nữ có 15,4 triệu, Trẻ em dưới 15 tuổi là 2,5 triệu
Số trường hợp mới bị nhiễm HIV trong năm 2007 là 2,5 triệu, trong đó gồm có 2,1 triệu người lớn, trẻ em dưới 15 tuổi có 420.000
Trang 8Số tử vong do AIDS trong năm 2007 là 2,1 triệu người, trong đó có 1,7 triệu là người lớn và 330.000 là trẻ em dưới 15 tuổi
1.2.2 Diễn biến về dịch tễ học của nhiễm HIV/AIDS trên thế giới
Dựa trên phương thức lây truyền và thời điểm công bố những trường hợp nhiễm HIV, các nhà dịch tễ học đã phân chia nhiễm HIV thành 3 mô hình dịch tễ:
Mô hình I: Gặp ở Bắc Mỹ, Nhật Bản, Úc, New Zealand và tây Âu Dịch
được phát hiện từ thập kỷ 80, lây truyền ban đầu qua đường tình dục đồng giới và NC MT sau đó lây vào cộng đồng
Mô hình II: gặp ở Châu phi, dịch được phát hiện từ năm 1985, lây
truyền qua đường tình dục khác giới và các vật đâm chích qua da vô trùng rồi lan rất nhanh vào cộng đồng
Mô hình III: Gặp ở các vùng còn lại trên thế giới như Đông Âu, Châu
Á ban đầu dịch bùng nổ trong nhóm người có hành vi nguy cơ cao như NC
MT, gái mại dâm sau đó qua quan hệ tình dục khác giới và bệnh lan tràn nhanh vào cộng đồng Như ta đã biết, người nhiễm HIV giai đoạn đầu trông vẫn khỏe mạnh, không có bộc lộ gì ra bên ngoài vì thời kỳ đó không có biểu hiện các triệu chứng của HIV có thể từ 8 ->10 năm hoặc lâu hơn Do đó, khi
ta biết được một người bị HIV/AIDS thì xung quanh đã có từ 8000 ->10.000 người bị nhiễm HIV
Năm 1998 mỗi ngày trên thế giới có khoảng 16.000 người bị nhiễm HIV- người nào bị nhiễm và nhiễm như thế nào là rất khác biệt giữa các vùng khác nhau trên thế giới Khi HIV bắt đầu xuất hiện ở một nước, phần lớn số trường hợp nhiễm thường xảy ra ở những người có quan hệ tình dục không
an toàn [56] đặc biệt với những người có nhiều bạn tình, hoặc ở những người NCMT những người được truyền máu Những người này chiếm một tỷ lệ nhỏ
Trang 9trong toàn bộ dân số, nhưng họ lại có nguy cơ lây nhiễm cao Đây là giai đoạn sớm của dịch Khu vực Bắc Mỹ đang ở trong giai đoạn này, ở đó hầu hết các trường hợp nhiễm HIV xảy ra trong nhóm người NCMT, bạn tình của
họ và những người quan hệ tình dục đồng giới.[5]
Năm 2000 có 40 triệu nam giới, phụ nữ và trẻ em sống chung với HIV, phần lớn trong số đó sống trong các nước chậm phát triển 27 triệu người trên thế giới hiện nay chưa biết rằng họ đã bị nhiễm HIV Nơi có số bị nhiễm HIV cao nhất là vùng sa mạc Sahara
Hầu hết các nước ở khu vực châu phi, số trường hợp nhiễm HIV ở phụ
nữ và nam giới là bằng nhau, điều này thể hiện virus lây truyền chủ yếu qua quan hệ tình dục khác giới giữa nam và nữ Ở một số nước khác, số trường hợp nhiễm HIV ở nam cao hơn nữ ở Mỹ, HIV lây truyền một cách nhanh chóng ở trong nhóm NCMT và nam có quan hệ tình dục đồng giới và tiếp tục lây lan trong nhóm nữ giới qua quan hệ tình dục và sử dụng ma túy Trong một vài năm tới, người ta tiên lượng rằng có thể số trường hợp nhiễm HIV mới ở phụ nữ sẽ cao hơn so với nam giới
Đến năm 2000, trọng tâm dịch sẽ là châu Á và nhất là ở Đông Nam Á [17]
1.2.3 Diễn biến về dịch tễ học của nhiễm HIV ở Việt Nam
Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt nam được phát hiện vào tháng 12/1990 tại thành phố Hồ Chí Minh, nhưng dịch thực sự bùng nổ từ năm
1993 và cũng bắt đầu từ thành phố Hồ Chí Minh, sau đó mới lan truyền ra toàn quốc và tới năm 1998 thì tất cả các tỉnh thành đều đã phát hiện có người nhiễm HIV [10]
Đến nay, dịch đã xuất hiện ở 64 tỉnh thành với gần 96% số huyện và hơn 67% số xã có người nhiễm HIV/AIDS Nhiều tỉnh, thành có tới 100% số xã
Trang 10đã có người nhiễm HIV Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS tập trung chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn.[1,37]
Cho đến ngày 31/12/2011 toàn quốc đã có 197.335 trường hợp nhiễm HIV còn sống trong đó có 29.575 trường hợp chuyển sang AIDS còn sống và 41.544 trường hợp tử vong do AIDS
Năm 2008 cả nước phát hiện 20.260 trường hợp nhiễm HIV trong đó 7.452 chuyển AIDS và có 3.256 ca tử vong do AIDS
Tình hình dịch HIV/AIDS ở Việt Nam có một số đặc điểm có thể chia diễn biến dịch HIV/AIDS thành các thời kỳ sau:
Từ 1990 - 1993 dịch tập trung ở một số tỉnh với số nhiễm HIV phát hiện dưới 1.500 trường hợp mỗi năm
Từ 1994 - 1998 dịch lan ra toàn quốc với số nhiễm HIV phát hiện hàng năm dưới 5.000 trường hợp
Từ 1999 - 2002 số nhiễm HIV phát hiện trên 10.000 trường hợp mỗi năm và dịch có xu hướng lan rộng đến các xã, phường Giám sát trọng điểm HIV cho thấy: tỷ lệ nhiễm HIV có chiều hướng tiếp tục gia tăng trong nhóm đối tượng có nguy cơ cao, đồng thời có biểu hiện gia tăng trong các nhóm đối tượng được coi là không có nguy cơ cao Dịch HIV/AIDS tại Việt Nam có liên quan mật thiết với tình trạng tiêm chích ma túy và mại dâm
Hình thái lây nhiễm HIV chủ yếu qua tiêm chích ma túy
Đa số người nhiễm HIV là người nghiện chích ma túy (khoảng 60%)
Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy tăng từ 9,4% /năm
1996 lên tới 29,34% vào năm 2002 ở một số địa phương tỷ lệ này nâng cao hơn 50% (trong 100 người nghiện chích ma túy có từ 30 đến 50 người nhiễm HIV) [39] Các tỉnh miền Bắc và miền Trung HIV bị lây nhiễm qua tiêm chích ma túy cao hơn khu vực miền Nam
Nguy cơ lây nhiễm HIV qua tiêm chích ma túy ở mức rất cao do:
Trang 11Tình trạng nghiện chích ma túy gia tăng, đặc biệt là tầng lớp trẻ tuổi Tình trạng dùng chung bơm kim tiêm vẫn còn phổ biến (hơn 40% ở thành phố Hồ Chí Minh)
Tỷ lệ gái mại dâm có tiêm chích ma túy khá cao (điều tra hành vi cho thấy hơn 40% gái mại dâm tại Hà Nội có tiêm chích ma túy) Vì vậy, ngăn chặn lây nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy có ý nghĩa quan trọng trong việc khống chế sự lan tràn HIV ở Việt Nam
*Đối tượng nhiễm HIV có xu hướng “trẻ hóa” ngày càng rõ rệt [4] [46]
Tỷ lệ người nhiễm HIV ở lứa tuổi 20 - 29 là 15% vào năm 1993 đã tăng lên đến 62% vào cuối năm 2002
Người nhiễm HIV ở lứa tuổi 15 - 49 chiếm 95% các trường hợp nhiễm Nhiễm HIV ở lứa tuổi vị thành niên (từ 10 - 19 tuổi chiếm 8,3% các trường hợp nhiễm [41]
* Lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục có xu hướng gia tăng và giao động
Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm gái mại dâm tiếp tục gia tăng hàng năm từ 0,6% năm 1994 lên tới 6% vào năm 2002 [33]
Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm bệnh nhân mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục cũng tăng qua các năm và lên tới 2,9% vào năm 2001
* Dịch HIV/AIDS đã có dấu hiệu lây lan ra cộng đồng
Mức độ lây lan của dịch từ nhóm nguy cơ cao ra cộng đồng biểu hiện qua tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong nhóm phụ nữ mang thai và nhóm thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự.[43]
Trang 12Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm thanh niên khám tuyển nghĩa vụ quân sự tăng 0,93% vào năm 2001
- Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mang thai năm 2002 là 0,34%
- Đã phát hiện 373 trường hợp trẻ em dưới 5 tuổi nhiễm HIV do lây truyền từ mẹ sang con
* Đối tượng nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam đa dạng có ở mọi địa phương, diễn biến phức tạp
Đối tượng nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam không còn tập trung trong một
số nhóm nguy cơ cao mà đã xuất hiện trong nông thôn, học sinh, sinh viên, tân binh, thậm chí trong giới công chức cũng đã có người nhiễm HIV [31] cả
64 tỉnh, thành phố trên toàn quốc đều có người nhiễm HIV/AIDS, 97,53% số quận, huyện và 70,51% số xã, phường đã phát hiện các trường hợp nhiễm HIV, nhiều tỉnh, thành phố có 100% số xã, phường đã có người nhiễm HIV/AIDS
1.2.4 Một số nghiên cứu về HIV/AIDS và các hành vi nguy cơ
Theo Nguyễn Lê Tâm, Dương Quang Minh với đề tài nghiên cứu “dịch
tễ học HIV/AIDS tỉnh Thừa Thiên Huế từ năm 1993-2004” cho thấy tỷ lệ nam nhiễm HIV và 84,03% nữ là 15,96% [42]
Theo Hà Thị Lãm với đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ về HIV/AIDS tại huyện Kiến Xương và thành phố Thái Bình” thấy rằng tỷ lệ nam nhiễm HIV là 93,5% nữ là 6,5% [28]
Về các hành vi nguy cơ “Hành vi tình dục và kiến thức phòng chống HIV/AIDS của người dân tộc dao xã Đại Sơn, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái” của Nguyễn Thanh Hương và Lộc Thị Mai cho thấy: hiểu biết của người dân
về 3 biện pháp phòng lây nhiễm HIV còn hạn chế chỉ là 56,2% Tỷ lệ nam giới có quan hệ tình dục trước hôn nhân với số lượng nhiều hơn 1 bạn tình là
Trang 1360% ở nữ giới tỷ lệ này là 11,7% Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có sử dụng bao cao su trong lần quan hệ tình dục đầu tiên khá thấp chỉ có 79% với lý do không cần thiết 42,6% không nghĩ đến 87,6% [22]
Theo Khương Văn Duy, Nguyễn Trần Hiển nghiên cứu “kiến thức thái
độ và thực hành phòng chống HIV/AIDS của thanh thiếu niên từ 15 đến 24 tuổi) ở tỉnh Hà Tĩnh cho thấy [16] tỷ lệ thanh niên có sử dụng ma túy là 0,6% nhưng không có đối tượng nào chuyển từ nghiện hút sang tiêm chích ma túy
Tỷ lệ thanh thiếu niên có quan hệ tình dục với gái mại dâm chiếm 20% với bạn tình thoáng qua chiếm 5% và người yêu chiếm 83,3% và tỷ lệ thanh thiếu niên sử dụng bao cao su thường xuyên trong 12 tháng qua với gái mại dâm là 58,3% và với người yêu là 7,4% [11]
Theo Lê Ngọc Yến và CS nghiên cứu “Nhận thức và hành vi nguy cơ dễ nhiễm HIV của người nghiện ma túy” thấy tỷ lệ người nghiện ma túy hiểu biết về cách phòng nhiễm HIV cao: phải dùng bơm kim tiêm sạch (70,6%) và dùng bao cao su khi quan hệ tình dục (80,9%) Về thực hành an toàn còn thấp: 57,1% vẫn dùng chung bơm kim tiêm và chỉ có 20,6% dùng bơm kim tiêm một lần: 34,9% dùng bao cao su khi quan hệ tình dục, trong đó chỉ có 45,6%
Theo Phan Văn Tường, Nguyễn Thị Nhung tìm hiểu “Kiến thức và thực hành phòng chống HIV/AIDS của đối tượng nghiện chích ma túy ở phường Cửa Nam, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An và một số yếu tố liên quan” thấy có 36,5% đối tượng không hiểu đường lây truyền của HIV/AIDS Về thực hành
tỷ lệ đối tượng dùng chung bơm kim tiêm là 42,2%, với các lý do như: Không có sẵn ở hiệu thuốc, không có tiền, ngại ngùng khi mang trong người
vì có thể là vật chứng khi bị Công an phát hiện Các đối tượng này làm sạch bơm kim tiêm bằng cách: Rửa nước (4,9%); luộc sôi (36,5%); rửa bằng xà phòng, chất tẩy (16,2%); rửa bằng cồn (22,7%); cách khác (19,5%) [48]
Trang 14Theo nghiên cứu của Nguyễn Tuấn Bình, Phạm Đức Chấn và Đào Ngọc Phong về “Một số yếu tố nguy cơ nhiễm HIV của phạm nhân tại trại giam Quảng Ninh - Bộ Công An năm 2004” cho thấy: Tỷ lệ nhiễm HIV trong phạm nhân là 21,4% tập trung ở phạm nhân nam là chủ yếu (94,6%) và lứa tuổi thường gặp là 20 - 29 (62,2%) Tỷ lệ các phạm nhân có hiểu biết đúng về
cả 3 đường lây truyền HIV là dùng chung BKT, QHTD không an toàn và mẹ mang thai truyền sang con là 59,8% Nghiên cứu cho thấy đa số phạm nhân
đã từng có QHTD (78,7%) và phần lớn có QHTD trước tuổi 20 (62%) Có tới 32,8% phạm nhân đã từng QHTD với GMD, trong số đó 32,6% không dùng BCS trong lần QHTD gần nhất Đáng chú ý có trên 70% phạm nhân không dùng BCS trong lần QHTD gần đây nhất với những bạn tình thoáng qua [6] Cũng theo kết quả nghiên cứu, tỷ lệ phạm nhân đã từng sử dụng ma túy là 39,3%; thời gian sử dụng ma túy chủ yếu là dưới 10 năm (72,1%) Trong số những phạm nhân nghiện ma túy, tỷ lệ dùng chung BKT là 51,5%; lý do là không có BKT và không được hướng dẫn (32,4% và 30,9%) Tỷ lệ sử dụng lại BKT cũ là 47% và có tới 30,8% phạm nhân không thường xuyên khử trùng BKT [27]
Theo Khương Văn Duy và CS nghiên cứu “Thực trạng về kiến thức phòng chống HIV/AIDS của đối tượng học sinh trung học phổ thông ở Hải Phòng, năm 2005” cho thấy: Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông ở Hải Phòng
có kiến thức về đường lây nhiễm HIV/AIDS (quan hệ tình dục, tiêm chích
ma túy, truyền máu và mẹ truyền cho con) rất cao (trên 89%), nhưng còn một
tỷ lệ nhỏ học sinh hiểu sai đường lây nhiễm HIV/AIDS (lây qua muỗi đốt và
ăn uống chung) [15], [26]
Trang 15Theo Hoàng Thị Bích Việt, Nguyễn Trần Hiển và Đào Thị Minh An nghiên cứu “Kiến thức, thực hành và một số yếu tố liên quan đến nhiễm HIV
ở người nghiện chích ma túy tại thành phố Hạ Long - tỉnh Quảng Ninh” cho thấy: Tỷ lệ nhiễm HIV ở người NCMT có kiến thức về đường lây truyền HIV khá cao (96,5% qua đường tình dục, 98,6% qua BKT, 90,8% do nhận máu truyền, 87,9% lây từ mẹ sang con) Các đối tượng NCMT có kiến thức về bệnh STDs chiếm 55% Đối tượng NCMT nằm trong độ tuổi 20 -30 tuổi chiếm 60,4% Đối tượng TCMT ở đây có thời gian TCMT trên 5 năm chiếm 67,9% trong đó 99% là sử dụng heroin, tần suất tiêm chích 1 - 3 lần trong ngày chiếm 75,1% Tỷ lệ dùng lại BKT chiếm 12%, tỷ lệ không bao giờ làm sạch BKT chiếm 32,4% Người NCMT có bạn tình là gái mại dâm chiến tỷ lệ 37,4%, ngoài ra bạn tình là Bạn tình thoáng qua không trả tiền chiếm 8,6%
Tỷ lệ luôn dùng BCS trong 12 tháng qua đối với gái mại dâm là 54,1% cao hơn so với vợ, người yêu hoặc Bạn tình thoáng qua Tỷ lệ người NCMT báo cáo mắc STDs chiếm 4,7% Tỷ lệ người NCMT đã xét nghiệm HIV chiếm 29,1%; trong số này 73,8% xét nghiệm tự nguyện Nghiên cứu tìm thấy sự kết hợp có ý nghĩa thống kê về nguy cơ lây nhiễm HIV với số năm TCMT: Đối tượng NCMT có số năm TCMT trên 3 năm có nguy cơ lây nhiễm HIV cao gấp 4 lần so với những người có số năm TCMT dưới 2 năm Những người mượn lại BKT có nguy cơ lây nhiễm HIV cao gấp 2,8 lần so với những người không mượn lại BKT
Theo nghiên cứu của Lê Khánh Trâm, Nguyễn Xuân Quang về tỷ lệ nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan trên đối tượng tư vấn và xét nghiệm tự nguyện tại bệnh viện Bạch Mai từ tháng 9/2005 đến 6/2006 cho thấy: Tỷ lệ nhiễm HIV chung của đối tượng đến tư vấn xét nghiệm tự nguyện tại bệnh viện Bạch Mai là 31,5% Tỷ lệ nhiễm HIV là nam giới là 32,3%, nữ giới là
Trang 1629,7% Tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất ở nhóm tuổi 30 - 39 tuổi chiếm 35,8%, thứ hai là nhóm 20 - 29 tuổi 32% Tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất ở nhóm có trình độ học vấn PTCS 41,5%, sau đó là nhóm mù chữ 40%; đối tượng góa và ly hôn
có tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn 50% và 43,8% Tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất ở nhóm TCMT 58,7% thứ hai là nhóm TCMT và tình dục không an toàn 57,9% Nhóm quan hệ tình dục không an toàn khác giới là 25,5% Nghiên cứu tìm ra những người TCMT có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp 4,82 lần so với người không TCMT
Dương Thị Thu Hằng, Nguyễn Trần Hiển nghiên cứu “Mô tả các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV của người nghiện chích ma túy ở một số trọng điểm tại Điện Biên năm 2004” cho thấy: Tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở người NCMT tại tỉnh Điện Biên năm 2004 là 51% Tỷ lệ hiểu biết đúng về đường lây truyền HIV qua QHTD và dùng BKT > 95% Nhưng chưa có sự phù hợp giữa nhận thức và hành vi, người NCMT vẫn có những hành vi nguy cơ cao như: Tỷ lệ dùng lại BKT trong 1 tháng qua là 27,1% tỷ lệ người NCMT tại Điện Biên có QHTD với gáI mại dâm trong 12 tháng qua là 19,1%, với bạn tình thoáng qua
là 6,0% Tỷ lệ luôn dùng BCS trong 12 tháng qua đối với vợ là 46%; với gái mại dâm là 76% với bạn tình thoáng qua là 25% Những người có thời gian TCMT > 4 năm có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn những người có thời gian TCMT dưới 4 năm: OR = 4,23 Những người có tần xuất TCMT > lần/ ngày
có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn những người có tần xuất tiêm chích < 1 lần / ngày với OR = 2,78
1.2.5 Dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện tại Việt Nam
Tư vấn xét nghiệm tự nguyện là hình thức kết hợp giữa tư vấn và xét nghiệm HIV trong đó đối tượng tư vấn hoàn toàn tự nguyện sử dụng và toàn
Trang 17quyền lựa chọn dịch vụ tư vấn xét nghiệm HIV vô danh hoặc tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện ghi tên
Hoạt động dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện tại Việt Nam xuất hiện lần đầu tiên vào cuối năm 2002 Đến năm 2003 đã triển khai ở 18 tỉnh thành,
tư vấn xét nghiệm tự nguyện cho 5156 đối tượng có hành vi nguy cơ cao với
tỷ lệ nhiễm HIV là 21,8% Sau 3 năm hoạt động, năm 2005 tư vấn xét nghiệm tự nguyện đã phổ biến ở trên 40 tỉnh thành thu hút nhiều đối tượng đến tư vấn và xét nghiệm với tỷ lệ nhiễm HIV cao Tính đến tháng 3/2006 có
50 phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện hoạt động tư vấn cho 88000 đối tượng với 80% có nguy cơ cao và tỷ lệ HIV dương tính là 17% [44] Đến tháng 09 năm 2010 tư vấn xét nghiệm tự nguyện đã triển khai ở 50 tỉnh thành với gần
80 phòng tư vấn
Mục đích của hoạt động tư vấn xét nghiệm tự nguyện là làm giảm số mới nhiễm HIV thông qua tư vấn và thay đổi hành vi nguy cơ, chẩn đoán nhiễm HIV và là cầu nối gắn kết cho các đối tượng có nguy cơ cao, đối tượng nhiễm HIV tiếp cận với dịch vụ phòng tránh lây nhiễm và chăm sóc y tế
1.2.6 Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Thanh Hóa từ năm 1997 đến hết 2011
Trang 18
Bảng 1.2 Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Thanh Hóa từ 1997 đến 2011
STT Năm Số nhiễm HIV mới AIDS Tử vong Lũy tích
Trang 19Bảng 1.3: Tình hình HIV/AIDS tại Thanh Hóa phân theo huyện/ thị xã/thành phố năm 2011
STT Quận, huyện
Số mới phát hiện
Số lũy tích
Số mới phát hiện
Số lũy tích
Số mới phát hiện
Số lũy tích
Trang 20Theo Thống kê tại bảng 1.3 cho thấy: Tỷ lệ người nhiễm HIV tập trung
chủ yếu ở thành phố, thị xã và vùng miền núi biên giới là nơi có tỷ lệ người
nghiện chích ma túy và nhiễm HIV tăng cao
* Tỷ lệ nhiễm HIV ở Thanh Hóa chia theo nhóm đối tượng từ 1995 -
2010
- Tiêm chích ma túy: 58,72% - Mại dâm: 8,12%
- Hoa liễu: 1,41% - Lao: 8,03%
- Phụ nữ mang thai: 1,59% - Tân binh: 1,06%
- Mẹ truyền con: 0,95% - Không rõ: 19,97%
Qua đó ta thấy tỷ lệ nhiễm HIV trên đối tượng nghiện chích ma túy ở
Thanh Hóa chiếm tỷ lệ cao nhất 58,72%
* Tỷ lệ nhiễm HIV ở Thanh Hóa chia theo khoảng tuổi từ 1997 - 2011:
- < 13 tuổi: 0,07% - 13 đến 19 tuổi: 4,81%
- 20 đến 29 tuổi: 52,14% - 30 đến 39 tuổi: 4,81%
- 40 đến 49 tuổi: 4,81% - > 50: 0,99%
Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS ở Thanh Hóa chủ yếu tập trung ở nhóm đối
tượng từ 20 - 29 tuổi (tỷ lệ chiếm: 52.14%)
Trang 21* Tỷ lệ nhiễm HIV ở Thanh Hóa chia theo giới tính từ 1997 - 2011:
- Nam: 88,8% - Nữ: 11,2%
Tỷ lệ nhiễm HIV ở Thanh Hóa nam giới chiếm tỷ lệ cao hơn so với nữ
1.3 Tình hình về tội phạm và nghiện chích ma túy ở Việt Nam trong thời gian gần đây
Dù rằng Nhà nước ta, cũng như thế giới đã có nhiều biện pháp cứng rắn đối với bọn tội phạm buôn bán thuốc phiện và các biệt dược, thực hiện nhiều hình thức tích cực trong việc hạn chế nghiện chích ma túy, song tình hình về tội phạm ma túy vẫn diễn biến rất phức tạp, đặc biệt ở các tuyến biên giới phía Tây Bắc, Bắc miền Trung và Tây Nam Bọn tội phạm cấu kết với nhau thường xuyên buôn bán vận chuyển ma túy với một số lượng rất lớn từ bên ngoài vào nước ta và ngược lại Có nhiều tên tội phạm về ma túy bị truy
nã đang lẫn trốn ở nước ngoài đã quay trở về lại móc nối với các toán phỉ thành lập các đường dây, các tụ điểm để buôn bán vận chuyển ma túy ngay ở biên giới giữa nước ta với các nước láng giềng
Trong năm 2006 trên tuyến biên giới Việt - Trung số vụ và lượng ma túy vận chuyển qua biên giới tăng lên từ 20 - 30% so với trước đây Tại biên giới Việt - Lào, tăng thêm 27 địa bàn có tội phạm ma túy hoạt động, có xã, bản gần như 100% các hộ gia đình có người tham gia buôn bán ma túy, bọn tội phạm lợi dụng địa hình hiểm trở để tập kết thành các tụ điểm, tổ chức các
“chợ ma túy” trên biên giới thông qua những người dân qua lại trên biên giới
để cất dấu ma túy trong các hành lý…
Về tình hình nghiện chích ma túy: Theo báo cáo của những cơ quan chuyên môn thì số người NCMT có hồ sơ kiểm soát trong cả nước là trên 160.000 người (tính đến thời điểm cuối năm 2006) [7] Trong số này mới chỉ
có hơn 31.000 NCMT hiện đang là phạm nhân, các học viên tại các cơ sở
Trang 22giáo dục do bộ Công an quản lý Thị xã Sầm Sơn là một trong 24 tỉnh thành
có số người NCMT tăng lên
Trong số người NCMT, thì nam giới chiếm 97,34% nữ chiếm 2,66%
Về độ tuổi: Dưới 16 tuổi chiếm tỷ lệ : 0,18%
Hình thức sử dụng chủ yếu là tiêm chích chiếm trên 80,00% [1]
Theo Nguyễn Bích Ngọc, Nguyễn Hoàng Tùng với đề tài nghiên cứu
“Mô tả quá trình sử dụng Heroin của thanh thiếu niên có nguy cơ cao và một
số yếu tố ảnh hưởng tại Hà Nội năm 2005” thì đa số đối tượng sử dụng ma túy trong vòng 1 tháng sau lần sử dụng đầu tiên (84,4%)
Trong số 92,3% đối tượng hút Heroin thì có 66,7% đối tượng chuyển sang chích [32] Việc chuyển từ hút sang chích hầu như xuất phát từ sự tò
mò, thích cảm giác mạnh và đặc biệt vì lý do kinh tế không đủ tiền mua thuốc hút của các đối tượng tiêm chích
Hành vi NCMT có nguy cơ nhiễm HIV rất cao vì các đối tượng này thường dùng chung thuốc, chung bơm kim tiêm
1.4 Một số điều tra về tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS
Điều tra trên nhóm NCMT tại Khánh Hòa cho thấy: Tỷ lệ nhiễm HIV
là 12,8%, chủ yếu tập trung ở nhóm tuổi 20 - 29 chiếm 67,9%, trình độ văn hóa thấp từ cấp II trở xuống chiếm 61,1% 50% người nhiễm HIV còn độc thân chưa có gia đình [3]
Theo kết quả điều tra trên đối tượng NCMT tỉnh Ninh Bình năm 2009:
Tỷ lệ nhiễm HIV là 28,4%, 592% tập trung ở nhóm tuổi 26 -35, nam giới
Trang 23chiếm 98,6%; 54% người nhiễm HIV có trình độ THCS; 77,2% làm nghề tự
do [36]
Với đề tài nghiên cứu “Dịch tễ học HIV/AIDS tỉnh Thừa Thiên Huế năm 1993- 2004” cho thấy tỷ lệ nam nhiễm HIV là 84,03%, nữ là 15,96% [36]
Theo kết quả “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ về HIV/AIDS tại huyện Kiến Xương thành phố Thái Bình” thấy rằng tỷ lệ nam nhiễm HIV là 93,5%, nữ là 6,5% [26]
Theo kết quả nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm HIV và một số yếu tố liên quan trên đối tượng TVXNTN tại bệnh viện Bạch Mai từ tháng 9/2005 đến 6/2006 cho thấy: Tỷ lệ nhiễm HIV chung của đối tượng đến TVXNTN tại bệnh viện Bạch Mai là 31,5% Tỷ lệ nhiễm HIV ở nam giới là 32,3%, nữ giới
là 29,7% Tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất ở nhóm tuổi 30 - 39 chiếm 35,8%, thứ 2
là nhóm tuổi 20 - 29 chiếm 3,2% Tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất ở nhóm có trình
độ học vấn PTCS 42,5%, sau đó là nhóm mù chữ 40%; đối tượng góa và ly hôn có tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn 50% và 43,8% Tỷ lệ nhiễm HIV cao nhất ở nhóm TCMT 58,7% thứ hai là nhóm TCMT và tình dục không an toàn 57,9%
1.5 Một số điều tra về kiến thức, thái độ và thực hành liên quan đến nhiễm HIV/AIDS
Hiện nay chưa tìm được vacxin và thuốc điều trị đặc hiệu HIV/AIDS
Vì vậy công tác giáo dục, truyền thông các kiến thức về HIV đóng vai trò hết sức quan trọng Mục đích của công tác này là giúp cho mọi người có kiến thức về HIV/AIDS, từ đó có ý thức, thái độ, hành độ tự bảo vệ mình, gia đình
và cộng đồng trước hiểm họa HIV/AIDS
1.5.1 Thực trạng về kiến thức phòng chống HIV/AIDS
Cũng theo kết quả nghiên cứu về kiến thức của đối tượng TCMT tỉnh Ninh Bình về HIV/AIDS: Có hiểu biết cơ bản về HIV/AIDS chiếm 70%,
Trang 24hiểu biết về 3 đường lây truyền chiếm tỷ lệ khá cao 86 - 92,4%, tuy nhiên 1/3 đối tượng trả lời không đúng [36]
Theo kết quả nghiên cứu hành vi nguy cơ và tủy lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT và GMD tại 5 huyện, thành của tỉnh Thái Nguyên năm 2010: Hiểu đúng về đường lây và cách phòng tránh của nhóm NCMT là 93,81%; hiểu sai ít nhất 1 ý 11,73% trong đó 9,51% cho rằng muỗi đối có thể lây bệnh
và 6% cho tiếp xúc với người nhiễm HIV có thể lây bệnh Cũng nghiên cứu trên, nghiên cứu trên nhóm GMD chỉ có 44,5% kể được 2 đường lây truyền chính, hiểu sai là 12%, hiểu đúng và đủ chỉ ở mức 43,5% [11]
Theo kết quả nghiên cứu “Thực trạng về kiến thức phòng chống HIV/AIDS của đối tượng học sinh trung học phổ thông ở Hải Phòng, năm 2005” cho thấy: Tỷ lệ học sinh trung học phổ thông ở Hải Phòng có kiến thức
về đường lây nhiễm HIV/AIDS (QHTD, TCMT, truyền máu và mẹ truyền cho con) rất cao (trên 89%), nhưng còn một tỷ lệ nhỏ học sinh hiểu sai về đường lây nhiễm HIV/AIDS (lây qua muỗi đốt và ăn uống chung) Cũng theo kết quả nghiên cứu tỷ lệ học sinh phổ thông ở Hải Phòng có kiến thức về dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS (sử dụng BCS khi QHTD, sử dụng BKT riêng, sạch) rất cao (trên 92%), nhưng vẫn còn một tỷ lệ nhỏ hiểu sai cách phòng lây nhiễm HIV/AIDS (tránh muỗi đốt và không ăn uống chung với người nhiễm HIV) [15], [24]
1.5.2 Thực trạng về thái độ liên quan đến nhiễm HIV/AIDS
Về thái độ liên quan đến nhiễm HIV/AIDS Theo kết quả đề tai: Đánh giá tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS ở khách hàng đến XNTN tại phòng TV thị xã Thủ Dỗu một tỉnh Bình Dương năm 2009 Tỷ lệ khách hàng chấp nhận XN HIV/AIDS TN là 99,8%; có hành vi nguy cơ cao 65,7%; có bạn tình là người NCMT (MD) 14,3%; bạn tình nhiễm HIV 6,96% [12]
Trang 25Cũng theo nghiên cứu HIV/AIDS trên đối tượng NCMT tỉnh Ninh Bình năm 2009 kết quả: Sử dụng ma túy bằng đường hút trước khi tiêm chích 63,2%; loại ma túy sử dụng nhiều nhất là heroin chiếm tỷ lệ cao 72,8%; tiếp theo là thuốc phiện 23,2%; QHTD với bạn tình thường xuyên 62,7%; bạn tình bất chợt 29,6%; bạn chích 4,1%; khác 3,6%; đối tượng có thời gian TCMT trên 2 năm có tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn nhóm TCMT dưới 2 năm và tần số TCMT trên 2 lần trong ngày sẽ có nguy cơ nhiễm HIV cao hơn 2,27 lần so với TCMT dưới 1 lần/ngày Những đối tượng có > 2 bạn tình cũng có
tỷ lệ HIV cao hơn đối tượng có 1 bạn tình [36]
Cũng theo kết quả nghiên cứu [11] 33,4% số NCMT đã từng đến TVXNTN trong đó: 80,6% đến do tự nguyện; 18,24% đến do người khác yêu cầu; 80,6% được tư vấn và nhận kết quả XN
1.5.3 Thực trạng về thực hành phòng chống HIV/AIDS
Theo kết quả nghiên cứu “Hành vi tình dục và kiến thức phòng chống HIV/AIDS của người dân tộc Dao xã Đại Sơn, huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái” Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có sử dụng BCS trong lần QHTD lần đầu tiên khá thấp chỉ có 79% với lý do không cần thiết 42,6%, không nghĩ đến 87,6% [21]
Về thực hành phòng chống HIV/AIDS của thanh thiếu niên (từ 15 đến
24 tuổi) ở tỉnh Hà Tĩnh cho thấy: Tỷ lệ thanh thiếu niên sử dụng BCS gần đây nhất QHTD với GMD là 83,3% và với người yêu là 22,6% [13], trong khi tỷ lệ thanh thiếu niên sử dụng BCS thường xuyên trong 12 tháng qua với GMD là 58,3% và với người yêu là 7,4% [11]
Theo nghiên cứu “Hành vi và nguy cơ lây nhiễm HIV ở người nghiện chích ma túy cho cộng đồng” cho thấy “Hành vi nguy cơ trong tiêm chích của NCMT 6 tháng trước khi vào Trung tâm giáo dục lao động xã hội số 1 là cho bạn mượn BKT (7,7%)
Trang 26Dùng chung BKT (11,4%), chia sẻ thuốc (22,2%), chích tại tụ điểm (41,8%), có đồng thời hai hoặc hơn hai hành vi (20,9%) [3] Đặc điểm hành
vi nguy cơ trong tình dục ở NCMT 6 tháng trước khi khám: QHTD với người NCMT (8,%); QHTD với gái mại dâm (19,7%); QHTD với bạn tình thoáng qua (12,6%); QHTD với bạn tình chính (89%); có hai hoặc hơn hai bạn tỉnh (21,3%) Số bạn tình chính trung bình của NCMT luôn thay đổi bạn tình [23] Trong số học viên của Trung tâm giáo dục lao động có HIV (+) có 21,9% hẳn
có dùng chung BKT NCMT có HIV (+) có hành vi dùng chung BKT cao hơn ở nhóm đối tượng NCMT có HIV (-)
1.6 Tình hình hoạt động phòng TVXNTN thị xã Sầm Sơn
Tại thị xã Sầm Sơn từ trường hợp nhiễm HIV/AIDS đầu tiên vào năm
1997, tính đến ngày 30/8/2010 số tích lũy HIV toàn thị xã là 144
Phòng Tư vấn xét nghiệm tự nguyện được thành lập dưới sự chỉ đạo của Sở Y tế và sự hỗ trợ của Dự án LIFE GAP đã chính thức đi vào hoạt động từ tháng 2 năm 2008 đến nay
Khách hàng đến tư vấn xét nghiệm là những đối tượng có nguy cơ nhiễm HIV cao
Trang 27
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
- Địa điểm điều tra và xét nghiệm tại Phòng tư vấn xét nghiệm TTYT thị xã Sầm Sơn - Thanh Hoá
2.1.2 Thời gian nghiên cứu.:
- Từ tháng 1 đến tháng 12 năm 2011
2.2 Đối tượng nghiên cứu
* Tiêu chuẩn lựa chọn
- Là những người NCMT đến TVXN máu tại phòng TVXNTN TTYT Sầm Sơn - Thanh Hoá từ tháng 01/2011 đến tháng 12/2011
- Người NCMT đồng ý tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn không lựa chọn
- Người NCMT từ chối tham gia nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
* Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang
* Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Mẫu thuận tiện, toàn bộ những đối tượng NCMT túy đến XN máu tại phòng TVXNTN TTYT Sầm Sơn - Thanh Hoá 849 đối tượng
2.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu
- Thực trạng nhiễm HIV/AIDS chung của đối tượng theo :
- Giới
- Tuổi
Trang 28- Trình độ học vấn
- Nghề nghiệp
- Địa dư và theo hôn nhân
- Tỷ lệ nhiễm HIV của nhóm đối tượng nghiện chích ma túy
- Theo nghề nghiệp
- Kiến thức và cách phòng chống HIV/AIDS
- Kiến thức đường lây
- Kiến thức về khả năng nhiễm HIV của bản thân đối tượng
- Liên quan giữa tình trạng nhiễm HIV với tình trạng hôn nhân
- Lý do đến dịch vụ tư vấn xét nghiệm tự nguyện của các đối tượng (n
= 849)
- Nguy cơ lây truyền HIV của bản thân đối tượng nghiện chích
- Yếu tố nguy cơ với tình trạng nhiễm HIV của đối tượng
- Tình trạng nhiễm HIV với việc có bạn tình của đối tượng
- Nhiễm HIV với số lượng bạn tình của đối tượng trong vòng 30 ngày qua (n = 849)
- Nhiễm HIV với số lần giao hợp âm đạo của đối tượng trong vòng 30 ngày cách đợt nghiên cứu
- Nhiễm HIV với số lần giao hợp có sử dụng bao cao su của đối tượng trong vòng 30 ngày cách đợt nghiên cứu
- Nhiễm HIV với số lần tiêm chích ma túy của đối tượng trong vòng 7 ngày cách đợt nghiên cứu
- Nhiễm HIV với số lần tiêm chích ma túy có dùng chung dụng cụ tiêm chích của đối tượng trong vòng 7 ngày trước thời điểm nghiên cứu
- Nhiễm HIV với triệu ST D trong 3 tháng qua
Trang 29- Tỷ lệ đối tượng có làm xét nghiệm HIV
2.5 Kỹ thuật và phương pháp thu thập thông tin
2.5.1 Phương pháp tiếp cận thông tin
- Tổ chức tập huấn cho các điều tra viên và xét nghiệm viên về các kỹ thuật xét nghiệm HIV), về phương pháp điều tra phỏng vấn đối tượng NCMT
- Giới thiệu mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu và đề nghị được sự ủng
hộ và đồng ý của đối tượng
* Kỹ thuật XNHIV
- Xét nghiệm máu theo phương cách III Mẫu huyết thanh được coi là dương tính với phương cách III khi mẫu đó dương tính cả 3 lần xét nghiệm bằng 3 loại sinh phẩm với nguyên lý và chuẩn bị kháng nguyên khác nhau
* Kỹ thuật ELISA (Enzyme linked immunosorbent - assay):
Nguyên lý: Là phản ánh miễn dịch gắn men
- Đáy của các lỗ trên phím nhựa đã được gắn virus tinh chế tạo thành kháng nguyên pha rắn (solid - antigen)
- Nhỏ mẫu huyết thanh cần thử vào mỗi lỗ, nếu có kháng thể kháng HIV nó sẽ gắn vào kháng nguyên pha rắn, ủ, rửa
- Cho cộng hợp huyết thanh kháng Immunoglobulin đã gắn men peroxidaza Kháng thể gắn men này sẽ gắn tiếp vào phức hợp kháng nguyên - Kháng thể đã hình thành từ trước, ủ, rửa
- Cho cơ chất vào và ủ enzym sẽ phân hủy cơ chất tạo nên màu vàng chanh Nếu mẫu thử không chứa kháng thể kháng HIV sẽ không có phức hợp kháng nguyên - Kháng thể và do đó không có phản ứng màu vàng chanh
- Đọc trên máy đọc Elisa, bước sóng tùy theo hãng đã cài đặt chương trình sẵn
Trang 30Kết quả được đọc theo chế độ tự động
* Xét nghiệm HIV nhanh (Rapid HIV test):
Nguyên lý: Là phản ứng miễn dịch sắc kí
Là phương pháp phát hiện kháng thể HIV nhanh và đơn giản nhờ cải tiến một số chi tiết kỹ thuật của các phương pháp xét nghiệm cơ bản Một trong những bộ sinh phẩm để chẩn đoán nhiễm HIV/AIDS nhanh là bộ sinh phẩm Abbott determine HIV - 1/2 do Mỹ sản xuất có độ nhạy cao: 100%, độ đặc hiệu: 99,75%
Thường được sử dụng rộng rãi trong các phòng xét nghiệm
Nguyên lý xét nghiệm của bộ sinh phẩm Abbott determine HIV - 1/2: Determine HIV - 1/2: là một xét nghiệm sắc ký miễn dịch, sử dụng kỹ thuật miễn dịch 2 giai đoạn để phát hiện kháng thể HIV - 1 và HIV - 2
- Mẫu huyết thanh, huyết tương hay mẫu máu toàn phần được nhỏ vào vùng nhau mẫu phẩm Khi di chuyển qua từng vùng chất liên kết, mẫu sẽ hoàn nguyên và trộn lẫn với chất liên kết kháng nguyên - chất keo Selenium Trong trường hợp mẫu máu toàn phần, hồng cầu bị liên kết lại và bị bắt giữ tại vùng nhỏ mẫu phẩm và chỉ có thành phần huyết tương của nó di chuyển tới vùng chất liên kết Sau đó hỗn hợp tiếp tục di chuyển qua pha rắn tới các kháng nguyên tái tổ hợp và peptit tái tổ hợp tại vùng đọc kết quả bệnh nhân
- Nếu có kháng thể kháng HIV - 1 hay kháng thể kháng HIV - 2 ở trong mẫu thì các kháng thể kết hợp với kháng nguyên - chất keo Selenium
và với các kháng nguyên ở vùng đọc kết quả bệnh nhân
- Nếu không có kháng thể kháng HIV - 1 hay HIV - 2 thì kháng nguyên chất keo Selenium sẽ trôi qua vùng đọc kết quả bệnh nhân và không tạo thành đường vạch đỏ ở vùng đọc kết quả bệnh nhân
- Một vùng đọc chứng có trộn thanh thử để kiểm tra ở vùng đọc chứng luôn tạo thành một vạch đỏ nếu mẫu phẩm đi qua Không có vạch đỏ có
Trang 31nghĩa là không có mẫu phẩm hay không đủ mẫu phẩm đi qua vùng đọc chứng
* Quy trình xét nghiệm:
- Xé thanh xét nghiệm ra khỏi vỉ, sau đó xé bao bảo vệ thanh xét nghiệm
- Nhỏ 50Mcr huyết thanh vào vùng nhỏ mẫu phẩm (đã được đánh dấu)
- Để có độ nhạy tối ưu cần đọc kết quả ở phút thứ 15 Kết quả đọc có giá trị trong vòng 60 phút tính từ lúc nhỏ mẫu phẩm
* Kỹ thuật ngưng kết hạt vi lượng
+ Nguyên lý: Là phản ứng ngưng kết hạt thụ động
Hạt gelatin đã hoạt hóa (đã gắn kháng nguyên HIV bất hoạt) ngưng kết với kháng thể HIV có trong huyết thanh bệnh nhân hoặc mẫu xét nghiệm bộ sinh phẩm Serodia HIV và SFD HIV1/2 PA của hãng Fujirebio (Nhật)
Kỹ thuật này tiến hành đơn giản, có độ nhạy cao, cho kết quả nhanh sau 2 giờ, không cần thiết bị đắt tiền, phát hiện được cả IgM và IgG (Elisa chỉ phát hiện được IgM do vậy phát hiện được người nhiễm HIV trước cả kỹ thuật Elisa)
+ Tiến hành:
- Bộ sinh phẩm có sẵn Trước khi sử dụng để ra khỏi tủ lạnh để trở về nhiệt độ trong phòng xét nghiệm
Trang 32- Sau đó pha các dung dịch B và C theo chỉ dân:
B: Unsensitixend particle (Hạt kiểm chứng)
C: Sensitized particle (Hạt cảm ứng)
Dùng tấm nhựa Plate : 96 lỗ
+ Nhỏ 3 giọt (75 Mcr) serum Diluent (B) vào hàng lỗ 1 và 1 giọt (25 Micro) serum Diluent vào hàng lỗ 2,3
+ Nhỏ tiếp 25 Micro huyết thanh bệnh nhân vào hàng lỗ 1 Trộn đều
10 lần sau đó chuyển 25 Micro sang hàng lỗ 2 và cứ như thế chuyển sang hàng lỗ 3, sau đó bỏ đi 25 Micro
+ Nhỏ 1 giọt 25 Micro dung dịch unsensitized particle vào hàng lỗ 2 và
1 giọt sensitized particle vào hàng lỗ 3, cho vào máy lắc Serodia lắc nhẹ - Sau đó đậy tấm nhựa sau 2 tiếng đọc kết quả
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Phỏng vấn các đối tượng NCMT đã tới xét nghiệm máu tại phòng TVXNTN TTYT Sầm Sơn theo bộ câu hỏi đã được chuẩn bị trước Bộ câu hỏi này được chuẩn bị và xây dựng dựa vào mục tiêu nghiên cứu và sự tham gia đóng góp của các chuyên gia về miễn dịch, truyền nhiễm và Dịch tễ học
- Xét nghiệm: Sử dụng bộ phiếu xét nghiệm mẫu để ghi lại những thông tin về đối tượng
Trang 33* Trước khi điều tra phỏng vấn, các điều tra viên phải giải thích rõ mục đích và ý nghĩa của cuộc điều tra cho các đối tượng hiểu và cùng cộng tác trong nghiêm cứu
* Tập huấn cho các điều tra viên và xét nghiệm viên cách thu thập các thông tin chính xác và chuẩn mực
* Chọn đối tượng NMT sử dụng TCMT, không chọn đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu
* Đối với các đối tượng đến xét nghiệm tư vấn viên phải niềm nở, chia
Trang 34Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Thực trạng nhiễm HIV của những đối tượng nghiện chích ma túy đã đến xét nghiệm tại Phòng Tư vấn xét nghiệm tự nguyện trung tâm
y tế Sầm Sơn năm 2011
Bảng 3.1 Tỷ lệ nhiễm HIV của nhóm đối tượng nghiện chích ma túy
Chỉ tiêu nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu
Nhận xét: Tỷ lệ nhiễm HIV chung của nhóm đối tượng nghiện chích
ma tuý xét nghiệm tại phòng tư vấn xét nghiệm tự nguyện trung tâm y tế Sầm Sơn là 38,4%
61.6
NHóm đối tượng nghiện chính ma túy
Hình 3.1 Tỷ lệ nhiễm HIV của nhóm đối tượng nghiện chích ma tuý
Trang 35Nhận xét: Tỷ lệ nhiễm HIV của nhóm đối tượng nghiện chích ma tuý
Hình 3.2 Phân bố tỷ lệ nhiễm HIV ở các nhóm tuổi
Trang 36Nhận xét: Kết quả nghiên cứu từ bảng 3.1 cho thấy tỷ lệ đối tượng
nghiện chích ma tuý cao nhất ở 2 nhóm tuổi 20 ->29 và từ 30 -> 39 (54,06%
và 36,87%) Các nhóm tuổi còn lại tỷ lệ nghiện chích ma tuý thấp hơn nhiều chỉ có như nhóm tuổi 40 -> 49 và > 50 là (5,56% và 1,77%)
Các phận bố nhóm tuổi nghiện chích ma tuý nói chung, nhóm đối tượng < 20 tuổi chiếm rất ít 1,65% nhưng đây chưa hẳn là con số thực tại trên địa bàn và nhóm này còn lẩn trốn chưa muốn ra mặt nên không tư vấn xét nghiệm hết được Ngoài ra nhóm tuổi < 50 do nhiễm HIV ở giai đoạn cuối rất nhiều tử vong nên tỷ lệ thấp hơn các nhóm khác
>=50
Hình 3.3 Tỷ lệ đối tượng xét nghiệm HIV ở các nhóm tuổi (n = 849) Nhận xét: Tỷ lệ đối tượng xét nghiệm cao nhất nhóm 20 -> 29 tuổi
54,06%, tiếp đó nhóm đối tượng 30 -> 39 tuổi 36,87%, nhóm 40 -> 49 là 5,65%, còn lại thuộc các nhóm khác