DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT APEC Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương CNTT Công nghiệp tàu thủy CNTT VN Công nghiệp tàu thủy Việt Nam CAD/CAM/CIM Công nghệ sản xuất có mức độ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi và không có sự trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã được công bố Tôi đã hoàn thành quyển luận án tại Bộ môn Quản trị kinh doanh tổng hợp – Khoa Quản trị kinh doanh – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội
Trong quá trình nghiên cứu, tôi chỉ sử dụng tài liệu tham khảo đã được liệt kê Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm./
Hà nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Lê Thị Kim Chi
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới tập thể giáo viên hướng dẫn
GS.TS Nguyễn Đình Phan, TS Nguyễn Ngọc Sự đã hết sức tận tình hướng dẫn, chỉ
bảo và đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình làm luận án
Xin trân trọng cảm ơn thầy PGS.TS Nguyễn Ngọc Huyền – nguyên Trưởng
bộ môn Quản trị kinh doanh tổng hợp, TS Ngô Thị Việt Nga - Trưởng bộ môn Quản
trị kinh doanh tổng hợp và toàn thể các thầy cô trong bộ môn đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho quyển luận án của tôi thêm hoàn thiện về mặt nội dung và hình thức Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo Viện Sau đại học đã tạo điều kiện giúp đỡ nhanh chóng về mặt thủ tục, quy trình trong suốt quá trình học và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn tới Lãnh đạo các công ty đóng tàu trong và ngoài Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy đã cung cấp các số liệu, thông tin của phiếu điều tra Qua đây cũng xin cảm ơn đến các bạn NCS cùng học khóa 2010 - 2014 trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội và các bạn đồng nghiệp đã giúp tôi rất nhiều kiến thức
và phương pháp luận
Tôi xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học và các đồng nghiệp đã phản biện, lý luận, đóng góp các ý kiến xây dựng và trao đổi về các vấn đề lý thuyết cũng như thực tiễn để luận án được hoàn thiện
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN 2
MỤC LỤC 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
DANH MỤC CÁC HÌNH, HỘP 8
LỜI MỞ ĐẦU 9
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TIÊU CHUẨN HÓA TRONG CÔNG TY 26
1.1 Tổng quan về tiêu chuẩn hóa 26
1.1.1 Khái niệm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn hóa 26
1.1.2 Cấp tiêu chuẩn hóa 30
1.1.3 Chức năng của tiêu chuẩn hóa 31
1.1.4 Vai trò của tiêu chuẩn hóa 33
1.1.5 Các xu hướng mới trong công tác tiêu chuẩn hóa vào đầu thế kỷ 21 36
1.2 Tiêu chuẩn hóa công ty 37
1.2.1 Những vấn đề chủ yếu của tiêu chuẩn hóa công ty 37
1.2.2 Nội dung của công tác tiêu chuẩn hóa công ty 46
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tiêu chuẩn hóa của công ty 52
1.2.4 Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của tiêu chuẩn hóa công ty 61
1.3 Kinh nghiệm về công tác tiêu chuẩn hóa của một số công ty đóng tàu nước ngoài 67 1.3.1 Đặc điểm của tiêu chuẩn hóa ngành công nghiệp cơ khí tại các nước đang phát triển tương tự Việt Nam 67
1.3.2 Kinh nghiệm của Công ty đóng tàu TSU (Nhật Bản) 68
1.3.3 Kinh nghiệm của Công ty đóng tàu COSCO (Trung Quốc) 72
1.3.4 Kinh nghiệm của Công ty đóng tàu Huyndai – Vinashin (Hàn Quốc – Việt Nam) 75
1.3.5 Bài học rút ra từ học tập kinh nghiệm của một số công ty đóng tàu nước ngoài về công tác tiêu chuẩn hóa 79
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 80
Trang 4CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TIÊU CHUẨN HÓA CỦA CÁC CÔNG TY
ĐÓNG TÀU VIỆT NAM 81
2.1 Khái quát ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam 81
2.1.1 Giới thiệu về sự phát triển các công ty đóng tàu 81
2.1.2 Những vấn đề tồn tại đối với các công ty đóng tàu 84
2.1.3 Đặc điểm của các công ty đóng tàu ảnh hưởng tới công tác tiêu chuẩn hóa 84
2.2 Công tác tiêu chuẩn hóa trong các công ty đóng tàu Việt Nam 93
2.2.1 Hệ thống tiêu chuẩn trong các công ty đóng tàu 93
2.2.2 Tình hình thực hiện các nội dung chủ yếu của công tác tiêu chuẩn hóa ở các công ty đóng tàu Việt Nam 97
2.2.3 Tình hình thực hiện các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển công tác tiêu chuẩn hóa trong công ty 113
2.2.4 Phân tích các nhân tố tác động và thúc đẩy sự phát triển công tác tiêu chuẩn hóa trong các công ty 133
2.3 Đánh giá chung công tác tiêu chuẩn hóa của các công ty đóng tàu 145
2.3.1 Những kết quả về công tác tiêu chuẩn hóa 145
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 149
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 153
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG TÁC TIÊU CHUẨN HÓA Ở CÁC CÔNG TY ĐÓNG TÀU VIỆT NAM 154
3.1 Quan điểm về công tác tiêu chuẩn hóa công ty 154
3.1.1 Quan điểm 1: Cần có nhận thức đúng đắn về vai trò, nhiệm vụ của công tác tiêu chuẩn hóa công ty 154
3.1.2 Quan điểm 2: Lãnh đạo phải coi trọng và có cam kết về công tác tiêu chuẩn hóa trong công ty 155
3.1.3 Quan điểm 3: Công tác tiêu chuẩn hóa của các công ty đóng tàu phải phục vụ đắc lực cho chiến lược và quy hoạch phát triển của ngành và các công ty 157
3.1.4 Quan điểm 4: Thực hiện các giải pháp toàn diện và đồng bộ thúc đẩy hoạt động tiêu chuẩn hóa 158
3.1.5 Quan điểm 5: Nâng cao trình độ tiêu chuẩn hóa của công ty trên cơ sở của tiến bộ khoa học kỹ thuật 160
3.1.6 Quan điểm 6: Mở rộng các hoạt động hợp tác quốc tế về tiêu chuẩn hóa 161
3.2 Các giải pháp cơ bản để đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa 162
Trang 53.2.1 Tập trung phát triển tiêu chuẩn hóa bên trong 162
3.2.2 Tăng cường bồi dưỡng và đào tạo kiến thức về tiêu chuẩn hóa cho cán bộ, công nhân viên 167
3.2.3 Các công ty đóng tàu cần coi trọng khâu kiểm tra, đánh giá công tác tiêu chuẩn hóa 171
3.2.4 Hoàn thiện tổ chức bộ phận tiêu chuẩn hóa của công ty 175
3.2.5 Đổi mới công nghệ trong các công ty đóng tàu 180
3.2.6 Các công ty đóng tàu cần coi trọng công tác đánh giá sự phù hợp 185
3.3 Kiến nghị 187
3.3.1 Đối với Bộ Giao thông Vận tải 187
3.3.2 Đối với Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy 189
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 191
KẾT LUẬN 192
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 194
TÀI LIỆU THAM KHẢO 195
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
APEC Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương CNTT Công nghiệp tàu thủy
CNTT VN Công nghiệp tàu thủy Việt Nam
CAD/CAM/CIM Công nghệ sản xuất có mức độ tự động hóa cao
DIN Tổ chức tiêu chuẩn hóa của Đức
DWT Đơn vị tấn đăng ký
ISO Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa
IEC Ủy ban kỹ thuật điện quốc tế
ITU Liên minh viễn thông quốc tế
JIS Tổ chức tiêu chuẩn hóa của Nhật Bản
KCN Khu công nghiệp
MAS-Q Đo lường, công nhận, tiêu chuẩn – chất lượng
SPS Hiệp định tự do thương mại quốc tế
SSM Quản trị tiêu chuẩn chiến lược
TCCT Tiêu chuẩn công ty
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TCQT Tiêu chuẩn quốc tế
TCKV Tiêu chuẩn khu vực
TBT Hiệp định rào cản kỹ thuật trong thương mại
TCH Tiêu chuẩn hóa
WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 1 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá sự phát triển 61
Bảng 1 2 Các bộ tiêu chuẩn hiện có của công ty TSU 72
Bảng 1 3 Các bộ tiêu chuẩn hiện có của công ty COSCO 74
Bảng 1 4 Các bộ tiêu chuẩn hiện có của công ty HVS 78
Bảng 1 5 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty HVS 78
Bảng 1 6 Các công ty đóng tàu có sản lượng đứng đầu trên thế giới 79
Bảng 2 1 Các công ty đóng tàu Việt Nam 82
Bảng 2 2 Đánh giá trình độ công nghệ của các công ty đóng tàu 92
Bảng 2 3 Cấp tiêu chuẩn sử dụng trong các công ty đóng tàu 94
Bảng 2 4 Cấp độ quan tâm tới công tác tiêu chuẩn hóa của các công ty đóng tàu 96
Bảng 2 5 Các tiêu chuẩn cần thiết xây dựng và áp dụng trong các công ty đóng tàu 98
Bảng 2 6 Lĩnh vực các công ty đóng tàu cần tiêu chuẩn hóa 98
Bảng 2 7 Các loại tiêu chuẩn công ty xây dựng và ban hành 99
Bảng 2 8 Các bước xây dựng tiêu chuẩn trong công ty 101
Bảng 2 9 Số lượng tiêu chuẩn của các công ty đóng tàu điển hình 103
Bảng 2 10 Khó khăn các công ty đóng tàu phải đối mặt 104
Bảng 2 11 Chính sách khuyến khích phát triển tiêu chuẩn hóa công ty 104
Bảng 2 12 Đánh giá về số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ tiêu chuẩn hóa 106
Bảng 2 13 Đánh giá thông tin đào tạo, cập nhật cho đội ngũ cán bộ làm công tác tiêu chuẩn hóa của công ty 106
Bảng 2 14 Đánh giá thông tin tham gia vào các hội nghị trong và ngoài nước cho đội ngũ cán bộ làm công tác tiêu chuẩn hóa của công ty 107
Bảng 2 15 Đánh giá thông tin về tham gia của cán bộ vào xây dựng tiêu chuẩn hóa của công ty 107
Bảng 2 16 Tình hình áp dụng các bộ tiêu chuẩn mà các công ty xây dựng và ban hành 107
Bảng 2 17 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia 110
Bảng 2 18 Tiêu chuẩn môi trường làm việc tại xưởng 111
Bảng 2 19 Tiêu chuẩn môi trường làm việc tại văn phòng 111
Bảng 2 20 Thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức và hướng dẫn, tổ chức thực hiện pháp luật về tiêu chuẩn hóa 113
Bảng 2 21 Số lượng tiêu chuẩn công ty hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế và khu vực 117
Bảng 2 22 Những lĩnh vực có tỷ lệ tiêu chuẩn hài hòa cao 117
Bảng 2 23 Số lượng tiêu chuẩn của một số công ty đóng tàu 118
Bảng 2 24 Tổng hợp các loại năng lượng sử dụng 127
Bảng 2 25 Tổng hợp tiết kiệm năng lượng của các công ty 128
Bảng 2 26 Phân chia thị phần đóng tàu thế giới 129
Bảng 2 27 Ô nhiễm bụi tại một số công ty đóng tàu 132
Bảng 2 28 Mức ồn gây ra từ các thiết bị sản xuất của Công ty 132
Bảng 2 29 Tổng hợp các công việc đóng mới một con tàu 137
Bảng 2 30 Thời gian bàn giao tàu 139
Bảng 2 31 Trình độ công nghệ đóng tàu của Việt Nam 140
Bảng 2 32 Mức độ áp dụng các tiêu chuẩn 143
Bảng 2 33 Mức độ quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo 144
Bảng 3 1 Phiếu kiểm tra thực hiện tiêu chuẩn 172
Bảng 3 2 Phiếu đánh giá hiệu quả tiêu chuẩn 173
Bảng 3 3 Kế hoạch đánh giá hoạt động tiêu chuẩn hóa 173
Bảng 3 4 Mẫu xây dựng tiêu chuẩn 174
Bảng 3 5 Bố trí bộ phận tiêu chuẩn hóa trong công ty 175
Bảng 3 6 Phát huy vai trò, nhiệm vụ, chức năng của bộ phận tiêu chuẩn hóa trong công ty 176
Bảng 3 7 Áp dụng công nghệ thông tin trong đóng tàu của một số nước 180
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH, HỘP
Hình 1 1 Sơ đồ mô tả việc phân cấp các khái niệm 29
Hình 1 2 Quan hệ giữa đổi mới công nghệ với quá trình sản xuất 36
Hình 1 3 Các bước xây dựng tiêu chuẩn công ty 48
Hình 1 4 Sơ đồ tổ chức công ty đóng tàu TSU 70
Hình 1 5 Sơ đồ tổ chức nhà máy đóng tàu Hyundai-Vinashin 76
Hình 2.1 1 Trọng tải tàu đóng trong năm 2013 81
Hình 2.1 2 Thị phần đóng tàu thế giới 85
Hình 2 2 Quy trình đóng tàu 86
Hình 2 3.Tỷ lệ công ty có hoạt động tiêu chuẩn hóa theo quy mô vốn 118
Hình 2 4 Áp dụng tiêu chuẩn kiểm tra sản phẩm 123
Hình 2 5 Đánh giá chung về chất lượng sản phẩm của Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Bạch Đằng 124
Hình 2 6 Giá cả của sản phẩm trên thị trường so với sản phẩm cùng loại của Tổng công ty công nghiệp tàu thủy Bạch Đằng 124
Hình 2 7 Biểu đồ đánh giá chất lượng sản phẩm tàu xuất khẩu 125
Hình 2 8 Biểu đồ chi phí các loại năng lượng 127
Hình 2 9 Ảnh hưởng của thị trường tới phát triển 134
Hình 2 10 Trình độ khoa học công nghệ trong các công ty đóng tàu 141
Hình 2 11 Ảnh hưởng của quy mô doanh nghiệp tới công tác tiêu chuẩn hóa (% doanh nghiệp trả lời) 145
Hình 3 1 Mô hình tổ chức mới của các công ty đóng tàu 176
Hình 3 2 Mô tả hệ thống tài liệu tiêu chuẩn hóa của công ty 178
Hộp 3 1 Biểu mẫu của một tiêu chuẩn công ty 166
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia có lợi thế quan trọng để phát triển kinh tế biển Về
tự nhiên, Việt Nam có bờ biển dài, vùng biển đặc quyền rộng , hơn nữa, vị trí địa lý của nước ta có tính chiến lược, nằm trên luồng giao thương quốc tế chủ yếu của thế giới Do vậy, kinh tế biển luôn được Đảng và Nhà nước coi trọng, không ngừng phát huy vai trò quan trọng trong tiến trình tăng trưởng kinh tế - xã hội của đất nước Để tiếp tục phát huy các tiềm năng của biển trong thế kỷ XXI, Hội nghị lần thứ tư ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, nhấn mạnh mục tiêu tổng quát đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh Như vậy, trong điều kiện hiện nay, một yếu tố để hiện thực hóa Chiến lược biển Việt Nam là phát triển ngành công nghiệp đóng tàu một cách hiệu quả Khi đó, ngành công nghiệp đóng tàu có thể góp phần thúc đẩy các hoạt động kinh tế diễn ra trên biển như vận tải biển, đánh bắt và nuôi trồng hải sản, dịch vụ tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn… cũng như các hoạt động khai thác liên quan đến biển như khai thác thủy hải sản, dầu khí… tạo thành một tổng thể chặt chẽ, đảm bảo sự phát triển của nền kinh tế, đảm bảo chủ quyền biển đảo của Việt Nam
Trong bối cảnh hiện nay, khi Việt Nam đã gia nhập vào Tổ chức thương mại thế giới WTO, sự cạnh tranh từ các đối thủ rất khốc liệt trong khi Nhà nước không thể tiếp tục trợ cấp và cũng không có khả năng trợ cấp do tiềm lực ngân sách còn hạn chế, lợi thế về nhân công giá rẻ đang dần yếu đi, và quan trọng nhất là ngành công nghiệp phụ trợ còn non kém do không có một thị trường đủ lớn Để ngành công nghiệp đóng tàu có thể phát triển bền vững, chúng ta chỉ có thể lựa chọn tập trung đầu tư vào chất lượng, không chỉ chất lượng sản phẩm mà cả chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cần tìm ra phương thức kết hợp lợi thế vốn có của mình là lao động rẻ với công nghệ tiên tiến của nước ngoài, mở rộng thêm cơ hội và phương thức đầu tư cho các đối tác nước ngoài, từ đó thúc đẩy sự chuyển giao công nghệ và phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ
Bên cạnh đó, với đặc điểm là một ngành có nhiều yếu tố kỹ thuật, nhiều công đoạn, đòi hỏi sự kết hợp nhịp nhàng chuẩn xác, các giải pháp cần phải thực hiện đồng
bộ, trong đó cần đặc biệt quan tâm tới giải pháp tăng cường công tác tiêu chuẩn hóa tại các công ty đóng tàu của Việt Nam vì việc áp dụng nghiêm túc các tiêu chuẩn vào quá trình sản xuất và quản lý đóng tàu là một trong những công cụ hiệu quả để nâng cao chất lượng Bên cạnh đó, với các đặc điểm của ngành đóng tàu nêu trên, tiêu chuẩn hóa giữ một vai trò quan trọng đối với những hoạt động thực tiễn cũng như các định
Trang 10hướng phát triển trong tương lai Công tác tiêu chuẩn hóa được tiến hành dựa trên kết quả nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật và vận dụng các kinh nghiệm thực tiễn không những giúp các công ty thuộc các loại hình sản xuất kinh doanh khác nhau hoạt động có nề nếp, hiệu quả mà còn tạo tiền đề cho các công ty này phát triển hài hòa và tạo điều kiện hợp tác thuận lợi trong mọi lĩnh vực giao lưu thương mại trên phạm vi khu vực và quốc tế Công tác tiêu chuẩn hóa trong các công ty đóng tàu bao gồm hoạt động xây dựng, công bố và áp dụng tiêu chuẩn và tiêu chuẩn hóa đã trở thành một bộ phận không thể tách rời của hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý đóng tàu
Từ những năm 60 của thế kỷ trước, Nhà nước ta đã coi trọng và chỉ đạo thực hiện công tác tiêu chuẩn hóa trong lĩnh vực đóng tàu nói riêng và trong mọi hoạt động của nền kinh tế nói chung Tuy nhiên, vào thời kỳ đó, hoạt động tiêu chuẩn hóa chỉ được thực hiện theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, làm theo mệnh lệnh mà không bắt nguồn từ nhu cầu thực tế Công tác tiêu chuẩn hóa chủ yếu phục vụ yêu cầu quản lý của các cơ quan nhà nước mà chưa thu hút được sự tham gia rộng rãi và thực sự của các doanh nghiệp Do vậy, công tác tiêu chuẩn hóa chỉ được thực hiện hời hợt, không được đánh giá, sửa đổi thường xuyên, các tiêu chuẩn lạc hậu và chỉ mang tính hình thức, không phát huy được vai trò đối với sự phát triển kinh tế Mặt khác, vai trò của công tác tiêu chuẩn hóa cũng không được nhận thức đầy đủ, mọi người cho rằng tiêu chuẩn hóa chỉ là vấn đề mang tính kỹ thuật đơn thuần mà bỏ qua vai trò của tiêu chuẩn hóa, đặc biệt là tiêu chuẩn hóa công ty, đối với kinh tế, quản lý và pháp luật Công tác tiêu chuẩn hóa trong các công ty đóng tàu Việt Nam cũng không khác so với bối cảnh chung lúc
đó, các tiêu chuẩn được ban hành không được áp dụng vào thực tế, chủ yếu tồn tại trên giấy tờ, ít hài hòa với các tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, công tác tiêu chuẩn hóa ít được quan tâm, đầu tư manh mún, bộc lộ những hạn chế yếu kém về quản lý sản xuất, chất lượng sản phẩm và hoạt động không có lãi
Đến năm 2006, khi luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật được ban hành, công tác tiêu chuẩn hóa đã thay đổi từ tư duy đến tổ chức và phương pháp thực hiện Công tác tiêu chuẩn hóa được thực hiện theo hệ thống xuyên suốt từ Trung ương đến địa phương, có sự chia sẻ trách nhiệm giữa Nhà nước và doanh nghiệp Các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân bước đầu tự nguyện tham gia vào quá trình xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và tự chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm, hàng hóa của mình
Đối với các công ty đóng tàu, trong bối cảnh mở cửa nền kinh tế để phát triển và hội nhập, công tác tiêu chuẩn hóa công ty cũng đã có những bước đầu đổi mới nhưng chưa thực sự khởi sắc, vẫn còn một số điểm bất cập như:
- Hệ thống tiêu chuẩn còn lạc hậu, kém hiệu quả và chưa theo kịp trình độ phát triển của công nghệ đóng tàu, chưa đáp ứng được các yêu cầu từ khách hàng
Trang 11- Các quy định về xây dựng, ban hành và áp dụng tiêu chuẩn trong các công ty đóng tàu chưa được thực hiện nghiêm túc, chưa thành hệ thống đầy đủ, đồng bộ, tỷ lệ hài hòa với tiêu chuẩn khu vực và quốc tế chưa cao
- Công tác tiêu chuẩn hóa chưa nhận được sự quan tâm thích đáng
Như vậy, ngành công nghiệp đóng tàu đang đứng trước thách thức về chiến lược phát triển đã được Đảng, Nhà nước xác định, nhưng đây cũng là cơ hội để ngành công nghiệp đóng tàu tự vươn lên, phát triển thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn
Trong bối cảnh này, giải pháp hữu hiệu cho các công ty đóng tàu Việt Nam là tập trung nâng cao chất lượng, giảm chi phí thông qua các công cụ quản lý, cách thức
tổ chức đóng tàu và áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện đại hay nói cách khác là thực hiện tốt công tác tiêu chuẩn hóa trong các công ty đóng tàu Khi đó, những lợi ích thiết thực cho mỗi công ty sẽ được đảm bảo, một mặt thúc đẩy nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, góp phần vào sự tăng trưởng bền vững, tạo thế cạnh tranh cho sản phẩm, bảo vệ môi trường, các lợi ích cộng đồng khác; mặt khác góp phần thuận lợi hóa thương mại, hạn chế và tiến tới xóa bỏ các rào cản kỹ thuật không cần thiết đối với thương mại quốc tế trong ngành đóng tàu Tuy nhiên, để có thể làm tốt công tác tiêu chuẩn hóa tại các công ty đóng tàu Việt Nam, chúng ta cần phân tích đánh giá thực trạng hoạt động xây dựng, công bố, áp dụng tiêu chuẩn trong các công ty đóng tàu, từ
đó làm rõ những điểm yếu kém và đưa ra cách thức thực hiện phù hợp
Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa ở các công ty đóng tàu Việt Nam trong tiến trình hội nhập” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình
2 Mục đích nghiên cứu của luận án
- Hệ thống hóa và góp phần phát triển các vấn đề lý luận chủ yếu của tiêu chuẩn hóa công ty, cụ thể: Nội dung các nguyên tắc của tiêu chuẩn hóa công ty; các tiêu chí đánh giá sự phát triển của tiêu chuẩn hóa công ty; các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tiêu chuẩn hóa của công ty
- Phân tích, đánh giá thực trạng, chỉ ra ưu điểm/thành tích và hạn chế/ khuyết điểm trong hoạt động tiêu chuẩn hóa của các công ty đóng tàu, nguyên nhân của các hạn chế, khuyết điểm đó
- Đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa của các công ty đóng tàu Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Trang 12Luận án tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tế về công tác tiêu chuẩn hóa
để từ đó nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tiêu chuẩn hóa công ty và xây dựng các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển tiêu chuẩn hóa công ty; đánh giá thực trạng và
đề xuất các giải pháp để đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa tại các công ty đóng tàu Việt Nam trong tiến trình hội nhập
- Phạm vi nghiên cứu:
Về thời gian: Nghiên cứu, đánh giá dựa trên những dữ liệu điều tra từ 2006 – 2013, qua đó đề ra biện pháp thúc đẩy hoạt động tiêu chuẩn hóa của các công ty đóng tàu cho đến năm 2015 - 2020
Về không gian: Nghiên cứu, khảo sát điều tra được tiến hành tại 25 công ty
đóng tàu có quy mô vừa và lớn của Việt Nam
4 Lưu đồ nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
4.1 Lưu đồ nghiên cứu
Các bước trong nghiên cứu của tác giả được mô tả tổng quát như hình dưới đây:
(Nguồn: Tác giả đề xuất)
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả tiếp cận theo hướng từ nghiên cứu phần cơ
sở lý luận, đánh giá thực trạng sau đó đề xuất các giải pháp đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất cho các công ty đóng tàu của Tổng công
ty công nghiệp tàu thủy Các giải pháp này được được xây dựng từ việc khảo sát, phân tích những ưu điểm và hạn chế trong hoạt động thực tế của công tác tiêu chuẩn hóa về
tổ chức quản lý và điều hành sản xuất tại các công ty đóng tàu Việt Nam kết hợp với việc so sánh với một số mô hình của các công ty đóng tàu tiên tiến trên thế giới
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận chung là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tác giả đã thực hiện tổng hợp các phương pháp sau: Phương pháp tổng hợp và phân tích, phương pháp kế thừa; phương pháp chuyên gia; phương pháp thống kê và so sánh; phương pháp điều tra, thu thập và xử lý thông tin
Trang 13i) Phương pháp tổng hợp và phân tích:
Được sử dụng trong quá trình hoàn thiện luận án Kết quả từ quá trình xử lý dữ liệu được diễn giải và phân tích chi tiết Các giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa cho các công ty đóng tàu ở Việt Nam cũng được đề xuất dựa trên các kết
quả của quá trình phân tích và tổng hợp nêu trên
ii) Phương pháp kế thừa:
Luận án sử dụng có tính kế thừa các tài liệu, tư liệu, kết quả nghiên cứu của các công trình trong nước và ngoài nước để khái quát và hệ thống hóa cơ sở lý luận về công tác tiêu chuẩn hóa, cung cấp thông tin nền tảng phục vụ triển khai nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp nhằm đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa ở các công ty đóng tàu Việt Nam
iii) Phương pháp chuyên gia:
Những vấn đề nghiên cứu trong phạm vi luận án sẽ được tham vấn ý kiến đóng góp của lãnh đạo các công ty đóng tàu, các nhà quản lý chuyên ngành và các chuyên gia kỹ thuật hoạt động trong các lĩnh vực tiêu chuẩn hóa Trên cơ sở đó, tác giả tiến hành tổng hợp, sàng lọc thông tin định tính nhằm tham chiếu với các kết quả phân tích thống kê, đồng thời xây dựng định hướng các giải pháp phát triển công tác tiêu chuẩn hóa ở các công ty đóng tàu Việt Nam
iv) Phương pháp thống kê và so sánh:
Phương pháp này được sử dụng để minh họa cho việc phân tích, tác giả sử dụng các nguồn số liệu cả sơ cấp lẫn thứ cấp Khi thực hiện phương pháp thống kê so sánh, tác giả đã sử dụng hệ thống số liệu theo chuỗi thời gian về công tác tiêu chuẩn hóa của
các công ty đóng tàu điển hình để so sánh và đưa ra nhận định thực tế
v) Phương pháp điều tra, thu thập, xử lý thông tin:
Điều tra theo phiếu: Thông tin của các công ty đóng tàu đại diện được thu thập bằng cách sử dụng phiếu điều tra Tác giả đã tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với đại diện các công ty để thu thập các thông tin cần thiết phục vụ cho các nội dung nghiên cứu của luận án Cụ thể:
+ Phiếu điều tra: Để thực hiện nghiên cứu, tác giả đã xử lý và phân tích số liệu điều tra trên cơ sở các phiếu thu thập thông tin từ các công ty đóng tàu Tác giả đã gửi phiếu điều tra cho 25 công ty đóng tàu thuộc Tổng công ty công nghiệp tàu thủy và các công ty đóng tàu ngoài Tổng công ty với tổng số 150 phiếu Tổng số phiếu thu về 130
phiếu, tổng số phiếu hợp lệ và đầy đủ thông tin để phân tích 120 phiếu, số phiếu
này đủ lớn để xử lý số liệu và phân tích (tương ứng với mỗi doanh nghiệp khảo sát
có 4 quan sát) Vì liên quan đến hoạt động xây dựng tiêu chuẩn tại các công ty đóng tàu tập trung tại nhiều phòng/ ban khác nhau Do đó đối tượng gửi phiếu điều tra
Trang 14trong một công ty đóng tàu gồm: Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật, Trưởng phòng
kỹ thuật, Trưởng phòng thiết kế công nghệ, Trưởng phòng kiểm soát chất lượng
+ Công cụ điều tra và phương pháp tính toán: Công cụ điều tra được nghiên cứu
phân tích thành 4 vấn đề theo mẫu phiếu điều tra, chủ yếu thu thập các thông tin về hoạt động chuyên môn tiêu chuẩn hóa của các công ty đóng tàu như công tác xây dựng, áp dụng, ban hành, quá trình kiểm tra và đào tạo việc thực hiện tiêu chuẩn Phương pháp tính toán: Tác giả dùng phương pháp thống kê, lập bảng và sử dụng phần
mềm SPSS để xử lý số liệu
Thu thập tài liệu: Tác giả đã tiến hành nghiên cứu khai thác các văn bản quy
phạm pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, báo cáo tổng kết, kết quả các đề tài khoa học đã nghiên cứu về tiêu chuẩn hóa và các bài báo khoa học đăng ở các tạp chí chuyên ngành liên quan làm cơ sở khoa học cho việc vận dụng tại các công ty đóng tàu Việt Nam
Điều tra phỏng vấn: Để thu thập các thông tin định tính, tác giả tiến hành phỏng vấn các đại diện lãnh đạo của từng công ty đóng tàu, trên cơ sở đó rút ra các vấn
đề trọng tâm của doanh nghiệp (bao gồm cả hiện trạng, nhu cầu và định hướng về công tác tiêu chuẩn hóa) Cụ thể: tổ chức thực hiện 20 cuộc phỏng vấn sâu với đại diện các công ty đóng tàu (gồm 10 cuộc phỏng vấn sâu đối với đại diện các công ty đóng tàu thuộc Tổng công ty công nghiệp tàu thủy và gần 10 cuộc phỏng vấn sâu đối với đại diện các Công ty đóng tàu Quốc phòng)
Báo cáo luận án tại Hội thảo khoa học: Nhằm tham chiếu và làm rõ hơn các
kết quả thu thập thông tin, đồng thời tranh thủ các ý kiến của chuyên gia, các cán bộ quản lý các cấp ngành, ngày 13/11/ 2014 tại tỉnh Phú Thọ, tác giả đã báo cáo luận án
tại hội thảo “Phát triển doanh nghiệp khoa học và công nghệ”, thành phần hội thảo
gồm có sự tham gia của đại diện một số doanh nghiệp điển hình, một số chuyên gia và nhà quản lý Thông qua hội thảo, tác giả đã xác định rõ hơn đặc điểm thực trạng cũng như nhu cầu phát triển công tác tiêu chuẩn hóa hiện nay, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp với thực tiễn hơn, có tính khả thi cao hơn
5 Mô tả chi tiết tình hình điều tra
Trong luận án, tác giả sử dụng phương pháp điều tra thống kê với mục đích
khẳng định độ tin cậy của dữ liệu khảo sát để sử dụng cho phân tích, đánh giá thực trạng công tác tiêu chuẩn hóa tại các công ty đóng tàu
5.1 Xác định mẫu nghiên cứu
- Tổng thể nghiên cứu của luận án là lãnh đạo doanh nghiệp và 03 lãnh đạo cấp phòng, ban tại các công ty đóng tàu
Trang 15- Do tác giả làm trong ngành đóng tàu nên thuận tiện trong việc thu thập đầy đủ danh sách của đối tượng khảo sát nên tác giả đã sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện để đảm bảo qui mô mẫu
5.2 Phương pháp điều tra
- Gửi phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp đến doanh nghiệp và đăng ký ngày giờ gặp đại diện doanh nghiệp
- Đến doanh nghiệp phỏng vấn và xin tài tiệu, thu biểu mẫu
- Thu thập biểu mẫu
- Thẩm vấn lại những doanh nghiệp nghi vấn là cung cấp thông tin không đầy
đủ, chưa chuẩn xác
5.3 Tình hình thu thập thông tin
Do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, để vượt qua khó khăn các công ty đóng tàu đang thực hiện tập trung vào các hoạt động, ngành nghề chính là đóng mới, sửa chữa tàu, trong đó tập trung nâng cao chất lượng cho đóng mới Sau khi nghiên cứu kỹ tình hình thực tiễn, tác giả đã xác định cần mở rộng điều tra đến lãnh đạo 03 phòng, ban chuyên môn của các công ty đóng tàu thay vì chỉ gửi phiếu đến lãnh đạo doanh nghiệp theo dự kiến ban đầu Việc tiến hành điều tra đã phân hạng doanh nghiệp tập trung cho đổi mới quản lý, tổ chức đóng mới tàu, do vậy tác giả đã chọn 25/120 công ty đóng tàu trên cả nước
5.4 Sai số trong điều tra và những hạn chế của số liệu
Do đây là điều tra chọn mẫu nên cả 2 dạng sai số: sai số chọn mẫu và sai số phi chọn mẫu đều có thể xảy ra Độ chính xác của điều tra chọn mẫu sẽ được xác định bởi tác động phối hợp của hai loại sai số này Sai số phi chọn mẫu thường xảy ra đối với các điều tra chọn mẫu Cuộc điều tra này có thể có các sai số phi chọn mẫu như sau:
- Doanh nghiệp được chọn không tham gia trả lời (từ chối tham gia trả lời phỏng vấn, không gửi phiếu trả lời, doanh nghiệp không còn tồn tại …)
- Không trả lời đầy đủ các câu hỏi trong phiếu điều tra
- Khó khăn gây nhầm lẫn về nội dung, khái niệm, định nghĩa trong quá trình thiết
kế phiếu điều tra và trong khi trả lời phỏng vấn hoặc điền phiếu điều tra
- Người được hỏi không muốn hoặc không thể cung cấp thông tin chính xác theo câu hỏi về doanh nghiệp của mình; thiếu kiến thức về các giá trị thực
- Điều tra và nhập tin mắc lỗi trong việc đánh mã, nhập tin
- Các lỗi khác khi thu thập thông tin, xử lý và báo cáo
Trang 16Tuy nhiên, sai số phi chọn mẫu của cuộc điều tra này đã được tác giả khống chế
và giảm thiểu bằng các biện pháp như: biên soạn bảng hỏi kỹ lưỡng, làm thử trước khi điều tra, thực hiện kiểm tra bảng hỏi nhiều lần, phương pháp và tổ chức bài bản, chặt chẽ Hơn nữa, trong quá trình điều tra, tác giả đã liên hệ lại nhiều lần qua điện thoại hoặc email với các doanh nghiệp để có được nội dung trả lời tốt nhất
6 Những đóng góp mới của luận án
Những đóng góp mới về mặt học thuật, lý luận
Thứ nhất: Trên cơ sở lý thuyết về tiêu chuẩn hóa, tác giả phát triển lý thuyết về tiêu chuẩn hóa công ty trên các khía cạnh như: Phân loại, mục đích, đối tượng, các nguyên tắc và các phương pháp xây dựng tiêu chuẩn; đồng thời xác định được các nội dung của công tác tiêu chuẩn hóa: hoạt động xây dựng, công bố, áp dụng và thông tin tiêu chuẩn
Thứ hai: Đã xây dựng các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của tiêu chuẩn hóa công
ty, bao gồm: i) Nhóm các chỉ tiêu phản ánh trình độ phát triển của tiêu chuẩn hóa: Tỷ
lệ hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế và khu vực; Số lượng và tỷ trọng của tiêu chuẩn hóa bên trong; Tỷ lệ tiêu chuẩn phù hợp; Tỷ lệ tiêu chuẩn lạc hậu; Tỷ lệ tiêu chuẩn được thực hiện; Tỷ lệ tiêu chuẩn được hoàn thiện, điều chỉnh và bổ sung; Số lượng tiêu
chuẩn sản phẩm; Số lượng tiêu chuẩn quá trình; Số lượng tiêu chuẩn về môi trường ii) Nhóm các chỉ tiêu phản ánh tác động của tiêu chuẩn hóa: Chỉ tiêu đánh giá sản xuất -
kinh doanh; Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất – kinh doanh; Chỉ tiêu tác động của tiêu chuẩn hóa đến tiến bộ khoa học – kỹ thuật; Chỉ tiêu đánh giá mức gây ô nhiễm môi trường
Thứ ba: Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác tiêu chuẩn hóa của công ty đã được
nhận diện, bao gồm: i) Nhóm nhân tố thuộc về vĩ mô: Ảnh hưởng của thị trường; Chính
sách xuất nhập khẩu; Luật pháp ii) Nhóm nhân tố thuộc về ngành và các công ty:
Chiến lược, quy hoạch phát triển của ngành và doanh nghiệp; Đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành và công ty; Tiến bộ khoa học kỹ thuật; Trình độ phát triển công tác tiêu chuẩn hóa; Sự phát triển hạ tầng cơ sở cho tiêu chuẩn hóa; Thị trường
Những đề xuất mới rút ra từ kết quả nghiên cứu
Thứ nhất: Từ nghiên cứu thực tế tại các công ty đóng tàu Việt Nam, nhằm đẩy nhanh và tăng cường hiệu quả hoạt động xây dựng, áp dụng và công bố tiêu chuẩn tại các công ty đóng tàu Việt Nam, tác giả đã đưa ra 6 giải pháp có tính đồng bộ, phù hợp với thực trạng của các công ty đóng tàu Việt Nam, trong đó có 2 giải pháp mới để thúc đẩy công tác tiêu chuẩn hóa trong các công ty đóng tàu của Việt Nam, bao gồm: Tập trung phát triển tiêu chuẩn hóa bên trong và Coi trọng công tác đánh giá sự phù hợp
Trang 17Thứ hai: Kết quả của luận án đã giúp lãnh đạo Tổng công ty công nghiệp tàu thủy có cơ sở lý luận, thông tin, quan điểm mới về vai trò công tác tiêu chuẩn hóa công
ty và bước đầu triển khai xây dựng, ban hành một số tiêu chuẩn kỹ thuật phục vụ hoạt động đóng tàu
7 Tổng quan các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các công trình công bố trong nước:
1 Đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu phương pháp luận và thực tiễn để hài hòa
hệ thống TCVN với tiêu chuẩn quốc tế và khu vực phục vụ việc tham gia có hiệu quả của Việt nam vào AFTA”, chủ nhiệm TS Hồ Tất Thắng, Hà Nội 4 tháng 2004 [24]
Nội dung đề tài đã đề cập đến các vấn đề nghiên cứu như: phương pháp luận, các vấn
đề kỹ thuật, nghiệp vụ về việc xây dựng tiêu chuẩn, chấp nhận tiêu chuẩn, hài hòa tiêu chuẩn Nghiên cứu đề xuất các hướng chuyển đổi hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam theo hướng nâng cao trình độ khoa học công nghệ và hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn khu vực Nghiên cứu xây dựng chương trình hài hòa TCVN với TCQT và TCKV đến năm 2006 và định hướng đến năm 2010 Áp dụng các kết quả nghiên cứu trên để xây dựng thí điểm 20 TCVN hài hòa với TCQT; rút kinh nghiệm để hoàn thiện phương pháp luận và các biện pháp hài hòa tiêu chuẩn cho Việt Nam Qua nghiên cứu công trình tác giả còn thấy một số hạn chế sau:
i) Công trình chưa nêu bật phần lý luận về vai trò thiết yếu của tiêu chuẩn công
ty, cũng như số lượng tiêu chuẩn công ty được ban hành trong lĩnh vực công nghiệp cơ khí
ii) Công trình chưa đưa ra giải pháp cụ thể để phát triển hoạt động xây dựng, áp dụng các cấp tiêu chuẩn, trong đó có tiêu chuẩn công ty Các giải pháp còn mang tính chất định tính dẫn tới việc cần phải cụ thể hóa các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động xây dựng tiêu chuẩn tại các doanh nghiệp
iii) Mặc dù công trình đã nêu các giải pháp đổi mới phương pháp xây dựng tiêu chuẩn hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế và khu vực, tuy nhiên các giải pháp vẫn chung và nếu áp dụng tại Việt Nam khó có thể vận dụng
Qua đề tài tác giả đã vận dụng một số nhận định để xây dựng phần cơ sở lý luận về tiêu chuẩn hóa như khái niệm tiêu chuẩn và tiêu chuẩn hóa, cấp tiêu chuẩn hóa, nguyên tắc cơ bản của hoạt động tiêu chuẩn hóa công ty
2 Cuốn cẩm nang doanh nghiệp “Hoạt động tiêu chuẩn hóa và doanh nghiệp”
trong khuôn khổ của chương trình thúc đẩy hoạt động thương mại thông qua hoạt động tiêu chuẩn hóa dành cho các nước Nam và Đông Nam Á do tổ chức Hợp tác Phát triển của Chính phủ Thụy Điển – SIDA tài trợ và thực hiện bởi Viện Tiêu chuẩn Thụy Điển – SIS, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) biên soạn và phát hành
Trang 18tài liệu lưu hành nội bộ, năm 2014 [45] Cuốn sách cung cấp cho cộng đồng doanh nghiệp những kiến thức cơ bản về hoạt động tiêu chuẩn hóa nhằm giúp doanh nghiệp hiểu được bản chất, ý nghĩa, lợi ích, cơ sở pháp luật và kỹ thuật, nghiệp vụ của tiêu chuẩn hóa; hệ thống tiêu chuẩn và cách thức xây dựng tiêu chuẩn quốc gia, cũng như những nội dung cần thực hiện để hoạt động tiêu chuẩn hóa
Cuốn sách cũng trả lời giúp doanh nghiệp các câu hỏi: Quyền, trách nhiệm, hình thức tham gia của doanh nghiệp vào hoạt động tiêu chuẩn hóa như thế nào Hoạt động tiêu chuẩn hóa trong doanh nghiệp cần làm gì Khi nào doanh nghiệp cần xây dựng tiêu chuẩn công ty Đối tượng nào được lựa chọn để xây dựng tiêu chuẩn công ty Xây dựng một tiêu chuẩn cơ sở cụ thể như thế nào Đồng thời cuốn sách giới thiệu một số địa chỉ liên quan ở các Bộ, ngành, địa phương, cũng như địa chỉ của một số tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế và khu vực để doanh nghiệp có thể liên hệ hoặc tra cứu các thông tin cần thiết đến hoạt động tiêu chuẩn hóa Qua nghiên cứu công trình tác giả còn thấy một số hạn chế sau:
i) Các hướng dẫn để doanh nghiệp cần làm gì để xây dựng một tiêu chuẩn không rõ và nếu ở thực tiễn sẽ khó có thể triển khai
ii) Các tiêu chí để lựa chọn đối tượng cần xây dựng tiêu chuẩn hóa trong công trình không đề cập đến vấn đề doanh nghiệp cần làm gì cho việc thúc đẩy hoạt động xây dựng tiêu chuẩn
Qua cuốn sổ tay tác giả đã tham khảo, vận dụng vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn trong doanh nghiệp, tuy nhiên các quá trình trong sổ tay chỉ hướng dẫn cơ bản vì vậy tác giả tham chiếu các bước để xây dựng cho luận án của mình
3 Bài báo “Tiêu chuẩn – Công cụ kỹ thuật hữu hiệu để tăng cường hội nhập
kinh tế quốc tế” số tháng 10.2006 Tạp chí hoạt động khoa học của tác giả Nguyễn
Minh Bằng [37] đã nêu hướng giải quyết một số vấn đề sau: (1) Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tiêu chuẩn đã trở thành thước đo giá trị của các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và là cơ sở kỹ thuật để thảo luận, giải quyết các tranh chấp không chỉ trong nước mà cả trong phạm vi quốc tế… Đặc biệt, khi có tranh chấp, tiêu chuẩn chính là cơ sở kỹ thuật cho việc thảo luận, giải quyết và tài phán Đối với các đối tượng sản xuất – kinh doanh – dịch vụ, tiêu chuẩn được xem là căn cứ kỹ thuật vì dựa trên các yếu tố: yếu tố chất lượng, yếu tố thuận lợi hóa giao dịch, yếu tố sáng tạo và phát triển sản phẩm, yếu tố chuyển giao công nghệ mới, yếu tố quyết định chiến lược (2) Trong thực tế, nhiều quốc gia đã và đang sử dụng tiêu chuẩn làm một hình thức bảo hộ mậu dịch thay cho hàng rào thuế quan để tạo ra những rào cản kỹ thuật và sự không bình đẳng trong các hoạt động thương mại quốc tế Điều này đã được khẳng định trong Hiệp định về rào cản kỹ thuật đối với thương mại của WTO và trong các chương trình hành động của các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế, khu vực và quốc gia (3)
Trang 19Các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBTs) gồm các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn
và thủ tục, quy trình đánh giá sự phù hợp mà các nước áp dụng nhằm bảo hộ mậu dịch trong nước hoặc bảo vệ các lợi ích quốc gia, trong đó có việc kiểm soát và hạn chế việc nhập khẩu các sản phẩm không đáp ứng với các quy định về môi trường, an toàn, sức khoẻ, ở hầu hết các nước, số lượng các quy chuẩn kỹ thuật bắt buộc áp dụng ngày càng tăng lên Xu hướng này cho thấy phản ứng của Chính phủ trước đòi hỏi ngày một tăng của công chúng về mức độ đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng và an toàn của hàng hóa nhập khẩu Những đòi hỏi tương tự thường gây sức ép đối với các cơ quan chức năng khi xây dựng và áp dụng những quy định chặt chẽ hơn Chính vì vậy, cùng một sản phẩm nhưng mỗi nước có thể có các tiêu chuẩn và các quy định riêng, dẫn đến việc tạo ra các rào cản trong lưu thông hàng hóa và thương mại Một khi các đối tác thương mại không dựa vào các tiêu chuẩn hài hòa, tiệm cận với nhau họ sẽ phải theo đuổi và trả giá cho việc đáp ứng những yêu cầu kỹ thuật riêng biệt của các nước
và từng khu vực 4) Bài báo đưa ra một kết quả của một cuộc điều tra gần đây ở Cộng hòa liên bang Đức, 84% số công ty được hỏi ý kiến đã thừa nhận việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế là một phần nội dung trong chiến lược xuất khẩu của mình Xu hướng chấp nhận tiêu chuẩn quốc tế của cả các công ty lẫn các cơ quan tiêu chuẩn quốc gia ngày càng tăng
Như vậy, bài báo cho thấy hoạt động tiêu chuẩn hóa của Việt Nam đã và đang
có những bước phát triển mạnh mẽ theo hướng tham gia và hội nhập tích cực với hoạt động tiêu chuẩn hóa khu vực và quốc tế Nếu như căn cứ để đánh giá sự phù hợp là các tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) đã được hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực và tiêu chuẩn nước ngoài tiên tiến thì sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa được chứng nhận phù hợp với những tiêu chuẩn đó và có vị thế đáng kể Chính vì vậy, muốn phát triển và hội nhập nền kinh tế nước ta với nền kinh tế của các nước trong khu vực và trên thế giới, chúng ta phải chấp nhận và tuân thủ những thông lệ đã được thừa nhận chung trên toàn thế giới, trong đó có thông lệ về hài hòa tiêu chuẩn
4 Bài báo “Hoạt động đánh giá sự phù hợp tại Việt Nam: Cần định hướng
quản lý phù hợp với thông lệ quốc tế”, tác giả Nguyễn Hoàng Linh – Tổng cục Tiêu
chuẩn Đo lường Chất lượng, đăng tải tại số tháng 2.2012 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam [36] Theo tác giả, để hoạt động này phát huy vai trò trong phát triển kinh tế - xã hội, cần định hướng quản lý phù hợp với thông lệ quốc tế Đồng thời tác giả đã đưa ra quan điểm: Những đóng góp của hoạt động tiêu chuẩn hóa trong việc thúc đẩy thương mại, phát triển kinh tế sẽ không thể đạt được nếu như không có sẵn các công cụ, biện pháp đánh giá và xác nhận mức độ phù hợp của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đối với các yêu cầu quy định của tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật
5 Bài báo của tác giả Ngô Quý Việt – Tổng cục Đo lường chất lượng, số
4.2012 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam với chủ đề “Tiêu chuẩn Đo lường
Trang 20chất lượng Việt Nam: Nửa thế kỷ xây dựng và phát triển” [31] Bài viết đề cập đến
việc ban hành Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật đã đổi mới toàn diện và thống nhất điều chỉnh hoạt động Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật, cụ thể về việc xây dựng, công bố và áp dụng tiêu chuẩn do doanh nghiệp tự thực hiện mà không phải đến cơ quan quản lý nhà nước công bố như trước đây Đây là quy định mới sau khi Việt Nam gia nhập WTO nhằm tăng tính tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp đối với sản phẩm của mình Điều đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy tiến trình gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) và thực hiện Hiệp định Hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT/WTO), bảo vệ lợi ích của các doanh nghiệp trong nước trước sức ép của cạnh tranh toàn cầu và tự do hóa thương mại Đây cũng là căn cứ pháp lý vững chắc để phát triển và đổi mới hệ thống tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) và hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) Đồng thời bài báo cũng khẳng định hệ thống TCVN được phát triển theo hướng tăng cường mức
độ hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực và tiêu chuẩn nước ngoài tiên tiến, trong đó mức hài hòa với tiêu chuẩn quốc tế đạt 48% Tại Luật cũng quy định
“Hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn hóa… phải đảm bảo công khai minh bạch… không phân biệt đối xử và không gây trở ngại không cần thiết đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại” và việc xây dựng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật… phải dựa trên tiến bộ khoa học và công nghệ, kinh nghiệm thực tiễn, nhu cầu hiện tại
và xu hướng phát triển kinh tế - xã hội; sử dụng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài là cơ sở để xây dựng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, trừ trường hợp các tiêu chuẩn đó không phù hợp với đặc điểm về địa lý, khí hậu, kỹ thuật, công nghệ của Việt Nam hoặc ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia; ưu tiên quy định các yêu cầu về tính năng sử dụng sản phẩm, hàng hóa; hạn chế quy định các yêu cầu mang tính mô tả hoặc thiết kế chi tiết; bảo đảm tính thống nhất của hệ thống tiêu chuẩn và hệ thống quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam
6 Bài báo của tác giả Trần Quốc Tuấn – Cục Quản lý chất lượng sản phẩm hàng
hóa, Tổng cục Đo lường chất lượng, số 20.2013 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt
Nam với chủ đề “Một số bất cập của nhân lực quản lý nhà nước về tiêu chuẩn đo lường chất lượng”[55] Theo tác giả, hiện nay nhân lực quản lý nhà nước về tiêu chuẩn đo
lường chất lượng ở nước ta còn thiếu và yếu, biểu hiện ở một số vấn đề cơ bản như: số lượng quá ít so với chức năng nhiệm vụ được giao, cơ cấu bất hợp lý giữa trung ương và địa phương, thiếu các chuyên gia đầu ngành, trình độ ngoại ngữ còn yếu… và nguyên nhân của thực trạng trên là do: thiếu quy hoạch phát triển nguồn nhân lực, công tác đào tạo nâng cao trình độ và nghiệp vụ theo chức danh và công việc còn hạn chế, thiếu cơ chế thu hút nhân lực có trình độ cao Như vậy, nhân lực làm công tác tiêu chuẩn tại cơ quan quản lý còn hạn chế sẽ là bài toán khó cho các doanh nghiệp khi đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn hóa Do đó, đây cũng là bài toán lâu dài đòi hỏi sự phối hợp của các bộ/
Trang 21ngành để có sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo các doanh nghiệp trong việc đào tạo nguồn nhân lực tiêu chuẩn hóa
7 Cuốn sách sổ tay tham khảo “Tiêu chuẩn, đo lường đánh giá sự phù hợp và
Hiệp định TBT” xuất bản 12.2008 [18] Cuốn sách đề cập đến hai vấn đề chính, đó là
thương mại quốc tế và chứng nhận sự phù hợp Đối với các quốc gia đang phát triển, việc tìm hiểu mối liên hệ giữa thương mại toàn cầu, MAS-Q và cạnh tranh xuất khẩu
là vấn đề hàng đầu của chính sách thương mại Việc loại bỏ các rào cản phi thuế quan trong thương mại và thực hiện một hệ thống MAS-Q tuân thủ với các yêu cầu của Tổ chức Thương mại Thế giới và được quốc tế công nhận đã trở thành một nhiệm vụ chính trị trọng tâm của nhiều nền kinh tế đang phát triển và đang chuyển dịch Để mở rộng thương mại quốc tế, không thể đánh giá thấp tầm quan trọng của việc áp dụng và thực hiện các thông lệ đã được quốc tế chấp thuận và công nhận về đo lường, tiêu chuẩn hóa và chứng nhận (MAS-Q) Các hoạt động này tạo nên một mối liên kết sống còn đối với thương mại toàn cầu, tiếp cận thị trường và cạnh tranh xuất khẩu vì chúng góp phần xây dựng niềm tin của người tiêu dùng đối với sự an toàn, chất lượng sản phẩm, sức khoẻ và môi trường Một trong những thách thức chính đối với hệ thống thương mại quốc tế là sự đa dạng về tiêu chuẩn và hoạt động đánh giá sự phù hợp được áp dụng tại các nước khác nhau Trừ khi các đối tác thương mại sử dụng quy trình và quy định tượng tự hoặc tương đương, và thừa nhận kết quả thử nghiệm của nhau, nếu không sẽ còn tiếp tục phát sinh các chi phí tốn kém do sự phân biệt đối xử, không minh bạch và những cản trở không cần thiết đối với thương mại Đánh giá sự phù hợp là một thủ tục đã được quốc tế công nhận để chứng tỏ việc đáp ứng các yêu cầu cụ thể liên quan tới một sản phẩm, quy trình, hệ thống, con người hoặc tổ chức, làm cơ sở quyết định việc tuân thủ Các hoạt động đánh giá phù hợp bao gồm thử nghiệm, giám định, chứng nhận, ghi nhãn và công nhận, tất cả là một phần của quy trình chính thức thiết lập nên sự tin tưởng Các thủ tục này thường đem lại các giải pháp thiết thực đối với nhiều vấn đề mà các nước đang phát triển phải đối mặt Hiện nay, ba phần tư số thành viên của Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế và của Tổ chức thương mại quốc tế là các nước đang phát triển và các nước đang chuyển dịch từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường Đối với những quốc gia này, tiêu chuẩn
và đánh giá sự phù hợp là một cơ sở quan trọng để học hỏi các kinh nghiệm chuyên môn về công nghệ phục vụ phát triển nền kinh tế của nước mình, tăng cường năng lực xuất khẩu và cạnh tranh trên thị trường toàn cầu
Các công trình công bố của nước ngoài:
8 Cuốn sách của tác giả “Hesser Feilzer De Vries “Standardisation in
Companies and Markets”, Helmut Schmidl University Germany – Erasmus University
of Rotterdam Netherlands, 2010 [20] Cuốn sách đề cập đến các vấn đề: 1) Sự phát triển của tiêu chuẩn hóa: Chủ đề liên quan đến truyền thông các nguyên tắc của phát
Trang 22triển tiêu chuẩn Để đạt được mục đích cần đưa ra sự phân biệt cơ bản giữa các thuộc tính tĩnh và động của phát triển tiêu chuẩn, như khảo sát các yếu tố tĩnh, cụ thể là các môi trường điều tiết khác nhau, các cơ chế của tiêu chuẩn hóa và những người tham
gia liên quan 2) Các khía cạnh kinh tế của tiêu chuẩn hóa: Tính kinh tế của tiêu
chuẩn hóa đã được phát triển nhanh chóng từ những năm 1980 Một là, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa tiêu chuẩn và thay đổi kỹ thuật, đã được thỏa thuận rộng rãi của các nhà kinh tế như là một trong những nền tảng kinh tế quan trọng nhất Tuy nhiên, trong một
số trường hợp, trong đó sự hiện diện của các tiêu chuẩn, đặc biệt ở những nơi cứng nhắc hoặc thậm chí “thất bại” sẽ cản trở đổi mới Nhấn mạnh thứ hai được nhằm vào mối quan hệ tương hỗ giữa tiêu chuẩn và cạnh tranh, được coi là động lực của kinh tế thị trường Điều quan trọng cần ghi nhớ là cả hai tác động hỗ trợ lẫn cản trở của tiêu chuẩn có thể xảy ra đồng thời bởi hoạt động tiêu chuẩn hóa và đầu ra của hoạt động
tiêu chuẩn hóa (tức là công bố các tiêu chuẩn) 3) Tiêu chuẩn hóa và Luật quốc tế:
Chủ đề tập trung vào vai trò và mối quan hệ giữa Luật và tiêu chuẩn hóa Đầu tiên sẽ nêu bật vai trò của luật quốc tế nói chung Luật quốc tế trong tiêu chuẩn hóa như là
hiện thân và quyết định trong tổ chức thương mại thế giới WTO, trong đó: Vai trò của
Luật là để đảm bảo các tiêu chuẩn tuân theo, và sẽ tạo ra địa vị pháp lý cho tiêu chuẩn
hóa 4) Tiêu chuẩn hóa trong phát triển và thiết kế sản phẩm: Chủ đề trình bày tiêu
chuẩn hóa được sử dụng như thế nào trong thiết kế sản phẩm Tiêu điểm chính của phần này là làm thế nào tiêu chuẩn hóa được dùng để nâng cao cạnh tranh Thêm vào các chiến lược tiêu chuẩn hóa, tầm quan trọng và việc sử dụng tiêu chuẩn hóa và các tiêu chuẩn trong hồ sơ về sản phẩm được trình bày và thảo luận về các bất ổn liên quan đến sự đa dạng và tiêu chuẩn hóa Những chiến lược chính trong tiêu chuẩn hóa là: Phạm vi, tính tương thích cấu thành sản phẩm, điều chỉnh, khái niệm nền tảng và sự trì
hoãn được trình bày 5) Tiêu chuẩn hóa bên ngoài như là một chiến lược công ty:
Thông qua đổi mới các công ty có được lợi thế cạnh tranh để thành công trong kinh doanh Khi thực hiện đổi mới , tiêu chuẩn hóa như là một chiến lược kinh doanh để có được thành công trên thị trường cả trong nước lẫn quốc tế Tiêu chuẩn hóa bên ngoài
là nói về sự phát triển và thiết lập các tiêu chuẩn bên ngoài Các chiến lược tiêu chuẩn hóa bên ngoài bao gồm: tự xác định vị trí với chú ý phát triển các tiêu chuẩn mới, thiết lập các tiêu chuẩn mới và cạnh tranh thành công trong các tiêu chuẩn đã được thiết lập Tiêu chuẩn hóa bên ngoài là đòn bẩy để cải thiện khả năng cạnh tranh toàn cầu của
một công ty 7) Tiêu chuẩn hóa quốc tế: Nội dung nói về tiêu chuẩn hóa quốc tế, gồm
các tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa, các hoạt động của 3 tổ chức tiêu chuẩn hóa đứng đầu, sự tham gia vào tiêu chuẩn hóa quốc tế và ảnh hưởng của các tiêu chuẩn
quốc tế đối với các chính sách thương mại Với sự phát triển của nền kinh tế thế giới
toàn cầu hóa và hội nhập thành một hệ thống thống nhất, điều cấp bách là không những Chính phủ mà cả các công ty cũng cần tạo ra các tiêu chuẩn quốc tế thích hợp, để mở
rộng phạm vi kinh doanh, tăng cường hợp tác và tạo ra sự thuận tiện cho kinh doanh 8)
Trang 23Tiêu chuẩn hóa trong công ty Một viễn cảnh chiến lược: Các tiêu chuẩn trong công ty
thường được gọi là các điều kiện biên thứ yếu khi thiết kế một sản phẩm mới Trên thực
tế tiêu chuẩn trong công ty có thể là một phần của công ty và các chiến lược cạnh tranh hiệu quả từ khi bắt đầu quá trình thiết kế sản phẩm đến đảm bảo kinh doanh thành công Trước hết, cuốn sách đưa ra giới thiệu tổng quát về các khái niệm của chiến lược và thảo luận ở cấp độ công ty, ở đây các tiếp cận tiên tiến được trình bày Ở các chương tiếp theo, tiêu chuẩn trong công ty được đánh giá trong bối cảnh của các chiến lược cạnh tranh của quản lý chi phí và sự phân biệt dựa trên tiếp cận của mô hình Porter và các chiến lược hoạt động có được Các nội dung này tác giả tham khảo vận dụng để viết phần lý luận về vai trò, chức năng và nhiệm vụ của tiêu chuẩn hóa công ty trong doanh nghiệp Đồng thời có vận dụng vào việc phân tích để so sánh với những nhận định về
tiêu chuẩn hóa trong phần thực trạng của luận án
9 Cuốn sách “Standardization: Fundamentals, Impact, and Business Strategy”,
APEC Sub committee on Standars and Comformance, Education Guideline 3 – Textbook for Higher Education, Editor: Dong-Geun Choi, Co – editor: Byung – Goo Kang, Taeha Kim Authors: Manabu Eto, Mingshun Song, John Henry, Heesang Lee, Hee-Dong Yang, Heejin Lee [17] Cuốn sách đề cập đến các vấn đề làm cơ sở lý luận
về vòng đời của tiêu chuẩn Vòng đời của một tiêu chuẩn bao gồm xây dựng, chỉnh
sửa, sử dụng và từ bỏ (dừng sử dụng) Tuy nhiên, nếu nhiều tiêu chuẩn phát sinh từ một tiêu chuẩn ban đầu trong vòng đời này thì tiêu chuẩn đó sẽ tự mình thay đổi và phát triển thành một tiêu chuẩn khác Hiểu nguyên tắc vòng đời này là điểm căn bản trong việc sử dụng các tiêu chuẩn Khi lập kế hoạch thúc đẩy một tiêu chuẩn, quan trọng là phải tính đến cách duy trì tiêu chuẩn đó Một khi các tiêu chuẩn đã được đưa vào sử dụng trong sản xuất kinh doanh, các vấn đề và vùng ứng dụng thường xuyên không được bao quát hết Hơn nữa, trong tiến trình phát triển của công nghệ, những tiêu chuẩn hiện hữu có thể cản trở hoạt động của sản phẩm Điểm quan trọng phải chú
ý là tiêu chuẩn cần được rà soát thường xuyên để tối thiểu hóa những tác động không phù hợp ISO và IEC đã quy định các tiêu chuẩn phải được kiểm tra sau 3-5 năm hoạt động, với lý do rằng sự rà soát là cần thiết nếu tiêu chuẩn luôn luôn đi kèm với các tiến
bộ công nghệ và thay đổi xã hội Thậm chí khi sự rà soát thường xuyên được thực hiện, cũng có thế đến một thời điểm nào đó việc sử dụng một tiêu chuẩn là khó khăn Trong nhiều trường hợp, không có sự vận hành đặc biệt nào được yêu cầu vì số lượng người sử dụng tiêu chuẩn giảm đi và tiêu chuẩn không còn được sử dụng Rõ ràng sự tồn tại của một vài tiêu chuẩn cũ, lạc hậu có thể cản trở tiến bộ khoa học công nghệ và làm hạn chế sự đơn giản hóa của công nghệ Đồng thời cũng đã khuyến cáo tới các tổ chức, doanh nghiệp, khi các tiêu chuẩn trở nên lạc hậu, chúng gây ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của tổ chức, doanh nghiệp đó
Trang 2410 Cuốn sách “The Economics Of Standards Theory, Evidence, Policy”
Helmut Schmidt University Germany, Erasmus University of Rotterdam Netherlands [25] Cuốn sách đề cập đến nội dung: Phân loại tiêu chuẩn dựa trên những tác động về mặt kinh tế, mặc dầu sự phân chia rõ ràng như vậy không phản ánh những tác động thực tế của những tiêu chuẩn đã được áp dụng, đặc biệt đã nêu vai trò của tiêu chuẩn trong thay đổi công nghệ, tiêu chuẩn có tác động tiêu cực hay tích cực đến sự cạnh tranh, vai trò của các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với thương mại quốc tế, cuối cùng là vai trò của tiêu chuẩn đối với sự tăng trưởng kinh tế chung Tiêu chuẩn hóa là hoạt động nhằm giúp cho việc sản xuất được tiến hành theo kế hoạch và chương trình đã định một cách dễ dàng, nâng cao khả năng cạnh tranh, giảm chi phí sản xuất đồng thời tạo
ra thương hiệu cho sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của công ty Do đó công ty nên xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn cho sản phẩm, dịch vụ của mình (thành phẩm, bán thành phẩm, nguyên liệu, máy móc, thiết bị, công nghệ…) hay các đối tượng vô hình (nguyên tắc, quy trình, phương pháp, thủ tục tác nghiệp hàng ngày…)
Hệ thống cấp tiêu chuẩn hóa công ty gồm có tiêu chuẩn hóa bên trong và tiêu
chuẩn hóa bên ngoài Tiêu chuẩn hóa bên trong: Quá trình phát triển tiêu chuẩn hóa
trong công ty được gọi là tiêu chuẩn hóa bên trong, hay hiểu theo cách khác thì tiêu chuẩn hóa bên trong là nói đến vấn đề hoạt động xây dựng các tiêu chuẩn và áp dụng
nó trong công ty Một tiêu chuẩn công ty là kết quả của tiêu chuẩn hóa bởi một công ty hoặc tổ chức khác cho nhu cầu riêng họ Tiêu chuẩn hóa bên trong công ty cũng bao gồm tiêu chuẩn đang phát triển để sử dụng trong công ty và tiêu chuẩn đang phát triển
sẽ được dùng trong mối quan hệ của công ty với các đối tác kinh doanh trực tiếp của
nó “Phát triển” không có nghĩa mỗi tiêu chuẩn công ty đều phải được xây dựng không chọn lựa Một tiêu chuẩn công ty có thể có các dạng là: i) Một tài liệu tham khảo cho một hoặc nhiều tiêu chuẩn bên ngoài đã được công ty chính chính thức áp dụng ii) Một phần chia nhỏ của một tiêu chuẩn bên ngoài (ví dụ mô tả lựa chọn của công ty về khả năng cạnh tranh, được đưa vào trong một tiêu chuẩn bên ngoài, hay một phần chia nhỏ của các chủ đề chứa đựng trong tiêu chuẩn bên ngoài) iii) Một tiêu chuẩn tái xây dựng từ một phần của văn bản bên ngoài khác (ví dụ các văn bản của nhà cung cấp)
iv) Một tiêu chuẩn tự xây dựng Tiêu chuẩn hóa bên ngoài: Gồm có tiêu chuẩn quốc
tế, tiêu chuẩn khu vực, đây là cơ sở để thiết lập phần lý luận trong luận án, trong trường hợp doanh nghiệp không tự xây dựng tiêu chuẩn cho mình thì có thể áp dụng trực tiếp hoặc chuyển đổi thành tiêu chuẩn công ty
Những khoảng trống trong nghiên cứu về tiêu chuẩn hóa đó là:
Trên cơ sở kết quả tổng quan nghiên cứu có thể thấy khoảng trống nghiên cứu:
- Về mặt cơ sở lý luận:
Trang 25+ Cần bổ sung cơ sở lý luận và xây dựng được các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của tiêu chuẩn hóa công ty
+ Cần nhận diện được các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến công tác tiêu chuẩn hóa
8 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và phụ lục, luận án được kết cấu gồm 3 chương:
HÓA TRONG CÔNG TY
CÔNG TY ĐÓNG TÀU VIỆT NAM
Ở CÁC CÔNG TY ĐÓNG TÀU VIỆT NAM
Trang 26CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TIÊU CHUẨN
HÓA TRONG CÔNG TY 1.1 Tổng quan về tiêu chuẩn hóa
1.1.1 Khái niệm tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn hóa
1.1.1.1 Tiêu chuẩn
Bàn về khái niệm Tiêu chuẩn có nhiều định nghĩa khác nhau, nói một cách đơn giản nhất, tiêu chuẩn là tập hợp các quy tắc để đảm bảo chất lượng Nói một cách rõ hơn, tiêu chuẩn là các quy định về đặc tính kỹ thuật, yêu cầu quản lý mà sản phẩm, dịch vụ, quá trình cần đạt được để đảm bảo nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả đáp ứng yêu cầu của khách hàng
Hiện tại, tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế như ISO/IEC:2004 đưa ra một định nghĩa tiêu chuẩn, được nhiều quốc gia, tổ chức công nhận rộng rãi, định nghĩa này được phát biểu như sau:
“Tiêu chuẩn là tài liệu được thiết lập bằng cách thỏa thuận và do một cơ quan được thừa nhận phê duyệt nhằm cung cấp những quy tắc, hướng dẫn hoặc đặc tính cho các hoạt động hoặc kết quả hoạt động để sử dụng chung và lặp đi lặp lại nhằm đạt được mức độ trật tự tối ưu trong một khung cảnh nhất định” (Nguyễn
Đình Phan, 2005)
Hiệp định của WTO về rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT) định nghĩa tiêu chuẩn như sau:
“Tiêu chuẩn là tài liệu được chấp nhận bởi một tổ chức được ghi nhận, tạo
ra sự sử dụng chung hoặc lặp lại, các quy tắc và chỉ dẫn hoặc các đặc tính cho các sản phẩm hoặc các quá trình liên quan và các phương pháp sản xuất, mà với chúng
sự chấp thuận không phải là sự bắt buộc Tiêu chuẩn cũng có thể bao gồm hoặc đề cập đến các yêu cầu về thuật ngữ, ký hiệu, bao gói, khắc dấu hoặc gắn nhãn hiệu khi chúng được áp dụng cho một sản phẩm, quá trình hoặc phương pháp sản xuất” (Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự, 2012)
Trong các tổ chức khu vực, theo EC trong chỉ dẫn 98/34/EC đã đưa ra định nghĩa như sau:
“Tiêu chuẩn là một đặc tính chứa đựng trong một tài liệu đưa ra các đặc tính cần thiết của một sản phẩm, như cấp độ của chất lượng, thể hiện, an toàn hoặc kích thước, bao gồm các yêu cầu áp dụng cho sản phẩm khi chú ý đến tên gọi theo đó sản phẩm được bán, thuật ngữ, ký hiệu, thử nghiệm và phương pháp thử nghiệm, bao gói, khắc dấu, gắn nhãn hiệu và trình tự đánh phù hợp”
Trang 27Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (Quốc hội, 2006) định nghĩa Tiêu chuẩn như sau:
“Tiêu chuẩn là quy định đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường
và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất lượng
và hiệu quả của các đối tượng này”
“Hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn là việc xây dựng, công bố và áp dụng tiêu chuẩn, đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn”
* Từ các định nghĩa trên ta có những nhận xét về Tiêu chuẩn như sau:
- Tiêu chuẩn là một dạng tài liệu trong đó đề ra các quy tắc, hướng dẫn hay đặc tính cho các hoạt động hoặc các kết quả
- Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng, tùy theo cấp tiêu chuẩn mà cơ quan phê duyệt sẽ khác nhau Nếu không tài liệu đó dù
có giá trị đến đâu cũng không gọi là tiêu chuẩn
- Tiêu chuẩn được đưa ra để sử dụng nhằm đạt được mức độ trật tự tối ưu trong một hoàn cảnh nhất định Vì vậy, khi thời gian thay đổi, hoàn cảnh thay đổi, tiêu chuẩn
có thể cũng cần được thay đổi
Tiêu chuẩn là một giải pháp tối ưu vì được xây dựng dựa trên nền tảng các kết quả khoa học công nghệ và kinh nghiệm thực tế theo phương pháp thỏa thuận nhất trí của các bên có liên quan
1.1.1.2 Quy chuẩn kỹ thuật
Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (Quốc hội, 2006) định nghĩa Quy chuẩn
kỹ thuật như sau :
“Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và
an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác”
“Hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật là việc xây dựng, ban hành và áp dụng quy chuẩn kỹ thuật, đánh giá sự phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật”
Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng
1.1.1.3 Tiêu chuẩn hóa
Trang 28Ngày 04 tháng 4 năm 1962, Viện Đo lường tiêu chuẩn (nay là Tổng cục Đo lường chất lượng thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ) được thành lập trở thành tổ chức quản lý và nghiên cứu đầu tiên về tiêu chuẩn hóa, đo lường, chất lượng ở Việt Nam Khác với tiêu chuẩn, định nghĩa về tiêu chuẩn hóa không thay đổi nhiều, về bản chất tiêu chuẩn hóa là hoạt động bao gồm xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn
Theo ISO, tiêu chuẩn hóa được định nghĩa như sau
“Tiêu chuẩn hóa là một hoạt động thiết lập các điều khoản để sử dụng chung
và lặp đi lặp lại đối với những vấn đề thực tế hoặc tiềm ẩn, nhằm đạt được mức độ trật tự tối ưu trong một khung cảnh nhất định” (Nguyễn Đình Phan, 2005)
Tiêu chuẩn hóa là hoạt động bao gồm việc xây dựng, ban hành và áp dụng các tiêu chuẩn với mục đích đưa các hoạt động kinh tế xã hội vào nề nếp ổn định để đạt được hiệu quả chung có lợi nhất Do đó, tiêu chuẩn hóa là hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế kỹ thuật và pháp luật, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa nhiều ngành nhiều cấp
để đạt được hiệu quả cao nhất
* Từ định nghĩa trên ta có những nhận xét về Tiêu chuẩn hóa như sau:
- Tiêu chuẩn hóa là một hoạt động không những giải quyết các vấn đề thực tế đang tồn tại mà còn chú ý đến các nội dung tiềm ẩn trong tương lai
- Đối tượng của tiêu chuẩn hóa là những sản phẩm, quá trình, dịch vụ và các hoạt động sản xuất kinh doanh
- Từ các định nghĩa có thể hình dung các chức năng, nhiệm vụ của tiêu chuẩn hóa để từ đó quyết định các tổ chức cơ quan tiêu chuẩn hóa ở các cấp để thực hiện chức năng nhiệm vụ đó
- Tiêu chuẩn hóa được tiến hành dựa trên những thành tựu khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn, nhằm tạo ra một trật tự tối ưu hay là một nề nếp để đạt được hiệu quả chung có lợi nhất trong một hoàn cảnh nhất định
- Tiêu chuẩn hóa được tiến hành trên cơ sở thỏa thuận, có sự tham gia của các bên có liên quan: đại diện nhà sản xuất, nhà kinh doanh, người tiêu thụ, người nghiên cứu, người quản lý và bản thân cơ quan tiêu chuẩn hóa
- Kết quả của tiêu chuẩn hóa là việc ban hành các tiêu chuẩn là chính, cũng như các tài liệu có liên quan và việc tổ chức xúc tiến, kiểm tra theo dõi áp dụng các tiêu chuẩn đó
1.1.1.4 Công tác tiêu chuẩn hóa
Ở Việt Nam thuật ngữ tiêu chuẩn hóa được đưa ra lần đầu tiên trong bản Điều
lệ về công tác tiêu chuẩn hóa ban hành theo Nghị định số 141-HĐBT ngày 24/8/1982 của Hội đồng Bộ trưởng như sau:
Trang 29“Công tác tiêu chuẩn hóa là việc xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn được tiến hành dựa trên kết quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, kỹ thuật và áp dụng kinh nghiệm tiên tiến nhằm đưa ra các hoạt động sản xuất kinh doanh vào nề nếp
và đạt hiệu quả”
Vai trò của công tác tiêu chuẩn hóa trong thời kỳ hiện nay cũng đã được đề cập đến rất nhiều trong các văn bản, tài liệu cũng như tại các hội nghị, hội thảo Tiêu chuẩn được xem là công cụ kỹ thuật nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa trên thị trường; thuận lợi hóa thương mại; thúc đẩy sáng tạo và phát triển sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; chuyển giao công nghệ, v.v Ngài Kofi
Annan - Nguyên Tổng Thư ký Liên hợp quốc đã đánh giá: "Tiêu chuẩn có vai trò quan trọng để phát triển một cách bền vững, nó có vai trò vô giá giúp các nước phát triển kinh tế và xây dựng năng lực cạnh tranh trên thị trường toàn cầu Đối với thế giới của chúng ta, tiêu chuẩn tạo nên sự khác biệt mang tính tích cực"
Để hiểu rõ hơn về vấn đề tiêu chuẩn, tiêu chuẩn hóa chúng ta không thể không nhắc tới các khái niệm, thuật ngữ có liên quan như: Tài liệu quy chuẩn, quy định kỹ thuật, quy phạm, văn bản pháp quy, văn bản pháp quy kỹ thuật và các khái niệm này được mô tả ở hình 1.1 dưới đây
(Nguồn:Nguyễn Đình Phan (2005); Quốc hội, 2006))
Hình 1 1 Sơ đồ mô tả việc phân cấp các khái niệm
Tài liệu quy chuẩn: Là tài liệu đề ra các quy tắc hướng dẫn hoặc đặc tính đối
với những hoạt động, hoặc những kết quả của chúng Đây là một thuật ngữ chung bao gồm tài liệu như tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật, quy phạm và các văn bản pháp quy Chữ tài liệu phải được hiểu là một phương tiện mang thông tin – những dạng khác của tài liệu quy chuẩn được xác định căn cứ vào nội dung
Quy định kỹ thuật: Là tài liệu mô tả những yêu cầu kỹ thuật mà một sản phẩm,
quá trình hoặc dịch vụ phải thỏa mãn
Trang 30Cần chú ý rằng, một quy định kỹ thuật khi cần thiết phải chỉ dẫn các thủ tục để xác định những yêu cầu đưa ra có được đáp ứng hay không Quy định kỹ thuật có thể là tiêu chuẩn, một bộ phận của tiêu chuẩn hoặc độc lập với tiêu chuẩn
Quy phạm: Là tài liệu đưa ra hướng dẫn thực hành hoặc các thiết kế sản xuất, lắp đặt
bảo dưỡng và sử dụng các thiết bị, công trình hoặc sản phẩm Như vậy quy phạm có thể là tiêu chuẩn, một phần tiêu chuẩn hoặc độc lập với tiêu chuẩn
Văn bản pháp quy: Là tài liệu đưa ra các quy tắc pháp lý bắt buộc và được một
cơ quan có thẩm quyền chấp nhận
Văn bản pháp quy kỹ thuật: Là tài liệu đưa ra những yêu cầu kỹ thuật có thể
trực tiếp hoặc trích dẫn từ các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật hay quy phạm thực hành hoặc đưa các tài liệu trên vào
1.1.2 Cấp tiêu chuẩn hóa
Việc phân cấp tiêu chuẩn nhằm mục đích chủ yếu để biết được cơ quan ban hành và quản lý cấp tiêu chuẩn đó chứ tuyệt đối không có ý nghĩa đánh giá mức độ cao thấp của tiêu chuẩn các cấp Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự (2012) và Hồ Tất Thắng (2004) cho rằng giữa tiêu chuẩn của doanh nghiệp và tiêu chuẩn của nhà nước
và các cấp có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, do đó tiêu chuẩn gồm có các cấp sau :
- Tiêu chuẩn quốc tế: Do các tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ban hành, được áp dụng rộng rãi, được chấp nhận trong các hiệp định hay các điều luật quốc tế Các tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế này phải có uy tín trong lĩnh vực hoạt động của mình và được tham gia của nhiều quốc gia trên thế giới Ví dụ ISO, IEC, ITU,…
Hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế (ISO) bao gồm các tiêu chuẩn thông dụng và được áp dụng rộng rãi trên toàn thế giới như hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2008 là hệ thống được nhiều tổ chức áp dụng Hệ thống quản lý môi trường ISO 14001; hệ thống quản lý an toàn thực phẩm ISO 22000, hệ thống quản lý an toàn & sức khỏe nghề nghiệp theo OHSAS 18001; hệ thống quản lý phòng thí nghiệm ISO/IEC 17025…
- Tiêu chuẩn khu vực: Do một tổ chức tiêu chuẩn hóa khu vực ban hành nhưng
đã được thừa nhận trong các hiệp định, thỏa thuận quốc tế hay được chọn để hài hòa trong các thỏa thuận hợp tác khu vực Ví dụ EN (tiêu chuẩn Châu Âu), ENELEC (tiêu chuẩn điện Châu Âu),…
- Tiêu chuẩn quốc gia: Là tiêu chuẩn của một số nước công nghiệp tiên tiến đã được các nước thừa nhận và áp dụng trong quan hệ thương mại hay hợp tác khoa học, kỹ huật Ví dụ DIN (Đức), ANSI (Mỹ), BSI (Anh), TCVN (Việt Nam)
Hiện nay hệ thống tiêu chuẩn của Việt Nam bao gồm tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn công ty
Trang 31- Tiêu chuẩn công ty: là văn bản quy định các quy tắc và hướng dẫn cho các hoạt động hoặc kết quả hoạt động lặp đi lặp lại và sử dụng chung liên quan đến tất cả các vấn đề kỹ thuật, quản lý, tổ chức và điều hành của riêng công ty So với các cấp tiêu chuẩn nêu ở trên, tiêu chuẩn công ty chú trọng đến các đối tượng cụ thể hơn, thiết thực hơn và riêng biệt hơn
Tùy theo loại hình, quy mô hoạt động, mục đích, yêu cầu quản lý nội bộ, các doanh nghiệp có thể vận dụng cách thức phân loại trên để tiến hành công tác tiêu chuẩn hóa một cách thích hợp cho doanh nghiệp mình
1.1.3 Chức năng của tiêu chuẩn hóa
- Chức năng đảm bảo chất lượng: Đây là chức năng quan trọng nhất của tiêu
chuẩn hóa Tiêu chuẩn hóa luôn luôn là một trong những phương pháp tốt nhất cho duy trì và ổn định chất lượng của các doanh nghiệp Nhờ có những hoạt động tối ưu được lặp lại một cách thống nhất và ổn định theo hệ thống tiêu chuẩn đã được xây dựng (ví dụ như việc tuân thủ các quy trình, quy phạm, thủ tục và phương pháp vận hành máy móc thiết bị, việc đảm bảo đúng các định mức về nguyên vật liệu và các điều kiện sản xuất – kinh doanh) mà sản phẩm, dịch vụ sản xuất ra đáp ứng được những yêu cầu đã đề ra Đảm bảo và duy trì chất lượng sản phẩm ổn định theo đúng tiêu chuẩn quy định làm tăng sự tín nhiệm của khách hàng đối với doanh nghiệp Một doanh nghiệp thực hiện tốt công tác tiêu chuẩn hóa tạo cho khách hàng tin tưởng vào khả năng ổn định của hệ thống sản xuất đối với việc tạo ra những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao và đồng nhất ở mọi thời điểm (Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự, 2012; Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền, 2007)
- Chức năng tiết kiệm: Tiêu chuẩn hóa được xây dựng dựa trên những thành
tựu của Khoa học – Kỹ thuật tiên tiến và những kinh nghiệm tốt nhất đúc rút từ thực tiễn hoạt động Những hoạt động thừa, không tạo ra giá trị gia tăng, những lãng phí trong quá trình sản xuất – kinh doanh được loại bỏ Tiêu chuẩn chỉ giữ lại những hoạt động tối ưu nhất, tiết kiệm nhất Tiêu chuẩn hóa nhằm tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực và thỏa mãn tối ưu nhu cầu của khách hàng bằng những sản phẩm đúng tiêu chuẩn, được thiết kế xuất phát từ nhu cầu của họ Do đó, tiêu chuẩn là cơ sở khoa học
và thực tiễn để xác định một cách hợp lý, tiết kiệm và sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực trong việc tạo ra và cung cấp sản phẩm cho xã hội Hệ thống tiêu chuẩn còn
là cơ sở để theo dõi đánh giá những lãng phí do sự dao động khỏi tiêu chuẩn gây ra (Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự, 2012; Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền, 2007)
- Chức năng thống nhất và lắp lẫn: Tiêu chuẩn hóa đưa mọi hoạt động vào nề
nếp theo những nguyên lý, yêu cầu chung thống nhất, giải quyết tình trạng tự do, tùy tiện, hỗn độn trong sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực khác Đó là cơ sở tạo ra sự
Trang 32thống nhất hóa trong hoạt động của mọi tổ chức Thống nhất hóa là một trong những biểu hiện đầu tiên của tiêu chuẩn hóa Thống nhất hóa là quy định một cách hợp lý số lượng các đối tượng có cùng chức năng bằng cách tạo nên những đối tượng mới, giảm bớt hay thay đổi các đối tượng hiện có Thống nhất hóa sẽ giảm được tính đa dạng không hợp lý đến mức hợp lý góp phần giảm nhẹ và rút ngắn khối lượng, thời gian công tác thiết kế, chế tạo, giảm bớt các công thức chế tạo sản phẩm, nâng cao trình độ chuyên môn hóa, tự động hóa, nhờ đó tăng năng suất lao động Tiêu chuẩn hóa được thực hiện thông qua thống nhất hóa và ngược lại tiêu chuẩn hóa tạo ra sự thống nhất hóa giữa các bộ phận, chi tiết hoặc các các đối tượng do nhiều bộ phận, tổ chức, doanh nghiệp khác nhau thực hiện Việc sản xuất những chi tiết, bộ phận theo đúng kích cỡ một mặt giảm bớt được số lượng các loại chi tiết, bộ phận, mặt khác tạo điều kiện để các chi tiết, bộ phận có thể lắp lẫn trên các sản phẩm được cung cấp từ các nhà sản xuất khác nhau
Lắp lẫn là thay thế các chi tiết hay bộ phận đồng dạng giữa các sản phẩm khác nhau Nhờ được thống nhất hóa, các chi tiết, bộ phận của những sản phẩm cùng loại có thể lắp lẫn thay thế nhau Tính lắp lẫn đã tạo ra sự linh hoạt mềm dẻo hơn trong các hoạt động sửa chữa, tiết kiệm chi phí và nâng cao năng suất Tính lắp lẫn và thống nhất hóa đã tạo ra khả năng phát triển hợp tác và chuyên môn hóa nhằm không ngừng nâng cao năng suất trong các doanh nghiệp
Sự phát triển cao hơn dựa trên thống nhất hóa và lắp lẫn là tổ hợp hóa Đó là quá trình nghiên cứu đưa ra những cách phối hợp khác nhau giữa các phần tử có kết cấu thống nhất hóa và tiêu chuẩn hóa để tạo ra những kết cấu mới nhằm thõa mãn các nhu cầu khác nhau về sản phẩm và dịch vụ Trong cấu tạo của máy móc, thiết bị, người ta phân chia thành những đơn vị lắp kết cấu lắp ráp độc lập gọi là tổ hợp Mỗi tổ hợp này có những chức năng riêng và khi lắp ráp những tổ hợp này vào sản phẩm cơ bản sẽ tạo ra những sản phẩm mới có chức năng tác dụng mới Tổ hợp hóa có ích lợi rất lớn trong việc giảm thời gian và chi phí thiết kế, chế tạo, đa dạng hóa sản phẩm và tạo ra tính linh hoạt của hệ thống sản xuất (Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự, 2012; Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền, 2007)
- Chức năng đào tạo, giáo dục: Nhờ tiêu chuẩn hóa và thông qua các tiêu
chuẩn mà cán bộ quản lý và người lao động hiểu biết thêm và nhận thức đầy đủ hơn về chất lượng của hàng hóa dịch vụ; tạo ra cách dùng chung các thuật ngữ, các dụng cụ
đo lường và đơn vị đo lường, các nguyên tắc và nguyên lý hoạt động Người lao động nhận biết được thực chất và tầm quan trọng của tiêu chuẩn hóa thông qua tìm hiểu, nắm bắt và thực hiện hệ thống tiêu chuẩn Tiêu chuẩn hóa đòi hỏi người lao động phải không ngừng học hỏi nâng cao trình độ hiểu biết của mình về hệ thống tiêu chuẩn hiện hành và khả năng ứng dụng chính, đồng thời huấn luyện buộc người lao động hình thành thói quen hoạt động có cơ sở và căn cứ khoa học, thực tiễn một cách cụ thể
Trang 33thông qua tuân thủ hệ thống tiêu chuẩn trong doanh nghiệp (Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự, 2012; Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền, 2007)
- Chức năng hành chính và pháp lý: Trong doanh nghiệp, hệ thống tiêu chuẩn
được văn bản hóa là cơ sở thể chế bắt buộc mọi người phải tuân theo và thực hiện Quản lý và thực hiện theo tiêu chuẩn là nguyên tắc mang tính quy định hành chính phải tuân thủ Mọi đánh giá, theo dõi và chế độ thưởng phạt, khuyến khích đều dựa trên việc chấp hành và thực hiện các nguyên tấc, tiêu chuẩn đã ban hành
Ở phạm vi quốc gia, các tiêu chuẩn bắt buộc do nhà nước ban hành nhằm đảm bảo sức khỏe, an toàn vệ sinh môi trường và những lợi ích quốc gia là những quy định
có tính pháp lý buộc các doanh nghiệp phải tuân thủ, nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo luật pháp Vì vậy, tiêu chuẩn hóa có chức năng hành chính và pháp lý quan trọng trong việc buộc mọi người tuân theo nhằm thực hiện những mục tiêu của doanh nghiệp hoặc
xã hội đặt ra (Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự, 2012; Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền, 2007)
1.1.4 Vai trò của tiêu chuẩn hóa
Tiêu chuẩn hóa có ý nghĩa quan trọng với năng suất và chất lượng, với thương mại quốc tế và hội nhập, với tiến bộ khoa học công nghệ và với đời sống sức khỏe con người (Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự, 2012; Nguyễn Thành Độ, Nguyễn Ngọc Huyền, 2007; Hessier Feilzer De Vries, 2006; Knut Blind, 2004)
- Tăng năng suất: Tiêu chuẩn hóa là một hoạt động thiết lập các điều khoản để
sử dụng chung và lặp đi, lặp lại đối với những vấn đề thực tiễn hoặc tiềm ẩn Điều đó cũng có nghĩa tiêu chuẩn hóa là đơn giản hóa Tiêu chuẩn hóa sẽ kiểm soát sự đa dạng, thúc đẩy chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất Nhờ vậy, tiêu chuẩn hóa sẽ đẩy mạnh tiết kiệm và thúc đẩy tăng năng suất Đồng thời khi sản phẩm ổn định, phương pháp sản xuất phù hợp, sản phẩm sản xuất ra đáp ứng nhu cầu khách hàng chúng cần được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định Sự ổn định về chất lượng là cơ sở cho duy trì thị trường, đảm bảo uy tín và tạo điều kiện cho doanh nghiệp đứng vững trên thị trường Tiêu chuẩn hóa đã góp phần tạo ra sự ổn định tương đối và hợp lý, phát huy những thành quả đã đạt được, phát triển sản xuất, ổn định việc làm và thu nhập cho
người lao động
Một trong những yêu cầu của sản xuất là tiết kiệm được chi phí sản xuất bao gồm chi phí nguyên vật liệu, máy móc thiết bị và lao động Thước đo cơ bản là giảm chi dùng nguyên vật liệu trên 1 đơn vị sản xuất hoặc tăng giá trị gia tăng trên một đồng vốn hay cách khác là tăng năng suất Tăng năng suất chủ yếu dựa trên vận dụng, phát huy những quy luật khoa học và những nguyên tắc trong quá trình sản xuất Tiêu chuẩn hóa dựa trên những quy luật khoa học và kinh nghiệm tốt nhất trong thực tiễn Việc sử dụng những quy luật này như thế nào để đạt được mục tiêu sẽ xác định hiệu
Trang 34quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Các tiêu chuẩn kĩ thuật là phương pháp tốt nhất, có hiệu quả nhất giảm chi phí sản xuất Những sai lệch so với tiêu chuẩn đề ra sẽ dẫn đến giảm hiệu quả sử dụng các nguồn lực hoặc giảm chất lượng
- Tăng chất lượng sản phẩm: Một trong những yếu tố quan trọng quyết định
khả năng cạnh tranh của công ty là chất lượng sản phẩm hay dịch vụ của công ty, vì vậy công ty phải quy định rõ ràng tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm hay dịch vụ của mình, đồng thời phải có biện pháp kiểm soát để không bao giờ có các sản phẩm không đạt tiêu chuẩn lọt ra ngoài Việc kiểm soát chặt chẽ ở khâu cuối cùng là cần thiết nhưng chất lượng sản phẩm không phải chỉ quyết định ở khâu cuối cùng, chất lượng sản phẩm được hình thành trong suốt quá trình sản xuất, vì vậy mỗi công ty cần xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật cho nguyên vật liệu, bán thành phẩm mua vào, các phương pháp thử và quy tắc giao nhận ; tiêu chuẩn về kỹ năng và trình độ của nhân viên ở các vị trí làm việc khác nhau để đảm bảo chất lượng công việc; tiêu chuẩn về bao gói, vận chuyển xếp dỡ sản phẩm để bảo đảm duy trì chất lượng sản phẩm (Lê Thị
Kim Chi, 2010)
- Với thương mại quốc tế và hội nhập: Tiêu chuẩn là công cụ và phương tiện
quan trọng để duy trì các chuẩn mực trong sản xuất, thương mại, thúc đẩy doanh nghiệp quan tâm đổi mới, nâng cao chất lượng; sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa
và dịch vụ Hài hòa quốc tế trong tiêu chuẩn và trong thủ tục đánh giá sự phù hợp sẽ phá vỡ rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy quá trình hội nhập quốc
tế Tiêu chuẩn hóa tạo ra sự tiện lợi và giao lưu rộng rãi của hàng hóa và dịch vụ trên thị trường Ví dụ, việc hình thành và củng cố hệ thống tiêu chuẩn đem lại lợi ích rất lớn Hàng loạt các thước đo được đưa ra Sẽ rất tiện lợi khi một hệ thống tiêu chuẩn được dùng thống nhất trên cả thế giới Vì vậy, rất nhiều đơn vị như mét, vôn, ampe,…
đã trở thành những đơn vị chuẩn đo lường trên thế giới Các tiêu chuẩn được đặt ra nhằm đảm bảo sự tiện lợi và an toàn; được sử dụng như những tiêu chuẩn quốc gia, tiêu chuẩn ngành, hoặc tiêu chuẩn công ty Nhờ có hệ thống tiêu chuẩn, sản phẩm được trao đổi, đánh giá dễ dàng, khắc phục được những trở ngại về mặt ngôn ngữ hoặc
kỹ thuật Tiêu chuẩn hóa trên cơ sở thống nhất hóa, tổ hợp hóa, tăng tính lắp lẫn góp phần nâng cao trình độ chuyên môn hóa và hợp tác hóa giữa các công ty
- Với tiến bộ khoa học công nghệ: Cùng với các công cụ kinh tế khác, khoa học
công nghệ giữ vai trò quan trọng trong ổn định, duy trì và nâng cao tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế và người tiêu dùng Bằng chính điều đó, khoa học công nghệ đang và sẽ giúp cho các doanh nghiệp vượt qua rào cản kỹ thuật trong thương mại để có thể phát triển sản xuất, kinh doanh tốt hơn, xuất khẩu được nhiều hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh không chỉ trên
thị trường trong nước mà còn ở thị trường khu vực và nước ngoài
Trang 35Các thành phần công nghệ trong doanh nghiệp là một thể thống nhất, luôn có sự tác động và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Do đó, việc đổi mới công nghệ cần thực hiện một cách đồng bộ, đảm bảo mối quan hệ hài hòa, phù hợp giữa các thành phần Tiêu chuẩn sản phẩm với yêu cầu chất lượng cao sẽ thúc đẩy đổi mới công nghệ Do vậy, tiêu chuẩn hóa sẽ tác động tới doanh nghiệp, cho thấy sự cần thiết phải cải tiến, đổi mới công nghệ và như vậy sẽ đem lại các kết quả cho doanh nghiệp như sau: Chủ động xây dựng chương trình mở rộng sản xuất và lập kế hoạch phát triển lâu dài; cập nhật thông tin về công nghệ liên quan sản xuất của ngành mình; tạo môi trường thuận lợi để kích thích sự sáng tạo, suy nghĩ, thử nghiệm, thảo luận và phát triển ý tưởng của các thành viên trong doanh nghiệp; đào tạo nguồn nhân lực có trình độ công nghệ phù hợp quy hoạch và kế hoạch phát triển sản xuất
- Với đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp: Đổi mới công nghệ của các doanh
nghiệp, quá trình sản xuất và tiêu chuẩn hóa có mối quan hệ mật thiết với nhau Có thể nói rằng quá trình sản xuất là đối tượng tác động của tiêu chuẩn hóa, ví dụ như xây dựng
và áp dụng các tiêu chuẩn cho các lĩnh vực thuộc quá trình sản xuất Do vậy, tiêu chuẩn hóa là việc xác lập các quy tắc theo một khuôn khổ để áp dụng trong quá trình sản xuất nhằm giúp cho các lĩnh vực, hoạt động của quá trình sản xuất đi vào một khuôn mẫu, một mức độ trật tự tối ưu, hay nói một cách tổng quát là tiêu chuẩn hóa giúp cho quá trình sản xuất có hiệu quả
Dựa theo mối quan hệ giữa quá trình sản xuất với tiêu chuẩn hóa chúng ta có thể thay thế được mối liên hệ giữa đổi mới công nghệ với tiêu chuẩn hóa Mặc dù đây
là mối quan hệ gián tiếp thông qua quá trình sản xuất nhưng đổi mới công nghệ có ảnh hưởng rất lớn đến tiêu chuẩn hóa, việc thực hiện đổi mới công nghệ mang tính quyết định đến công tác tiêu chuẩn hóa Trước hết ta phải biết rằng chất lượng sản phẩm là
sự tuân thủ các yêu cầu, là sự phù hợp với mục đích Sản phẩm được tạo ra trong quá trình sản xuất và chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào quá trình sản xuất Vì vậy, để sản phẩm tuân thủ các yêu cầu, phù hợp các mục đích thì quá trình sản xuất phải có hiệu quả, không xảy ra trục trặc và được thực hiện một cách có khuôn khổ có trật tự Các lĩnh vực, các công đoạn trong quá trình sản xuất được vận hành càng nhuần nhuyễn, quy củ bao nhiêu thì sản phẩm được tạo ra càng đồng đều bấy nhiêu và tránh được các khuyết tật, do đó chất lượng sản phẩm càng cao Tuy nhiên quá trình sản xuất có hiệu quả chỉ đạt được khi các lĩnh vực, các công đoạn thuộc quá trình sản xuất hoạt động có quy củ, có trật tự Để có được những điều này phải dựa vào công tác tiêu
chuẩn hóa, có nghĩa là phải xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn vào quá trình sản xuất
Trang 36(Nguồn: Tác giả)
Hình 1 2 Quan hệ giữa đổi mới công nghệ với quá trình sản xuất
và tiêu chuẩn hóa
- Với đời sống con người: Tiêu chuẩn còn góp phần tiết kiệm thời gian, giúp
cho quá trình suy nghĩ hành động và thông tin liên lạc nhanh hơn; giảm nhẹ và rút ngắn thời gian thiết kế, kiểm tra, thời gian sản xuất và chuẩn bị sản xuất; giảm nhẹ khối lượng công việc Các công thức dùng trong toán học, vật lý, và những khoa học khác là một kiểu tiêu chuẩn Nhờ sử dụng các công thức, chúng ta có thể giải quyết nhiều vấn đề, ứng phó vớinhững biến động một cách nhanh chóng và tiện lợi Khi sử
dụng các bộ phận tiêu chuẩn có tính tin cậy sẽ hạn chế hoạt động kiểm tra, kiểm soát
Tiêu chuẩn hóa góp phần bảo vệ cho sức khỏe con người nếu thực hiện tốt các quy định của tiêu chuẩn đề ra, đồng thời cũng hàng rào bảo vệ sức khỏe và có vai trò quan trọng đem lại môi trường trong lành như không khí, nguồn nước,… ở nơi làm việc cho người lao động
Tóm lại, tiêu chuẩn hóa là công cụ hữu hiệu thúc đẩy tăng trưởng, thúc đẩy thương mại quốc tế và hội nhập Mặc dù tiêu chuẩn hóa quan trọng nhưng phần lớn các công ty vẫn chưa nhận thức hết tầm quan trọng trong thực tế Để công tác tiêu chuẩn hóa
có hiệu quả đòi hỏi tốn kém thời gian và nguồn lực tài chính Hệ thống tiêu chuẩn được lập cho tương lai và kết quả cũng chỉ thể hiện rõ sau một thời gian triển khai áp dụng hệ thống tiêu chuẩn một cách đồng bộ, ổn định Trong thực tế, các cán bộ quản lý thường phải đối mặt với những vấn đề trước mắt, hàng ngày và tập trung nỗ lực vào giải quyết
mà ít quan tâm đến xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn Mỗi doanh nghiệp cần nhận thức rõ được nhiệm vụ rất quan trọng của nhà quản lý là xác lập tiêu chuẩn và điều chỉnh tiêu chuẩn và đảm bảo rằng tiêu chuẩn được tuân thủ, không ngừng xem xét đánh giá tiêu chuẩn
1.1.5 Các xu hướng mới trong công tác tiêu chuẩn hóa đầu thế kỷ 21
Theo Ajit Jillavenkatesa (2012) và Dietmar Harting (2005), các xu hướng mới trong công tác tiêu chuẩn hóa bao gồm:
- Vai trò quản lý nhà nước về tiêu chuẩn hóa được tập trung vào quản lý thống nhất việc xây dựng và ban hành tiêu chuẩn quốc gia, đặc biệt là hệ thống quy định kỹ
Trang 37thuật nhằm đảm bảo tính thống nhất của các quy chuẩn trong phạm vi quốc gia và phù hợp với yêu cầu của các thỏa ước quốc tế phục vụ chính cho doanh nghiệp
- Đổi mới phương pháp xây dựng tiêu chuẩn theo hướng hài hòa tiêu chuẩn quốc gia với tiêu chuẩn quốc tế, không chỉ đơn thuần là chấp nhận một cách thụ động các giải pháp tiêu chuẩn hóa trong các tiêu chuẩn quốc tế vào tiêu chuẩn quốc gia Bởi lẽ nếu "xây dựng tiêu chuẩn quốc gia" theo kiểu chấp nhận giản đơn sẽ làm mất đi ý nghĩa của hoạt động tiêu chuẩn hóa và sẽ dẫn đến tiêu chuẩn không đi vào cuộc sống, các cơ sở sản xuất, kinh doanh sẽ "thờ ơ" với tiêu chuẩn quốc gia vì không thực sự thích hợp với trình độ sản xuất, kinh doanh của họ Do đó trong quá trình áp dụng các phương pháp hài hòa tiêu chuẩn quốc gia với tiêu chuẩn quốc tế, cần thiết phải phân loại các tiêu chuẩn quốc tế mà tiêu chuẩn quốc gia có thể chấp nhận hoàn toàn được
- Trong môi trường và cơ chế quản lý hội nhập, hoạt động áp dụng tiêu chuẩn sẽ được tự do, sân áp dụng tiêu chuẩn mở rộng hơn nhiều để đón nhận tiêu chuẩn thích hợp để áp dụng, chính cơ chế mới này làm cho quá trình tiêu chuẩn hóa đi vào cuộc sống một cách tự nhiên Giá trị của tiêu chuẩn sẽ được khẳng định nếu được nhiều nơi đón nhận để áp dụng, chính cơ chế đó là thước đo đánh giá được chất lượng tiêu chuẩn được xây dựng
- Ngày nay trong xu thế chung của thế giới là hạn chế, tiến tới xóa bỏ các rào cản
kỹ thuật trong thương mại, cùng với biện pháp hài hòa tiêu chuẩn quốc gia với tiêu chuẩn quốc tế, cần thiết phải phát triển hoạt động chứng nhận sự phù hợp theo hướng hòa nhập với thông lệ quốc tế, tiến tới sự thừa nhận lẫn nhau kết quả chứng nhận cho hàng hóa, dịch vụ trao đổi giữa các nước Nhằm đưa hoạt động công nhận, chứng nhận trở thành công cụ hữu hiệu cho quản lý kinh tế thông qua việc áp dụng tiêu chuẩn, các quy định kỹ thuật trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, cần thiết phát triển hoạt động công nhận, chứng nhận sự phù hợp Nói cách khác chứng nhận đã là một công cụ
để thúc đẩy việc áp dụng tiêu chuẩn
1.2 Tiêu chuẩn hóa công ty
1.2.1 Những vấn đề chủ yếu của tiêu chuẩn hóa công ty
1.2.1.1 Khái niệm và vai trò của tiêu chuẩn hóa công ty
- Tiêu chuẩn hóa công ty: là tiêu chuẩn sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường do người đứng đầu công ty xây dựng và công bố để áp dụng trong các hoạt động của công ty Công bố tiêu chuẩn công ty là việc công ty sản xuất, kinh doanh thông báo về tiêu chuẩn áp dụng hoặc các đặc tính cơ bản của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường (Quốc hội, 2006)
- Tiêu chuẩn hóa công ty là kết quả của tích lũy kiến thức và kinh nghiệm của doanh nghiệp, là tổng hợp của các vấn đề như kỹ thuật, kinh tế, luật pháp, quản lý
Trang 38- Tiêu chuẩn hóa công ty là yêu cầu của quản lý nhà nước, sức ép cạnh tranh và yêu cầu thị trường
- Tiêu chuẩn hóa công ty liên quan mật thiết tới chuỗi cung ứng và là động lực, biện pháp của phát triển bền vững
1.2.1.2 Loại tiêu chuẩn hóa công ty
Kết quả của tiêu chuẩn hóa là hình thành và triển khai thực hiện hệ thống tiêu chuẩn đã xây dựng Hệ thống tiêu chuẩn được xây dựng cho tất cả mọi lĩnh vực, mọi đối tượng và mọi phạm vi hoạt động, tiêu chuẩn hóa công ty gồm các loại sau: tiêu chuẩn sản phẩm, tiêu chuẩn quá trình, tiêu chuẩn hệ thống của quản lý chất lượng (Nguyễn Đình Phan, Đặng Ngọc Sự, 2012; Trần Ngọc Tân, 2011; Nguyễn Minh Bằng, Hoàng Hữu Thám, 2007; Trung tâm đào tạo Tổng cục đo lường chất lượng, 1999):
1 Tiêu chuẩn sản phẩm: Quy định các mức chất lượng hoặc yêu cầu đối với một sản phẩm (hoặc nhóm sản phẩm liên quan) nhằm đảm bảo rằng sản phẩm sẽ đáp ứng mục đích của nó một cách hiệu quả
a Tiêu chuẩn về quy cách
Tiêu chuẩn về quy cách quy định các dãy thông số, kích thước sản phẩm, chi tiết, bộ phận, nguyên vật liệu, bao gồm:
- Tiêu chuẩn về thông số, kích thước cơ bản của đối tượng Căn cứ vào đặc trưng vận hành hoặc sử dụng cơ bản của đối tượng, người ta quy định các dãy thông
số, kích thước cơ bản của sản phẩm, chi tiết, bộ phận, nguyên vật liệu… trên cơ sở đó lập nên các kiểu loại, dạng cụ thể cho từng đối tượng trên
- Tiêu chuẩn về kiểu loại
- Tiêu chuẩn về dạng quy định hình dạng hình học và kích thước của đối tượng
b Tiêu chuẩn về yêu cầu kỹ thuật
Đó là những tiêu chuẩn quy định những yêu cầu cơ bản đối với các tính năng sử dụng, vận hành của sản phẩm nhằm quy định mức chất lượng của sản phẩm và các yêu cầu đối với nguyên liệu chế tạo sản phẩm
c Tiêu chuẩn về phương pháp thử
Loại tiêu chuẩn này quy định phương pháp xác định các đặc trưng sử dụng của sản phẩm nhằm đảm bảo sự đánh giá thống nhất và chính xác sản phẩm qua các đặc trưng của nó Các phương pháp thử cần tiêu chuẩn hóa là các phương pháp thử có liên quan đến các chỉ tiêu chất lượng được quy định trong các tiêu chuẩn yêu cầu kỹ thuật hay các văn bản pháp chế kỹ thuật Những tiêu chuẩn này bao gồm: nguyên tắc và nội
Trang 39dung phương pháp thử; phương tiện và điều kiện thử; chuẩn bị thử; tiến hành thử; phương pháp tính toán; đánh giá tính toán; biên bản thử nghiệm
d Tiêu chuẩn về bao gói, ghi nhãn, vận chuyển và bảo quản
Đây là những tiêu chuẩn quy định về cách ghi và nội dung ghi nhãn mác, cách bao gói, vật liệu bao gói, cấu tạo bao gói, yêu cầu về vận chuyển, bảo quản, thời hạn bảo quản
2 Tiêu chuẩn quá trình: Đưa ra các quy định mà một quá trình cần phải đáp ứng
để hoạt động hiệu quả Cụ thể:
Loại tiêu chuẩn này quy định những nguyên tắc, phương pháp, thủ tục; những yêu cầu cần thiết về kinh tế, kỹ thuật nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động được thống nhất, hợp lý, đem lại hiệu quả cao Các loại tiêu chuẩn chủ yếu trong nhóm này
là tiêu chuẩn về quy phạm, quy tắc, quy trình sản xuất
3 Tiêu chuẩn hệ thống của quản lý chất lượng
Loại tiêu chuẩn này là các tiêu chuẩn quy định các yêu cầu chung cho một hệ thống và cho các quá trình cấu thành nên hệ thống nhằm đạt được yêu cầu đầu ra của hệ thống đó
4 Tiêu chuẩn môi trường: Gồm các tiêu chuẩn quy định về ô nhiễm môi trường như: môi trường không khí, môi trường nước
1.2.1.3 Mục đích của tiêu chuẩn hóa công ty
- Thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, nâng cao hiệu quả của sản xuất và công tác, nâng cao hiệu quả của sản xuất và công tác, nâng cao năng suất lao động xã hội
- Tạo ra một chuẩn mực: Để thuận lợi cho trao đổi thông tin, để ổn định và nâng cao chất lượng sản phẩm, công trình; đơn giản hóa, thống nhất hóa tạo thuận lợi phân công, hợp tác sản xuất, tăng năng suất lao động, thuận tiện khi sử dụng, sửa chũa
- An toàn, vệ sinh, môi trường: Một số tiêu chuẩn công ty cụ thể hóa các điều
luật vệ sinh, an toàn và môi trường mà công ty phải thực hiện trong các trường hợp khác nhau: an toàn điện, an toàn cháy, nổ, giới hạn các chất độc hại và các điều kiện môi trường trong nơi sản xuất, làm việc Thực hiện các tiêu chuẩn này là nghĩa vụ của công ty trước pháp luật đồng thời cũng là điều kiện để đảm bảo năng suất, chất lượng
và hiệu quả sản xuất của công ty
- Thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh: Khi áp
dụng tiêu chuẩn sẽ giúp cho việc sản xuất được tiến hành theo kế hoạch và chương trình đã định một cách dễ ràng, nâng cao khả năng cạnh tranh, giảm chi phí sản xuất đồng thời tạo ra thương hiệu cho sản phẩm hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp Do
đó, khi doanh nghiệp áp dụng tiêu chuẩn cho sản phẩm, dịch vụ của mình hay các đối
Trang 40tượng vô hình sẽ giảm bớt tất cả các loại chi phí: nguyên vật liệu, thời gian, nhân lực
để làm tăng lợi nhuận, thúc đẩy tăng trưởng cho doanh nghiệp
Xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn làm cho công việc thiết kế nhanh chóng đơn giản hóa việc đặt mua và giao nhận nguyên vật liệu, giảm bớt chi phí do phải dự trữ và
do nguyên vật liệu không đạt yêu cầu, giảm bớt chi phí sửa chữa, gia công lại sản phẩm, giảm bớt chi phí do phải bồi thường và bảo hành sản phẩm, tất cả điều đó sẽ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp
- Thúc đẩy thương mại toàn cầu: Việc hòa nhập tiêu chuẩn giữa các nước xuất khẩu và nhập khẩu tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại toàn cầu: trao đổi hàng hóa sản phẩm, trao đổi thông tin Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, người ta cho rằng, tiêu chuẩn hóa có những mục đích chính như sau:
+ Thúc đẩy áp dụng kỹ thuật mới, nâng cao năng suất lao động xã hội
+ Ổn định và nâng cao chất lượng sản phẩm, công trình
+ Góp phần hoàn thiện tổ chức quản lý nền kinh tế quốc dân
+ Sử dụng hợp lý tài nguyên tiết kiệm nguyên vật liệu
+ Đảm bảo an toàn lao động, sức khỏe con người
+ Phục vụ tốt nhu cầu quốc phòng
+ Phát triển hợp tác quốc tế khoa học kỹ thuật, đẩy mạnh xuất khẩu, hướng dẫn nhập khẩu
1.2.1.4 Ý nghĩa và nhiệm vụ của tiêu chuẩn hóa công ty
a Ý nghĩa của tiêu chuẩn hóa công ty
Tiêu chuẩn hóa công ty là công cụ hữu hiệu trong hoạt động quản lý sản xuất,
kinh doanh, giúp nâng cao năng suất, chất lượng, tạo lợi thế cạnh tranh, qua đó doanh nghiệp có thể tạo được ảnh hưởng của mình đối với thị trường trong nước, mở rộng
khả năng xâm nhập thị trường quốc tế Mặt khác, tiêu chuẩn hóa giúp doanh nghiệp
kiểm soát các hoạt động nội bộ, hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo thế phát triển bền vững, lâu dài; tiêu chuẩn giúp doanh nghiệp trong việc thiết kế, sản xuất, kiểm tra sản phẩm, hàng hóa theo yêu cầu khác nhau của các quốc gia, các nhóm khách hàng, loại thị trường nhờ đó có thể đảm bảo sản phẩm, hàng hóa của doanh
nghiệp phù hợp với từng đối tượng khác nhau Tiêu chuẩn hóa giúp doanh nghiệp tạo
nên giá trị cao quý đối với xã hội như đảm bảo an toàn, vệ sinh, sức khoẻ, môi trường,
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các trách nhiệm xã hội
b Nhiệm vụ của tiêu chuẩn hóa công ty