1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030

167 780 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030 Xuất phát từ những thực tế trên, nhận thấy việc tiến hành rà soát tài nguyên, đánh giá thực trạng và xây dựng giải pháp phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ là một việc làm cấp thiết. Chính vì lẽ đó, tôi lựa chọn đề tài “Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030” để nghiên cứu, những mong đánh thức được tiềm năng, và định hướng phát triển du lịch phù hợp với giai đoạn phát triển chung của du lịch Việt Nam. 2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ 2.1. Mục đích của đề tài Trên cơ sở tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch và vận dụng vào địa bàn nghiên cứu, mục đích chính của đề tài là đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch ở tỉnh Phú Thọ để từ đó đề xuất một số định hướng và giải pháp phát triển nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch tỉnh Phú Thọ đến năm 2030. 2.2. Nhiệm vụ của đề tài Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây: - Tổng quan cơ sở lý luận, thực tiễn phát triển du lịch các tỉnh vùng Trung du miền núi Bắc Bộ để vận dụng vào việc nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Phú Thọ. - Kiểm kê, đánh giá những tiềm năng du lịch ở địa phương và phân tích thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ. Từ đó làm sáng tỏ những lợi thế so sánh và hạn chế đối với việc tổ chức và phát triển du lịch của tỉnh. - Bước đầu định hướng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch tỉnh Phú Thọ 3. GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI - Về nội dung: Đề tài tập trung đánh giá tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch theo hai khía cạnh ngành và lãnh thổ (các tuyến, điểm với các sản phẩm đặc trưng) - Về phạm vi lãnh thổ: Phạm vi nghiên cứu là địa bàn toàn tỉnh Phú Thọ. Ngoài ra, đề tài còn mở rộng nghiên cứu sang các tỉnh lân cận để thấy được mối liên hệ và so sánh giữa các tỉnh trong vùng Trung du miền núi Bắc Bộ. - Về thời gian: Đề tài tập trung thu thập số liệu, phân tích và nghiên cứu chủ yếu trong giai đoạn 2002 – 2012 với định hướng đến năm 2030. 4. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 4.1. Ở Việt Nam Trong công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, mang lại nhiều lợi ích cho đất nước, đòi hỏi các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu cũng như các nhà quản lí phải chú ý đến việc hoạch định chiến lược phát triển du lịch. Nhận thức được tầm quan trọng nói trên, các nhà khoa học, đi đầu là một số nhà địa lí chuyên nghiệp hàng đầu của đất nước đã có công trình nghiên cứu rất có giá trị. Khởi phát theo hướng gắn du lịch với địa lí học là công trình của Vũ Tuấn Cảnh với đề tài khoa học cấp Bộ: “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” (1991). Sau đó, năm 1995, các tác giả Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông đặt vấn đề về công tác quy hoạch phát triển du lịch trong bài báo đăng trên tạp chí Du lịch và Phát triển với tiêu đề “Một số vấn đề về phương pháp luận và phương pháp quy hoạch du lịch”. Các nhà địa lí Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ… đã giải quyết một số vấn đề quan trọng để định hướng phát triển ngành địa lí du lịch Việt Nam qua các công trình: “Cơ sở địa lý du lịch” – Nguyễn Minh Tuệ (1994); “Tổ chức lãnh thổ du lịch” – Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (1999)… Không chỉ quan tâm tới những vấn đề chung của đất nước, các nhà khoa học cũng để tâm nghiên cứu phát triển du lịch cho các địa phương. Tiêu biểu như luận án tiến sĩ: “Tổ chức lãnh thổ du lịch thành phố Hải Phòng” – Nguyễn Thanh Sơn (1997); “Phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh với việc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận” – Đỗ Quốc Thông (2004); “Tổ chức lãnh thổ du lịch Hòa Bình trên quan điểm bền vững” – Phạm Lê Thảo (2006); luận văn thạc sĩ “Phát triển du lịch tỉnh Kon Tum trong xu thế hội nhập” – Thái Huỳnh Anh Chi (2010); và một số báo cáo có giá trị trên các tạp chí: Du lịch Việt Nam, Nghiên cứu kinh tế, Toàn cảnh sự kiện và dư luận. Nhìn một cách tổng quan, các công trình nghiên cứu về du lịch cũng như các hoạt động thực tiễn phát triển du lịch không chỉ có tầm quan trọng trong chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước, mà còn là nguồn lực mới mẻ, mạnh mẽ tiếp sức cho khoa học địa lí gắn mình với thực tiễn cuộc sống của xã hội, đất nước, đem lại cơ hội mới cho địa lí học đổi mới và phát triển. 4.2. Ở Phú Thọ Với sự phát triển non trẻ của ngành du lịch tỉnh Phú Thọ, hiện nay, các công trình nghiên cứu về du lịch của tỉnh Phú Thọ mới chỉ dừng lại ở một số báo cáo như: “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Phú Thọ - 2001”; Sở Văn hóa – thể thao – du lịch tỉnh Phú Thọ đưa ra “Báo cáo tổng hợp quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 – 2020, định hướng đến năm 2030” tháng 11 – 2012. Một số luận văn tốt nghiệp cao học đã bước đầu nghiên cứu về tài nguyên du lịch và quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh, tiêu biểu như luận văn thạc sĩ “Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Thọ” của Ngô Thị Thu Hằng năm 2012, đề tài tập trung vào việc đưa ra một số hình thức trong tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh (bao gồm điểm, cụm và tuyến du lịch) giai đoạn 2006 – 2011. Như vậy, việc tập trung đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch theo hai khía cạnh ngành và lãnh thổ chưa được nghiên cứu một cách sát đáng. 5. QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5.1. Quan điểm nghiên cứu 5.1.1. Quan điểm hệ thống Đây là quan điểm được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu du lịch. Theo quan điểm này, mỗi một đối tượng nghiên cứu được coi là một hệ thống có nhiều yếu tố cấu thành và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Khi nghiên cứu một đối tượng phải đặt nó trong mối tương quan với các đối tượng khác, với các yếu tố trong hệ thống cao hơn cũng như với cấp phân vị thấp hơn. Với ý nghĩa đó, du lịch Phú Thọ được xem như một bộ phận của các hệ thống du lịch có quy mô lớn hơn và cấp phân vị cao hơn là hệ thống du lịch trung tâm du lịch Hà Nội và vùng phụ cận cũng như hệ thống du lịch vùng du lịch trung du miền núi Bắc Bộ và hệ thống du lịch cả nước. Như vậy, du lịch Phú Thọ với tư cách là một bộ phận của hệ thống cấp cao hơn phải vận động theo quy luật của toàn hệ thống và việc nghiên cứu đầy đủ các thuộc tính du lịch của hệ thống có giá trị thực tiễn để vận dụng vào tổ chức và kinh doanh du lịch. 5.1.2. Quan điểm tổng hợp Xuất phát từ chỗ coi hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống xã hội được tạo thành bởi các thành tố: Tự nhiên, văn hóa, lịch sử, con người có mối quan hệ qua lại gắn bó với nhau, do đó việc vận dụng quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trên quan điểm đó, khi đánh giá về tài nguyên du lịch phải được xem xét một cách tổng hợp kể cả tài nguyên nhân văn và tài nguyên tự nhiên; cũng vậy trong quá trình khái quát về thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Phú Thọ cũng phải phân tích các khía cạnh: Lượt khách, doanh thu, du lịch… Từ quan điểm tổng hợp để có thể nhìn nhận, đánh giá cách đối tượng du lịch một cách đồng bộ, hình thành nên các điểm, tuyến, khu du lịch hiệu quả, đạt được những giá trị đồng bộ về các mặt kinh tế - xã hội và môi trường. 5.1.3. Quan điểm lãnh thổ Quan điểm lãnh thổ cho rằng các đối tượng nghiên cứu được phân bố trên phạm vi không gian lãnh thổ nhất định và có đặc điểm riêng. Xem xét hoạt động du lịch trong mối quan hệ với đặc điểm lãnh thổ nhằm khái quát được đặc trưng của du lịch trên từng địa bàn nghiên cứu. Và để mang lại hiệu quả tổ chức kinh doanh du lịch, cần tìm ra sự khác biệt trong từng đơn vị lãnh thổ từ đó tạo ra được sản phẩm du lịch đặc trưng, khai thác được các thế mạnh, khắc phục những hạn chế. 5.1.4. Quan điểm lịch sử và viễn cảnh Phú Thọ là một vùng đất lưu giữ bề dày lịch sử và có nền văn hoá nguồn cội. Trải qua lịch sử phát triển hàng nghìn năm với bao thăng trầm, đến nay vùng đất này còn lưu giữ được những đặc điểm riêng biệt, đặc sắc về tự nhiên, văn hoá và con người. Những đặc điểm này đã được khai thác cho phát triển kinh tế nói chung, du lịch nói riêng của địa phương. Sử dụng quan điểm lịch sử để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, diễn biến quá trình khai thác, kết quả khai thác, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để có được những nhận định, những phương án, những dự báo chính xác và giúp cho việc tổ chức du lịch trên địa bàn mang tính hiệu quả và bền vững. 5.1.5. Quan điểm phát triển bền vững Phát triển du lịch phải gắn với việc bảo vệ và tôn tạo nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bền vững. Từ đó đặt ra các kế hoạch và cơ chế quản lý phù hợp với việc khai thác các giá trị thiên nhiên, nhân văn sao cho môi trường cảnh quan tự nhiên và các khu danh thắng ít bị xâm hại bởi các hoạt động phát triển du lịch có tính nhạy cảm cao cả về tự nhiên và nhân văn. Phát triển du lịch nói riêng, quy hoạch du lịch nói chung cũng cần phải gắn với việc bảo vệ môi trường xã hội trong sạch. Cần có biện pháp tổ chức quản lý chặt chẽ để ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực từ các hoạt động du lịch đến môi trường văn hoá xã hội trên địa bàn lãnh thổ. 5.1.6. Quan điểm kinh tế Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, là ngành kinh tế tổng hợp liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau của nền kinh tế xã hội. Trong quá trình phát triển của các điểm đến du lịch ngoài việc xuất hiện những tình huống về kỹ thuật còn có những tình huống về kinh tế - xã hội mà nếu không được giải quyết thấu đáo sẽ gây những hậu quả khó khắc phục. Chính vì vậy, phát triển du lịch vừa phải đưa ra những giải pháp khai thác có hiệu quả các tài nguyên du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn của tỉnh vừa phải giải quyết được mối quan hệ của các ngành kinh tế có liên quan đến hoạt động du lịch, nhằm mục đích thúc đẩy phát triển kinh tế nhưng vẫn giữ được sự cân bằng giữa các vấn đề trong xã hội. 5.2. Phương pháp nghiên cứu của đề tài 5.2.1. Phương pháp thu thập, tổng hợp, xử lý phân tích tài liệu Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến ở tất cả các công trình nghiên cứu khoa học. Việc vận dụng phương pháp này nhằm đảm bảo tính kế thừa nghiên cứu của các công trình trước đó, giúp tiết kiệm thời gian và công sức, giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể về đề tài nghiên cứu. Nguồn tài liệu được lấy từ nhiều đơn vị khác nhau: sách, báo, tạp chí khoa học, các Sở ban ngành có liên quan (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Tài nguyên và môi trường, Sở Kế hoạch và đầu tư, Cục Thống kê…), các phương tiện thông tin đại chúng… Các tài liệu này được bao gồm các tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp. Việc phân loại tài liệu giúp chúng ta dễ dàng tra cứu và cập nhật thông

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Được đánh giá là một trong những ngành kinh tế có khả năng cạnh tranh cao, du lịch Việt Nam đã sớm được hình thành và phát triển Nhiều tiềm năng du lịch đã trở thành hiện thực; nhiều thắng cảnh, di tích là điểm đến lý tưởng với du khách trong nước và bạn bè quốc tế Cùng với thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã tích cực hội nhập và mở cửa nền kinh tế như một sự phát triển tất yếu, hợp quy luật Và trong mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung, du lịch được xác định là một ngành “kinh tế mũi nhọn” Trên cơ sở đó, tiến hành quy hoạch tổng thể phát triển du lịch cho từng vùng và định hướng khai thác phát triển một số cụm, tuyến du lịch mới có ý nghĩa thiết thực đối với địa phương Đồng thời, nhấn mạnh đặc biệt quan tâm đến các vùng chậm phát triển kinh tế có nhiều tiềm năng du lịch

Phú Thọ là một tỉnh thuộc Trung du miền núi Bắc Bộ, cửa ngõ phía Tây Bắc của thủ đô Hà Nội, điểm trung chuyển giữa Đông và Tây Bắc, một trong những địa phương có tiềm năng du lịch khá toàn diện và nhiều lợi thế

để phát triển du lịch Nằm trong khu vực giao lưu giữa vùng núi Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và vùng núi Tây Bắc, vị trí địa lý mang ý nghĩa trung tâm của tiểu vùng Tây – Đông – Bắc đem lại lợi thế trong mối liên kết vùng phát triển du lịch Các điều kiện tự nhiên của Phú Thọ, đặc biệt là địa hình trung du đa dạng đã tạo cho Phú Thọ có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên khá phong phú và hấp dẫn để khai thác các loại hình du lịch tham quan, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng chữa bệnh, thể thao, sinh thái… Phú Thọ có nền văn hóa rực rỡ từ lâu đời để lại hệ thống di sản văn hóa có giá trị phục vụ du lịch cao Trong đó nổi bật là quần thể di tích lịch sử đền Hùng được công nhận là

di tích lịch sử văn hóa đặc biệt cấp Quốc gia gắn với lễ hội giỗ tổ Hùng Vương, hàng năm thu hút đông đảo khách du lịch người Việt Nam từ khắp

Trang 2

mọi miền đất nước; ngoài ra còn có hát Xoan được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 2011 và nhiều tài nguyên du lịch có ý nghĩa khác

Cùng với tiến trình phát triển du lịch của cả nước, du lịch tỉnh Phú Thọ

đã đạt được những thành tựu đáng kể Ngành du lịch Phú Thọ đã có đóng góp nhất định vào tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường và giữ vững quốc phòng, an ninh Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, du lịch Phú Thọ còn nhiều hạn chế, bất cập, nhiều khó khăn, trở ngại, chưa có bước phát triển đột phá để khẳng định thực sự là ngành kinh tế mũi nhọn; kết quả chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh; phát triển nhưng vẫn ẩn chứa nhiều nguy cơ, yếu tố thiếu bền vững Những năm gần đây, xu hướng hội nhập, hợp tác, cạnh tranh toàn cầu, giao lưu mở rộng và tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong nền kinh tế tri thức trên thế giới đang tạo những cơ hội to lớn, đồng thời cũng là thách thức đối với phát triển du lịch cả nước trong đó có du lịch Phú Thọ

Xuất phát từ những thực tế trên, nhận thấy việc tiến hành rà soát tài nguyên, đánh giá thực trạng và xây dựng giải pháp phát triển du lịch tỉnh Phú

Thọ là một việc làm cấp thiết Chính vì lẽ đó, tôi lựa chọn đề tài “Phát triển

du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030”

để nghiên cứu, những mong đánh thức được tiềm năng, và định hướng phát triển du lịch phù hợp với giai đoạn phát triển chung của du lịch Việt Nam

2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ

2.1 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở tổng quan cơ sở lí luận và thực tiễn về phát triển du lịch và vận dụng vào địa bàn nghiên cứu, mục đích chính của đề tài là đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch ở tỉnh Phú Thọ để từ đó đề xuất một số định hướng

và giải pháp phát triển nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch tỉnh Phú Thọ đến năm 2030

2.2 Nhiệm vụ của đề tài

Trang 3

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đã đề ra luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau đây:

- Tổng quan cơ sở lý luận, thực tiễn phát triển du lịch các tỉnh vùng Trung

du miền núi Bắc Bộ để vận dụng vào việc nghiên cứu tại địa bàn tỉnh Phú Thọ

- Kiểm kê, đánh giá những tiềm năng du lịch ở địa phương và phân tích thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ Từ đó làm sáng tỏ những lợi thế so sánh và hạn chế đối với việc tổ chức và phát triển du lịch của tỉnh

- Bước đầu định hướng và đề xuất giải pháp phát triển du lịch nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch tỉnh Phú Thọ

3 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

- Về nội dung:

Đề tài tập trung đánh giá tiềm năng và thực trạng hoạt động du lịch theo hai khía cạnh ngành và lãnh thổ (các tuyến, điểm với các sản phẩm đặc trưng)

- Về phạm vi lãnh thổ:

Phạm vi nghiên cứu là địa bàn toàn tỉnh Phú Thọ Ngoài ra, đề tài còn

mở rộng nghiên cứu sang các tỉnh lân cận để thấy được mối liên hệ và so sánh giữa các tỉnh trong vùng Trung du miền núi Bắc Bộ

Trong công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động du lịch

đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, mang lại nhiều lợi ích cho đất nước, đòi hỏi các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu cũng như các nhà quản lí phải chú

ý đến việc hoạch định chiến lược phát triển du lịch

Nhận thức được tầm quan trọng nói trên, các nhà khoa học, đi đầu là một số nhà địa lí chuyên nghiệp hàng đầu của đất nước đã có công trình

Trang 4

nghiên cứu rất có giá trị Khởi phát theo hướng gắn du lịch với địa lí học là

công trình của Vũ Tuấn Cảnh với đề tài khoa học cấp Bộ: “Tổ chức lãnh thổ

du lịch Việt Nam” (1991) Sau đó, năm 1995, các tác giả Vũ Tuấn Cảnh, Lê

Thông đặt vấn đề về công tác quy hoạch phát triển du lịch trong bài báo đăng

trên tạp chí Du lịch và Phát triển với tiêu đề “Một số vấn đề về phương pháp luận và phương pháp quy hoạch du lịch” Các nhà địa lí Lê Thông, Nguyễn

Minh Tuệ… đã giải quyết một số vấn đề quan trọng để định hướng phát triển

ngành địa lí du lịch Việt Nam qua các công trình: “Cơ sở địa lý du lịch” – Nguyễn Minh Tuệ (1994); “Tổ chức lãnh thổ du lịch” – Lê Thông, Nguyễn

“Tổ chức lãnh thổ du lịch Hòa Bình trên quan điểm bền vững” – Phạm Lê Thảo (2006); luận văn thạc sĩ “Phát triển du lịch tỉnh Kon Tum trong xu thế hội nhập” – Thái Huỳnh Anh Chi (2010); và một số báo cáo có giá trị trên các

tạp chí: Du lịch Việt Nam, Nghiên cứu kinh tế, Toàn cảnh sự kiện và dư luận

Nhìn một cách tổng quan, các công trình nghiên cứu về du lịch cũng như các hoạt động thực tiễn phát triển du lịch không chỉ có tầm quan trọng trong chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế của đất nước, mà còn là nguồn lực mới mẻ, mạnh mẽ tiếp sức cho khoa học địa lí gắn mình với thực tiễn cuộc sống của xã hội, đất nước, đem lại cơ hội mới cho địa

lí học đổi mới và phát triển

Trang 5

thể thao – du lịch tỉnh Phú Thọ đưa ra “Báo cáo tổng hợp quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 – 2020, định hướng đến năm 2030” tháng 11 –

2012 Một số luận văn tốt nghiệp cao học đã bước đầu nghiên cứu về tài nguyên

du lịch và quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh, tiêu biểu như luận văn thạc sĩ “Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Thọ” của Ngô Thị Thu Hằng năm 2012, đề tài tập

trung vào việc đưa ra một số hình thức trong tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh (bao gồm điểm, cụm và tuyến du lịch) giai đoạn 2006 – 2011 Như vậy, việc tập trung đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch theo hai khía cạnh ngành và lãnh thổ chưa được nghiên cứu một cách sát đáng

5 QUAN ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

5.1 Quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm hệ thống

Đây là quan điểm được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu du lịch Theo quan điểm này, mỗi một đối tượng nghiên cứu được coi là một hệ thống có nhiều yếu tố cấu thành và có mối quan hệ mật thiết với nhau Khi nghiên cứu một đối tượng phải đặt nó trong mối tương quan với các đối tượng khác, với các yếu tố trong hệ thống cao hơn cũng như với cấp phân vị thấp hơn Với ý nghĩa đó, du lịch Phú Thọ được xem như một bộ phận của các hệ thống du lịch có quy mô lớn hơn và cấp phân vị cao hơn là hệ thống du lịch trung tâm

du lịch Hà Nội và vùng phụ cận cũng như hệ thống du lịch vùng du lịch trung

du miền núi Bắc Bộ và hệ thống du lịch cả nước Như vậy, du lịch Phú Thọ với tư cách là một bộ phận của hệ thống cấp cao hơn phải vận động theo quy luật của toàn hệ thống và việc nghiên cứu đầy đủ các thuộc tính du lịch của hệ

thống có giá trị thực tiễn để vận dụng vào tổ chức và kinh doanh du lịch

5.1.2 Quan điểm tổng hợp

Xuất phát từ chỗ coi hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống xã hội được tạo thành bởi các thành tố: Tự nhiên, văn hóa, lịch sử, con người có mối quan hệ qua lại gắn bó với nhau, do đó việc vận dụng quan điểm tổng hợp trong nghiên cứu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Trên quan điểm đó, khi đánh

Trang 6

giá về tài nguyên du lịch phải được xem xét một cách tổng hợp kể cả tài nguyên nhân văn và tài nguyên tự nhiên; cũng vậy trong quá trình khái quát

về thực trạng hoạt động du lịch tỉnh Phú Thọ cũng phải phân tích các khía cạnh: Lượt khách, doanh thu, du lịch… Từ quan điểm tổng hợp để có thể nhìn nhận, đánh giá cách đối tượng du lịch một cách đồng bộ, hình thành nên các điểm, tuyến, khu du lịch hiệu quả, đạt được những giá trị đồng bộ về các mặt kinh tế - xã hội và môi trường

5.1.3 Quan điểm lãnh thổ

Quan điểm lãnh thổ cho rằng các đối tượng nghiên cứu được phân bố trên phạm vi không gian lãnh thổ nhất định và có đặc điểm riêng Xem xét hoạt động du lịch trong mối quan hệ với đặc điểm lãnh thổ nhằm khái quát được đặc trưng của du lịch trên từng địa bàn nghiên cứu Và để mang lại hiệu quả tổ chức kinh doanh du lịch, cần tìm ra sự khác biệt trong từng đơn vị lãnh thổ từ đó tạo ra được sản phẩm du lịch đặc trưng, khai thác được các thế mạnh, khắc phục những hạn chế

5.1.4 Quan điểm lịch sử và viễn cảnh

Phú Thọ là một vùng đất lưu giữ bề dày lịch sử và có nền văn hoá nguồn cội Trải qua lịch sử phát triển hàng nghìn năm với bao thăng trầm, đến nay vùng đất này còn lưu giữ được những đặc điểm riêng biệt, đặc sắc về tự nhiên, văn hoá và con người Những đặc điểm này đã được khai thác cho phát triển kinh tế nói chung, du lịch nói riêng của địa phương Sử dụng quan điểm lịch sử để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, diễn biến quá trình khai thác, kết quả khai thác, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm để có được những nhận định, những phương án, những dự báo chính xác và giúp cho việc tổ chức du lịch trên địa bàn mang tính hiệu quả và bền vững

5.1.5 Quan điểm phát triển bền vững

Phát triển du lịch phải gắn với việc bảo vệ và tôn tạo nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bền vững Từ đó đặt ra các kế hoạch và cơ chế quản lý phù hợp với việc khai thác các giá trị thiên nhiên, nhân văn sao cho môi

Trang 7

trường cảnh quan tự nhiên và các khu danh thắng ít bị xâm hại bởi các hoạt động phát triển du lịch có tính nhạy cảm cao cả về tự nhiên và nhân văn Phát triển du lịch nói riêng, quy hoạch du lịch nói chung cũng cần phải gắn với việc bảo vệ môi trường xã hội trong sạch Cần có biện pháp tổ chức quản lý chặt chẽ để ngăn ngừa những ảnh hưởng tiêu cực từ các hoạt động du lịch đến môi trường văn hoá xã hội trên địa bàn lãnh thổ

5.1.6 Quan điểm kinh tế

Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, là ngành kinh tế tổng hợp liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau của nền kinh tế xã hội Trong quá trình phát triển của các điểm đến du lịch ngoài việc xuất hiện những tình huống về kỹ thuật còn có những tình huống về kinh tế - xã hội mà nếu không được giải quyết thấu đáo sẽ gây những hậu quả khó khắc phục

Chính vì vậy, phát triển du lịch vừa phải đưa ra những giải pháp khai thác có hiệu quả các tài nguyên du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn của tỉnh vừa phải giải quyết được mối quan hệ của các ngành kinh tế có liên quan đến hoạt động du lịch, nhằm mục đích thúc đẩy phát triển kinh tế nhưng vẫn giữ được sự cân bằng giữa các vấn đề trong xã hội

5.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

5.2.1 Phương pháp thu thập, tổng hợp, xử lý phân tích tài liệu

Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến ở tất cả các công trình nghiên cứu khoa học Việc vận dụng phương pháp này nhằm đảm bảo tính kế thừa nghiên cứu của các công trình trước đó, giúp tiết kiệm thời gian và công sức, giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể về đề tài nghiên cứu Nguồn tài liệu được lấy từ nhiều đơn vị khác nhau: sách, báo, tạp chí khoa học, các Sở ban

ngành có liên quan (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Tài nguyên và môi trường, Sở Kế hoạch và đầu tư, Cục Thống kê…), các phương tiện thông tin

đại chúng… Các tài liệu này được bao gồm các tài liệu sơ cấp và tài liệu thứ cấp Việc phân loại tài liệu giúp chúng ta dễ dàng tra cứu và cập nhật thông

Trang 8

tin khi cần thiết Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu bao gồm 2 dạng chính:

- Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu trong phòng

- Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu ngoài trời

Tổng hợp và phân tích những kết qua đạt được, những tồn tại, yếu kém, các xu hướng phát triển du lịch của khu vực và thế giới trong hoàn cảnh mới

từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn tiếp theo phù hợp tình hình, nhiệm vụ mới Trong các tài liệu thu thập được đáng chú ý nhất là các tài liệu thống kê Việc thu thập, phân tích và tổng hợp các tài liệu này phục vụ cho việc nhận định, đánh giá, dự báo

xu hướng phát triển của đối tượng nghiên cứu (số lượng khách, doanh thu, mức tăng trưởng du lịch, cơ sở lưu trú…) trên cơ sở khoa học và thực tiễn

2002 – 2012, có so sánh kết quả thực hiện đến năm 2030

5.2.3 Phương pháp bản đồ, biểu đồ

Bản đồ giữ vai trò quan trọng trong nghiên cứu Địa lí, nó được đánh giá là α và ε của Địa lí (pha mở đầu và pha kết thúc) Bản đồ được sử dụng chủ yếu theo hướng chuyên ngành với việc thể hiện các điểm, tuyến du lịch quan trọng có ý nghĩa quốc gia, vùng, địa phương Cùng với hệ thống các

Trang 9

biểu đồ, nó giúp công trình nghiên cứu trực quan, sinh động, khoa học trên cơ

sở phân tích các chỉ tiêu định tính và định lượng

Quá trình thành lập bản đồ, biểu đồ có sự hỗ trợ đắc lực của máy tính

và một số phần mềm: M Office, MapInfo 9.2…

5.2.4 Phương pháp thang điểm tổng hợp

Phương pháp này dựa vào phân tích và đánh giá điểm cho các chỉ tiêu dựa trên những tiêu chí đánh giá một điểm, tuyến du lịch Tùy theo mức độ quan trọng khác nhau của các tiêu chí ảnh hưởng đến điểm, tuyến du lịch mà mỗi tiêu chí sẽ cho hệ số điểm khác nhau

Điểm tổng hợp sau khi đã xét đầy đủ các tiêu chí sẽ cho kết quả cuối cùng để phân loại điểm, tuyến du lịch mang ý nghĩa quốc gia (quốc tế), vùng, địa phương hoặc điểm, tuyến du lịch tiềm năng

Phương pháp này có ưu điểm là định lượng được các giá trị của các điểm, tuyến du lịch dựa trên các tiêu chí cho trước, tuy nhiên cũng cần phải xem xét tính chủ quan của người đánh giá

5.2.5 Phương pháp chuyên gia

Phương pháp chuyên gia là phương pháp quan trọng được vận dụng thông qua việc xin ý kiến chỉ đạo, đóng góp về nội dung và phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiên đề tài tác giả đã tham khảo ý kiến của các cán bộ, các nhà nghiên cứu trong vấn đề khai thác các giá trị văn hóa, tự nhiên và định hướng quy hoạch, tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Phú Thọ từ các

cơ quan: sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, viện Nghiên cứu phát triển du lịch

6 ĐÓNG GÓP CHỦ YẾU CỦA ĐỀ TÀI

- Góp phần áp dụng cơ sở lí luận và thực tiễn vào phát triển du lịch và vận dụng chúng vào tỉnh Phú Thọ

- Phân tích được tiềm năng để phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ với những thuận lợi và khó khăn cụ thể

Trang 10

- Trình bày được thực trạng phát triển du lịch theo ngành và theo lãnh thổ ở địa bàn nghiên cứu

- Đề xuất được định hướng và một số giải pháp để phát triển mạnh hơn ngành du lịch tỉnh Phú Thọ trong những năm tiếp theo

7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị cùng tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án được bố cục thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch

Chương 2: Tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ

Chương 3: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 - 2012 Chương 4: Định hướng và một số giải pháp phát triển du lịch tỉnh Phú

Thọ đến năm 2030

Trang 11

11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1.1.1 Lý luận chung về hoạt động du lịch

1.1.1.1 Một số khái niệm liên quan du lịch

a Khái niệm du lịch

Du lịch ngày nay là một đề tài hấp dẫn và đã trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu Song do sự khác nhau về góc độ tiếp cận, về ngôn ngữ, cách hiểu và do tính chất đặc thù của hoạt động du lịch mà có nhiều quan

niệm khác nhau về du lịch Định nghĩa “Du lịch” đã thay đổi theo thời gian

để dần hoàn thiện Từ chỗ chỉ coi “giải trí” là động lực chính của hoạt động

du lịch, đến chỗ tiếp cận du lịch dựa trên nền móng cung du lịch (TS Hunziker và GS.TS Krepf) Dưới con mắt các nhà kinh tế, du lịch không chỉ

là một hiện tượng xã hội đơn thuần mà nó phải gắn chặt với hiện tượng kinh

tế Tuy nhiên mỗi học giả có những nhận định khác nhau Các nhà kinh tế du lịch thuộc trường Đại học Kinh tế Praha (Cộng hòa Séc) mà đại diện là Mariot

coi “du lịch là tập hợp các hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan đến cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ ở ngoài nơi ở thường xuyên với nhiều mục đích khác nhau loại trừ mục đích hành nghề và thăm viếng có tổ chức thường xuyên” [14;6]

Các chuyên gia nghiên cứu về du lịch thấy rằng yếu tố kinh tế là không thể thiếu được trong khái niệm du lịch Song thực tế chỉ ra rằng, tiếp cận cộng đồng mới đảm bảo cho sự phát triển lâu dài Dựa trên tiếp cận này Michael M

Coltman đã định nghĩa “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của bốn nhóm nhân tố trong quá trình phục vụ du khách bao gồm: Du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch” [15;6]

Có thể thể hiện mối quan hệ đó bằng sơ đồ sau:

Trang 12

Sơ đồ : Mối quan hệ giữa 4 nhóm nhân tố của Du lịch [15;6]

Gần đây, khoa Du lịch và Khách sạn – Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội đã dựa trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn du lịch trên

thế giới và ở Việt Nam để đưa ra định nghĩa: “Du lịch là một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về

đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu cầu khác của khách du lịch Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp” [16;6]

Tựu trung lại, du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép Một mặt mang ý nghĩa thông thường là hiện tượng xã hội chỉ việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi, giải trí… Mặt khác, du lịch được nhìn nhận như là hoạt động gắn chặt với kết quả kinh tế - sản xuất, tiêu thụ do chính nó tạo ra

Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, điều 4, chương I định nghĩa“Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ ngơi trong một khoảng thời gian nhất định” [8]

b Khách du lịch

Khái niệm “Khách du lịch” hay “du khách” xuất hiện lần đầu tiên tại Pháp vào cuối thế kỉ XVIII Tới nay đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về khách du lịch, song nhìn chung chúng đều đề cập đến:

- Động cơ khởi hành (có thể là đi tham quan, nghỉ dưỡng, thăm người thân, kết hợp kinh doanh… trừ động cơ lao động kiếm tiền)

- Yếu tố thời gian (phân biệt giữa khách tham quan trong ngày và

Trang 13

khách nghỉ qua đêm hoặc có sử dụng một tối trọ)

- Những đối tượng được liệt kê là khách du lịch và những đối tượng

không được liệt kê là khách du lịch” [9;25]

Theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005, điều 4, chương I thì “Khách

du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến” [8]

Khách du lịch được phân chia làm 2 nhóm cơ bản: Khách du lịch quốc

tế và khách du lịch nội địa Ngày 4-3-1993 Hội đồng Thống kê Liên hiệp

quốc đã công nhận thuật ngữ sau:

- Khách du lịch quốc tế (International tourist) bao gồm: Khách du lịch quốc tế đến (Inbound tourist) gồm những người từ nước ngoài đến du lịch trong một quốc gia Và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài (Outbound tourist) gồm những người đang sống trong một quốc gia đi du lịch nước ngoài

- Khách du lịch trong nước (Internal tourist): Gồm những người là công dân một quốc gia và những người nước ngoài đang sống trên lãnh thổ một quốc gia đó đi du lịch trong nước

+ Khách du lịch nội địa (Domestic tourist): Gồm khách du lịch trong nước và khách du lịch quốc tế đến

+ Khách du lịch quốc gia (National tourist): bao gồm khách du lịch

trong nước và khách du lịch quốc tế ra nước ngoài ”[8;25]

Tại Điều 34, Chương V, luật Du lịch quy định :

Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch” [8]

c Tài nguyên du lịch

Trang 14

Tài nguyên du lịch được xem như là tiền đề phát triển du lịch Tài nguyên du lịch càng phong phú, đặc sắc có mức độ tập trung cao thì càng có sức hấp dẫn với khách và có hiệu quả kinh doanh du lịch cao

“Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố

cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch” (Khoản 4, Điều 4, Chương I, Luật Du lịch) [8]

Tài nguyên du lịch được chia thành hai nhóm : Tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn

“Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch” [38;25]

“Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch” [57;25]

d Sản phẩm du lịch

 Khái niệm sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hóa cung cấp cho du khách; được tạo nên bởi sự kết hợp của việc kết hợp khai thác các yếu tố tự nhiên, xã hội với việc sử dụng các nguồn lực là: Cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động tại một cơ sở, một vùng hay một quốc gia nào đó [6]

Theo Luật Du lịch Việt Nam, năm 2005, điểm 10, điều 4: “Sản phẩm

du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” [8]

 Những bộ phận hợp thành sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch = Dịch vụ du lịch + Tài nguyên du lịch

Trang 15

Trong đó, tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn Còn dịch vụ du lịch, xét dưới góc độ là quá trình tiêu dùng của khách du lịch, có thể được tổng hợp theo các nhóm cơ bản sau:

- Dịch vụ vận chuyển

- Dịch vụ lưu trú, ăn uống

- Dịch vụ tham quan, giải trí

- Hàng hoa tiêu dùng và đồ lưu niệm

- Ngoài ra, còn có các dịch vụ trung gian và dịch vụ bổ sung, bao gồm: + Dịch vụ thu gom, sắp xếp các dịch vụ riêng lẻ thành một sản phẩm du lịch + Dịch vụ bán lẻ sản phẩm du lịch: Cung cấp thông tin và bán lẻ các sản phẩm du lịch cho khách du lịch

 Đặc trưng cơ bản của sản phẩm du lịch

- Sản phẩm du lịch có tính tổng hợp: Nó kết hợp các loại dịch vụ do nhiều đơn vị cá nhân, thuộc các ngành khác nhau cung cấp

- Sản phẩm du lịch chủ yếu tồn tại ở dạng vô hình Tuy sản phẩm du lịch bao gồm cả yếu tố hữu hình và vô hình, nhưng yếu tố hữu hình là hàng hóa chiếm tỷ trọng nhỏ, trong khi yếu tố vô hình là dịch vụ thường chiếm 80 – 90% về giá trị Do đó việc đánh giá chất lượng sản phẩm du lịch rất khó khăn, thường mang tính chủ quan và phụ thuộc vào khách du lịch

- Sản phẩm du lịch thường được tạo ra gắn liền với yếu tố tài nguyên du lịch Do đó, không thể đưa sản phẩm du lịch đến nơi có khách du lịch, mà thực tế buộc khách du lịch phải đến nơi có sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu của mình

- Phần lớn quá trình tạo ra và tiêu dùng các sản phẩm du lịch trùng nhau

về không gian và thời gian Không bán được cũng có nghĩa là không thể lưu kho

và hầu như không còn giá trị, do đó phần lớn sản phẩm du lịch tự tiêu hao

- Việc tiêu dùng sản phẩm du lịch thường không diễn ra đều đặn mà có thể tập trung vào thời gian nhất định, tạo nên tính mùa trong hoạt động kinh doanh du lịch

Trang 16

- Sản phẩm du lịch không có tính đồng nhất: Các nhân viên không thể tạo ra những sản phẩm như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau Khách du lịch khác nhau trong những thời gian, bối cảnh khác nhau cũng có những cảm nhận khác nhau về sản phẩm du lịch

e Các loại hình du lịch

Có nhiều cách phân loại các loại hình du lịch tùy theo tiêu chí khác nhau, các chuyên gia du lịch Việt Nam thường phân chia theo các tiêu chí cơ bản sau [25]:

- Theo nhu cầu của khách: Du lịch chữa bệnh, nghỉ ngơi, thể thao, văn hóa, công vụ, tôn giáo, thăm hỏi…

- Theo phạm vi lãnh thổ: Du lịch nội địa, du lịch quốc tế

- Theo vị trí địa lí các cơ sở du lịch: Du lịch nghỉ biển, nghỉ núi

- Theo việc sử dụng các phương tiện giao thông: Du lịch xe đạp, máy bay, ô tô, tầu hỏa, tầu thủy

- Theo thời gian của cuộc hành trình: Du lịch ngắn ngày, dài ngày

- Theo lứa tuổi: Du lịch thanh niên, thiếu niên, gia đình

b Chức năng kinh tế

Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, sự phát triển du lịch giúp đa dạng hóa và kích thích sự phát triển của các ngành kinh tế khác: Giao thông vận tải, nông nghiệp, công nghiệp, thương mại… Ngoài ra, còn tăng cường cơ

Trang 17

sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật cho cộng đồng Tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống nhân dân

Ở một khía cạnh gián tiếp, du lịch còn tác động đến kinh tế của một quốc gia thông qua việc phục hồi sức khỏe, khả năng lao động và đảm bảo tái sản xuất mở rộng lực lượng lao động với hiệu quả kinh tế rõ rệt [25]

c Chức năng sinh thái

Chức năng sinh thái của du lịch thể hiện qua việc tạo môi trường sống

ổn định về mặt sinh thái, giúp con người sống hòa hợp với thiên nhiên Tiềm năng tự nhiên đối với du lịch của lãnh thổ góp phần tối ưu hóa tác động qua lại giữa con người với môi trường tự nhiên trong điều kiện công nghiệp hóa,

đô thị hóa

Du lịch góp phần vào việc bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên, giúp khai thác tốt hơn, có hiệu quả hơn các không gian đẹp, cảnh quan thiên nhiên; thúc đẩy việc nghiên cứu, phát hiện công nhận thêm các vườn quốc gia, các khu bảo tồn mới, tăng cường đầu tư làm phong phú hơn các không gian du lịch, làm tăng khối lượng và chất lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Hơn thế nữa, du lịch còn nâng cao nhận thức của con người về giá trị của tự nhiên, thay đổi thái độ và hành vi đối với môi trường thiên nhiên

d Chức năng chính trị

Không phải ngẫu nhiên mà chủ đề du lịch được đưa ra năm 1967 là

“Du lịch – giấy thông hành của hòa bình” Du lịch như một nhân tố củng cố hòa bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Du lịch quốc tế làm cho con người ở các khu vực khác nhau hiểu biết

và xích lại gần nhau

1.1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch

a Vị trí địa lí

Trang 18

Vị trí địa lí là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch Ý nghĩa của vị trí địa lí đối với sự phát triển du lịch thể hiện qua sự ảnh hưởng của nó đến đặc điểm một vài thành phần của môi trường địa lí: Khí hậu, mạng lưới thủy văn, thực vật là tiền đề cho sự phát triển các loại hình du lịch khác nhau; nhiều khi chính do vị trí thuận lợi mà quyết định hướng các luồng du lịch tới một nước hay một vùng nào đó [trích từ 1] Theo August Losch, đối với các hoạt động du lịch, yếu tố quyết định của điều kiện vị trí là điểm du lịch nằm trong khu vực phát triển du lịch và khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn gửi khách du lịch ngắn

Vị trí địa lí bao gồm vị trí về mặt lãnh thổ và vị trí kinh tế - chính trị, khi phân tích cần đặt nó trong khung cảnh của vùng, quốc gia, khu vực và quốc tế

b Tài nguyên du lịch

Hình 1.2: Sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch [25]

DI SẢN VĂN HÓA THẾ GIỚI

Di tích

VH

- LS

Lễ hội

Nhân văn khác

Dân tộc học

DI SẢN HỖN HỢP

TÀI NGUYÊN

DU LỊCH Tài nguyên tự

nhiên

Tài nguyên nhân văn

DI SẢN THIÊN NHIÊN THẾGIỚI

văn

Trang 19

 Tài nguyên tự nhiên

Tài nguyên du lịch tự nhiên là các đối tượng, hiện tượng trong môi trường tự nhiên xung quanh chúng ta có sức hấp dẫn phát triển du lịch Các đối tượng tự

nhiên cần quan tâm khi nghiên cứu du lịch là: Địa hình, khí hậu, thủy văn, sinh vật

- Địa hình

Hình dạng bề mặt đất ảnh hưởng đến du lịch với sự hấp dẫn của danh thắng tự nhiên, cũng như khả năng xây dựng các cơ sở du lịch thuộc các loại hình khác nhau [trích từ 1] Khi phân tích ảnh hưởng của địa hình tới hoạt động du lịch, người ta chú ý đến hai yếu tố là hình thái địa hình và dạng địa hình đặc biệt I.A Vedenin (1975) cho rằng khu vực có các kiểu địa hình càng tương phản về mặt hình thái thì phong cảnh càng đẹp và được đánh giá càng cao đối với du lịch Và trên thực tế, các dạng địa hình tương đối đơn điệu về mặt ngoại hình ít gây được cảm hứng cho khách du lịch Trong các dạng địa hình thì miền núi có ý nghĩa lớn nhất đối với du lịch

- Khí hậu

Đối với hoạt động du lịch đặc điểm khí hậu sinh học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Các chỉ tiêu khí hậu được quan tâm nhất là nhiệt độ và độ ẩm không khí Ngoài ra, các chỉ tiêu sinh học khác được chú ý là yếu tố gió, áp suất khí quyển, ánh nắng mặt trời Bên cạnh đó, cần lưu ý tới những hiện tượng thời tiết đặc biệt chi phối tới các kế hoạch du lịch Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau Để xác định mức độ thích nghi của khí hậu đối với con người các nhà nghiên cứu sử dụng các chỉ tiêu khí hậu sinh học (phụ lục 1) [25] Điều kiện khí hậu còn tác động đến tính mùa trong du lịch Phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, hoạt động du lịch có thể diễn

ra quanh năm hoặc trong một vài tháng Các địa phương khác nhau có tính mùa trong du lịch không như nhau

Ngoài ra, điều kiện thời tiết cũng có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến đi du lịch Yếu tố khí hậu còn tác động gián tiếp tới hoạt động du lịch

Trang 20

qua tác động đến độ bền tài nguyên du lịch, làm phong hóa nhanh các công trình, các di tích lịch sử - văn hóa và thay đổi diện mạo cảnh quan tự nhiên

- Nguồn nước

Tài nguyên nước phục vụ du lịch bao gồm nước trên mặt, nước dưới đất và nước khoáng Trong đó, nguồn nước trên mặt có ý nghĩa to lớn nhất Ngoài ra, cần phải nói đến nguồn nước khoáng với những thành phần vật chất đặc biệt (các nguyên tố hóa học, chất khí, nguyên tố phóng xạ…), hoặc có một số tính chất vật lý (nhiệt độ, độ pH…) có tác dụng đối với sức khỏe con người Đây là nguồn tài nguyên có giá trị cho du lịch an dưỡng và chữa bệnh

- Sinh vật

Tài nguyên sinh vật là dạng tài nguyên đặc biệt, có giá trị tạo nên cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, hấp dẫn, đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, khám phá và nâng cao nhận thức cho du khách Đối với một số loại h nh du lịch như du lịch sinh thái, tham quan, nghiên cứu khoa học thì tài nguyên sinh vật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng ở tính đa dạng sinh học, sự bảo tồn các nguồn gen quý giá đặc trưng cho các vùng tự nhiên khác nhau trên thế giới

 Tài nguyên nhân văn

Tài nguyên nhân văn là những đối tượng, hiện tượng do con người tạo

ra trong suốt quá trình tồn tại và có giá trị phục vụ nhu cầu du lịch Đối với du lịch, người ta khai thác các giá trị nhân văn sau: các di tích văn hóa – lịch sử,

lễ hội, các đối tượng dân tộc học và các giá trị nhân văn khác

- Các di tích văn hóa – lịch sử

Ở Việt Nam, theo luật di sản văn hóa (năm 2001) thì: “Di sản văn hóa

là những công trình xây dựng và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc các công trình, địa điểm có giá trị lịch sử - văn hóa và khoa học” Di sản văn hóa được phân chia thành di tích văn hóa - khảo cổ, di tích lịch sử, di tích văn hóa nghệ thuật và các danh lam thắng cảnh [25]

Trang 21

Khi đáng giá đối tượng nhân văn này, cần quan tâm các tiêu chí: Tổng

số di tích các loại trên lãnh thổ; số di tích được xếp hạng quốc gia; mật độ di tích trên một đơn vị diện tích [24] Mỗi chỉ tiêu có một ý nghĩa khác nhau Chỉ tiêu đầu tiên đánh giá về số lượng di tích, hai chỉ tiêu sau đánh giá chất lượng di tích Đây là những chỉ tiêu quan trọng để phân tích khả năng khai thác, phát triển du lịch của các di tích văn hóa – lịch sử

- Lễ hội

Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp hết sức đa dạng và phong phú, một kiểu sinh hoạt tập thể của nhân dân sau thời gian lao động mệt nhọc, hoặc hướng về một sự kiện trọng đại, ôn lại truyền thống, giải quyết nỗi lo âu… Theo Lễ - Hội nơi nơi, Tạp chí Người đưa tin UNESCO (tháng 12/ 1989): “Lễ hội đã tạo nên tấm thảm muôn mầu Mọi sự ở đó đền đan quyện vào nhau, thiêng liêng và trần tục, nghi lễ và hồn hậu, truyền thống

và phóng khoáng, của cải và khốn khổ, cô đơn và kết đoàn, trí tuệ và bản năng” Lễ hội là một yếu tố văn hóa quan trọng trong đời sống xã hội, ở mỗi cộng đồng, mỗi dân tộc từng nét văn hóa đó chứa đựng những tính chất, đặc trưng riêng, mang hơi thở của cuộc sống xã hội đó Nó phù hợp với điều kiện sống cụ thể, nó nảy sinh và cũng bị chi phối bằng các hình thức, phương thức lao động, hoàn cảnh sống và môi trường tự nhiên

Lễ hội gồm hai phần: phần lễ và phần hội Thời gian diễn ra lễ hội thường khác nhau Nói chung, xuất hiện vào sự thiêng liêng của sự chuyển tiếp giữa các mùa Ở một chừng mực nhất định, lễ hội cũng tạo ra tính mùa của du lịch [25]

Phân tích giá trị của lễ hội với du lịch người ta thường tập trung các tiêu chí sau: Thời gian diễn ra lễ hội (mùa nào, tháng nào), độ dài của lễ hội; địa điểm tập trung lễ hội; ý nghĩa của lễ hội (có ý nghĩa địa phương, quốc gia)

và đặc biệt là khả năng đón khách và kinh doanh du lịch [24]

- Các đối tượng gắn với dân tộc học

Trang 22

Sự huyền bí, nét đặc sắc của các đối tượng dân tộc học ngày càng thể hiện rõ giá trị của mình đối với các nhà du lịch trên hành trình tìm kiếm, gặp

gỡ, nuôi dưỡng các nền văn hóa ấy, đồng thời “không ngừng tìm kiếm bản sắc dân tộc mình” [25] Các đối tượng dân tộc học có ý nghĩa với du lịch là các tập tục lạ về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống – sinh hoạt, về kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc…

Khi đánh giá đối tượng dân tộc, các tiêu chí được quan tâm là: tổng số dân trên lãnh thổ; các dân tộc và cơ cấu dân tộc; đặc điểm phong tục tập quán của các dân tộc và khả năng hình thành loại hình, sản phẩm du lịch từ đối tượng đó [24]

- Làng nghề: Làng nghề truyền thống là tinh hoa về mặt công nghệ, kỹ thuật của một vùng thể hiện qua các sản phẩm có tính khu biệt, qua cách sống, các phong tục tập quán, văn hóa ứng xử của cộng đồng Làng nghề và các nghề thủ công truyền thống từ lâu đã trở thành đối tượng của hoạt động du lịch, nơi con người hướng tới để khám phá, tìm hiểu và chiêm nghiệm sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các giá trị vật chất và giá trị tinh thần một cách hài hòa và sinh động nhất

- Một số các đối tượng nhân văn khác cũng thu hút khách với mục đích tham quan, nghiên cứu như: Trung tâm của các viện khoa học, các thư viện lớn và nổi tiếng, các thành phố có triển lãm nghệ thuật, các trung tâm thường xuyên tổ chức liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, các cuộc thi đấu thể thao quốc tế, biểu diễn ba lê, các cuộc thi hoa hậu… Các đối tượng văn hóa thường tập trung ở các thủ đô và thành phố lớn vì thế thành phố này mặc nhiên trở thành những trung tâm du lịch văn hóa của các quốc gia, vùng – khu vực và là hạt nhân của các trung tâm du lịch

c Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng là đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, đối với du lịch, cơ

sở hạ tầng có vai trò đặc biệt quan trọng, trong đó nổi bật là mạng lưới và

Trang 23

phương tiện giao thông Ngoài ra, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp điện nước cũng là một phần không thể thiếu, có vai trò phục vụ trực tiếp hoạt động du lịch

- Hệ thống giao thông vận tải: Du lịch gắn với sự di chuyển của con người, vì vậy nó phụ thuộc trực tiếp vào giao thông Về phương diện này, mạng lưới và phương tiện giao thông là những nhân tố quan trọng hàng đầu

+ Khi đánh giá mạng lưới giao thông cần quan tâm các chỉ tiêu: Tổng chiều dài tuyến đường, mật độ đường, các tuyến đường chính

+ Các phương tiện giao thông chủ yếu: Đường ô tô, đường sắt, đường thủy, đường hàng không… Mỗi loại giao thông có những đặc điểm riêng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách

- Hệ thống thông tin liên lạc: Đảm bảo sự giao lưu của khách du lịch trong nước và quốc tế thông qua việc trao đổi các dòng tin tức xã hội Vấn đề này được thỏa mãn bằng nhiều loại hình thông tin khác nhau: Thông tin vệ tinh, internet, điện thoại, điện báo, bưu điện… Sự thuận tiện của mạng lưới thông tin liên lạc đảm bảo sự thông suốt trong các giao dịch kinh doanh du lịch giúp cho hoạt động du lịch trở nên phổ biến, hiệu quả hơn

- Hệ thống điện: Các nhà máy điện, cơ cấu mạng lưới điện, khả năng đảm bảo điện của địa phương cho các hoạt động của các điểm, khu, trung tâm

du lịch, sự cân đối giữa khả năng cung cấp và nhu cầu tiêu thụ điện trong toàn vùng… có ý nghĩa lớn bởi các sản phẩm của nó phục vụ trực tiếp cho việc nghỉ ngơi, giải trí của khách du lịch Hoạt động du lịch – một hoạt động mang tính hưởng thụ, nghỉ ngơi, giải trí để tái sản xuất sức lao động thì nhu cầu về điện là rất lớn

- Hệ thống cấp, thoát nước: Bao gồm nguồn nước cho sinh hoạt và các dịch vụ du lịch Nguồn nước trong cơ sở hạ tầng cần được lưu ý ở hai khía cạnh là khả năng cung cấp nước, chất lượng nguồn nước và hệ thống cung cấp nước đáp ứng nhu cầu du lịch

Trang 24

d Các nhân tố kinh tế - xã hội – chính trị

Đường lối chính sách phát triển du lịch: Đường lối, chính sách của mỗi quốc gia được xem là kim chỉ nam của mọi hoạt động kinh tế - xã hội của quốc gia đó Đối với du lịch, đường lối, chính sách cũng thể hiện rõ vai trò của mình Nó có thể là động lực thúc đẩy sự phát triển du lịch nếu định hướng đúng, phát triển hợp quy luật, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao Ngược lại

sẽ kìm hãm sự phát triển của ngành kinh tế này nếu không xây dựng được chính sách đúng đắn, không có thiện chí tạo điều kiện khai thác tiềm năng Đường lối, chính sách sẽ là cơ sở tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng và thuận lợi cho hoạt động du lịch Từ đó, kích thích quá trình giao lưu, tăng

cường hoạt động hợp tác đầu tư phát triển du lịch

Tác động đến hoạt động du lịch còn có hàng loạt các nhân tố khác như

sự phát triển của nền sản xuất xã hội, tình hình chính trị hòa bình ổn định, dân

cư và lao động… tất cả các yếu tố này đều có tác dụng là đòn bẩy thúc đẩy hoạt động du lịch tăng trưởng nhanh hoặc kìm hãm ngành kinh tế này kém phát triển

1.1.2 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển du lịch

Với chức năng nghiên cứu khía cạnh không gian của hoạt động du lịch, việc đánh giá thực trạng phát triển của một điểm đến du lịch cũng phải được xem xét dưới khía cạnh lãnh thổ thông qua các phân vị là: Điểm du lịch, tuyến

du lịch và trung tâm du lịch Bên cạnh đó, du lịch là một ngành kinh tế, để đánh giá được sự tăng trưởng cũng như vai trò của du lịch đối với nền kinh tế

- xã hội của một địa phương, vùng lãnh thổ thì việc xây dựng bộ chỉ tiêu hoạt động theo ngành gồm các tiêu chí đánh giá về lượt khách, doanh thu, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động, là rất cần thiết

1.1.2.1 Chỉ tiêu hoạt động theo ngành

a Số lượng khách

Trang 25

Khách du lịch là một trong năm phân hệ quan trọng của hệ thống lãnh thổ du lịch, có thể nói sự có mặt của du khách đồng nghĩa với “sự sống” của một điểm du lịch

Khi đánh giá về tiêu chí này, trước hết người ta quan tâm đến tổng lượt khách qua các năm và tốc độ tăng trưởng bình quân (trong đó, phân biệt khách nội địa và khách quốc tế) Tiếp đó, mục đích du lịch là một tiêu chí cần được phân tích Đối với khách du lịch quốc tế, mục đích du lịch bao gồm: Du lịch thuần túy, thăm thân và các mục đích khác Đối với khách nội địa, mục đích du lịch chủ yếu được phân theo: Du lịch nghỉ biển, tham quan, lễ hội, chữa bệnh và các mục đích khác Xác định được số lượng khách theo các mục đích du lịch là định hướng quan trọng trong việc hoạch định chiến lược, vạch định hướng và điều chỉnh các hoạt động kinh doanh phù hợp, đem lại hiểu quả cao Cơ cấu khách du lịch còn được xem xét dưới góc độ phương tiện đi lại, gồm đường bộ, đường biển, đường hàng không Các yếu tố này là cơ sở thiết kế các tuyến du lịch đảm bảo đáp ứng với nhu cầu và điều kiện của du khách Ngoài ra, còn thúc đẩy việc nâng cấp, xây dựng các cơ sở hạ tầng phục

vụ du lịch cũng như các hoạt động kinh tế khác Cuối cùng, đối với đánh giá tiêu chí nguồn khách cần xác định được mức độ chi tiêu và thời gian cư trú của khách du lịch tại một điểm đến

Trong các chỉ tiêu trên, tiêu chí số lượt khách cho phép đánh giá về khía cạnh “lượng” của hoạt động du lịch, trong khi đó tiêu chí mức độ chi tiêu

và thời gian lưu trú lại đánh giá về mặt “chất” của ngành kinh tế này Từ đó cho thấy, trong quá trình phát triển du lịch không chỉ quan tâm thu hút lượng khách lớn mà còn phải đặt việc tăng thời gian lưu trú và chi tiêu của du khách

là mục tiêu quan trọng của ngành

Trang 26

và kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch Trong đó, cơ sở lưu trú và ngành kinh doanh lưu trú là chỉ tiêu quan trọng – một trong ba trụ cột của ngành công nghiệp du lịch Cơ sở lưu trú được đánh giá qua số phòng, buồng, mức tăng trưởng hàng năm, công suất sử dụng phòng; số khách sạn được xếp sao và số khách sạn được phân theo hình thức quản lý Ngoài ra, sự có mặt của các cơ sở vui chơi, giải trí, mua sắm, các cơ sở phục vụ ăn uống có vai trò đảm bảo các nhu cầu đa dạng của du khách, góp phần lấp đầy khoảng thời gian đi du lịch bằng nhiều hoạt động thú vị, thoải mái, tạo nên sự độc đáo và

ấn tượng riêng cho mỗi sản phẩm du lịch

c Nguồn lao động

Lao động trong ngành du lịch là yếu tố quan trọng để hoạt động du lịch được diễn ra, và có tính quyết định lớn đối với sự thành công của hoạt động kinh doanh Tiêu chí này được đánh giá qua tổng số lao động, mức độ tăng trưởng qua các năm và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nguồn lao động này Số lượng lao động đảm bảo khả năng phục vụ khách và chất lượng lao động quyết định mức độ hài lòng của du khách, đây là tiêu chí đánh giá chất lượng của sản phẩm du lịch

d Doanh thu

Du lịch thể hiện chức năng kinh tế của mình qua đóng góp doanh thu hàng năm Thu nhập từ du lịch bao gồm tất cả các khoản thu do khách du lịch chi trả, đó là doanh thu từ lưu trú, ăn uống, vận chuyển khách du lịch và các dịch

vụ khác… Đối với những điểm du lịch mới hình thành và chưa phát triển cao, doanh thu du lịch chủ yếu tập trung vào cơ sở lưu trú Trên thực tế, tất cả các khoản thu này không phải chỉ do ngành du lịch trực tiếp thu mà còn do nhiều ngành khác có tham gia các hoạt động du lịch thu, do đó chỉ tiêu doanh thu du lịch thường không phản ánh hết đóng góp của ngành du lịch cho nền kinh tế

1.1.2.2 Chỉ tiêu hoạt động theo lãnh thổ

a Điểm du lịch

Điểm du lịch là cấp phân vị thấp nhất, là kết quả đầu ra trước tiên trong

Trang 27

hệ thống lãnh thổ du lịch Các điểm du lịch trước hết được phân tích qua sự

có mặt của một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hóa, lịch sử hoặc kinh tế

- xã hội), cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch và mức độ hoạt động tại điểm du lịch Hai tiêu chí này sẽ quyết định điểm du lịch là điểm đang khai thác hay điểm tiềm năng Dựa vào sự hấp dẫn của tài nguyên và sự hoàn thiện của kết cấu hạ tầng mà người ta xếp hạng các điểm du lịch quốc gia và điểm du lịch địa phương Ngoài ra, tiêu chí thời gian lưu trú tại điểm du lịch cũng khá quan trọng, thể hiện mức độ phát triển và khả năng hấp dẫn du khách tại điểm đó

b Tuyến du lịch

Tuyến du lịch là một đơn vị tổ chức không gian du lịch, được tạo bởi nhiều điểm du lịch khác nhau về quy mô và chức năng Việc xây dựng các tuyến du lịch thông thường dựa trên các tuyến đường giao thông sẵn có, hệ thống đô thị, các cơ sở lưu trú cũng như giá trị các điểm đến Do đó việc đánh giá tuyến du lịch cũng thông qua các tiêu chí cụ thể: Tên, chiều dài tuyến; các điểm du lịch trên tuyến; thời gian hoạt động của tuyến và các sản phẩm du lịch chủ yếu

Căn cứ vào phạm vi hoạt động của tuyến du lịch, có thể phân loại tuyến

du lịch là tuyến nội tỉnh hay liên tỉnh; tuyến du lịch quốc gia hay quốc tế Và dựa vào đặc điểm hoạt động của điểm du lịch trên tuyến có thể xác định được các tuyến du lịch tiềm năng

c Khu du lịch

Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường

Khu du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là khu du lịch quốc gia: Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn với ưu thế về cảnh quan thiên nhiên, có khả năng thu hút khách du lịch cao Có diện tích tối thiểu 1.000 ha, trong đó có diện tích cần thiết để xây dựng các công trình, cơ sở

Trang 28

dịch vụ du lịch phù hợp với cảnh quan, môi trường của khu du lịch; trường hợp đặc biệt mà diện tích nhỏ hơn thì cơ quan quản lý nhà nước về du lịch ở trung ương trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất – kỹ thuật du lịch đồng bộ, có khả năng bảo đảm phục vụ

ít nhất một triệu lượt khách du lịch một năm, trong đó có cơ sở lưu trú và dịch

vụ du lịch cần thiết phù hợp với đặc điểm của khu du lịch

Khu du lịch có đủ các điều kiện sau đây được công nhận là khu du lịch địa phương: Có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả năng thu hút khách du lịch

Có diện tích tối thiểu 2000ha, trong đó có diện tích cần thiết để xây dựng các công trình, cơ sở dịch vụ du lịch Có kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch cần thiết phù hợp đặc điểm của địa phương,

có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất 100.000 lượt khách du lịch một năm

d Trung tâm du lịch (của quốc gia và địa phương)

Là nơi tập trung khá đa dạng các nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng tương đối phong phú và đặc biệt có vai trò thu hút khách du lịch rất lớn Được coi là hạt nhân phát triển du lịch của địa phương Tiêu chí khi phân tích thực trạng của một trung tâm du lịch là nêu được các sản phẩm du lịch của trung tâm và đánh giá vai trò của trung tâm du lịch trong sự phát triển du lịch địa phương

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH VÙNG TRUNG

Trang 29

Vùng có 7 tỉnh tiếp giáp với Trung Quốc, 2 tỉnh giáp CHDCND Lào Phía Nam của vùng giáp Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ, tạo điều kiện cho việc giao thông đi lại thuận lợi giữa vùng với các nước láng giềng và vùng khác trong nước nhằm tạo điều kiện cho hoạt động du lịch đi lại dễ dàng hơn

- Vùng TDMNBB có nền khí hậu nhiệt đới với mùa đông lạnh tạo ra sự

đa dạng về khí hậu thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại hình du lịch như nghỉ dưỡng, tham quan thắng cảnh, lễ hội vào thời gian có khí hậu mát mẻ, ít mưa bão (tháng 2, 3, 4, 9, 10) hoặc du lịch hồ, núi vào các tháng hè (5, 6, 7, 8)

- Tài nguyên sinh vật phong phú với nhiều loại đặc hữu tạo nên sự đa dạng sinh học hết sức hấp dẫn Hệ thực vật vùng TDMNBB có hàng nghìn loài trong đó có nhiều loại có giá trị phục vụ hoạt động du lịch tham quan nghiên cứu Toàn vùng hiện có 209 loài động vật quý hiếm, trong đó có 36 loài đặc hữu Phần lớn các loài sinh vật có giá trị du lịch tập trung tại các vườn quốc gia, khu bảo tồn tự nhiên như Hoàng Liên, Ba Bể, Xuân Sơn, Bến

En và Pù Mát

- Vùng TDMNBB có tài nguyên nước tương đối dồi dào, đảm bảo cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt trong đó có du lịch Đặc biệt trong vùng đã phát hiện 9 điểm nước khoáng có giá trị phục vụ nhu cầu nước giải khát và nghỉ dưỡng chữa bệnh

Trang 30

Sự phong phú và đa dạng của tài nguyên du lịch tự nhiên đã tạo ra cho vùng TDMNBB nhiều khu vực có tiềm năng lớn để phát triển du lịch, tiêu biểu là Ba Bể, Hoàng Liên

Trên phạm vi cả nước, vùng TDMNBB là nơi tập trung lớn các tiềm năng du lịch nhân văn Đây là vùng tập trung nhiều di tích lịch sử văn hóa, trong đó có nhiều di tích đặc biệt quan trọng có giá trị du lịch như khu Đền Hùng, Điện Biên Phủ, Tân Trào v.v

Vùng TDMNBB hiện là nơi cư trú của 32 trên tổng số 54 dân tộc anh

em sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam Chính vì vậy các sinh hoạt truyền thống

và lễ hội ở vùng TDMNBB là rất phong phú đặc sắc, phản ánh sinh động lịch

sử dân tộc và đời sống tâm linh, tư tưởng triết học cũng như bản sắc văn hóa Việt Nam, trong đó có nhiều sinh hoạt lễ hội có sức hấp dẫn và thu hút khách

du lịch lớn như lễ hội Hoa Ban (Sơn La), lễ hội Đền Hùng (Phú Thọ), v.v Ngoài các di tích lịch sử văn hóa, lễ hội, sự phong phú đặc sắc về tài nguyên

du lịch nhân văn của vùng TDMNBB còn thể hiện ở sự hấp dẫn của các làng nghề truyền thống, ở các làn điệu dân ca trữ tình hát đối, hát sli v.v , các điệu múa dân gian

Nói tóm lại, tiềm năng tài nguyên du lịch của vùng TDMNBB là khá đa dạng và phong phú, cho phép phát triển nhiều loại hình du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch văn hóa lễ hội và du lịch thể thao mạo hiểm Đây thực

sự là thế mạnh nổi trội của vùng TDMNBB trong chiến lược phát triển du lịch chung của cả nước

1.2.1.3 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch

So với các vùng khác trên đất nước, vùng du lịch TDMNBB đã có cơ

sở hạ tầng phục vụ du lịch tương đối phát triển

Hệ thống đường giao thông tương đối tốt với các trục đường chính từ thủ đô lên Hà nội toả đi khắp các nơi trong vùng Từ Hà Nội lên các tình vùng núi phía Bắc có các quốc lộ 1, 2 và 3, lên Tây Bắc có quốc lộ 6, ra biển có quốc lộ 5 và tới các tỉnh phía Nam có quốc lộ 1 Các trục đường sắt chính

Trang 31

cũng hầu như chạy song song với các trục đường bộ, bảo đảm khả năng vận chuyển khách du lịch với số lượng lớn Tất cả các điểm du lịch có ý nghĩa quốc gia và quốc tế đều có thể đi lại bằng các phương tiện giao thông khác nhau Một số tuyến du lịch có thể sử dụng các phương tiện liên vận đường sắt, đường bộ, đường thuỷ và đường hàng không khép kín, bảo đảm cho khách du lịch có thể đi bằng một lối và trở về một lối, cùng một chuyến đi mà biết được nhiều nơi

Vùng có nhiều cửa khẩu quan trọng để đưa đón khách du lịch nước ngoài và sân bay trong nước Cửa khẩu Lạng Sơn, Lào Cai, Hải Ninh nằm trên các tuyến đường liên vận quốc tế cả về đường sắt lẫn đường bộ nối liền giữa Việt Nam và lục địa Trung Hoa rộng lớn

1.2.2 Hiện trạng phát triển du lịch vùng trung du miền núi Bắc Bộ

Trong những năm qua, ngành du lịch Trung du miền núi Bắc Bộ đã có những bước phát triển nhất định, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội của vùng Tổng lượt khách du lịch đến vùng Trung du miền núi Bắc Bộ không ngừng tăng trong giai đoạn 2002 – 2012 Năm 2002, tổng lượt khách của vùng có 1.875.298 lượt khách, chiếm 5,9% tổng lượt khách của cả nước Năm 2012, tổng lượt khách của vùng đạt 10.423.693 lượt khách, tăng 5,5 lần so với năm 2002, chiếm 10,7% tổng lượt khách của cả nước Nhưng so với các vùng khác thì lượng khách của Trung du miền núi Bắc Bộ chỉ cao hơn Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên (năm 2012), còn so với Đồng bằng sông Hồng, Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ thì con số trên là rất nhỏ Tuy nhiên số lượng khách du lịch tăng trong 10 năm qua đã chứng tỏ sức hấp dẫn của tài nguyên thiên nhiên và sự nỗ lực của các cấp chính quyền địa phương Đi sâu vào các tỉnh trong vùng sẽ thấy sự chênh lệch lớn Số lượng khách đông thuộc về các tỉnh: Lạng Sơn, Lao Cai, Thái Nguyên, Hòa Bình;

thấp nhất là Lai Châu, Bắc Giang (phân tích số liệu năm 2012) (Phụ lục 2)

Trang 32

Bảng 1.1: Số lƣợt khách du lịch vùng trung du miền núi Bắc Bộ

% so với

cả nước

Số lượng (lượt)

Trang 33

Bảng 1.2: Doanh thu du lịch vùng trung du miền núi Bắc Bộ

giai đoạn 2002 - 2012 Năm Doanh thu(tỷ đồng) % so với cả nước

Trong những năm qua, nguồn lao động trong ngành du lịch của vùng không ngừng tăng lên và từng bước được cải thiện về chất lượng Về mặt số lượng, số lao động trong hoạt động du lịch có xu hướng tăng nhanh

Bảng 1.3: Lao động trực tiếp ngành du lịch giai đoạn 2002 - 2012

Trang 34

này chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong tổng số lao động của ngành Tỉ lệ lao động chưa qua đào tạo còn lớn, trình độ ngoại ngữ, năng lực nghiệp vụ còn rất nhiều bất cập Đặc biệt, lao động trong ngành còn thiếu tác phong công nghiệp, chưa thật sự gắn bó với nghề, ngoại trừ lao động ở một số trung tâm

du lịch lớn

Trong những năm qua, số các cơ sở lưu trú tăng nhanh dựa trên việc cải tạo cơ sở cũ, xây dựng cơ sở mới theo hướng chuyên nghiệp hóa Tính đến hết năm 2012, tổng số cơ sở lưu trú du lịch trên toàn vùng là 2.705 với 32.421 buồng So với năm 2002 thì cơ sở lưu trú tăng 6,0% Sự tăng lên về số lượng khách sạn, nhà nghỉ đánh dấu trình độ phát triển du lịch của nơi đón khách, cũng phản ánh trình độ phát triển kinh tế quốc dân và trình độ văn minh xã hội của vùng

Mức độ hoàn thiện của trang thiết bị khách sạn, chất lượng của dịch vụ không những ảnh hưởng tới chuyến du lịch của du khách mà còn ảnh hưởng tới đánh giá của du khách đối với hình tượng chung của tỉnh, điểm du lịch Do

đó ở các tỉnh trong vùng đã hình thành nhiều khách sạn du lịch 3, 4 sao song

do tiềm lực và lượng khách của mỗi vùng số lượng khách sạn xếp sao khác nhau Trong tổng só 76 khách sạn 1 – 4 sao thì khách sạn 4 sao là 8, 3 sao là

18, trong đó tập trung chủ yếu ở tỉnh Lào Cai

Bên cạnh các khách sạn 4 sao, nhiều khách sạn từ 1 - 2 sao trở lên đã và đang được xây dựng ngày càng nhiều để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch

Ở một số tỉnh như Lai Châu, Bắc Kạn, Phú Thọ, Bắc Giang các cơ sở lưu trú còn hạn chế Do vậy, cần phải có quy hoạch và chiến lược phát triển phù hợp nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng phòng, tránh tình trạng lãng phí, đồng thời thỏa mãn yêu cầu của khách du lịch

Các sản phẩm du lịch đặc trưng của vùng là: Du lịch văn hóa, sinh thái gắn với tìm hiểu bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số Nhìn chung, TDMNBB

là vùng đất lý tưởng để khai thác phát triển du lịch với những điều kiện tự

Trang 35

nhiên vô cùng khác biệt và những giá trị văn hóa độc đáo Tuy nhiên, ngành

du lịch của vùng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng Cần có chiến dịch quảng bá về thương hiệu, gây ấn tượng về sản phẩm du lịch đối với du khách trong và ngoài nước Đồng thời cần có kế hoạch lâu dài và quy mô trong đào tạo nhân lực, cung cấp đội ngũ nhân viên phục vụ có trình độ, hiểu biết về đặc trưng của vùng Tập trung hoàn thiện kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho du khách tại điểm thăm quan Và cơ bản là tạo sự liên kết giữa các địa phương, hết sức chăm lo bảo toàn hệ sinh thái tự nhiên cũng như hệ sinh thái nhân văn kết hợp khai thác có hiệu quả tạo ra những sản phẩm du

+ Mỗi lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh

- Việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn định hướng cho sự phát triển du lịch có ý nghĩa quan trọng Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển

du lịch là vị trí địa lý, tài nguyên du lịch, cơ sở hạ tầng và một số nhân tố khác Trong đó tài nguyên du lịch có vai trò quan trọng trong việc xây dựng các sản phẩm và loại hình du lịch đặc trưng của tỉnh

- Với những tiềm năng to lớn về tài nguyên du lịch, vùng có khả năng phát triển nhiều loại hình, sản phẩm du lịch văn hóa, du lịch cảnh quan sinh

Trang 36

thái có giá trị và sức cạnh tranh Vùng có sức hút lớn đối với khách du lịch quốc tế - nội địa tạo doanh thu du lịch chiếm 4,7% tổng doanh thu du lịch của

cả nước Đây là nền tảng vững chắc cho du lịch Phú Thọ phát triển Do đó, Phú Thọ cần có những chính sách phát triển và đầu tư cho du lịch phù hợp để khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch sẵn có của tỉnh cũng như liên kết và tạo động lực mạnh mẽ cho các tỉnh trong vùng du lịch trung du miền núi Bắc Bộ, tạo ra nhiều sản phẩm du lich độc đáo, có những tour, những chương trình du lịch liên vùng

Trang 37

CHƯƠNG 2: TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH

TỈNH PHÚ THỌ

2.1 VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ, được tái lập ngày 01/01/1997 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Vĩnh Phú Với diện tích tự nhiên là: 353.342,47ha (chiếm 1,2% diện tích cả nước, xếp thứ 38/63 tỉnh, thành phố cả nước), có tọa độ địa lý 20°55’ đến 21°43’ vĩ độ Bắc và từ 104°48’ đến 105°27’ kinh độ Đông

Phú Thọ có 13 huyện, thành, thị gồm: Thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ,

11 huyện: Đoan Hùng, Hạ Hòa, Thanh Ba, Phù Ninh, Yên Lập, Cẩm Khê, Tam Nông, Lâm Thao, Thanh Sơn, Thanh Thủy, Tân Sơn với 277 cơ sở xã, phường, thị trấn Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị - kinh tế của tỉnh

Cách trung tâm thủ đô Hà Nội 80km, Phú Thọ là điểm tiếp giáp giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và vùng Tây Bắc, phía Bắc giáp Tuyên Quang, Yên Bái; phía Nam giáp Hòa Bình; phía Đông giáp Vĩnh Phúc,

Hà Tây và phía Tây giáp Sơn La Với vị trí cửa ngõ phía Tây của thủ đô Hà Nội và địa bàn trọng điểm kinh tế phía Bắc, Phú Thọ là nơi trung chuyển hàng hóa thiết yếu của các tỉnh miền núi Bắc Bộ Các hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông đều quy tụ về Phú Thọ rồi mới đi Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh thành phố khác trong cả nước… Đây là điều kiện thuận lợi cho giao lưu, phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ

Phú Thọ thuộc vùng du lịch Trung du miền núi Bắc Bộ, có vị trí đặc biệt là cửa ngõ vùng Đông Bắc, tiếp giáp với tỉnh thuộc vùng du lịch Đồng bằng sông Hồng Phú Thọ có các tuyến trục giao thông quan trọng chạy qua như: Quốc lộ số 2 chạy từ Hà Nội qua Việt Trì (Phú Thọ) đi Tuyên Quang –

Hà Giang sang Vân Nam – Trung Quốc, đây là tuyến nằm trong hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh Quốc lộ 70 xuất phát từ thị trấn Đoan Hùng đi Yên Bái – Lào Cai, hiện đang được nâng

Trang 38

cấp để trở thành con đường chiến lược Hải Phòng – Hà Nội – Côn Minh (Trung Quốc) tạo ra cơ hội phát triển kinh tế cho Phú Thọ Quốc lộ 32A nối

Hà Nội với Hà Tây, Sơn La, quốc lộ 32B nối Phú Thọ - Yên Bái với cầu Ngọc Tháp qua sông Hồng tại thị xã Phú Thọ là một phần của đường Hồ Chí Minh Trục Sơn Tây, Hòa Lạc được xây dựng trở thành chuỗi đô thị cũng sẽ

mở ra cơ hội mới cho Phú Thọ phát triển, nhất là các huyện phía hữu ngạn sông Hồng như: Tam Nông, Thanh Thủy, Thanh Sơn, Yên Lập, Cẩm Khê, Hạ Hòa có điều kiện phát triển mạnh hơn Ngoài ra Phú Thọ có đường sắt, đường sông chạy qua cũng là thuận lợi để phát triển du lịch nhanh hơn

Phú Thọ có nhiều ưu thế để phát triển du lịch Trong thời gian vừa qua, Đảng, Nhà nước và chính quyền tỉnh đã đẩy mạnh khai thác những lợi thế sẵn

có về vị trí địa lý của tỉnh để thu hút khách du lich trong và ngoài nước nhằm tạo một diện mạo du lịch mới cho du lịch Phú Thọ

chiếm 64% tổng diện tích tự nhiên

Căn cứ vào địa hình, có thể chia Phú Thọ thành ba tiểu vùng cơ bản:

- Tiểu vùng núi phía Nam: Gồm các huyện Yên Lập, Thanh Sơn và một phần của huyện Cẩm Khê, có độ cao trung bình so với mặt nước biển từ 200m đến 500m Đây là vùng có nhiều tiềm năng phát triển lâm nghiệp và khoáng sản

- Tiểu vùng trung du: Gồm thị xã Phú Thọ, huyện Cẩm Khê, Đoan Hùng, Thanh Ba, Hạ Hòa và một phần của huyện Phù Ninh, Tam Nông, Thanh Thủy Địa hình đặc trưng của vùng này là các đồi gò thấp (bình quân

Trang 39

50m – 200m) xen kẽ với các dốc ruộng Đây là vùng tương đối thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp cây ăn quả…

- Tiểu vùng đồng bằng: Gồm thành phố Việt Trì, huyện Lâm Thao và một phần còn lại của các huyện lân cận Đặc trưng vùng này là phát triển trên phù sa cổ cùng những cánh đồng ven sông phù hợp với sản xuất lương thực, nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi Một số khu vực tập trung đồi gò thấp tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp và phát triển hạ tầng KT – XH khác

Phú Thọ có địa hình đa dạng, vừa có miền núi, vừa có trung du và đồng bằng ven sông là điều kiện thuận lợi để phát triển nền kinh tế toàn diện trong

đó có du lịch Địa hình Phú Thọ đã tạo nên những cảnh quan đẹp, thuận lợi cho khai thác, phát triển du lịch tham quan nghỉ dưỡng cuối tuần như các vùng cảnh quan nông nghiệp, cảnh quan hồ giữa vùng đồi thấp… Trung du là dạng địa hình đặc trưng có giá trị phát triển du lịch sinh thái Tuy nhiên, do địa hình chia cắt nên việc đầu tư khai thác tiềm năng du lịch khó khăn khi phát triển hạ tầng

2.2.1.2 Khí hậu

Mang đậm đặc trưng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa

rõ rệt: Mùa hè nắng nóng, mưa nhiều từ tháng 5 tới tháng 10 và mùa đông lạnh, mưa ít từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau

Nhiệt độ trung bình trong năm là 23°C và có sự chênh lệch không nhiều giữa các vùng, nhiệt độ trung bình tháng cao nhất vào tháng 7 là 29,4°C, nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 1 là 12,3°C Trung bình trong năm có từ 8 – 9 tháng có nhiệt độ trung bình trên 20°C

Tổng số giờ nắng trong năm: 3000 – 3200 giờ, lượng mưa trung bình: 1.600mm – 1.700mm Dựa trên tiêu chí khí hậu sinh học đối với sức khỏe con

người của các học giả Ấn Độ (Phụ lục 1), nhiệt độ và lượng mưa trung bình

của Phú Thọ thuộc cấp thích nghi đối với sức khỏe con người Đây là điều

Trang 40

Biểu đồ 2.1: Nhiệt đô

lượng mưa thấp nhất là tháng 3: 15,6mm (Trạm Việt Trì) có nơi như tại

trạm Phú Hộ lượng mưa tháng 11 xuống dưới 10 mm là 6,9 mm Trung bình trong năm toàn tỉnh có khoảng 150 ngày mưa Tuy nhiên hiện nay chế

độ thủy văn đang diễn biến theo chiều hướng phức tạp hơn, mùa mưa bắt đầu sớm hơn, kết thúc muộn hơn với tổng lượng mưa lớn gây xói mòn, rửa trôi, sạt lở và lụt lội nhiều hơn; mùa khô ngắn hơn và lượng mưa có diễn biến thất thường Như tại trạm Việt Trì từ năm 2002 – 2012 lượng mưa tháng 3 năm 2002 là 5mm, năm 2006 là 149,1mm, đến năm 2012 lượng mưa đo được tại trạm là 15,6mm

Độ ẩm bình quân: 82% - 89% và có sự chênh lệch không nhiều giữa các vùng lãnh thổ cùng như các tháng trong năm Độ ẩm cao nhất là vào tháng 4 khoảng 87 – 91%, độ ẩm tương đối thấp vào tháng 12 khoảng 76%

Trên cơ sở báo cáo của Đặng Duy Lợi (1991) (phụ lục 3), ta tính được điều

kiện thuận lợi của thời tiết, khí hậu đối với sức khỏe con người qua bảng sau:

0 5 10 15 20 25 30 35

0 50 100 150 200 250 300 350 400 450 500

Ngày đăng: 27/03/2016, 20:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Thái Huỳnh Anh Chi (2010), Phát triển Du lịch tỉnh Kon Tum trong xu thế hội nhập, Luận văn Thạc sĩ khoa học Địa lí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển Du lịch tỉnh Kon Tum trong xu thế hội nhập
Tác giả: Thái Huỳnh Anh Chi
Năm: 2010
[2]. Cục thống kê tỉnh Phú Thọ (6/2011), Niên giám thống kê 2010 tỉnh Phú Thọ, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2010 tỉnh Phú Thọ
Nhà XB: NXB Thống kê
[3]. Cục thống kê tỉnh Phú Thọ (6/2012), Niên giám thống kê 2011 tỉnh Phú Thọ, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2011 tỉnh Phú Thọ
Nhà XB: NXB Thống kê
[4]. Cục thống kê tỉnh Phú Thọ (6/2012), Niên giám thống kê 2012 tỉnh Phú Thọ, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê 2012 tỉnh Phú Thọ
Nhà XB: NXB Thống kê
[5]. Ngô Thị Thu Hằng (2012), Tổ chức lãnh thổ Du lịch tỉnh Phú Thọ, Luận văn Thạc sĩ khoa học Địa lí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ Du lịch tỉnh Phú Thọ
Tác giả: Ngô Thị Thu Hằng
Năm: 2012
[6]. Trần Thị Minh Hòa (2009), Giáo trình kinh tế du lịch, NXB Đại học kinh tế Quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế du lịch
Tác giả: Trần Thị Minh Hòa
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế Quốc dân
Năm: 2009
[7]. Đặng Duy Lợi (1991), Sử dụng giản đồ nhiệt độ, độ ẩm tuyệt đối để tính khả năng thích ứng của con người với khí hậu ở một số cảnh quan du lịch ở Việt Nam, Thông báo khoa học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng giản đồ nhiệt độ, độ ẩm tuyệt đối để tính khả năng thích ứng của con người với khí hậu ở một số cảnh quan du lịch ở Việt Nam
Tác giả: Đặng Duy Lợi
Năm: 1991
[8]. Luật Du lịch (2012), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Du lịch
Tác giả: Luật Du lịch
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 2012
[9]. Nguyễn Văn Lưu (2009), Thị trường Du lịch, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường Du lịch
Tác giả: Nguyễn Văn Lưu
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2009
[10]. Trần Thị Mai (2006), Giáo trình tổng quan du lịch, NXB Lao động – xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tổng quan du lịch
Tác giả: Trần Thị Mai
Nhà XB: NXB Lao động – xã hội
Năm: 2006
[11]. Đổng Ngọc Minh – Vương Lôi Đình (2001), Kinh tế du lịch và du lịch học, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế du lịch và du lịch học
Tác giả: Đổng Ngọc Minh – Vương Lôi Đình
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2001
[12]. Hoàng Thị Trà My (2009), Phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên trong thời kỳ hội nhập, Luận văn thạc sĩ khoa học địa lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên trong thời kỳ hội nhập
Tác giả: Hoàng Thị Trà My
Năm: 2009
[15]. Phạm Lê Thảo (2006), Tổ chức lãnh thổ du lịch Hòa Bình trên quan điểm phát triển bền vững, Luận án tiến sĩ địa lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ du lịch Hòa Bình trên quan điểm phát triển bền vững
Tác giả: Phạm Lê Thảo
Năm: 2006
[17]. Lê Thông (1997), Giáo trình nhập môn Địa lí nhân văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nhập môn Địa lí nhân văn
Tác giả: Lê Thông
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1997
[18]. Đỗ Quốc Thông (2004), Phát triển du lịch thành phố Hồ Chí Minh với việc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận, Luận án Tiến sĩ Địa lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch thành phố Hồ Chí Minh với việc khai thác tài nguyên du lịch vùng phụ cận
Tác giả: Đỗ Quốc Thông
Năm: 2004
[19]. Tổng cục Du lịch (2012), Chiến lược Phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược Phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Tổng cục Du lịch
Năm: 2012
[20]. Tỉnh ủy Phú Thọ (10/2011), Nghị quyết của ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển Du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 – 2015, Việt Trì Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển Du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 – 2015
[21]. Tỉnh ủy Phú Thọ (10/2011), Nghị quyết hội nghị lần thứ sáu ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII về phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 – 2015, Việt Trì Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết hội nghị lần thứ sáu ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII về phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2011 – 2015
[22]. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) (2005), Địa lí kinh tế - xã hội đại cương, NXB ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí kinh tế - xã hội đại cương
Tác giả: Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐHSP Hà Nội
Năm: 2005
[23]. Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên) (2009), Địa lí các vùng kinh tế, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí các vùng kinh tế
Tác giả: Nguyễn Minh Tuệ (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2: Sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch [25] - Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030
Hình 1.2 Sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch [25] (Trang 18)
Bảng 1.1: Số lƣợt khách du lịch vùng trung du miền núi Bắc Bộ - Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030
Bảng 1.1 Số lƣợt khách du lịch vùng trung du miền núi Bắc Bộ (Trang 32)
Bảng 1.2: Doanh thu du lịch vùng trung du miền núi Bắc Bộ - Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030
Bảng 1.2 Doanh thu du lịch vùng trung du miền núi Bắc Bộ (Trang 33)
Bảng 2.2: Một số điểm du lịch gắn với tài nguyên nước của tỉnh Phú Thọ - Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030
Bảng 2.2 Một số điểm du lịch gắn với tài nguyên nước của tỉnh Phú Thọ (Trang 43)
Bảng 2.3: Danh mục các DTLSVH – Nghệ thuật đã đƣợc xếp hạng - Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030
Bảng 2.3 Danh mục các DTLSVH – Nghệ thuật đã đƣợc xếp hạng (Trang 46)
Bảng 3.1: Giá trị GDP ngành Du lịch Phú Thọ qua một số năm - Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030
Bảng 3.1 Giá trị GDP ngành Du lịch Phú Thọ qua một số năm (Trang 67)
Bảng 3.6: Cơ cấu sử dụng lao động trong ngành Du lịch - Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030
Bảng 3.6 Cơ cấu sử dụng lao động trong ngành Du lịch (Trang 79)
Bảng 3.7: Hiện trạng chất lƣợng lao động du lịch tỉnh Phú Thọ - Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030
Bảng 3.7 Hiện trạng chất lƣợng lao động du lịch tỉnh Phú Thọ (Trang 81)
Bảng 3.8: Doanh thu du lịch Phú Thọ và các tỉnh lân cận - Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030
Bảng 3.8 Doanh thu du lịch Phú Thọ và các tỉnh lân cận (Trang 83)
Bảng 3.9: Nguồn vốn đầu tƣ cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch - Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030
Bảng 3.9 Nguồn vốn đầu tƣ cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch (Trang 85)
Bảng 3.10: Đánh giá tổng hợp các điểm du lịch đƣợc lựa chọn của - Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030
Bảng 3.10 Đánh giá tổng hợp các điểm du lịch đƣợc lựa chọn của (Trang 89)
Bảng 4.2: Dự kiến mức chi tiêu trung bình của khách du lịch - Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030
Bảng 4.2 Dự kiến mức chi tiêu trung bình của khách du lịch (Trang 112)
Bảng 4.4: Dự báo nhu cầu cơ sở lưu trú của Phú Thọ (2015 - 2030) - Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030
Bảng 4.4 Dự báo nhu cầu cơ sở lưu trú của Phú Thọ (2015 - 2030) (Trang 113)
Bảng 4.5: Dự báo nhu cầu lao động trong du lịch của Phú Thọ giai đoạn - Đề tài Phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2002 – 2012 và định hướng đến năm 2030
Bảng 4.5 Dự báo nhu cầu lao động trong du lịch của Phú Thọ giai đoạn (Trang 114)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w