Nghiên cứu ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón qua rễ đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống thanh long ruột đỏ TL4 trồng tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc ..... Nghi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ THẾ VIỆT
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG THANH LONG TL4 TRỒNG TẠI HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN – NĂM 2015
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐỖ THẾ VIỆT
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐỐI VỚI GIỐNG THANH LONG TL4 TRỒNG TẠI HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học : 1 TS Nguyễn Quốc Hùng
2 TS Nguyễn Minh Tuấn
THÁI NGUYÊN – NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu và những số liệu trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn này đều đã được cảm ơn các thông tin, tài liệu trích dẫn trình bày trong luận văn này đều đã được ghi rõ
nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 11 năm 2015
Người viết cam đoan
Đỗ Thế Việt
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ
của cơ quan, đoàn thể, cá nhân
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Quốc
Hùng – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Rau quả và TS Nguyễn Minh Tuấn –
Giảng viên khoa Nông học trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên người đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy cô khoa sau Đại học, các thầy cô khoa Nông học trường đại học Nông lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Xin chân thành cám ơn ban lãnh đạo Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Rau hoa quả – Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp miền núi phía bắc đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khoá học này
Tôi xin cảm ơn bạn bè gia đình và người thân đã động viên tôi trong suốt
quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Do thời gian có hạn, kinh nghiệm và trình độ của bản thân còn hạn chế nên bản luận văn của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp ý của các thầy cô và các bạn để luận ăn của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Đỗ Thế Việt
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài 2
2.1 Mục đích của đề tài 2
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
3.1 Ý nghĩa khoa học 3
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỒNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thanh long trên thế giới và trong nước 6
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thanh long trên thế giới 6
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thanh long trong nước 11
1.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thanh long tại Vĩnh Phúc 15
1.3 Tình hình nghiên cứu về cây thanh long trên thế giới và trong nước 16
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 16
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
1.4 Điều kiện tự nhiên vùng nghiên cứu 37
Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 39
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 39
2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 39
2.2.2 Thời gian nghiên cứu: 39
Trang 62.3 Nội dung nghiên cứu 39
2.4 Phương pháp nghiên cứu 39
2.4.1 Thí nghiệm 1 39
2.4.2 Thí nghiệm 2 40
2.4.3 Thí nghiệm 3 41
2.5 Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 42
2.6 Phương pháp xử lý số liệu 45
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
3.1 Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của giống thanh long ruột đỏ TL4 trồng tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc 46
3.1.1 Thời gian xuất hiện của các đợt lộc của giống thanh long ruột đỏ TL4 46
3.1.2 Khả năng sinh trưởng của các đợt lộc trong điều kiện tự nhiên 47
3.1.3 Động thái tăng trưởng lộc của giống thanh long ruột đỏ TL4 trong điều kiện trồng trọt tại huyện Lập Thạch, Vĩnh Phúc 49
3.1.3.1 Động thái tăng trưởng chiều dài lộc 49
3.1.3.2 Động thái tăng trưởng đường kính cành lộc 52
3.1.4 Thời gian ra hoa của giống thanh long ruột đỏ TL4 trồng tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc 54
3.1.5 Một số chỉ tiêu về sự ra hoa, đậu quả của thanh long ruột đỏ TL4 58
3.1.6 Một số chỉ tiêu sinh trưởng quả thanh long TL4 trong điều kiện trồng trọt tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc 61
3.1.6.1 Động thái tăng trưởng quả của giống thanh long TL4 61
3.1.6.2 Tỷ lệ cấp quả của giống thanh long ruột đỏ TL4 63
3.1.6.3 Một số chỉ tiêu chất lượng quả của giống thanh long TL4 66
3.2.7 Tình hình sâu bệnh hại trên giống thanh long TL4 trong điều kiện trồng trọt tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc 66
3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của các tổ hợp phân bón qua rễ đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống thanh long ruột đỏ TL4 trồng tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc 67
Trang 73.2.1 Điều kiện đất đai 67
3.2.2 Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón qua rễ đến khả năng sinh trưởng của giống thanh long TL4 69
3.2.2.1 Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến thời gian xuất hiện lộc 69
3.2.2.2 Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến khả năng sinh trưởng của giống thanh long TL4 70
3.2.2.3 Động thái tăng trưởng chiều dài và đường kính cành 71
3.2.3 Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón qua rễ đến khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất của giống thanh long TL4 73
3.2.3.1 Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến thời gian xuất hiện nụ, nở hoa và thu hoạch quả 73
3.2.3.2 Ảnh hưởng của một số liều lượng phân bón đến khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất của giống thanh long TL4 75
3.2.3.3 Sơ bộ hạch toán kinh tế 79
3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng GA3 và phân bón qua lá tới sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống thanh long ruột đỏ TL4 trồng tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc 80
3.3.1 Ảnh hưởng của GA3 và phân bón qua lá đến thời gian xuất hiện hoa, đậu quả 80 3.3.2 Ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng GA3 và một số loại phân bón qua lá đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của giống thanh long ruột đỏ TL4 82
3.3.3 Đánh giá sơ bộ lợi ích về hiệu quả kinh tế từ việc sử dụng GA3 và một số loại phân bón qua lá đối với giống thanh long ruột đỏ TL4 87
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 88
1 Kết luận 88
2 Đề nghị 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
Trang 8FAO : Food and Agriculture Organization
( Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc)
K2O DT : Hàm lượng Kali dễ tiêu
P2O5 DT : Hàm lượng lân dễ tiêu
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng quả tươi toàn thế giới giai
đoạn từ năm 2008 – 2012 7
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất và sản lượng quả tươi của các châu lục trên thế giới năm 2012 [42] 8
Bảng 1.3: Sản lượng quả tươi của một số quốc gia sản xuất quả tươi trên thế giới giai đoạn từ 2009 – 2012 9
Bảng 1.4: Tình hình xuất khẩu thanh long của Thái Lan từ năm 2013 đến tháng 9 năm 2015 10
Bảng 1.5: Diện tích, năng suất và sản lượng thanh long trên cả nước trong 2 năm 2012 – 2013 12
Bảng 1.6: Diện tích, năng suất và sản lượng thanh long của một số tỉnh trong cả nước năm 2013 13
Bảng 1.7: Thực hành bón phân theo khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp Malaysia 19
Bảng 1.8: Thực hành bón phân theo khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp Sarawak 20
Bảng 1.9: Đặc tính thực vật học và đặc điểm quả của một số loại cây lấy quả thuộc họ xương rồng 26
Bảng 1.10: Lượng phân bón cho một trụ thanh long ruột đỏ trong năm 27
Bảng 1.11: Số liệu thời tiết khí hậu năm 2014 tại tỉnh Vĩnh Phúc 37
Bảng 1.12: Số liệu thời tiết khí hậu năm 2015 tại tỉnh Vĩnh Phúc 38
Bảng 3.1: Thời gian xuất hiện các đợt lộc 46
Bảng 3.2: Khả năng sinh trưởng của các đợt lộc trong điều kiện tự nhiên 48
Bảng 3.3: Động thái tăng trưởng chiều dài cành lộc của giống thanh long ruột đỏ TL4 50
Bảng 3.4: Động thái tăng trưởng đường kính cành lộccủa giống thanh long ruột đỏ TL4 52
Trang 10Bảng 3.5: Thời gian ra hoa của giống thanh long ruột đỏ TL4 55
Bảng 3.6: Đặc điểm ra hoa, đậu quả của giống thanh longTL4 trong năm 2014 59
Bảng 3.7: Đặc điểm ra hoa, đậu quả của giống thanh longTL4 trong năm 2015 60
Bảng 3.8: Động thái tăng trưởng quả của giống thanh long TL4 61
Bảng 3.9: Tỷ lệ cấp quả của giống thanh long TL4 trong năm 2014 64
Bảng 3.10: Tỷ lệ cấp quả của giống thanh long TL4 trong năm 2015 65
Bảng 3.11: Một số chỉ tiêu phẩm chất quả thanh long TL4 66
Bảng 3.12: Một số loại sâu bệnh hại chính trên giống thanh long TL4 67
Bảng 3.13: Thành phần các chất dinh dưỡng trong đất và trong thân cây ở các thời điểm trước khi ra hoa và sau khi thu hoạch 68
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến thời điểm xuất hiện lộc 69
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến khả năng sinh trưởng của giống thanh long ruột đỏ TL4 qua 4 đợt lộc 70
Bảng 3.16: Động thái tăng trưởng chiều dài và đường kính cành lộc 71
Bảng 3.17: Ảnh hưởng của tổ hợp phân bón đến thời gian xuất hiện nụ và nở hoa của giống thanh long ruột đỏ TL4 74
Bảng 3.18: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất của giống thanh long TL4 75
Bảng 3.19: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến đặc điểm quả của giống thanh long TL4 76
Bảng 3.20: Ảnh hưởng của liều lượng phân bón đến tỷ lệ cấp quả 77
Bảng 3.21: Ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến chất lượng quả của giống thanh long ruột đỏ TL4 78
Bảng 3.22: Hiệu quả kinh tế của việc bón một số tổ hợp phân bón khác nhau tính đến đợt quả thứ 8 trên 1ha 80
Bảng 3.23: Ảnh hưởng của GA3 và phân bón qua lá đến thời gian xuất hiện nụ và nở hoa của giống thanh long ruột đỏ 81
Trang 11Bảng 3.24: Ảnh hưởng của GA3 và phân bón qua lá đến năng suất và các
yếu tố cấu thành năng suất 82Bảng 3.25: Ảnh hưởng của GA3 và phân bón qua lá đến một số đặc điểm
quả của giống thanh long TL4 84Bảng 3.26: Ảnh hưởng của GA3 và phân bón qua lá đến tỷ lệ cấp quả của
giống thanh long TL4 85Bảng 3.27: Ảnh hưởng của GA3 và phân bón qua lá đến chất lượng quả
của giống thanh long ruột đỏ TL4 86Bảng 3.28: Hiệu quả kinh tế cho việc sử dụng GA3 và một số loại phân
bón qua lá đối với giống thanh long ruột đỏ TL4 sau 3 đợt quả 87
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Biểu đồ thể hiện tình hình sản xuất thanh long ở Đài Loan từ
năm 1999 - 2014 10 Hình 1.2: Biểu đồ thể hiện năng suất và sản lượng thanh long trên cả
nước trong giai đoạn từ năm 2000 - 2013 12 Hình 3.1: Biểu đồ thể hiện sự tăng trưởng kích thước quả năm 2014 62 Hình 3.2: Biểu đồ thể hiện sự tăng trưởng kích thước quả năm 2015 62
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thanh long (Hylocereus undulatus, Haw.) là một trong những loại cây
ăn quả đặc sản có lợi thế cạnh tranh lớn trong số các loại cây ăn quả của nước
ta Theo số liệu thống kê của Viện Nghiên cứu cây ăn quả miền Nam (SOFRI), nếu như năm 2000 diện tích cây thanh long của cả nước chỉ vỏn vẹn
560 héc ta, thì đến năm 2013 đạt trên 24.000 héc ta, tức tăng khoảng 40 lần trong hơn 10 năm qua Năm 2003 xuất khẩu thanh long của Việt Nam chỉ đạt 5,8 triệu đô la Mỹ, thì đến năm 2010 đạt 59,1 triệu đô la Mỹ và năm 2012 là
181 triệu đô la Mỹ so với tổng kim ngạch xuất khẩu trái cây năm 2012 của Việt Nam là 360 triệu đô la Mỹ Riêng quí đầu năm 2013, xuất khẩu thanh long đạt 46,5 triệu đô la Mỹ, tăng 18% so với cùng kỳ năm trước Ngoài ăn tươi, quả thanh long còn có thể chế biến thành nhiều mặt hàng có giá trị như nước giải khát, rượu
Hiện nay, ngoài vùng trồng chính ở các tỉnh phía Nam, cây thanh long
được trồng hầu khắp các tỉnh thành phía Bắc, đặc biệt đã hình thành những
vùng trồng thanh long có sản lượng lớn, đem lại thu nhập cao cho người dân như: huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc; huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La; huyện Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh Ở các địa phương trên cây thanh long được coi là một trong những cây trồng nông nghiệp chính với giá trị thu nhập hàng năm cao hơn gấp nhiều lần so với lúa và một số cây trồng khác, đồng thời cũng
được coi là lợi thế so sánh với các địa phương khác trong phát triển kinh tế
nông nghiệp Theo tính toán của các hộ trồng thanh long ruột đỏ ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc, trung bình mỗi trụ cho từ 15 - 20kg quả/năm với giá bán tại vườn từ 25 - 30.000 nghìn đồng/kg, nếu trồng 1ha, tương đương với 1.000 trụ, trừ chi phí cho thu lãi 300 triệu đồng/ha/năm Ngoài ra, thu nhập từ bán hom giống cũng mang lại hiệu quả cho các hộ; không chỉ vậy, nhiều hộ
Trang 14còn nhạy bén nắm bắt thị trường đưa thanh long ruột đỏ ra các tỉnh: Yên Bái, Tuyên Quang, Quảng Ninh… cho thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm
Năm 2012 đến nay, Viện Nghiên cứu Rau Quả đã đưa các giống thanh long ruột đỏ có năng suất cao, phẩm chất tốt ra trồng thử nghiệm ở một số địa bàn tại miền bắc nước ta như huyện Lập Thạch – Vĩnh Phúc; huyện Mai Sơn – Sơn La và thành phố Uông Bí – tỉnh Quảng Ninh Trong đó, giống thanh long TL4 là một trong những giống có tiềm năng cao khi được trồng trong
điều kiện tự nhiên tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
Cây thanh long TL4 có ưu thế là sinh trưởng khoẻ, ra hoa đậu quả khá
ổn định Tuy nhiên, do mới được đưa về trồng tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh
Phúc nên chưa đánh giá được khả năng sinh trưởng, tiềm năng năng suất, phẩm chất của cây thanh long TL4 ở nơi đây Việc canh tác của người dân tại
địa phương còn mang tính quảng canh, bón phân theo hình thức tự phát,
không cân đối Chưa có một nghiên cứu nào cụ thể về sự sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm chất và các biện pháp kỹ thuật chủ yếu cho cây thanh long TL4 trồng tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
Để góp phần tăng năng suất, phẩm chất cho giống thanh long TL4, đồng thời bổ sung tư liệu cho việc phát triển thanh long ở các tỉnh phía Bắc
nói chung và ở vùng trồng thanh long huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc nói
riêng, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm nông sinh
học và một số biện pháp kỹ thuật đối với giống thanh long TL4 trồng tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc”
2 Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1 Mục đích của đề tài
- Xác định được đặc điểm nông sinh học của giống thanh long ruột đỏ TL4 trồng tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc và xác định được một số biện pháp kỹ thuật phù hợp đối với giống thanh long này
Trang 152.2 Yêu cầu của đề tài
- Xác định được thời kỳ phát sinh phát triển các đợt lộc, thời gian ra hoa, đậu quả và các thời kì vận hậu của giống thanh long ruột đỏ TL4 trồng tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
- Đánh giá được ảnh hưởng của tổ hợp bón phân qua rễ đến khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống thanh long TL4
- Đánh giá được ảnh hưởng của chất điều tiết sinh trưởng GA3 và liều lượng phân bón qua lá bổ sung đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống thanh long TL4
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Bổ xung tư liệu cho quỹ gen cây ăn quả Việt Nam
- Xác định được quy luật sinh trưởng, ra hoa, đậu quả và năng suất, chất lượng của giống thanh long ruột đỏ TL4 trong điều kiện sinh thái trồng trọt tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Trên cơ sở đó đánh giá được khả năng thích ứng của giống phục vụ cho việc phát triển mở rộng diện tích tại địa
- Hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật cũng góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất thanh long tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc và các vùng phụ cận
Trang 16- Những kết quả của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy cho các nhà khoa học, cán bộ kỹ thuật nông nghiệp, học sinh, sinh viên, nông dân về đặc tính nông sinh học, kỹ thuật thâm canh cây thanh long ruột đỏ TL4
Trang 17Chương 1 TỒNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Cơ sở khoa học về nghiên cứu đặc điểm nông sinh học
Cây ăn quả nói chung và cây thanh long nói riêng là một trong những cây có nhu cầu nhất định về môi trường và dinh dưỡng Do có tính đa dạng về
điều kiện sinh thái các mùa trong năm như ở miền bắc nước ta nói chung và ở
huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng làm cho cây thanh long ngừng sinh trưởng, phát triển trong một thời gian nhất định, chưa phát huy được hết khả năng ra hoa, đậu quả của cây, làm ảnh hưởng một phần đến năng suất của thanh long khi thu hoạch
Thanh long TL4 là giống thanh long ruột đỏ nguồn gốc từ Đài Loan,
được công nhận giống sản xuất thử năm 2012, có ưu thế là sinh trưởng
khoẻ, ra hoa đậu quả khá ổn định Tuy nhiên, do mới được đưa về trồng tại huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc nên chưa đánh giá được khả năng sinh trưởng, tiềm năng năng suất, phẩm chất của giống cây trồng này Quá trình canh tác của người dân tại địa phương còn mang tính quảng canh, bón phân theo hình thức tự phát, không cân đối Việc xây dựng vùng trồng thanh long phải phù hợp với điều kiện khí hậu, thời tiết, đất đai và các biện pháp
kỹ thuật trồng trọt Đồng thời, việc nghiên cứu đặc tính đặc trưng của giống cây trồng nhập nội này tại vùng đất mới trước khi nhân ra trên diện rộng là việc làm rất cần thiết
1.1.2 Cơ sở khoa học về việc bổ sung dinh dưỡng
Thanh long TL4 trồng ở miền Bắc nước ta và ở huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng ra hoa tốt nhưng tỷ lệ đậu quả không cao dẫn đến năng suất thấp Ngoài ra, khối lượng quả của thanh long TL4 cũng là vấn đề cần
Trang 18chú ý khi trồng trọt trong điều kiện sinh thái Lập Thạch – Vĩnh Phúc Nguyên nhân của hạn chế này được nhiều tác giả cho rằng: có thể là do chế độ chăm sóc, việc bổ sung dinh dưỡng cho cây chưa cân đối và hợp lý Bên cạnh việc bón phân qua rễ thì việc sử dụng phân bón qua lá cũng là một trong những biện pháp kỹ thuật có thể sử dụng để làm tăng năng suất, chất lượng quả thanh long Tác dụng của phân bón qua lá là cung cấp nhanh và kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng và vi lượng cần thiết cho cây, đặc biệt là vào các thời kỳ ra hoa, đậu quả và phát triển của quả
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, cần có những nghiên cứu cụ thể về
đặc điểm nông sinh học và chế độ bổ sung dinh dưỡng hợp lí cho giống thanh
long TL4 được trồng trong điều kiện huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc nói chung và giống thanh long ruột đỏ TL4 nói riêng, do đó đi sâu nghiên cứu nội dung này là rất cần thiết
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thanh long trên thế giới và trong nước
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thanh long trên thế giới
Thanh long có thành phần chất xơ rất cao, trung bình 100 gram chứa 0,7 - 0,9 gam chất xơ, rất tốt cho cơ thể, làm giảm lượng cholesterol trong máu, tốt cho tiêu hóa, hạn chế táo bón, giải độc cơ thể Mỗi ngày một người nên ăn khoảng 20-30 gam chất xơ, đây là mức tối ưu có thể giúp ngăn ngừa nhiều loại bệnh nan y như ung thư, bệnh tim, tiểu đường Ngoài chất xơ, thanh long cũng giàu chất beta carotene, đây là một chất giúp cho cơ thể chuyển hóa vitamin thành provitamin, giúp loại bỏ các tế bào mà không dẫn
đến nhiễm trùng Dưới đây là các thành phần dinh dưỡng chính từ 100 gram
trái cây thanh long: nước (g) 82,5 - 83; protein (g) 0,16 - 0,23; chất béo (g) 0,21 - 0; chất xơ (g) 0,7 - 0,9; beta carotene (mg) 0,005 - 0,012; canxi (mg) 6,3 - 8,8, phốt pho (mg) 30,2 - 36,1; sắt (mg) 0,55 - 0,65, vitamin B1 (mg)
Trang 190,28 - 0,30, vitamin B2 (mg) 0,043 để 0,045, vitamin C (mg) 8 - 9 và niasin (mg) 1,297 - 1,300 [33 tr 4]
Theo Mizrahi và ctv (1997), thanh long thường được trồng hàng hoá với các loại khác nhau là: thanh long ruột trắng (Hylocereus undatus) và thanh long ruột đỏ hay tím (H costaricensis) được trồng ở Nicaragua và Guatemala và thanh long ruột đỏ H polyrhizus được trồng ở Israel Giống thanh long vỏ vàng (H undatus) được trồng ở Mexico và châu Mỹ Latin và một giống thanh long vàng khác (Selenicereus magalani) nguồn gốc Trung và
Nam Mỹ được trồng với diện tích không lớn tại Colombia, quả được xuất khẩu sang châu Âu và Canada [30 tr 12]
Sản phẩm sử dụng của thanh long được xếp vào nhóm quả tươi Số liệu thống kê tình hình sản xuất quả tươi trên thế giới trong những năm gần đây
được thể hiện trong bảng 1.1 như sau
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng quả tươi toàn thế giới
giai đoạn từ năm 2008 – 2012
(ha)
Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
(Nguồn: FAOSTAT & FAO Statistics Division 2014)[26]
Số liệu thống kê ở bảng 1.1 cho thấy, năm 2008 diện tích trồng các loại quả sử dụng sản phẩm tươi như thanh long, táo, đào, lê… là 4.328.709 ha sau
đó tăng dần lên 4.377.854 ha vào năm 2009 và đến năm 2012 đã là 4.874.778
ha Năng suất năm 2008 đạt 65,051 tạ/ha, năm 2009 tăng lên 65,747 tạ/ha, kể
Trang 20từ năm 2010 năng suất các loại rau quả tươi trên thế giới giảm dần đến năm
2012 chỉ còn 64,512 tạ/ha Tuy năng suất có giảm nhưng sản lượng rau quả tươi vẫn tăng đáng kể, nếu như năm 2008 sản lượng là 28.158.613 tấn thì đến năm 2013 đã là 31.447.977 tấn
Bảng 1.2: Diện tích, năng suất và sản lượng quả tươi của các châu lục
trên thế giới năm 2012
Châu lục Diện tích
(ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
(Nguồn: FAOSTAT & FAO Statistics Division 2014)[26]
Số liệu thống kê của FAO cho thấy, năm 2012, diện tích sản xuất quả tươi của châu Á đứng đầu trên thế giới với 3.608.863 ha, sản lượng lớn nhất
đạt 22.733.570 tấn, tuy nhiên, về năng suất với 62.994 tạ/ha thì châu Á chỉ đứng thứ 4 trong tổng số 5 châu lục trên thế giới Châu Âu có diện tích sản
xuất quả tươi thấp nhất trên thế giới với 84.602 ha, đạt năng suất 58,546 tạ/ha, sản lượng đạt 495.312 tấn Châu Đại Dương có diện tích sản xuất quả tươi là 126.084 ha chỉ cao hơn so với châu Âu, tuy nhiên, năng suất quả tươi của châu lục này lại lớn nhất thế giới đạt 84,799 tạ/ha với sản lượng đạt 1.069.183 tấn Châu Mỹ với diện tích sản xuất các loại quả tươi là 257.065 ha đạt năng suất 79,573 tạ/ha, sản lượng 2.045.542 tấn
Trang 21Bảng 1.3: Sản lượng quả tươi của một số quốc gia sản xuất quả tươi trên
thế giới giai đoạn từ 2009 – 2012
(Nguồn: FAOSTAT & FAO Statistics Division 2014) [26]
Trong những năm gần đây, do yêu cầu thực tế của đời sống ngày càng
được nâng cao, tình hình tiêu thụ sản phẩm một số loại quả tươi như thanh
long, táo, lê… gia tăng nhanh chóng Mặt khác, các tiến bộ về khoa học kỹ thuật giúp nâng cao năng suất sản lượng cây trồng, theo xu hướng này thanh long cũng như các loại quả tươi khác sẽ trở thành một trong những thực phẩm không thể thiếu trong đời sống người tiêu dùng trên thế giới
Trong khu vực, một số quốc gia có diện tích và sản lượng thanh long lớn như: Đài Loan, Thái Lan, Myanma, Malaysia và Việt Nam
Trang 22Hình 1.1: Biểu đồ thể hiện tình hình sản xuất thanh long ở Đài Loan
từ năm 1999 - 2014
(Nguồn: Development of Integrated Crop Management Systems for Pitaya in
Taiwan, 07/09/2015, Yi-Lu Jiang) [37]
Theo số liệu ở hình 1.1 [37], cho thấy, diện tích trồng cây thanh long tại
Đài Loan tăng mạnh trong những năm gần đây, tuy nhiên sản lượng thanh
long của Đài Loan lại chững lại Năm 1999 diện tích trồng thanh long ở Đài Loan đạt 379,59 ha, năng suất đạt 15 tấn/ha, sản lượng đạt 3.830.762 tấn thì
đến năm 2014 diện tích đã là 1.675,92, năng suất đạt 24,548 tấn/ha, sản lượng đạt 38.965.140 tấn
Bảng 1.4: Tình hình xuất khẩu thanh long của Thái Lan từ năm 2013 đến
tháng 9 năm 2015
Quốc gia
Sản lượng (tấn)
Giá trị (Baht)
Sản lượng (tấn)
Giá trị (Baht)
Sản lượng (tấn)
Giá trị (Baht)
Saudi Arabia 28,146 2,755,413 27,092 3,055,814 22,054 2,526,453Quatar 14,279 1,167,649 19,950 1,818,238 5,183 545,884
Kuwait 10,451 1,487,434 6,090 1,107,207 2,075 360,560
(Nguồn: Development of Integrated Crop Management Systems for
Pitaya in Taiwan, 07/09/2015, Yi-Lu Jiang) [37]
Trang 23Số liệu thống kê ở bảng 1.4 [37], cho thấy, Thái Lan xuất khẩu thanh long đến 5 quốc gia, đó là: Saudi Arabia, Quatar, Pháp, Kuwait và Lào với tổng sản lượng năm 2013 đạt 54,01 tấn, giá trị đạt 152.767,25 đô la Mỹ, năm 2014 đạt 130,282 tấn, giá trị 232.490,208 đô la Mỹ, 9 tháng đầu năm 2015 đạt sản lượng 34,99 tấn, giá trị 93.268,51 đô la Mỹ
Các sản phẩm chế biến từ quả thanh long hiện chưa có nhiều Tuy nhiên, gần đây một số sản phẩm chế biến từ quả thanh long đã bắt đầu hiện diện trên thị trường ở Malaisia và Thái Lan Theo Gao xi và Wan, (2004), Chuah và ctv (2008), ở Malaisia, thanh long đã được chế biến thành nhiều sản phẩm như các loại nước quả, kem, kẹo và rượu thanh long
Tuy nhiên, về mặt tiêu cực, còn nhiều yếu tố hạn chế đến tiềm năng năng suất và chất lượng quả thanh long Trong số đó, các điều kiện thời tiết như nhiệt độ thấp, mưa lớn có thể làm cho tỷ lệ ra hoa, đậu quả giảm, chất lượng quả thanh long thấp, mẫu mã xấu Ngoài ra, kỹ thuật canh tác kém cũng dẫn đến sự cố nghiêm trọng của sâu, bệnh hại Hiện nay, bệnh thán thư, bệnh thối loét thân cành, đốm nâu gốc và thối trái cây rất phổ biến ở các vùng trồng Thanh long lớn trong Châu Á và khu vực Thái Bình Dương Các bệnh thối mục gốc truyền nhiễm mới nổi gần đây đã gây ra sự sụp đổ của nhiều vườn Thanh long ở khu vực Đông Nam Á Biện pháp bảo vệ để kiểm soát các bệnh này với thuốc trừ sâu hóa học không chỉ tốn kém cho nông dân quy mô nhỏ
mà còn đang gây tổn hại đến sức khỏe con người và môi trường Mặt khác, để thâm nhập vào các thị trường có giá trị cao hơn, trái cây Thanh long cần phải khắc phục được các vấn đề về sâu, bệnh, mẫu mã quả, nhược điểm về dư lượng thuốc BVTV, cùng với kích thước quả như mong muốn, hình dạng, màu sắc và hương vị đặc trưng
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thanh long trong nước
Trong các loại cây ăn quả, thanh long là cây trồng đặc sản có lợi thế cạnh tranh đứng thứ nhất trong 11 loại trái cây ở nước ta Diện tích thanh long
trên cả nước năm 2012 ước đạt 25.177,7 ha, năng suất đạt 238 ta/ha, sản
Trang 24lượng đạt 486.094,2 tấn Trong đó có 1.841,4 ha trồng mới và 20.426,9 ha cho thu sản phẩm Năm 2013, diện tích thanh long trong cả nước đạt 28.729,0
ha, năng suất đạt 217,2 tạ/ha, sản lượng đạt 517.463,6 tấn Trong đó có 3.384,1 ha trồng mới và 23.820,5 ha cho thu hoạch Bình Thuận là tỉnh có diện tích trồng lớn nhất, tiếp đến là Tiền Giang và Long An Ngoài ra, một số tỉnh khác cũng đã trồng thanh long nhưng quy mô nhỏ, chưa nhiều như Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh và một số tỉnh phía Bắc như Vĩnh Phúc, Hải Dương và Hà Nội
Bảng 1.5: Diện tích, năng suất và sản lượng thanh long trên cả nước
Diện tích cho thu (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
(Nguồn: Số liệu thống kê của Viện Nghiên cứu Rau quả) [15]
Hình 1.2: Biểu đồ thể hiện năng suất và sản lượng thanh long trên cả nước
trong giai đoạn từ năm 2000 - 2013
(Nguồn: Development anh implementation of Gap on Pitaya in Viet Nam:
Status anh challenges., Nguyen Van Hoa và cs 2014) [32]
Trang 25Cả nước ta hiện nay có tới 53 tỉnh thành trồng có diện tích trồng cây thanh long, trong đó, 10 tỉnh có diện tích thanh long đứng đầu là Bình Thuận, Tiền Giang, Long An, Đồng Nai, Đăk Lăk, Khánh Hoà, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Gia Lai, Tây Ninh Bình Thuận là tỉnh có diện tích cao nhất đạt 20.550,6 ha, sản lượng 388.344,0 tấn, sau đó là tiền Giang với diện tích
3.139,0 và sản lượng 56.822,9 tấn
Bảng 1.6: Diện tích, năng suất và sản lượng thanh long của một số tỉnh
trong cả nước năm 2013
THANH LONG Diện tích
gieo trồng (ha)
Trồng mới (ha)
DT cho sản phẩm (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
(Nguồn: Số liệu thống kê của Viện Nghiên cứu Rau quả) [15]
Tính đến thời điểm hiện nay, toàn tỉnh Bình Thuận đã có hơn 22.000 ha thanh long; hơn 250 doanh nghiệp lớn nhỏ đăng ký hành nghề thu mua thanh long Trên thực tế, thanh long của Việt Nam được tiêu thụ chủ yếu tại thị trường châu Á, nhiều nhất là Trung Quốc (chiếm 75 – 80%), đây là thị trường
Trang 26tiêu thụ lớn nhất, nhưng chủ yếu lại buôn bán qua đường tiểu ngạch, một hình thức buôn bán tiềm ẩn nhiều rủi ro Việc mở rộng thị trường tại khu vực châu Mỹ, châu Âu còn gặp nhiều khó khăn, do vận chuyển xa, bảo quản dài ngày khó khăn và yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm tương
đối khắt khe Sản xuất trái thanh long ở Bình Thuận phát triển mạnh
trong những năm gần đây do trái thanh long được giá, nhưng sự liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị trái thanh long xuất khẩu chưa chặt chẽ như: Sự gắn kết giữa công ty xuất khẩu và người sản xuất còn rất yếu, các công ty xuất khẩu chưa xây dựng được vùng nguyên liệu cho mình mà chủ yếu thu mua thông qua trung gian; nhà vườn chưa quan tâm
đúng mức đến vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm và chất lượng thanh
long trong quá trình sản xuất; chưa tuân thủ việc sử dụng thuốc BVTV, công nghệ bảo quản sau thu hoạch và chế biến còn chậm phát triển; việc thu hái, phân loại, đóng gói, bao bì và bảo quản thanh long chủ yếu là biện pháp thủ công, tỷ lệ hư hỏng do dập nát và thối của thanh long cao Ngoài ra, hệ thống đóng gói, sơ chế, kho lạnh… chưa được các doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư đúng mức để đạt tiêu chuẩn VietGAP…
Theo kết quả nghiên cứu khảo sát hiện trạng sản xuất thanh long ở huyện Chợ gạo, tác giả Nguyễn Hữu Hoàng đã đánh giá được các điểm mạnh và các điểm yếu của vùng sản xuất thanh long Chợ gạo Các điểm mạnh đó là: các vườn thanh long thường trồng thuần; nông dân có rất nhiều kinh nghiệm trồng thanh long; đã có sẵn vùng trồng thanh long tập trung; thanh long là cây ăn trái có nhu cầu về phân bón và thuốc bảo vệ thực vật không cao Bên cạnh những thuận lợi có được, tác giả cũng đã xác định được các điểm yếu của vùng trồng thanh long tập trung của huyện Chợ gạo như:giá cả bấp bệnh, thiếu đầu ra cho sản phẩm quả, thiếu công nghệ bảo quản và chế biến sau thu hoạch…
Trang 271.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thanh long tại Vĩnh Phúc
Tại Vĩnh Phúc cây thanh long ruột đỏ đã và đang trở thành loại cây trồng hàng hóa mũi nhọn, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân vùng trung du, miền núi của tỉnh Cây thanh long được trồng chủ yếu ở một số huyện như Lập thạch 125ha, Sông Lô 50ha, Tam Đảo 50ha, các huyện, thành, thị còn lại 50ha Vùng nên hạn chế trồng là Vĩnh Yên, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Bình Xuyên
Theo số liệu thống kê năm 2012, diện tích thanh long toàn tỉnh Vĩnh Phúc đạt 51,4 ha, năng suất ước đạt 123,6 tạ/ha, sản lượng đạt 914,7 tấn, trong đó có 33 ha diện tích trồng mới và 15,5 ha cho thu hoạch sản phẩm Năm 2013, diện tích trồng thanh long toàn tỉnh tăng mạnh, đạt 117,9 ha, năng suất đạt 78 tạ/ha, sản lượng đạt 464,9 tấn, trong đó có 56,5 ha trồng mới và 59,6 ha cho thu hoạch quả Và đến nay đã đạt mức 250ha
Đến nay, tổng diện tích thanh long ruột đỏ trên địa bàn huyện Lập
Thạch khoảng 125ha, được trồng chủ yếu ở các xã Vân Trục: 65ha với 265 hộ trồng; xã Xuân Hòa: 35ha với 157 hộ trồng; xã Ngọc Mỹ: 25ha với 74 hộ trồng Theo tính toán trồng thanh long ruột đổ, trung bình mỗi trụ cho từ 10 – 15kg quả/năm với giá bán tại vườn từ 25.000 – 30.000 đồng/kg, nếu trồng với mật độ được khuyến cáo là 1.000 trụ/ha, trừ chi phí cho thu lãi đến 300 triệu
đồng/ha/năm Ngoài ra, thu nhập từ bán hom giống cũng mang lại hiệu quả
cho thu nhập hàng trăm triệu đồng/năm Năm 2013, tổng doanh thu từ cây thanh long ruột đỏ của huyện Lập Thạch đạt 12 tỷ đồng, riêng xã Vân Trục
đạt 10 tỷ đồng Sơ bộ hạch toán và so sánh giá trị kinh tế với một số cây trồng
khác được trồng phổ biến tại nơi đây cho thấy: cây thanh long ruột đỏ cho thu lãi từ 250 – 300 triệu đồng/ha/năm; cây Sắn thu lãi từ 19 – 22 triệu
đồng/ha/năm; cây Bạch đàn nguyên liệu thu lãi từ 13 – 15 triệu đồng/ha/năm
Trang 28Thanh long ruột đỏ cho thu hoạch nhiều lứa trong năm nên có thể rải
vụ, có năm quả thường chín và đầu tháng, ngày rằm âm lịch, phục vụ nhu cầu tâm tinh của người tiêu dùng, nên khả năng an toàn về giá được bảo đảm hơn một số cây khác (vải, nhãn, dứa) Hiện tại, xác định thị trường tiêu thụ chính hướng tới là Hà Nội, một số vùng đô thị các tỉnh và tiêu thụ nội địa Thị trường Trung Quốc (thông qua thương lái Thổ Tang) cũng là một hướng triển vọng, vì Miền bắc có lợi thế hơn Miền nam về khoảng cách địa lý
1.3 Tình hình nghiên cứu về cây thanh long trên thế giới và trong nước
1.3.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
* Nghiên cứu về chọn tạo giống
- Theo Williams và ctv (1990); Tingey và del Tufo (1993), hiện nay, kỹ
thuật phân tử được sử dụng ngày càng nhiều trong phân loại thực vật và chọn tạo giống Một trong số ứng dụng quan trọng nhất của chỉ thị phân tử là chọn lọc dựa trên markers Chọn lọc giống dựa trên markers được ưa thích ứng dụng trong chọn tạo giống bởi kỹ thuật này cho phép nhà chọn tạo giống có quyết được chọn lựa sớm hơn Trong chọn giống kháng bệnh, chọn lọc dựa trên markers còn một thuận lợi nữa đó là có thể thực hiện trong sự vắng mặt mầm bệnh Và biện pháp kỹ thuật công nghệ sinh học RAPD đã được dùng
cho đánh giá mối quan hệ di truyền trong các loài thuộc chi Hylocereus và
Selenicereus
- Theo Weiss và ctv (1994), trong cùng một loài Hylocerus spp, loài
Hylocerus undatus tự thụ phấn kém nhưng thụ phấn chéo với các loài khác đạt tỷ
lệ đậu quả cao Và ông ghi nhận rằng, bao phấn ở thanh long thành thục trước khi hoa nở và nhuỵ nhận hạt phấn ngay đó [36 tr 74]
- Cây thanh long thuộc họ Cactaceae, thường gọi là họ Cactus có 92 chi, với 1650 loài Trong đó, chi Hylocereus gồm 16 loài và chi
Selenicereus gồm 20 loài Ở Châu Mỹ Latinh, quả của cả hai loài này đều
Trang 29có cùng tên thông thường là “pitayas” hay “pitahayas” hay tiếng Việt gọi là thanh long [42 tr 16]
* Nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học
- Theo Fletcher, RT (1997) [27 tr 37], ở Australia có 3 giống chính đó
là giống vỏ đỏ ruột trắng, giống vỏ đỏ ruột đỏ và giống vỏ vàng ruột trắng
+ Giống vỏ đỏ ruột trắng (Hylocerus undatus Brit & Rose) là giống
thuộc họ xương rồng, có nguồn gốc từ rừng nhiệt đới ẩm của miền Trung và miền Bắc Nam Mĩ Trước đây, cây thanh long được coi là hoang dại, sử dụng như cây cảnh vì có nhiều hoa với kích thước lớn, có mùi thơm và nở vào ban
đêm Hiện nay giống này rất được ưa chuộng trên toàn thế giới, đặc biệt là ở
Israel, Việt Nam, Australia Bởi vì, quả thanh long ăn rất hấp dẫn, có mùi vị khác biệt so với các loại quả khác Giống này có thân hình tam giác, ít gai, thường cho quả rất to, nặng khoảng 1kg thậm trí còn cao hơn Vỏ quả có màu
đỏ sáng rất đẹp, thịt quả màu trắng dụ, có nhiều hạt nhỏ màu đen Thời gian
từ khi nở hoa đến thu hoạch khoảng 30 ngày
+ Giống vỏ đỏ ruột đỏ (Hylocerus polyrhizus): giống này có thân 3 – 4
cánh dẹp, nhiều gai, quả nhỏ hơn giống vỏ đỏ ruột trắng, thường dưới 1kg Vỏ
mà đỏ thẫm, thịt quả màu đỏ thẫm và nhiều hạt nhỏ màu đen
+ Giống vỏ vàng ruột trắng (Selenicereus megalanthus): thân cây gầy
hơn thân của 2 giống trên, có nhiều gai như gai to và ngắn Quả nhỏ thườn chỉ
có 200 – 300g/quả, vỏ quả màu vàng, thịt quả màu trắng trong, rất nhiều hạt
đen Quả có chứa hàm lượng đường rất cao
- Theo Tel-Zur và ctv (2003), Hylocereus có quả to, hấp dẫn nhưng kém ngon đã giới hạn thị trường tiêu thụ, trong khi S megalanthus có vị rất ngọt
và ngon nhưng cho quả nhỏ, hình thái kém hấp dẫn và vỏ quả có gai Do vậy, chương trình cải tiến giống cần thiết kết hợp giữa các ưu điểm trên của hai loài này để khắc phục những nhược điểm trên [28 tr 38]
Trang 30- Thân cây Hylycereus undatus có hình tam giác, 3 mặt, mặc dù đôi khi
4 hoặc 5 mặt, xanh lá cây, nhiều nhánh Mỗi phân đoạn gốc có 3 xương sườn
lượn sóng phẳng và có 1-3 gai nhỏ Cành Hylycereus undatus bò sát hay leo,
dài tới 10 m Rễ khí có khả năng hấp thụ nước, được mọc trên mặt dưới của thân cây mà cung cấp neo đậu cho thân trên bề mặt thẳng đứng Hoa dài 25-
30 cm, rộng 15-17 cm, nở về đêm, có mùi thơm và lưỡng tính; tuy nhiên, một
số giống là tự tương thích Hoa thường có màu trắng và chuông hình, nhị hoa
và nhụy thùy là màu kem Trái cây thuôn dài để hình trứng, dài tới 6-12 cm, dày 4-9 cm, màu đỏ, ăn được với nhiều hạt nhỏ màu đen Trọng lượng quả trung bình là 350-400 g, mặc dù có thể nặng tới 900 g Thanh long là cao vitamin C và khoáng chất, và cũng giàu chất chống oxy hóa [16 tr 34]
* Nghiên cứu về bón phân qua rễ
Tại Israel một lượng nhỏ phân bón đã được áp dụng để bổ sung vào nước tưới mỗi ngày (Raveh và cs, 1997; Nerd và cs, 1999; Lichtenzveig và cs, 2000; Weiss và cs, 1994) Theo Mizrahi và Nerd (1999), đã đề nghị thêm 35 ppm N từ phân bón có chứa 23N – 7P – 23K vào nước tưới [34]
Kết quả nghiên cứu của Shyama Prashad Chakma và cs, (2013) cho thấy lượng phân bón: (20kg phân chuồng + 540g N + 310g P + 250g K)/trụ hoặc (5kg phân chuồng + 135g N + 78g P + 63g K)/cây làm nâng cao năng suất thanh long ở vùng Chittagong, cũng như ở Bangladesh [33 tr 12]
Theo khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Sri Lanka, phân bón hữu cơ là rất quan trọng để tăng trưởng hợp lý và phát triển của cây thanh long Bởi vì bón 15kg phân hữu cơ cho mỗi trụ và mỗi năm tăng thêm 2kg đến khi lên đến 20kg Lượng phân vô cơ cho cây trong giai
đoạn sinh trưởng sinh dưỡng là (N – 72g, P – 88g, K – 40g)/4 tháng, đối với
cây đang trong giai đoạn mang quả cũng như sau khi thu hoạch là (N – 50g, P – 50g, K – 100g)/1 tháng [38]
Trang 31Việc thực hành bón phân theo khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp Malaysia [40], cây từ giai đoạn mới trồng đến 6 tháng đầu, cứ 2 tháng 1 lần bón cho mỗi trụ 100g phân N:P:K 15:15:15, từ tháng thứ 7 trở đi cứ 2 tháng một lần bón 200g phân N:P:K 15:15:15, giai đoạn cây đang mang trái 1 tháng
1 lần bón 300g phân N:P:K 13:13:21, giai đoạn sau khi đậu quả 1 tháng 1 lần bón 300g phân N:P:K 15:15:15 như ở bảng 1.7 dưới đây
Bảng 1.7: Thực hành bón phân theo khuyến cáo của
Bộ Nông nghiệp Malaysia
Tuổi cây Loại phân
bón
Lượng phân bón cho mỗi
trụ
Thời gian bón
Cây dưới 6 tháng
2 tháng một lần Cây 7 tháng tuổi trở
2 tháng một lần Giai đoạn mang trái
1 tháng 1 lần
lần Theo khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp Sarawak [40], lượng phân bón lót khi trồng là 5kg phân hữu cơ Đối với cây trồng năm thứ nhất, cứ 2 tháng
1 lần bón 0,1kg phân N:P:K 15:15:15, khi bắt đầu có hoa cứ 2 tháng 1 lần bón 0,1kg phân N:P:K 12:12:17,2 + TE Cây năm thứ 2 trở lên, 4 tháng 1 lần bón 5kg phân hữu cơ và 2 tháng 1 lần bón phân N:P:K 12:12:17,2 +TE như ở bảng 1.8 dưới đây
Trang 32Bảng 1.8: Thực hành bón phân theo khuyến cáo của
Bộ Nông nghiệp Sarawak
Tuổi cây Loại phân bón Lượng phân bón
cho mỗi trụ Thời gian bón
Ban đầu (sau
khi trồng) Phân bón hữu cơ 5kg
Lưu ý: Áp dụng phân bón ở gốc, thân, cành trước khi trồng
0,2kg 5kg
Hai tháng một lần Một lần mỗi 4 tháng
* Nghiên cứu về chất điều tiết sinh trưởng
Hiện nay, việc sử dụng chất điều tiết sinh trưởng trên cây thanh long là khá phổ biến trên thế giới Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên cứu
được công bố rộng rãi Việc yêu cầu của thị trường và của người tiêu dùng
ngày càng nâng cao, việc sử dụng chất điều tiết sinh trưởng một cách hợp lý,
đúng quy định để nâng cao năng suất, phẩm chất quả thanh long là rất cần
thiết Một số công trình nghiên cứu trên thế giới đã thu được kết quả như sau
Nghiên cứu của A Khaimov và Y Mizrahi (2006) trên loài Hylocereus undatus ở Israel cho thấy, xử lý CPPU (N-(2-chloro-4-pyridinyl)-N’-phenylurea) nồng độ 50 và 200 ppm từ tháng 2 – 5 (1 tháng/lần) giúp thanh long tăng tổng số hoa và đợt ra hoa rộ đầu trổ sớm hơn 45 – 75 ngày so với đối chứng Trong khi,
xử lý GA3 ở nồng độ 100 và 500 ppm thì làm giảm tổng số hoa và đợt ra hoa rộ
đầu trổ trễ hơn 30 – 60 ngày so với đối chứng [ 29 tr 465 – 470 ]
Trang 33Phun GA3 ở các nồng độ 1ppm, 10ppm và 50ppm sau khi đậu quả Kết quả cho thấy các tính chất vật lý của quả thanh long đã có sự khác biệt đáng
kể vê trọng lượng, chiều dài, chiều rộng quả so với đối chứng không phun Trong đó, phun GA3 ở nồng độ 50ppm đạt hiệu quả cao nhất với trọng lượng quả trung bình đạt 561,4g/quả, chiều dài quả đạt 11cm, chiều rộng quả đạt 9,3cm [ 31 tr 96]
* Nghiên cứu về bảo vệ thực vật
Về bệnh hại, theo Ahmad Kamil B Mohd Yunus (2008), ở Malaysia, trên cây thanh long có một số bệnh hại phổ biến như: bệnh thán thư, bệnh
đốm nâu, bệnh thối cành và thối quả Trong đó, bệnh thối cành và thối quả là
các bệnh gây hại nghiêm trọng nhất trên vườn thanh long Nhiều nơi đã báo
cáo bệnh do vi khuẩn Xanthomonas campestris gây ra Tuy nhiên ở Đài Loan, người ta đã phân lập và chứng minh bệnh do 2 tác nhân gây ra đó là:
Fusarium oxysporium và Pantoea sp Trong khi đó ở Malaysia bệnh được xác định là do vi khuẩn Erwinia caratovora gây ra Vết bệnh xâm nhiễm bắt đầu
từ vết thương do côn trùng hay do nấm gây bệnh thán thư tạo ra trước với triệu chứng điển hình là mô cây bị vàng tiếp theo là thối nhũn và có mùi hôi Khi cây nhiễm bệnh nặng thì toàn bộ phần thịt bị thối rữa và rơi ra chỉ trơ phần lõi của cây lại Biện pháp quản lý chủ yếu là cắt cành bệnh, sử dụng thuốc gốc đồng để phun xịt và điều khiển dinh dưỡng vừa đủ cho cây Ngoài
ra, trên thanh long ở Malaysia còn nhiễm bệnh đốm nâu do Botryoshaeria
dothidea gây ra, tuy nhiên mức độ bệnh và mức phổ biến không cao [6 tr 54]
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
* Nghiên cứu về chọn tạo giống
Trong nhiều năm trước đây, giống thanh long ruột trắng là giống được trồng tập trung ở các vùng trồng thanh long của Việt Nam Hiện nay, ngoài
Trang 34giống thanh long ruột trắng, một số giống thanh long ruột đỏ do Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam chọn tạo thành công đã bắt đầu được đưa vào trồng ở các vùng trồng thanh long tập trung
Theo Trần Thị Oanh Yến và ctv (2001), Phạm Ngọc Liễu (2004) từ nguồn vật liệu bao gồm: 2 giống thanh long ruột trắng Chợ gạo và Bình Thuận, 2 giống thanh long ruột đỏ nhập nội từ Đài Loan và 2 giống thanh long ruột vàng nhập nội từ Colombia, các tác giả đã xác định được các giống thanh long ruột đỏ trồng khảo nghiệm có năng suất đạt được gần tương đương với năng suất của các giống thanh long ruột trắng khi được thụ phấn bổ sung Khi được thụ phấn bổ sung, năng suất của giống thanh long ruột đỏ đạt 11,20 kg/trụ/năm, so với năng suất của giống thanh long trắng Bình Thuận
là 12,60 kg/trụ/năm Từ các cặp lai thuận nghịch của hai giống thanh long Bình Thuận và thanh long ruột đỏ, từ 188 con lai thu được, sau 1 năm trồng
đánh giá đã có 8 con lai cho ra hoa đậu quả và cả 8 con lai đều có ruột màu
đỏ Trong đó, 2 con lai có khối lượng trung bình quả lớn hơn 300 gam Đến
năm 2004, các tác giả đã thu được dòng H14 có khả năng sinh trưởng phát triển khỏe ở cả 2 điểm khảo nghiệm Tiền Giang và Long An Dòng lai H14
có cành to khỏe, quả có hình dạng đẹp tương tự như thanh long Bình Thuận, độ Brix đạt 16 - 17%, axit 0,25 - 0,33g/100 ml dịch quả, thịt quả chắc và nhiễm thán thư nhẹ [25 tr 8-14]
Từ dòng lai có triển vọng H14, các tác giả tiếp tục nhân giống vô tính và tiến hành trồng khảo nghiệm rộng Trong điều kiện khảo nghiệm rộng, dòng H14 đã cho năng suất cao 62,36 kg/trụ/năm sau 3 năm trồng tại Tiền Giang, đã thể hiện tính ổn định khi được nhân giống vô tính và trồng tập trung trên diện rộng Dòng thanh long H14 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận là giống thanh long ruột đỏ Long Định 1 vào năm 2005 [25 tr 8-14]
Trang 35Ở các tỉnh phía Bắc, các nghiên cứu về chọn tạo giống thanh long mới
chỉ được tập trung theo hướng khảo nghiệm, đánh giá tính thích ứng của một
số giống thanh long trong điều kiện sinh thái các tỉnh phía Bắc
Theo Nguyễn Thị Thu Hương (2005), trong nghiên cứu trồng khảo nghiệm một số giống thanh long tại Gia Lâm - Hà Nội, kết quả thu được cho thấy các giống thanh long ruột trắng và thanh long ruột đỏ đều có khả năng sinh trưởng phát triển, ra hoa đậu quả tốt trong điều kiện sinh thái vùng Gia Lâm - Hà Nội Trong các giống thanh long trồng khảo nghiệm (TL1, TL2 và TL3), giống thanh long TL1 (vỏ đỏ, ruột đỏ) có khả năng sinh trưởng phát triển, cho năng suất thu được cao nhất, đạt 12,65 kg/trụ/năm và có chất lượng quả tốt nhất [14 tr 77]
Từ kết quả trồng khảo nghiệm tại Gia Lâm - Hà Nội, giống thanh long ruột đỏ TL1 đã được đưa đi trồng khảo nghiệm tại một số vùng của các tỉnh phía Bắc là Lập Thạch - Vĩnh Phúc, Nghĩa Đàn - Nghệ An và các huyện Gia Lâm, Thạch Thất - Hà Nội Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hương
và cs (2010) cho thấy, giống thanh long ruột đỏ TL1 đều sinh trưởng phát triển tốt và cho năng suất cao ở tất cả các điểm trồng khảo nghiệm [15 tr 22]
* Nghiên cứu về đặc điểm nông sinh học
Theo Nguyễn Văn Kế (1998) [16], thân cành thanh long ưa nắng, thân mập thường có 3 cánh dẹp hiếm khi có 4 cánh, màu xanh lục Ở một số chi khác thân có 3 – 5 cánh, thắt khúc từng đoạn là điểm giới hạn đợt sinh trưởng Thân bò rất dài thậm chí 5 – 7m, đường kính 3 – 7cm Thân không có lá, lá đã
bị tiêu giảm Chiều dài cành trung bình của cành thanh long ở cây 3 – 5 tuổi là 1,0 – 1,1m Trên mỗi cành có nhiều thuỳ, tại thuỳ có nhiều lông mịn, ngắn và
Trang 36có 2 – 5 gai nhỏ dài 2 – 4mm (Barbeau 1990, Trương Thị Đẹp 1999) [5 tr 78] Các thuỳ xuất hiện đều trên 3 cánh của thân xếp dọc theo một đường xoắn ốc Thuỳ là vị trí bị tiêu giảm được gọi là mắt và cũng là nơi nụ hoa xuất hiện Bìa mỗi cánh có đường viền màu vàng nâu nối liền các mắt với nhau Tiết diện ngang cho thấy có hai phần: bên ngoài là nhu mô có chứa diệp lục, bên trong là lõi cứng hình trụ
Thanh long có duy nhất một loại hoa đó là hoa lưỡng tính rất to, chiều dài khoảng 25 – 35cm, chiều rông 22,5cm [16 tr 44] Hoa màu vàng sáng, mọc đơn độc trên thân cây, nhiều lá dài và cánh hoa dinh nhau thành ống, nhiều chỉ nhị và một vòi nhuỵ Các lá đài hình vẩy dài, màu xanh xếp kiểu xoắn ốc Các cánh hoa có màu trắng ngà, mỏng manh xếp nối tiếp lá đài Các chỉ nhị xếp xoắn ốc trên ống bao hoa Ở bầu noãn hạ, vòi nhuỵ dài hơn chỉ nhị, vòi nhuỵ dài khoảng 18 – 24cm, đường kính 5 – 8mm Tận cùng là nuốm nhuỵ, chia làm nhiều nhánh
Hoa nở vào ban đêm, thường nở tập trung từ 20 – 23 giờ Hoa nở đồng loạt trong vườn và sáng hôm sau thì hoa héo dần Số đợt hoa xuất hiện trong năm tuỳ thuộc vào từng giống, từng vùng Theo tác giả Nguyễn Văn Kế (1998) [16 tr 45], hàng năm có khoảng 4 – 6 đợt đối với giống thanh long ruột trắng trồng tại miền Nam – Việt Nam Giống thanh long ruột đỏ trồng tại đảo Hải Nam – Trung Quốc có 13 – 15 đợt hoa trong năm Mỗi đợt hoa chỉ kéo dài 2 – 3 ngày Hoa xuất hiện sớm nhất vào cuối tháng 3, kết thúc vào khoảng tháng 10, nở rộ từ tháng 4 đến tháng 9 Theo Trương Thị Đẹp (1999) [5 tr 61],
sự nở hoa của thanh long theo chu kỳ sau: tất cả các hoa trong cùng một cây
Trang 37và tất cả các cây trong cùng một dòng tiến triển cùng một thời gian theo ba pha đó là:
Xuất hiện nụ tới nở hoa: 15 – 16 ngày
Nở hoa: 3 – 5 ngày
Nở hoa đến khi quả chín: 30 – 35 ngày
Sự nở hoa vừa kết thúc, đã xuất hiện những nụ hoa mới của chu kỳ tiếp theo Vì vậy, có thể thấy trên một cây ở cùng một thời điểm có cả nụ hoa, những quả non và những quả gần chín Do đó, để tăng năng suất, chất lượng quả thanh long cần chú trọng đến biện pháp kỹ thuật bón phân cho cây trong thời kỳ cây cho quả
Theo Nguyễn Văn Kế (1998) [16 tr 44 - 46], sau khi hoa thụ phấn, thụ tinh sẽ phát triển thành quả Trong 10 ngày đầu, tốc độ quả phát triển tương
đối chậm sau đó tăng rất nhanh về kích thước và khối lượng Vì vậy, có thể
phun phân bón lá vào thời điểm sau 10 ngày đậu quả cho hiệu quả cao Khi chín, quả rất to có màu đỏ tía Quả có thể hình tròn hoặc hình bầu dục Quả thường có chiều dài khoảng 12 – 16cm, đường kính 8 – 13,5cm Vỏ quả có mang nhiều vẩy (tai) màu xanh và có chiều dài 2 – 5cm Đó là những phiến ngoài cũng của bao hoa Mỗi trụ thanh long ruột đỏ trồng tại đảo Hải Nam - Trung Quốc cho khoảng 30 quả/năm Số lượng quả trên cây tuỳ thuộc vào vùng sinh thái, kỹ thuật chăm sóc Quả thanh long ruột đỏ có khối lượng từ
400 – 800g, tổng hàm lượng chất rắn hoà tan 18% [2 tr 4]
Theo Nguyễn Hữu Thoại (1999) [20], cho rằng, đặc tính thực vật học
và đặc điểm quả của một số loại cây lấy quả thuộc họ xương rồng như ở bảng 1.9 dưới đây
Trang 38Bảng 1.9: Đặc tính thực vật học và đặc điểm quả của một số loại cây lấy
quả thuộc họ xương rồng Chi/loài Đặc tính thực vật Đặc điểm quả
O amylaea Tenore Thân phẳng có nhiều
đoạn khúc khuỷu, dạng
bụi Thân có nhiều gai
Quả nặng 100-200g, hình bầu dục Màu sắc vỏ và thịt quả thay đổi rất khác nhau từ xanh, vàng đến đỏ Vỏ quả có nhiều lông
Quả hình cầu trọng lượng 200g, vỏ có nhiều gai, thịt quả màu vàng đến đỏ
100-S queretaroensis
(Weber) Busbaum
Thân thẳng đứng mọc bụi hoặc dạng cây nhỏ
Quả hình cầu trọng lượng 200g, vỏ có nhiều gai, thịt quả màu trắng, vàng, đỏ tía đến đỏ thẫm
(Pfeiffier)
Riccobobo
Thân thẳng đứng mọc bụi hoặc dạng cây nhỏ
Quả hình cầu trọng lượng 200g, vỏ có nhiều gai, thịt quả màu
Quả bầu dục nặng 200-300g Vỏ mỏng, màu vàng, tím đến đỏ Thịt màu trắng
Quả hình cầu nặng 300-600g, vỏ màu đỏ sẫm có nhiều vẩy lớn, thịt quả màu đỏ tím
(Weber) Britton &
Rose
Thân mảnh, hình tam giác, dạng bò
Quả hình cầu nặng 300-600g, vỏ màu đỏ sẫm có nhiều vẩy lớn, thịt quả màu đỏ
(Haworth) Britton
& Rose
Thân mảnh, hình tam giác, dạng bò
Quả hình cầu nặng 300-600g, vỏ màu đỏ sẫm có nhiều vẩy lớn, thịt quả màu trắng
Trang 39Theo Thái Thị Hoà và Đỗ Minh Hiền (2002) [11 tr 8], ở giai đoạn đầu vào ngày thứ 26, từ khi hoa nở đến khi quả thành thục, khối lượng quả tăng chủ yếu là do khối lượng vỏ, tỷ lệ thịt quả tăng rất chậm Vào ngày thứ 5 sau khi đậu, vỏ quả chiếm 92,25% đến khi quả thành thục tỷ lệ vỏ quả chỉ còn 59,31% ở ngày thứ 26, lúc này vỏ quả thanh long rất dày, thịt quả có màu hồng tím nhạt Khi quả chín hoàn toàn, thịt quả chiếm khoảng 60% ở ngày thứ 28 – 30 sau khi đậu Nếu tiếp tục để quả trên cây, tỷ lệ thịt quả vẫn tăng nhưng dễ dẫn đến hiện tượng vỏ quả bị nứt và vẩy quả bị úa vàng rất nhanh
Màu sắc của thịt quả rất đa dạng, có thể màu trắng trong, trắng đục hoặc màu đỏ tuỳ thuộc vào giống Thịt quả chứa nhiều hạt nhỏ màu đen giống như hạt vừng đen Một quả có chứa khoảng 10.500 – 20.000 hạt [3 tr 22], hạt nhỏ phân bố đều, hạt mềm nên khi ăn không bị ảnh hưởng đến chất lượng quả
* Nghiên cứu về phân bón qua rễ
Khác với một số cây ăn quả khác, cây thanh long ra quả tập trung và sau mỗi vu quả cây bị lấy đi khối lượng sản phẩm lớn Mặt khác, cây thanh long không có lá, khí không đóng vào ban ngày và mở vào ban đêm nên cường độ và sản phẩm quang hợp ở cây rất thấp [7 tr 34] Vì thế, việc cung cấp dinh dưỡng cho cây là vô cùng quan trọng Theo khuyến cáo của một
số nông dân vùng xuất xứ cây thanh long ruột đỏ, bón lót phân hữu cơ 10 –
20 kg/trụ trong năm Tỷ lệ phân N : P : K là 3 : 4 : 5 với lượng phân bón như ở bảng 1.10 dưới đây [5 tr 67]
Bảng 1.10: Lượng phân bón cho một trụ thanh long ruột đỏ trong năm Tuổi cây Đạm Ure (g) Lân Supe (g) Kaliclorua (g)
Trang 40Lượng phân trên dùng trong một năm và được chia là 12 lần, bón vào tháng 3 là 1/6 lượng phân trên + toàn bộ lượng phân hữu cơ Từ tháng 4 – 11 mỗi tháng bón 1/12 lượng phân trên
Từ tháng 12 sau khi thu hoạch và cắt tỉa, bón 1/6 tổng lượng phân Vào mùa đông, cần bón tăng phân Kali để tăng cường sức chống hạn và chống rét cho cây
Có rất nhiều quan điểm về bón phân cho cây thanh long, theo khuyến cáo của Sở khoa học công nghệ môi trường tỉnh Bình Thuận [20] như sau: Thời kỳ 1 – 2 năm đầu:
Bón lót: 15 – 20 kg phân chuồng hoai mục, 100g supe lân cho 1 vụ Bón thúc: 100g Ure +100 N – P – K 16 – 16 – 8 vào các giai đoạn 20 –
30 ngày sau khi trồng, sau đó 3 tháng bón một lần Khi cây ra hoa, có thể cung cấp thêm 50g Kaliclorua
Thời kỳ từ năm thứ 3 trở đi: Liều lượng bón 500g N + 500g P2O5 + 500g K2O tương ứng 1080g Ure + 3.200g Supe lân + 800g Kaliclorua Cách bón chia làm 8 lần trong năm Rải phân đều trên bề mặt đất xung quanh trụ thanh long, xới nhẹ cho phân lọt xuống đất hoặc phủ lên bằng một lớp đất mỏng Sau đó tủ rơm hoặc cỏ khô và tưới nước cho phân tan
Lần 1 bón sau thu hoạch: 100% lân + toàn bộ lượng phân chuồng hoai mục + 200g Ure