1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ MALAYSIA VỀ MÔ HÌNH QUẢN LÍ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG

20 432 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 344,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự ra đời của mô hình công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng xuất phát từ chính quá trình phát triển rầm rộ về quy mô của nợ xấu, mô hình công ty này đã và đang được nhiều quốc

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ PHƯƠNG NGA

SO S¸NH PH¸P LUËT VIÖT NAM Vµ MALAYSIA

VÒ M¤ H×NH QU¶N Lý TµI S¶N CñA C¸C Tæ CHøC TÝN DôNG

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Phương Nga

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

LỜI NÓI ĐẦU 5

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI SẢN, SỰ

HÌNH THÀNH CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA CÁC TỔ

CHỨC TÍN DỤNG TẠI VIỆT NAM VÀ MALAYSIA 12

1.1 Khái quát các vấn đề lý luận về quản lý tài sản và các loại hình

Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng 12

1.1.1 Khái niệm về quản lý tài sản 12

1.1.2 Các loại hình công ty quản lý tài sản Error! Bookmark not defined

1.2 Sự hình thành mô hình Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín

dụng tại Việt Nam và Malaysia Error! Bookmark not defined

1.2.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội Error! Bookmark not defined

1.2.2 Tác động của Nợ xấu Error! Bookmark not defined

1.2.3 Thực trạng giải quyết nợ xấu của Việt Nam và MalaysiaError! Bookmark not defined

1.2.4 Bất cập của cơ chế xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng tại Việt NamError! Bookmark not defined

1.2.5 Mô hình của một số quốc gia về công ty quản lý tài sản của các tổ

chức tín dụng Error! Bookmark not defined

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Error! Bookmark not defined

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THÀNH LẬP VÀ HOẠT

ĐỘNG CỦA CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN CỦA TỔ CHỨC

TÍN DỤNG VÀ SO SÁNH VỚI MÔ HÌNH CỦA MALAYSIAError! Bookmark not defined 2.1 Thành lập, cơ cấu tổ chức của VAMC và so sánh với mô hình của

Malaysia Error! Bookmark not defined

2.1.1 Quá trình thành lập Error! Bookmark not defined

2.1.2 Địa vị pháp lý của VAMC Error! Bookmark not defined

2.1.3 Cơ cấu tổ chức hoạt động Error! Bookmark not defined

Trang 4

2.2 Hoạt động quản lý tài sản của VAMC và so sánh với mô hình của

Malaysia Error! Bookmark not defined

2.2.1 Vốn hoạt động Error! Bookmark not defined

2.2.2 Mục tiêu, nguyên tắc hoạt động Error! Bookmark not defined

2.2.3 Hoạt động mua nợ xấu của các tổ chức tín dụngError! Bookmark not defined

2.2.4 Quản lý và xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụngError! Bookmark not defined

2.2.5 Đánh giá thực trạng hoạt động của VAMC Error! Bookmark not defined

2.3 Chấm dứt hoạt động của Công ty quản lý tài sản của tổ chức tín

dụng tại Việt Nam và so sánh với mô hình của MalaysiaError! Bookmark not defined

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Error! Bookmark not defined

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

CỦA VAMC Error! Bookmark not defined

3.1 Những bất cập trong điều chỉnh pháp luật và thực tiễn về hoạt

động của VAMC Error! Bookmark not defined

3.2 Định hướng hoàn thiện và một số kiến nghị pháp luật điều chỉnh

về tổ chức và hoạt động của VAMC Error! Bookmark not defined

3.2.1 Thứ nhất, về vốn hoạt động của VAMC Error! Bookmark not defined

3.2.2 Thứ hai, VAMC cần có kế hoạch, thời gian xử lý nợ xấu và tăng cường

chức năng bán nợ xấu Error! Bookmark not defined

3.2.3 Thứ ba, tạo ra một thị trường mua bán nợ thứ cấp mà VAMC giữ vai

trò là một tổ chức kinh doanh nợ Error! Bookmark not defined

3.2.4 Thứ tư, hoàn thiện các quy định pháp luật về xử lý nợ xấu, xử lý tài sản

bảo đảm cho VAMC Error! Bookmark not defined

3.2.5 Thứ năm, cần tạo sự độc lập về chính trị của VAMCError! Bookmark not defined

3.2.6 Thứ sáu, tăng cường trách nhiệm của VAMC trong xử lý nợ xấuError! Bookmark not defined KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Error! Bookmark not defined

KẾT LUẬN CHUNG Error! Bookmark not defined

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

AMC: Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của các TCTD

BCBS: Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng

CDRD: Ủy ban tái cơ cấu doanh nghiệp

CEO: Giám đốc điều hành

CIC: Trung tâm thông tin tín dụng

CNTT: Công nghệ thông tin

Danaharta: Công ty quản lý tài sản Danaharta

Danamodal: Tổ chức tái cấp vốn

DATC: Công ty TNHH mua bán nợ Việt Nam

DN: Doanh nghiệp

DNNN: Doanh nghiệp nhà nước

FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

GDP: Tổng sản phẩm quốc nội

GTGT: Giá trị gia tăng

HĐQT: Hội đồng quản trị

IAS: Chuẩn mực kế toán quốc tế

IFRS: Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế

IMF: Tổ chức tiền tệ thế giới

KAMCO: Công ty quản lý tài sản nợ thuộc Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc NSNN: Ngân sách nhà nước

NHNN: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

NHTM: Ngân hàng thương mại

ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức

SCIC: Tổng công ty kinh doanh vốn nhà nước

TCTD: Tổ chức tín dụng

TSBĐ: Tài sản bảo đảm

TTCK: Trung tâm chứng khoán

USD: Đồng đô la Mỹ

VAMC: Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam

Trang 6

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Luật các TCTD 2010 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16-6-2010, có hiệu lực từ ngày 01-01-2010

đã quy định rất rõ về các hoạt động của TCTD, theo đó gồm các hoạt động cơ bản: nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn; phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu; Cấp tín dụng dưới các hình thức cho vay, chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, bảo lãnh ngân hàng, phát hành thẻ tín dụng, bao thanh toán; mở tài khoản thanh toán; cung ứng dịch vụ thanh toán và một số hoạt động mang tính chất đầu tư Bản chất đặc thù trong hoạt động của các tổ chức tín dụng là kinh doanh tiền tệ, tìm kiếm lợi nhuận giữa chi phí huy động vốn và hoạt động cấp tín dụng (cho vay, bảo lãnh, bao thanh toán, chiết khấu…), do vậy, có thể thấy bên cạnh một số hoạt động đầu tư, kinh doanh vốn thì hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng được coi là hoạt động truyền thống cốt lõi mang lại lợi nhuận chủ đạo cho các tổ chức tín dụng Hoạt động kinh doanh tiền tệ tiềm ẩn nhiều rủi ro, không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của bản thân tổ chức tín dụng mà sự sụp đổ của một tổ chức tín dụng còn làm ảnh hướng đến cả hệ thống ngân hàng và nền kinh tế Theo chu kỳ phát triển mang tính quy luật, sự phát triển mạnh của hoạt động cấp tín dụng trong một thời gian nhất định sẽ đem lại những hệ quả tích cực và tiêu cực tác động trực tiếp đến nền kinh tế Bên cạnh những tác động tích cực là cung ứng vốn cho kinh tế, giải quyết nhu cầu và đáp ứng sản xuất kinh doanh cũng như tiêu dùng của khách hàng góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển thì những hệ quả tiêu cực do hoạt động cấp tín dụng mang lại không hề nhỏ nếu việc cấp tín dụng không được kiểm soát một cách cẩn trọng và phòng ngừa rủi ro ở mức

cao nhất Hệ quả tiêu cực có tác động trực tiếp đến nền kinh tế chính là “Nợ xấu” Thực

tế hiện nay, nợ xấu đã và đang tác động tiêu cực đến việc lưu thông dòng vốn vào nền kinh tế và tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các ngân hàng Nợ xấu được ví như căn bệnh ung thư quái ác Nếu phát hiện chữa trị sớm thì cơ hội xử lý cao, còn càng

để muộn thì càng khó cứu chữa Xuất phát từ thực trạng Nợ xấu ngày càng phát triển đã

Trang 7

tạo các tiền đề dẫn đến sự hình thành các biện pháp xử lý nợ xấu với mục tiêu đưa tỷ lệ

nợ xấu về mức thấp nhất, vừa đảm bảo hoạt động an toàn cho hệ thống các định chế tài chính, vừa đảm bảo các định chế tài chính có đủ sức khỏe, thanh khoản tốt để không ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế và xã hội

Trong rất nhiều các biện pháp, chính sách của chính phủ hỗ trợ ngành ngân hàng xử

lý nợ xấu thì giải pháp của việc thành lập một công ty xử lý nợ xấu tập trung của toàn hệ thống ngân hàng trở thành một trong những biện pháp hữu hiệu Sự ra đời của mô hình công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng xuất phát từ chính quá trình phát triển rầm

rộ về quy mô của nợ xấu, mô hình công ty này đã và đang được nhiều quốc gia thử nghiệm

áp dụng và có thể nói ở mức độ nào đó đã góp phần không nhỏ cho việc giảm tỷ lệ nợ xấu,

ổn định hoạt động của các tổ chức tín dụng

Mỗi quốc gia sẽ căn cứ thực tiễn cơ cấu, tổ chức và hoạt động của hệ thống tài chính – ngân hàng, chiến lược phát triển kinh tế của mình và mục tiêu xử lý nợ xấu để lựa chọn mô hình tổ chức cũng như hoạt động của công ty quản lý tài sản phù hợp Do đó, không có một tiêu chuẩn cũng như mô hình thống nhất về loại hình công ty này Trên thực tế, không chỉ các nước trong khu vực châu Á thành lập các công ty quản lý tài sản

mà ngay cả nước phát triển như Mỹ và các nước Mỹ La tinh cũng có các công ty chuyên

về xử lý nợ xấu của ngân hàng Một số quốc gia đã triển khai mô hình công ty xử lý nợ xấu như: Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan…., mỗi mô hình hoạt động có những ưu điểm và hạn chế nhất định Từ những ưu điểm và hạn chế của các mô hình công ty quản lý tài sản đã triển khai trên thế giới, Việt Nam đã rút kinh nghiệm và học hỏi để xây dựng một mô hình công ty quản lý tài sản của các TCTD phù hợp với đặc điểm kinh tế, chính trị cũng như hoạt động ngân hàng tại Việt Nam

Ngày 18/5/2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 53/2013/NĐ-CP về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam Văn bản này đã tạo cơ sở pháp lý cho sự ra đời của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và hoạt động tích cực của VAMC trong việc xử lý nợ xấu VAMC được ví như một công cụ đặc biệt của Nhà nước góp phần đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD

Trang 8

Nghị quyết số 53/2013/QH13 ngày 11/11/2013 của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014 đã quy định những nội dung quan trọng cần tập trung chỉ đạo, điều hành để tăng ổn định vững chắc kinh tễ vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh

tế, trong đó bao gồm việc xử lý cơ bản nợ xấu của doanh nghiệp, nợ xấu của ngân hàng Với nội dung Nghị quyết này, vai trò của VAMC thực sự quan trọng để thực hiện định hướng trên và đảm bảo cơ sở pháp lý đẩy nhanh tiến độ xử lý nhanh nợ xấu, lành mạnh hóa tài chính, giảm thiểu rủi ro cho các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng tín dụng hợp lý cho nền kinh tế

Tác giả chọn đề tài này với mục đích đưa ra một cách nhìn toàn diện về hoạt động của VAMC (từ bối cảnh thành lập, vốn, mục tiêu hoạt động, nguyên tắc hoạt động; cơ cấu tổ chức, các hoạt động kinh doanh cho đến phương thức mua bán nợ xấu…) và có so sánh, phân biệt với hoạt động của Công ty Quản lý tài sản quốc gia Danaharta (Malaysia) – một mô hình công ty xử lý nợ xấu tương tự như VAMC để rút ra bài học kinh nghiệm

từ thành công của mô hình Danaharta; đồng thời nhìn nhận thực trạng, thành tựu kết quả hoạt động và vướng mắc của VAMC qua hơn 1 năm đi vào hoạt động Trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cũng như thúc đẩy hoạt động hiệu quả cho VAMC Trong điều kiện kinh tế của Việt Nam chưa thực sự phục hồi, bài toán xử lý nợ xấu vẫn là mục tiêu cấp thiết quan tâm hàng đầu của toàn bộ hệ thống ngân hàng thì vấn đề tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý, giải quyết các vướng mắc bất cập phát sinh trong quá trình hoạt động của VAMC là một vấn đề hết sức quan trọng Nghiên cứu vấn đề này sẽ góp phần thực hiện mục tiêu trên

2 Tình hình nghiên cứu và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài

Liên quan đến vấn đề xử lý nợ xấu, hiện nay ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu như các đề tài cấp bộ, cấp sở và các cơ quan chức năng đã tổ chức những hội thảo đề cập hoặc nghiên cứu một số khía cạnh của pháp luật về giải quyết nợ xấu, mỗi nhà khoa

học có cách tiếp cận đề tài này ở nhiều góc độ khác nhau Ví dụ như: sách “Để ngân hàng vươn ra biển lớn: Điều trị căn bệnh nợ xấu của ngân hàng thương mại” của tác giả Trịnh Thanh Huyền xuất bản năm 2007; bài “Trao đổi về giải pháp xử lý nợ xấu trong hệ thống NHTM Việt Nam” của TS Lê Quốc Lý - Bộ Kế hoạch và Đầu tư “Giải quyết nợ xấu và

Trang 9

ngăn chặn nợ xấu phát sinh” của Trần Đình Định - Phó Tổng giám đốc NH Nông nghiệp

và phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam; “Cần gắn việc xử lý nợ tồn đọng trong quá trình tái cơ cấu NHTM Việt Nam với tổng thể xử lý công nợ dây dưa của nền kinh tế quốc dân” của TS Nguyễn Viết Hồng - Giám đốc công ty AMC - Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam; “Nợ xấu – một số thực trạng, nguyên nhận và giải pháp” của Ngô Minh Châu – Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Phương Nam; “Cần thực hiện đồng bộ các giải pháp trong xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại Việt Nam” của TS Nguyễn Thị Phương Lan, Phó Việt trưởng viện Nghiên cứu khoa học ngân hàng; “Vấn đề xử lý nợ xấu của tổ chức tín dụng và của doanh nghiệp” của TS Nguyễn Đình Tài – Viện nghiên

cứu Quản lý Kinh tế trung ương Các công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập khía cạnh VAMC như một trong các giải pháp xử lý nợ xấu mà không nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động của VAMC Đối với việc nghiên cứu về mô hình của VAMC, hoạt động xử lý

nợ xấu của VAMC mới chỉ có một số bài nghiên cứu trao đổi (như bài nghiên cứu:

VAMC – Nét đặc trưng về xử lý nợ xấu của ThS Nguyễn Thanh Dương đăng trên báo

Phát triển và Hội nhập số 13 (23) – Tháng 11-12/2013…), một số công trình tiểu luận,

khóa luận, luận văn cao học (như tiểu luận với đề tài: “Dự án thành lập Công ty VAMC”

do một nhóm các bạn học viên cao học Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh dưới sự hướng

dẫn của PGS TS Trương Quang Thông; khóa luận với đề tài “Pháp luật về xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại tại Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam” của Đoàn Thảo Nguyên dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Thị Thu Thủy….),

ngoài ra, chưa có công trình nghiên cứu cấp bộ ngành và cơ quan chức năng nào đi sâu nghiên cứu về đề tài này Do đó, đề tài này phần nào đáp ứng tính cần thiết của việc nghiên cứu trong tình hình hiện nay, khi mà VAMC đã đi vào hoạt động được hơn 1 năm

và các quy định pháp lý đối với hoạt động của VAMC đang bộc lộ nhiều bất cập, cần thiết phải sửa đổi, bổ sung theo hướng tạo sự chủ động, trao quyền hạn phù hợp cho VAMC xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu đã mua, nâng cao sự minh bạch trong hoạt động mua nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt và mua nợ xấu theo giá trị thị trường Việc nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề này mang ý nghĩa luận thực tiễn sâu sắc

Trang 10

Đề tài mang ý nghĩa lý luận cho việc hoàn thiện môi trường pháp lý đầy đủ, phù hợp với đòi hỏi thực tiễn, những kiến nghị của đề tài hy vọng sẽ đem lại những kết quả thiết thực cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam liên quan đến hoạt động của VAMC cũng như các giải pháp nhằm tạo hiệu quả trong việc xử lý nợ xấu của VAMC Tác giả hy vọng rằng với sự đầu tư thích đáng, kết quả nghiên cứu sẽ là một tài liệu tham khảo có giá trị nhất định

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung, các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó có các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của NHNN, các văn bản hướng dẫn các vấn đề liên quan của các bộ về mô hình và hoạt động quản lý tài sản của VAMC Trong nội dung trình bày tác giả sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá việc áp dụng các quy định của pháp luật có liên quan đến mô hình hoạt động của VAMC, so sánh với quy định của pháp luật Malaysia về mô hình hoạt động của Danaharta, đánh giá thành tựu đạt được cũng như các vướng mắc, bất cập phát sinh để từ đó nêu lên những kiến nghị, giải pháp

có thể áp dụng cho VAMC

Với mục đích trên, đề tài đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

- Nghiên cứu và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về khái niệm quản lý tài sản, loại hình công ty quản lý tài sản quốc gia

- Nghiên cứu và làm sáng tỏ các tiền đề dẫn đến sự hình thành mô hình công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam và Malaysia

- Nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về VAMC, pháp luật Malaysia về Danaharta để so sánh điểm tương đồng, khác biệt cũng như đánh giá mô hình cơ cấu tổ chức, hoạt động quản lý tài sản và xử lý nợ xấu của VAMC và Danaharta

- Nghiên cứu, tổng kết thành tựu hoạt động của VAMC, Danaharta để rút ra bài học kinh nghiệm cho VAMC; đồng thời đánh giá nghiêm túc thực trạng, hạn chế, bất cập, vướng mắc trong hoạt động của VAMC

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện môi trương pháp lý, cải tiến để nâng cao hiệu quả hoạt động của VAMC

Ngày đăng: 28/03/2016, 05:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w