1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đề tài Biện pháp quản lý các lớp học từ xa của trung tâm giáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội

77 427 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài Biện pháp quản lý các lớp học từ xa của trung tâm giáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1.Lịch sử nghiên cứu vấn đề TRANG 5……. 1.1.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài Trang 5 đến trang 11 Đề tài Biện pháp quản lý các lớp học từ xa của trung tâm giáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội 1.2. Cơ sở lí luận 1.2.1. Khái niệm giáo dục từ xa 1.1. Cơ sở lý luận 1.1.1. Khái niệm giáo dục từ xa Đào tạo từ xa là một phương thức đào tạo dựa trên cơ sở phát huy khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học dưới sự tổ chức, hướng dân của giảng viên và cung ứng học liệu trên cơ sở đào tạo, là một phương thức giáo dục nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đề tài Biện pháp quản lý các lớp học từ xa của trung tâm giáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội Giáo dục từ xa tạo cơ hội học tập cho mọi người, nhằm mục tiêu nâng cao dân trí, góp phần đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Đối tượng của giáo dục từ xa là mọi người có nhu cầu học tập, đặc biệt là người lao động và nhân dân ở những vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn như vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Giáo dục từ xa – hiểu theo nghĩa đúng của nó – là một phương thức giáo dục mới đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội to lớn. Với giáo dục từ xa , mọi người đều có cơ hội học tập, học thường xuyên, được bổ túc và cập nhật kiến thức, trau dồi kỹ năng, phát triển trí sáng tạo, theo kịp và thúc đẩy sự đổi mới. Phương thức này cần được tiếp tục nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ ở nước ta, vì đây là xu thế của giáo dục hiện đại, một nhân tố khôn Đề tài Biện pháp quản lý các lớp học từ xa của trung tâm giáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội g thể thiếu trong việc phát triển nền kinh tế tri thức trong tương lai. Khi định nghĩa về giáo dục từ xa , có rất nhiều thuật ngữ liên quan và có nghĩa tương tự. Ở Anh, người ta đã sử dụng các khái niệm như: giáo dục từ xa (Distance education), đào tại mở (Open learning), đào tạo lấy người học làm trung tâm (Student – centred learning),… để phân biệt phương pháp sư phạm mới này với phương pháp giảng dạy truyền thống. Giáo dục từ xa trong một số trường hợp được dùng để chỉ phương pháp đào tạo mà trong đó giáo viên được cử đi dạy ở một nơi xa trường địa học, hay có thể dùng để chỉ một trường hợp khác đơn giản hơn là một trường đại học gửi sách vở hoặc tài liệu giảng dạy cho một tổ chức hoặc cá nhân để họ tự học, sau đó cấp bằng. Đề tài Biện pháp quản lý các lớp học từ xa của trung tâm giáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội Bản chất của việc học từ xa là tự học, người học phải biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Do đó, giáo dục từ xa phát huy tối đa tính chủ động tự giác, tư duy sáng tạo trong học tập của người học. Đó chính là nhân tố quyết định thành công và hiệu quả của quá trình học tập. 1.2.2. Đặc điểm hoạt động học tập của giáo dục từ xa Các tài liệu của UNESCO đã chỉ ra các đặc điểm chủ yếu của giáo dục từ xa là: - Phần lớn quá trình đào tạo có sự tách biệt giữa người dạy và người học. - Có sự tổ chức và hướng dẫn của các cơ sở giáo dục đào tạo để phát huy cao nhất sự nỗ lực tự học của người học. - Có sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật, các loại học liệu như tài liệu in ấn, các phương tiện nghe – nhìn, máy vi tính, mạng truyền thanh, truyền hình… - Sử dụng phương tiện và thông tin tương tác hai chiều trong dạy học. - Có sự cá thể hóa trong quá trình dạy học. Xuất phát từ mục tiêu giáo dục đại học nhằm bồi dưỡng nhân tài chuyên môn cao cấp ở các lĩnh vực nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu xã hội, khiến việc học tập của học viên phải chuyên sâu, đáp ứng yêu cầu của việc đào tạo chuyên gia. Vì vậy, ngoài những đặc điểm chung của học tập, học tâp của học viên có những đặc điểm nổi bật sau đây: Hoạt động học tập của học viên là loại hoạt động được diễn ra trong điều kiện có kế hoạch, có nội dung, chương trình, mục tiêu, phương thức và thời hạn nhất định. Học tập của học viên hướng vào việc hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách người chuyên gia trong các lĩnh vực nghề nghiệp tương ứng…. Mục đích học tập chuyên nghiệp của học viên là việc chiếm lĩnh một hệ thống kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp, hình thành những phẩm chất của người chuyên gia tương lai. Do yêu cầu của việc đào tạo người chuyên gia tương lai, nên học tập ở học viên đòi hỏi mức độ độc lập trí tuệ cao. Học viên phải tự ý thức đầy đủ về việc học tập của bản thân. Đó là sự giác ngộ bản thân là chủ thể của hoạt động học tậ, là người tổ chức, định hướng, kiểm tra quá trình học tập. Quá trình học tập của học viên nhằm xây dựng phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học độc lập, tự chủ. Tính độc lập của học viên thể hiện trong suốt quá trình học tập, từ việc tích cực giải quyết các nhiệm vụ học tập đến việc sưu tầm tài liệu tham khảo, lập kế hoạch học tập phù hợp và thực hiện nó. Nó được thể hiện ở sự giá ngộ về động cơ, mục đích, biện pháp học tập. Nghĩa là học viên phải tự ý thức về bản thân với tư cách là người tổ chức, thực hiện và kiểm tra quá trình học tập. Trong thời đại ngày nay, khối lượng kiến thức học viên cần lĩnh hội rất lớn, đồng thời việc học tập của học viên không chỉ dừng lại ở mức độ lĩnh hội mà còn gắn liền với việc tham gia nghiên cứu khoa học đòi hỏi sự sáng tạo cao. Học tập của học viên gắn với tinh thần sáng tạo, phát triển năng lực sáng tạo trên cơ sở kế thừa và nắm vững hệ thống kiến thức lý luận chuyên nghiệp. Học tập của học viên diễn ra trong môi trường chuyên nghiệp, mang tính chất đặc thù của nghề nghiệp cũng như của ngành học. Nghĩa là học tập của học viên phải giải quyết các nhiệm vụ ở trình độ cao. Trong quá trình học tập, học viên phải giải quyết các nhiệm vụ học tập thông qua việc thực hiện hệ thống hành động học tập cũng như sự tự kiểm tra và tự đánh giá về các kết quả của chúng. Nội dung học tập bao gồm việc học thông tin, học kỹ năng, học thái độ, học cách chuyển giao học tập. Học tập nhằm các mục đích cơ bản là thu thập thông tin, xây dựng phương pháp học tập, ghi nhớ có chọn lọc tài liệu học tập, phát triển tư duy sáng tạo, trí tuệ của chủ thể và áp dụng thông tin vào thực tế. Có 7 nguyên tắc học tập là: - Học tập đa giác quan; - Tham gia tích cực vào quá trình học tập; - Tài liệu có ý nghĩa; - Đầu tiên và gần đây; - Thực hành và củng cố; - Phản hồi; - Làm mẫu. Có thể nói rằng, ở trường địa học, mục tiêu học tập của học viên là học cách học, tiền đề của việc học suốt đời. Hiện nay, trong xu thế thời đại, học viên thực sự học tập vì cuộc sống, vì nghề nghiệp của bản thân. Học viên phải thực sự làm chủ quá trình học tập, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, biết kết hợp quá trình cá nhân hóa với quá trình xã hội hóa trong học tập của bản thân nhằm đạt tới việc “tự học – học suốt đời”. Đáp ứng những yêu cầu nghề nghiệp trong nền văn minh trí tuệ với những tiến bộ không ngừng về công nghệ thông tin. Quản lý hoạt động học tập là quản lý học viên thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện trong quá trình giáo dục và đào tạo ở nhà trường. Mặc dù được tuyển chọn vào học ở trường theo những tiêu chuẩn nhất định nhưng các học viên cùng khóa vẫn có những khác biệt về khía cạnh này hay khía cạnh khác trong nhân cách. Những khác biệt đó làm cho quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập, xã hội làm cho sự cải biến nhân cách của họ trở nên đa dạng và phức tạp. Do đó, quản lý hoạt động học tập là nhằm: - Theo dõi, tìm hiểu để nắm được những biểu hiện tích cực và tiêu cực trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện cũng như những biến đổi nhân cách của học viên nói chung và của từng học viên nói riêng. - Theo dõi, thúc đẩy, khuyến khích học viên phát huy các yếu tố tích cực, khắc phục các yếu tố tiêu cực, phấn đấu vươn lên đạt kết quả học tập, rèn luyện ngày càng cao. Hoạt động học tập của học viên bao giờ cũng ăn nhịp với hoạt động dạy học của giáo viên, do giáo viên điều khiển nên hoạt động dạy của giáo viên là tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập của học viên không chỉ trên lớp, ngoài lớp, ở nhà và các hình thức học tập khác. Học viên phải thực sự tự giác và tích cực học tập (tự học, tự rèn luyện). Hoạt động học tập của học viên phải mang tính giáo dục toàn diện. Hoạt động học tập phải đảm bảo hiệu quả dạy học, chất lượng học tập của tập thể hiện viên và của từng học viên (giúp đỡ học viên yếu, bồi dưỡng học viên giỏi). Mục tiêu của giáo dục từ xa các nước đều nhằm tạo cơ hội bình đẳng trong giáo dục, giúp người dân thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, sản xuất và xã hội, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Chính trong bối cảnh chung trên mà việc giáo dục từ xa ngày càng được quan tâm và phát triển, với những quan điểm, mục tiêu, cách làm mới đã góp phần giải quyết những nhu cầu của xã hội. Thật vậy, qua tình hình các nước đã nghiên cứu, ta thấy tựu chung lại, quan niệm và mục tiêu của giáo dục từ xa được tóm tắt vào các điểm sau: - Đó là một “cửa vào” mới cho giáo dục, hoặc một “lối mở cơ hội giáo dục mới”, một sự mở rộng lối vào cho giáo dục. Từ đó, góp phần tăng quy mô giáo dục, thực hiện ý tưởng giáo dục suốt đời, tạo điều kiện cho người lớn được đi học, giúp cho những người trước đây chưa có cơ hội học tập được học tập trở lại, thực hiện bình đẳng về cơ hội học tập, thực hiện dân chủ hóa giáo dục, xã hội hóa giáo dục. - Giúp cho những người lớn đối chọi với những biến đổi trong xã hội, trong kinh tế, kỹ thuật, trong công việc và đời sống… trong khi điều kiện có nhiều hạn chế. - Tăng cường nhân lực cho xã hội; nâng cao, cập nhật cho những người đang làm việc, tăng hiệu quả cho nền kinh tế. - Đó là một biện pháp canh tân giáo dục, nhất là ở giáo dục đại học. Nó thực hiện được việc phát huy những thầy giỏi để phục vụ cho số đông. Nó phát triển hệ thống dạy – học cá nhân hóa, cá biệt hóa, lấy sinh viên làm trung tâm, lấy tự học là chính, giúp cho việc nâng cao bản lĩnh của sinh viên, thậm chí có người thích học một mình và thấy rằng việc tự học rất hiệu quả). Nó là biện pháp để giúp cho người vừa làm, vừa học, ngay ở nơi mình làm việc. Nó sử dụng nhiều phương tiện nên có thể dạy từ xa, sử dụng nhiều phương tiện nghe nhìn để tăng hiệu quả giáo dục, nó thay đổi phương pháp dạy và học. - Đại bộ phận học viên theo học từ xa là đối tượng người lớn và đang công tác nên việc đi học có mục đích rõ rằng. Người lớn tuổi lại thường có ý chí và nghị lực, về mặt tâm lý lại không muốn thua kém đồng nghiệp, muốn nêu gương cho thế hệ sau. Có thể thấy ở học viên từ xa những đặc điểm sau: 1.2.3. Học viên từ xa cơ bản là tự học Khái niệm học dĩ nhiên bao giờ cũng bao hàm cả yếu tố tự học; cái cốt lõi của việc học là tự học. Song, đặc biệt với hình thức học từ xa và tại chức, với đối tượng học là những người trưởng thành, người học phải chủ động biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, ý thức được rằng tự học là yếu tố chủ yếu và quyết định sự thành bại của mỗi học viên. Đặc biệt, đối với việc học theo chương trình từ xa thì bản chất của phương thức học này gần như là tự học hoàn toàn. Tự học là sự thống nhất giữa hai mặt “dạy” và “học”. Người tự học vừa là thầy, vừa là trò. Có thể thấy quá trình này là quá trình luôn luôn được tiến hành ở người học; còn người dạy chỉ có thể trợ giúp người học thông qua tài liệu hướng dẫn hay trong thời gian lên lớp hạn hẹp. Cái cốt lõi nhất trong việc học từ xa là người học phải biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Điều đó có nghĩa là người học phải gần như trở thành “người thầy” cho chính mình với sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo thông qua kế hoạch và các điều kiện, phương tiện của chính mình để có thể đạt được mục tiêu và chương trình đào tạo. Bản chất của giáo dục từ xa là tự học. Người học phải phát huy cao nhất nội lực của mình để đạt được mục tiêu học tập, tức là phát huy tối đa tính chủ động, tự giác, tư duy sáng tạo trong học tập của chính mình. Muốn học từ xa thành công, cần chú ý tới các yếu tố sau: -Nền tảng học vấn nhất định; -Mục đích, nhu cầu học thực sự; -Phương pháp tự học đúng đắn và khoa học, trong đó, quan trọng nhất là phương pháp khai thác tài liệu; -Vận dụng hết những thuận lợi trong điều kiện, hoàn cảnh của mình và vượt qua những khó khăn trong quá trình tự học. 1.1.3.2. Giáo dục từ xa là phương thức đào tạo mềm dẻo Xuất phát từ nhu cầu thực sự của bản thân, học viên tự nghiên đăng ký học tập, nói chung là không phải thi tuyển đầu vào. Học viên có độ tự do rộng, được làm chủ quá trình học tập của mình, có thể học để nâng cao hiểu biết về một lĩnh vực kiến thức nào đó cần thiết cho cuộc sống mà không cần thi lấy văn bằng, chứng chỉ. Vì vậy, họ có thể chọn lọc môn học, tự chọn lấy thầy hướng dẫn. Học viên có thể học nhanh để rút ngắn thời gian đào tạo, hoặc kéo dài tùy theo điều kiện, hoàn cảnh của bản thân. Tóm lại, giáo dục từ xa là một kiểu đào tạo hết sức mềm dẻo giúp khơi ra nguồn lực về “tự giáo dục – tự học, tự nghiên cứu” của người học. 1.1. 3.3. Học viên “tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu” Trong giáo dục từ xa, trò ở xa thầy nên họ ít lệ thuộc vào thầy sẽ khiến học viên phải động não nhiều hơn trong quá trình tự học. Do vậy, tự học sẽ phát triển tư duy độc lập. Có tư duy độc lập thì mới có tư duy phê phán, do đó có cân nhắc, so sánh; từ đó có thể phát hiện ra mâu thuẫn và tìm cách giải quyết mâu thuẫn chính là nghiên cứu khoa học. Vậy tự học là cầu nối giữa 2 lĩnh vực hoạt động nhận thức của con người : học và nghiên cứu khoa học. Hai lĩnh vực này vốn bị chia cắt giả tạo, coi một bên là tiếp thu những gì loài người đã biết, bên kia là sáng tạo ra những gì loài người chưa biết. Tự học là điều kiện cần nhưng chưa đủ để dẫn đến tự nghiên cứu. Người học phải biết cách tự học. Việc hướng dẫn tự học của thầy có thể đóng một vai trò điều chỉnh, uốn nắn, xúc tác trên cơ sở phát huy đến mức Đề tài Biện pháp quản lý các lớp học từ xa của trung tâm giáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin gửi lời cảm ơn

chân thành tới PGS.TS Lê Thị Bừng, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo

và động viên tác giả trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, hoàn thiện luận văn

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo trong khoa Quản lý Giáo dục trường Đại học Sư phạm Hà Nội, những người đã dạy bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài

Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến, đồng nghiệp, gia đình và bạn

bè thân thiết đã luôn động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn

Hà Nội, tháng 11 năm 2011 Tác giả luận văn

Phạm Thị Vui

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế và tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Việt Nam đang đứng trước một thách thức có tính lịch sử: vừa chống nguy cơ tụt hậu, vừa phải tăng tốc phát triển để trong một thời gian không dài có thể rút ngắn và bắt kịp trình độ phát triển của đa số các nước trong khu vực Theo dự báo của các nhà khoa học đầu ngành trên thế giới thế kỷ 21 là thế kỷ của đại học toàn dân Để đạt được điều đó, vấn đề nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa hết sức quan trọng Điều đó có nghĩa là cần mở cơ hội học tập, tạo điều kiện rộng rãi cho mọi người dân được tiếp cận với các cơ hội giáo dục – đào tạo tùy theo nhu cầu và khả năng của mỗi người Trước bối cảnh đó, Đảng ta đã xác định trong Văn

kiện Đại hội Đảng lần thứ IX: “Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân

dân bằng những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi người, cả nước trở thành một xã hội học tập”

Giáo dục và đào tạo có vai trò quan trọng, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, đào tạo nhân tài cho đất nước Hệ thống đào tạo chính quy đã không thể đáp ứng được nhu cầu học tập và nâng cao kiến thức của nhiều đối tượng nên hệ thống giáo dục không chính quy – tức giáo dục thường xuyên sẽ đóng vai trò to lớn và không kém phần quan trọng đối với phát triển của đất nước Giáo dục thường xuyên sẽ huy động được toàn xã hội học tập, thích hợp với mọi lứa tuổi, mọi trình độ khác nhau, tạo cơ hội cho mọi người học tập suốt đời để nâng cao trình độ học vấn của mình

Trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010, Thủ tướng Chính

phủ cũng khẳng định rằng: “Phát triển giáo dục không chính quy là một hình

thức huy động tiềm năng của cộng đòng để xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội cho mọi người, mọi trình độ, mọi lứa tuổi, mọi nơi để có thể học tập suốt

Trang 3

đời phù hợp với bối cảnh và điều kiện của mỗi cá nhân, góp phần nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực”

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là một điển hình cho sự đa dạng hóa hình thức đào tạo Trong đó, Giáo dục từ xa trở thành một điểm nhấn được xã hội công nhận Quán triệt tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta về chiến lược phát triển giáo dục, trường ĐHSP Hà Nội đã nhận thức sâu sắc và kịp thời triển khai mở các hệ đào tạo không chính quy, đặc biệt là đào tạo từ xa ở các địa phương và đã đạt được kết quả bước đầu Thành tựu đạt được là rất to lớn

về cả quy mô và chất lượng Tuy nhiên, vẫn còn một số giáo viên, một số trung tâm giáo dục thường xuyên ở các tỉnh chưa hiệu quả, chưa quản lý tốt, chất lượng học tập của học viên còn thấp vì vậy, do yêu cầu phát triển cao của đất nước hiện nay đòi hỏi giáo dục thường xuyên phải được cải tiến, bổ sung những biện pháp hữu hiệu thích ứng với quy trình đào tạo trong bối cảnh khoa học công nghệ phát triển như vũ bão và được ứng dụng rộng khắp trong mọi lĩnh vực của đời sống Đòi hỏi, phương pháp quản lý của giáo dục từ xa cũng cần thay đổi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục để đáp ứng với thực tiễn luôn phát triển như hiện nay

Xuất phát từ những cơ sở trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Biện pháp

quản lý các lớp học từ xa của trung tâm giáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội”

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 3-4………

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 2: Thực trạng các biện pháp quản lý các lớp học từ xa

Trang 4

Chương 3: Một số giải pháp quản lí các lớp học từ xa của trung tâm giáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội

Trang 5

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Khái niệm giáo dục từ xa

Đào tạo từ xa là một phương thức đào tạo dựa trên cơ sở phát huy khả năng tự học, tự nghiên cứu của người học dưới sự tổ chức, hướng dân của giảng viên và cung ứng học liệu trên cơ sở đào tạo, là một phương thức giáo dục nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân

Giáo dục từ xa tạo cơ hội học tập cho mọi người, nhằm mục tiêu nâng cao dân trí, góp phần đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh

tế, xã hội của đất nước Đối tượng của giáo dục từ xa là mọi người có nhu cầu học tập, đặc biệt là người lao động và nhân dân ở những vùng có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn như vùng núi, vùng sâu, vùng xa Giáo dục từ xa – hiểu theo nghĩa đúng của nó – là một phương thức giáo dục mới đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội to lớn Với giáo dục từ xa , mọi người đều có cơ hội học tập, học thường xuyên, được bổ túc và cập nhật kiến thức, trau dồi kỹ năng, phát triển trí sáng tạo, theo kịp và thúc đẩy sự đổi mới Phương thức này cần được tiếp tục nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ ở nước ta, vì đây là xu thế của giáo dục hiện đại, một nhân tố không thể thiếu trong việc phát triển nền kinh tế tri thức trong tương lai

Khi định nghĩa về giáo dục từ xa , có rất nhiều thuật ngữ liên quan và

có nghĩa tương tự Ở Anh, người ta đã sử dụng các khái niệm như: giáo dục từ

Trang 6

xa (Distance education), đào tại mở (Open learning), đào tạo lấy người học làm trung tâm (Student – centred learning),… để phân biệt phương pháp sư phạm mới này với phương pháp giảng dạy truyền thống Giáo dục từ xa trong một số trường hợp được dùng để chỉ phương pháp đào tạo mà trong đó giáo viên được cử đi dạy ở một nơi xa trường địa học, hay có thể dùng để chỉ một trường hợp khác đơn giản hơn là một trường đại học gửi sách vở hoặc tài liệu giảng dạy cho một tổ chức hoặc cá nhân để họ tự học, sau đó cấp bằng

Bản chất của việc học từ xa là tự học, người học phải biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Do đó, giáo dục từ xa phát huy tối đa tính chủ động tự giác, tư duy sáng tạo trong học tập của người học Đó chính là nhân

tố quyết định thành công và hiệu quả của quá trình học tập

1.2.2 Đặc điểm hoạt động học tập của giáo dục từ xa

Các tài liệu của UNESCO đã chỉ ra các đặc điểm chủ yếu của giáo dục từ

xa là:

- Phần lớn quá trình đào tạo có sự tách biệt giữa người dạy và người học

- Có sự tổ chức và hướng dẫn của các cơ sở giáo dục đào tạo để phát huy cao nhất sự nỗ lực tự học của người học

- Có sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật, các loại học liệu như tài liệu in ấn, các phương tiện nghe – nhìn, máy vi tính, mạng truyền thanh, truyền hình…

- Sử dụng phương tiện và thông tin tương tác hai chiều trong dạy học

- Có sự cá thể hóa trong quá trình dạy học

Xuất phát từ mục tiêu giáo dục đại học nhằm bồi dưỡng nhân tài chuyên môn cao cấp ở các lĩnh vực nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu xã hội, khiến việc học tập của học viên phải chuyên sâu, đáp ứng yêu cầu của việc đào tạo

Trang 7

chuyên gia Vì vậy, ngoài những đặc điểm chung của học tập, học tâp của học viên có những đặc điểm nổi bật sau đây:

Hoạt động học tập của học viên là loại hoạt động được diễn ra trong điều kiện có kế hoạch, có nội dung, chương trình, mục tiêu, phương thức và thời hạn nhất định

Học tập của học viên hướng vào việc hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách người chuyên gia trong các lĩnh vực nghề nghiệp tương ứng… Mục đích học tập chuyên nghiệp của học viên là việc chiếm lĩnh một hệ thống kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp, hình thành những phẩm chất của người chuyên gia tương lai

Do yêu cầu của việc đào tạo người chuyên gia tương lai, nên học tập ở học viên đòi hỏi mức độ độc lập trí tuệ cao Học viên phải tự ý thức đầy đủ về việc học tập của bản thân Đó là sự giác ngộ bản thân là chủ thể của hoạt động học tậ, là người tổ chức, định hướng, kiểm tra quá trình học tập Quá trình học tập của học viên nhằm xây dựng phương pháp học tập, nghiên cứu khoa học độc lập, tự chủ Tính độc lập của học viên thể hiện trong suốt quá trình học tập, từ việc tích cực giải quyết các nhiệm vụ học tập đến việc sưu tầm tài liệu tham khảo, lập kế hoạch học tập phù hợp và thực hiện nó Nó được thể hiện ở

sự giá ngộ về động cơ, mục đích, biện pháp học tập Nghĩa là học viên phải tự

ý thức về bản thân với tư cách là người tổ chức, thực hiện và kiểm tra quá trình học tập

Trong thời đại ngày nay, khối lượng kiến thức học viên cần lĩnh hội rất lớn, đồng thời việc học tập của học viên không chỉ dừng lại ở mức độ lĩnh hội

mà còn gắn liền với việc tham gia nghiên cứu khoa học đòi hỏi sự sáng tạo cao Học tập của học viên gắn với tinh thần sáng tạo, phát triển năng lực sáng tạo trên cơ sở kế thừa và nắm vững hệ thống kiến thức lý luận chuyên nghiệp

Trang 8

Học tập của học viên diễn ra trong môi trường chuyên nghiệp, mang tính chất đặc thù của nghề nghiệp cũng như của ngành học Nghĩa là học tập của học viên phải giải quyết các nhiệm vụ ở trình độ cao Trong quá trình học tập, học viên phải giải quyết các nhiệm vụ học tập thông qua việc thực hiện

hệ thống hành động học tập cũng như sự tự kiểm tra và tự đánh giá về các kết quả của chúng Nội dung học tập bao gồm việc học thông tin, học kỹ năng, học thái độ, học cách chuyển giao học tập Học tập nhằm các mục đích cơ bản

là thu thập thông tin, xây dựng phương pháp học tập, ghi nhớ có chọn lọc tài liệu học tập, phát triển tư duy sáng tạo, trí tuệ của chủ thể và áp dụng thông tin vào thực tế

Có 7 nguyên tắc học tập là:

- Học tập đa giác quan;

- Tham gia tích cực vào quá trình học tập;

- Tài liệu có ý nghĩa;

- Đầu tiên và gần đây;

Trang 9

Quản lý hoạt động học tập là quản lý học viên thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện trong quá trình giáo dục và đào tạo ở nhà trường Mặc dù được tuyển chọn vào học ở trường theo những tiêu chuẩn nhất định nhưng các học viên cùng khóa vẫn có những khác biệt về khía cạnh này hay khía cạnh khác trong nhân cách Những khác biệt đó làm cho quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập, xã hội làm cho sự cải biến nhân cách của họ trở nên đa dạng và phức tạp Do đó, quản lý hoạt động học tập là nhằm:

- Theo dõi, tìm hiểu để nắm được những biểu hiện tích cực và tiêu cực trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập, rèn luyện cũng như những biến đổi nhân cách của học viên nói chung và của từng học viên nói riêng

- Theo dõi, thúc đẩy, khuyến khích học viên phát huy các yếu tố tích cực, khắc phục các yếu tố tiêu cực, phấn đấu vươn lên đạt kết quả học tập, rèn luyện ngày càng cao

Hoạt động học tập của học viên bao giờ cũng ăn nhịp với hoạt động dạy học của giáo viên, do giáo viên điều khiển nên hoạt động dạy của giáo viên là

tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập của học viên không chỉ trên lớp, ngoài lớp, ở nhà và các hình thức học tập khác

Học viên phải thực sự tự giác và tích cực học tập (tự học, tự rèn luyện) Hoạt động học tập của học viên phải mang tính giáo dục toàn diện

Hoạt động học tập phải đảm bảo hiệu quả dạy học, chất lượng học tập của tập thể hiện viên và của từng học viên (giúp đỡ học viên yếu, bồi dưỡng học viên giỏi)

Mục tiêu của giáo dục từ xa các nước đều nhằm tạo cơ hội bình đẳng trong giáo dục, giúp người dân thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, sản xuất và xã hội, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân

Trang 10

Chính trong bối cảnh chung trên mà việc giáo dục từ xa ngày càng được quan tâm và phát triển, với những quan điểm, mục tiêu, cách làm mới đã góp phần giải quyết những nhu cầu của xã hội

Thật vậy, qua tình hình các nước đã nghiên cứu, ta thấy tựu chung lại, quan niệm và mục tiêu của giáo dục từ xa được tóm tắt vào các điểm sau:

- Đó là một “cửa vào” mới cho giáo dục, hoặc một “lối mở cơ hội giáo dục mới”, một sự mở rộng lối vào cho giáo dục Từ đó, góp phần tăng quy mô giáo dục, thực hiện ý tưởng giáo dục suốt đời, tạo điều kiện cho người lớn được đi học, giúp cho những người trước đây chưa có cơ hội học tập được học tập trở lại, thực hiện bình đẳng về cơ hội học tập, thực hiện dân chủ hóa giáo dục, xã hội hóa giáo dục

- Giúp cho những người lớn đối chọi với những biến đổi trong xã hội, trong kinh tế, kỹ thuật, trong công việc và đời sống… trong khi điều kiện có nhiều hạn chế

- Tăng cường nhân lực cho xã hội; nâng cao, cập nhật cho những người đang làm việc, tăng hiệu quả cho nền kinh tế

- Đó là một biện pháp canh tân giáo dục, nhất là ở giáo dục đại học Nó thực hiện được việc phát huy những thầy giỏi để phục vụ cho số đông Nó phát triển hệ thống dạy – học cá nhân hóa, cá biệt hóa, lấy sinh viên làm trung tâm, lấy tự học là chính, giúp cho việc nâng cao bản lĩnh của sinh viên, thậm chí có người thích học một mình và thấy rằng việc tự học rất hiệu quả) Nó là biện pháp để giúp cho người vừa làm, vừa học, ngay ở nơi mình làm việc Nó

sử dụng nhiều phương tiện nên có thể dạy từ xa, sử dụng nhiều phương tiện nghe nhìn để tăng hiệu quả giáo dục, nó thay đổi phương pháp dạy và học

Trang 11

- Đại bộ phận học viên theo học từ xa là đối tượng người lớn và đang

công tác nên việc đi học có mục đích rõ rằng Người lớn tuổi lại thường có ý chí và nghị lực, về mặt tâm lý lại không muốn thua kém đồng nghiệp, muốn nêu gương cho thế hệ sau Có thể thấy ở học viên từ xa những đặc điểm sau:

1.2.3 Học viên từ xa cơ bản là tự học

Khái niệm học dĩ nhiên bao giờ cũng bao hàm cả yếu tố tự học; cái cốt lõi của việc học là tự học Song, đặc biệt với hình thức học từ xa và tại chức, với đối tượng học là những người trưởng thành, người học phải chủ động biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, ý thức được rằng tự học là yếu tố chủ yếu và quyết định sự thành bại của mỗi học viên Đặc biệt, đối với việc học theo chương trình từ xa thì bản chất của phương thức học này gần như là

tự học hoàn toàn

Tự học là sự thống nhất giữa hai mặt “dạy” và “học” Người tự học vừa

là thầy, vừa là trò Có thể thấy quá trình này là quá trình luôn luôn được tiến hành ở người học; còn người dạy chỉ có thể trợ giúp người học thông qua tài liệu hướng dẫn hay trong thời gian lên lớp hạn hẹp Cái cốt lõi nhất trong việc học từ xa là người học phải biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo Điều đó có nghĩa là người học phải gần như trở thành “người thầy” cho chính mình với sách giáo khoa, các tài liệu tham khảo thông qua kế hoạch và các điều kiện, phương tiện của chính mình để có thể đạt được mục tiêu và chương trình đào tạo Bản chất của giáo dục từ xa là tự học Người học phải phát huy cao nhất nội lực của mình để đạt được mục tiêu học tập, tức là phát huy tối đa tính chủ động, tự giác, tư duy sáng tạo trong học tập của chính mình Muốn học từ xa thành công, cần chú ý tới các yếu tố sau:

- Nền tảng học vấn nhất định;

- Mục đích, nhu cầu học thực sự;

Trang 12

- Phương pháp tự học đúng đắn và khoa học, trong đó, quan trọng nhất là

phương pháp khai thác tài liệu;

- Vận dụng hết những thuận lợi trong điều kiện, hoàn cảnh của mình và

vượt qua những khó khăn trong quá trình tự học

1.1.3.2 Giáo dục từ xa là phương thức đào tạo mềm dẻo

Xuất phát từ nhu cầu thực sự của bản thân, học viên tự nghiên đăng ký học tập, nói chung là không phải thi tuyển đầu vào Học viên có độ tự do rộng, được làm chủ quá trình học tập của mình, có thể học để nâng cao hiểu biết về một lĩnh vực kiến thức nào đó cần thiết cho cuộc sống mà không cần thi lấy văn bằng, chứng chỉ Vì vậy, họ có thể chọn lọc môn học, tự chọn lấy thầy hướng dẫn Học viên có thể học nhanh để rút ngắn thời gian đào tạo, hoặc kéo dài tùy theo điều kiện, hoàn cảnh của bản thân Tóm lại, giáo dục từ

xa là một kiểu đào tạo hết sức mềm dẻo giúp khơi ra nguồn lực về “tự giáo dục – tự học, tự nghiên cứu” của người học

1.1 3.3 Học viên “tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu”

Trong giáo dục từ xa, trò ở xa thầy nên họ ít lệ thuộc vào thầy sẽ khiến học viên phải động não nhiều hơn trong quá trình tự học Do vậy, tự học sẽ phát triển tư duy độc lập Có tư duy độc lập thì mới có tư duy phê phán, do đó

có cân nhắc, so sánh; từ đó có thể phát hiện ra mâu thuẫn và tìm cách giải quyết mâu thuẫn chính là nghiên cứu khoa học Vậy tự học là cầu nối giữa 2 lĩnh vực hoạt động nhận thức của con người : học và nghiên cứu khoa học Hai lĩnh vực này vốn bị chia cắt giả tạo, coi một bên là tiếp thu những gì loài người đã biết, bên kia là sáng tạo ra những gì loài người chưa biết Tự học là điều kiện cần nhưng chưa đủ để dẫn đến tự nghiên cứu Người học phải biết cách tự học Việc hướng dẫn tự học của thầy có thể đóng một vai trò điều chỉnh, uốn nắn, xúc tác trên cơ sở phát huy đến mức cao nhất sức tự thân vận động của trò

Trang 13

Tự học và tự nghiên cứu không chỉ đòi hỏi trình độ kiến thức, trình độ nhận thức mà còn nhiều phẩm chất khác mà tạo nên một sức mạnh tinh thần, một sự sáng suốt tìm phương hướng đi đến chân lý, ví dụ như lòng say mê khoa học(tình cảm), động lực muốn thành đạt(động cơ),các phẩm chất như tư tưởng tiến công, tính nhẫn nại, tính trung thực, khách quan, đòi hỏi chính xác Vì vậy, tự học và tự nghiên cứu đòi hỏi một sự tự giáo dục đồng thời cũng

là “biện pháp tự giáo dục”

1.1 4.Phân loại Giáo dục từ xa

Tuỳ theo phương thức phân phối các nội dung dạy học và sự liên hệ, tương tác giữa giảng viên và học viên mà có các hình thức tổ chức, thực hiện Giáo dục từ xa khác nhau

Về cơ bản người ta phân loại Giáo dục từ xa dựa trên cơ sở mối quan hệ giữa giảng viên và học viên trong quá trình dạy học, đó là Giáo dục từ xa tương tác và Giáo dục từ xa không tương tác

1.1.4.1 Giáo dục từ xa tương tác (interactive/synchronous)

Có nghĩa là có sự tương tác theo thời gian thực, trực tiếp giữa giảng viên

và học viên trong quá trình dạy học Trong giáo dục từ xa tương tác, có một

số phương thức tổ chức đào tạo sử dụng các công nghệ điển hình như ở dưới đây:

- Radio hai chiều; Thoại hội nghị : Công nghệ này được dùng nhiều cho các chương trình giáo dục phổ cập hơn là đào tạo cho người trưởng thành Nó cũng được dùng nhiều như là hình thức bổ trợ cho các công nghệ đào tạo khác, ưu điểm nổi bật là giá thành rẻ

- Cầu truyền hình: Sử dụng các bộ TIVI CODEC hoạt động ở tốc độ cao (2, 34Mbit/s), như các cầu truyền hình mà chúng ta vấn thường xem trong các dịp lễ tết trong những năm qua, giá thành của công nghệ này là đắt, thường

Trang 14

chỉ sử dụng cho nghiên cứu, cho các hoạt động cần có chất lượng âm thanh và hình ảnh rất cao

- Hội nghị truyền hình ISDN/IP: Sử dụng kết hợp công nghệ máy tính, viễn thông và truyền hình Vấn đề trọng tâm của hội nghị truyền hình ISDN/IP là các bộ mã hoá âm thanh và hình ảnh với hệ số nén rất cao Giá thành của công nghệ này phụ thuộc vào yêu cầu chất lượng hình ảnh, âm thanh Nhưng nhìn chung là phù hợp với các doanh nghiệp, hoặc cá nhân có khả năng tài chính nhất định

1.1.4.2 Giáo dục từ xa không tương tác (non-interactive/asynchronous)

Có nghĩa là không có sự tương tác theo thời gian thực, trực tiếp giữa giảng viên và học viên trong quá trình dạy học Trong Giáo dục từ xa không tương tác, có các phương thức được sử dụng điển hình như:

- Tài liệu, bài giảng in (print): Đây là công nghệ cổ điển, truyền thống nhất, dễ thực hiện nhất và đặc biệt là rẻ tiền nhất Tài liệu, bài giảng in sẽ tồn tại lâu dài dù cho các công nghệ nào khác chăng nữa sẽ được sử dụng cho Giáo dục từ xa trong tương lai

- Băng/đĩa hình, băng/đĩa tiếng (audio/video tape, disk): Đây cũng là một công nghệ phổ biến trong những thập niên trước, trong tương lai công nghệ này sẽ không phát triển nhiều, hoặc nếu có chỉ được sử dụng là một hình thức

bổ trợ cho các công nghệ khác

- Các chương trình CBT, các công cụ mô phỏng (đĩa mềm, CD-ROM, Multimedia ): Công nghệ này dựa vào các ứng dụng mô phỏng của kỹ thuật máy tính

- Phương tiện phát thanh, truyền hình quảng bá (broadcasting): Công nghệ này sử dụng các đài phát thanh, truyền hình để thực hiện Giáo dục từ xa Ưu điểm của công nghệ này là cùng lúc có thể giảng dạy cho số lượng rất lớn học viên Khả năng tiếp cận của người học cũng rất phong phú, tiện lợi

Trang 15

- Mạng Intranet, Internet (web, mail, e-learning ): Đây được coi là công nghệ Giáo dục từ xa của thế kỷ 21

Có thể thấy các công nghệ sử dụng cho Giáo dục từ xa là rất đa dạng và phong phú Trên cơ sở các phương thức Giáo dục từ xa vừa nêu, có thể diễn giải một cách tổng quát về Giáo dục từ xa như sau: “là một phương thức giáo dục - đào tạo dựa trên cơ sở của kỹ thuật nghe nhìn, công nghệ viễn thông và công nghệ thông tin Giáo dục từ xa lấy tự học là chủ yếu, có sự hỗ trợ tích cực của giáo trình, tài liệu hướng dẫn, băng hình/tiếng, phương tiện truyền thanh/truyền hình, công nghệ thông tin và viễn thông; có thể đồng thời có sự hướng dẫn và hỗ trợ của giảng viên của cơ sở đào tạo”

Trang 16

1.1.5 Các lợi ích kinh tế của giáo dục từ xa

1.1.5.1 Đối với cơ sở đào tạo

Một là, giáo dục từ xa sẽ giúp giảm đáng kể chi phí đào tạo Các cơ sở

đào tạo có thể tăng số lượng học viên mà không cần phải tăng thêm không gian, diện tích và cơ sở vật chất khác tương ứng Điều này thực sự hấp dẫn các trường đại học muốn mở rộng số lượng sinh viên nhưng có trở ngại về các nguồn tài chính cho cơ sở đào tạo

Hai là, giáo dục từ xa góp phần làm thay đổi phương thức đào tạo, đem

lại một công cụ, một phương pháp giảng dạy và học tập mới mẻ và hiện đại, nhiều tính năng Nó giúp phổ biến những kiến thức mới nhất, nhanh nhất đến từng người học; giúp nhà trường có khả năng thích ứng tốt với các điều kiện thực tế của người học

Ba là, giáo dục từ xa sẽ giúp mở rộng các quan hệ đào tạo và tạo một vị thế mới cho nhà trường Hơn nữa, khi giáo dục từ xa được xã hội chấp nhận

rộng rãi, nhà trường sẽ có nhiều thuận lợi trong việc phát triển các chương trình đào tạo sang các lĩnh vực khác chưa được chú ý trước đây

Bốn là, chương trình và nội dung bài giảng được đổi mới, cập nhật

thường xuyên, theo sát thực tế; giáo viên có thể sử dụng phương pháp và công

cụ giảng dạy hiện đại có cả âm thanh và hình ảnh sinh động; từ đó giúp nâng cao chất lượng đào tạo

1.1.5.2 Đối với người học

Hầu hết các học viên của các lớp từ xa là người lớn đang công tác trong

và ngoài ngành giáo dục Nhưng đối với những lớp từ xa ở các địa phương liên kết với Trung tâm Giáo dục từ xa thuộc Đại học Sư phạm Hà Nội thì đại

bộ phận là giáo viên Mầm non, giáo viên Tiểu học theo học các lớp địa học từ

xa nhằm nâng cao trình độ thực hiện chủ trương chuẩn hóa giáo viên ở các bậc học Nhìn chung, trong số học viên đó đều là chủ gia đình và là cán bộ

Trang 17

quản lý đè nặng trên vai trách nhiệm gia đình và công việc Họ không có nhiều thời gian, nhiều cơ hội để học tập tring và bằng con đường học tập từ

xa, họ có thể thực hiện mục đích học tập mà không bị “lỡ” việc gia đình và

cơ quan

Do đó, những lợi ích cơ bản do giáo dục từ xa mang lại cho người học là:

Một là, học viên sẽ tận dụng được nhiều cơ hội học tập Đối với những

người đang làm việc, họ vừa công tác vừa có thể tham gia học tập để nâng cao kiến thức, chuyên môn cũng như bằng cấp Còn đối với những học viên vừa tốt nghiệp phổ thông trung học không có điều kiện theo học các khóa chính quy tại trường hoặc các sinh viên muốn tham gia một lúc nhiều trường thì vẫn

có thể đảm bảo tiếp thu được các kiến thức như lớp chính quy Xét trên góc

độ xã hội thì đây là một phương pháp giúp mọi người, mọi đối tượng trong xã hội có thể tham gia học tập, học tập thường xuyên; là tiền đề để phát triển một

xã hội học tập

Hai là, giáo dục từ xa tạo ra phong cách độc lập, năng động

Ba là, học viên được tiếp thu bài giảng của các chủ đề khác nhau thuộc các môn học khác nhau tại nhiều nơi Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với

các học viên không có điều kiện tham gia các lớp học chính quy

Bốn là, học viên có thể trao đổi bài học, ý kiến, quan điểm khoa học và các nhận xét riêng của mình với giáo viên một cách dễ dàng, thuận lợi thông

qua thư điện tử, trang diễn đàn hoặc nhóm tin… Điều này đặc biệt phù hợp với những học viên ngại đề xuất, thắc mắc trực tiếp với giáo viên

Năm là, tiết kiệm được nhiều chi phí đi lại, ăn ở cho học viên Giáo dục

từ xa đảm bảo cho học viên các điều kiện học tập bình thường mà vẫn yên tâm làm việc ổn định tại cơ quan, tạo điều kiện thuận lợi cho họ gần gũi và giúp đỡ được gia đình, con cái Về mặt xã hội thì đây là một lợi ích không thể

đo đếm được

Trang 18

Tóm lại, việc thực hiện giáo dục từ xa sẽ tạo ra hiệu quả to lớn cả về kinh

tế và xã hội Trong điều kiện cụ thể hiện nay của nước ta, việc phát triển hình thức đào tạo này có thể coi là một trong những biện pháp để thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ, đồng thời thực hiện chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đa dạng hóa, xã hội hóa giáo dục Trong tương lai, hình thức này cần được phát triển mạnh mẽ, vì nó là tiền đề cho việc phát triển một xã hội học tập, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế tri thức – một xu thế phát triển của kinh tế thế giới trong thế kỷ XXI

1.1.6 Quản lý học tập theo hình thức từ xa

1.1.6.1 Biện pháp quản lý học tập theo hình thức từ xa

Biện pháp là “Cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”

Biện pháp quản lý là tổ hợp các cách thức tiến hành của chủ thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả các tiềm năng cơ hội của đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu quản lý

Biện pháp quản lý giáo dục là một tổ hợp tác động có định hướng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục đạt đến mục tiêu giáo dục đã định

Đối tượng quản lý giáo dục phức tạp đòi hỏi biện pháp quản lý của chủ thể đa dạng phong phú phù hợp với đối tượng quản lý Biện pháp quản lý có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống các biện pháp Hệ thống biện pháp quản lý giúp cho nhà quản lý thực hiện tốt các phương pháp quản lý

và đạt được mục tiêu giáo dục của mình

*Xét theo chức năng quản lý : Lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện, kiểm tra thì biện pháp quản lý giáo dục gồm 4 nhóm :

- Biện pháp xác lập mục tiêu kế hoạch giáo dục : (Chức năng kế hoạch

hóa của nhà quản lý) bao gồm :

Trang 19

+ Xây dựng mục tiêu, chương trình hành động

+ Xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định của cả hệ thống quản lý và bị quản lý trong giáo dục

- Biện pháp tổ chức trong quản lý giáo dục bao gồm :

+ Lập danh sách công việc cần phải hoàn thành để đạt được mục tiêu giáo dục

+ Phân công công việc tức là chia công việc thành các bộ phận để tổ chức thuận tiện và hợp logic

+ Thiết lập cơ chế điều phối, tạo thành sự liên kết hoạt động gữa các thành viên hay bộ phận tạo điều kiện đạt mục tiêu một cách dễ dàng

+ Theo dõi đánh giá hiệu quả của cơ cấu tổ chức và tiến hành điều chỉnh nếu cần

- Biện pháp điều khiển trong quản lý giáo dục ( Chỉ đạo thực hiện) gồm

các biện pháp tác động đến đối tượng quản lý một cách có chủ định nhằm phát huy hết tiềm năng của họ hướng vào việc đạt mục tiêu giáo dục

- Biện pháp kiểm tra trong quản lý giáo dục bao gồm các nội dung của

một quá trình xử lý: Xây dựng tiêu chuẩn, đo đạc việc thực hiện, điều chỉnh các sai lệch khi thực hiện nhằm đạt mục tiêu giáo dục đề ra

*Xét theo nội dung quản lý nhà nước về giáo dục thì các biện pháp quản

lý giáo dục gồm các nhóm biện pháp cơ bản sau :

- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục

- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành các quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ sở giáo dục khác

- Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in

và phát hành sách giáo khoa, giáo trình, quy chế thi cử và cấp văn bằng

Trang 20

- Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục

- Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục

- Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục

- Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu khoa học, công nghệ trong ngành giáo dục

- Tổ chức, quản lý công tác quan hệ quốc tế về giáo dục

- Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho những người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục

- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết

khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục

1.1.6.2 Nội dung quản lý học tập theo hình thức từ xa

Trung tâm Giáo dục từ xa trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội quản lý hoạt động học tập của học viên học hình thức từ xa bao gồm quản lý các nội dung cơ bản sau :

- Quản lý việc lập kết hoạch học tập cho học viên trong suốt 4 năm học

và trong từng học kỳ của năm học

- Tổ chức việc học tập theo đúng kế hoạch đã đặt ra của Trung tâm Giáo dục từ xa

- Tổ chức việc kiểm tra chuyên cần của học viên

- Tổ chức kiểm tra đánh giá thi học phần

- Quản lý cơ sở vật chất phục vụ học tập

1.1.6.3 Biện pháp quản lý học tập theo hình thức học từ xa

Biện pháp quản lý học tập cho học viên theo hình thức từ xa là một tổ hợp các tác động có định hướng của chủ thể quản lý (Trung tâm giáo dục từ

xa ) đến đối tượng quản lý (học viên) nhằm đưa hoạt động của học viên đến mục tiêu đã đặt ra

Trang 21

Theo nội dung quản lý hoạt động học tập thì biện pháp quản lý hoạt động học tập cho học viên của trung tâm giáo dục từ xa có thể bao gồm các nhóm biện pháp sau :

- Nhóm biện pháp lập kế hoạch học tập

- Nhóm biện pháp tổ chức việc học tập cho học viên theo kế hoạch đã đặt ra

- Nhóm biện pháp tổ chức kiểm tra học tập của học viên (Kiểm tra sự chuyên cần khi đi học và kiểm tra đánh giá học phần)

- Nhóm biện pháp quản lý cơ sở vật chất phục vụ cho việc học tập của học viên

Trang 22

2 Lịch sử nghiên cứu

2.1.Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài

Các nhà tương lai học, giáo dục học hàng đầu thế giới như: Alvin Toffler, Kevin Kelly, Raja RoySingh, Viên Quốc Chấn, TsunesaburoMakiguchi đã phân tích các đặc trưng của xã hội hiện đại được xây dựng trên nền tảng của hệ thống tri thức khoa học phát triển nhanh, biến đổi mạnh

Từ đó các nhà tương lai học, giáo dục học đã đưa ra dự báo nền giáo dục hiện đại và tương lai sẽ khác rất nhiều so với giáo dục truyền thống – Đó là nên giáo dục siêu công nghệ Do đó, nền giáo dục hiện đại và tương lai phải hướng đến giáo dục từ xa , giáo dục suốt đời, tức là đào tạo, bồi dưỡng lại

Trong tác phẩm “Dự báo thế kỷ XXI”, các nhà khoa học Trung Quốc đã nhấn

mạnh đến đặc trưng của giáo dục tương lai là xu thế học tập suốt đời đối với mỗi cá nhân và xã hội học tập, và công trình này đã được thế giới thừa nhận như một triết lý giáo dục của thế kỷ XXI

2.2 Một số công trình nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, vấn đề xã hội học tập, học tập thường xuyên và suốt đời cũng đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu

- Năm 2005, Giáo sư Hoàng Tụy và nhóm 23 giáo sư đã gửi lên Thủ

tướng chính phủ bản kiến nghị “Chấn hưng, cải cách và hiện đại hóa giáo

dục”, trong đó nhấn mạnh mọi người đều cần học tập, học tập thường xuyên,

học tập suốt đời

- Ngoài những công trình lớn của các nhà khoa học có tên tuổi đã nghiên cứu trong những năm gần đây, lĩnh vực giáo dục thường xuyên từ những năm 70 – 80 của thế kỷ trước cũng có những công trình nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này như của Ngô Nhật Quang, Vũ Ngọc Bình, Thái Xuân Đào về giáo dục người lớn; của Ngô Xuân Tiến, Nguyễn Quang La về giáo dục chính quy và không chính quy

Trang 23

- Xét về nguồn gốc và tiến trình phát triển của giáo dục thường xuyên ở Việt Nam là từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 tới nay thì khởi nguồn của

nó là phong trào Bình dân học vụ mà chủ tịch Hồ Chí Minh từng phát động

- Cùng với sự phát triển của đất nước, giáo dục thường xuyên ngày càng phát triển và được sự quan tâm đúng đắn của Đảng, Nhà nước Đây chính là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của giáo dục thường xuyên nói riêng và nền giáo dục Việt Nam nói chung

Trang 24

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

- Khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục từ xa trong bói cảnh mới của đất nước nhằm thực hiện xã hội học tập, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước

- Đề xuất những biện pháp quản lý các lớp học từ xa theo chương trình quy định của Bộ GD & ĐT và các địa phương nhằm nâng cao chất lượng dạy

và học ở các lớp bồi dưỡng đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong giai đoạn mới

3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những biện pháp quản lý các

lớp học từ xa của trường ĐHSP Hà Nội ở các địa phương

- Phạm vi nghiên cứu: Vì điều kiện khách quan và chủ quan có hạn nên

luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu các TTGD thường xuyên, các giám đốc, giáo viên của trường ĐHSP Hà Nội, học viên ở một số tỉnh như Hải Dương, Hải Phòng và Quảng Ninh

4 Luận điểm cơ bản và đóng góp của đề tài

4.1 Những luận điểm cơ bản

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến: Quản lý, biện pháp quản lý giáo dục từ xa

- Thực trạng các biện pháp quản lý các lớp học từ xa của Trung tâm giáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội

- Những đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các lớp học từ xa của Trung tâm giáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội

4.2 Đóng góp của đề tài

- Tìm hiểu cơ sở lý luận của khoa học giáo dục từ xa , đánh giá một cách toàn diện công tác đào tạo từ xa của trường ĐHSP Hà Nội nói riêng và góp phần tìm hiểu thực tiễn giáo dục từ xa của cả nước nói chung

Trang 25

- Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục từ

xa ở trường ĐHSP Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu về lý luận

- Sưu tầm, tập hợp, phân tích và so sánh các tài liệu về lý luận chuyên ngành giáo dục và quản lý giáo dục liên quan đến vấn đề giáo dục từ xa

- Nghiên cứu tài liệu liên quan đến quản lý các lớp học từ xa: Luật Giáo dục, Điều lệ nhà trường, văn bản pháp quy, quy chế về các lĩnh vực giáo dục…

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Xây dựng hệ thống câu hỏi điều tra để khảo sát nhận thức, thực trạng

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: từ TTGiáo dục từ xa các tỉnh, các kết quả học, thi của các học viên

- Phương pháp chuyên gia: Thông quan trao đổi để thu thập ý kiến của các nhà khoa học chuyên môn sâu về quản lý hoạt động dạy học từ xa, về lý luận giáo dục, lý luận dạy học Đồng thời cùng xem xét, phân tích và đánh giá những kết quả đạt được và chưa đạt được trong biện pháp quản lý các lớp hệ

từ xa của trường ĐHSP Hà Nội

- Nghiên cứu sản phẩm, kết quả của hoạt dộng dạy học của học viên ở một số địa phương

5.3 Nhóm các phương pháp bổ trợ

- Dùng phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu

- Sơ đồ hóa kết quả nghiên cứu để minh họa

Trang 26

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1.2 Đặc điểm hoạt động học tập của Giáo dục từ xa

1.1.3 Đặc điểm của học viên hệ từ xa

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Vài nét về Trường Đại học sư phạm Hà Nội

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội được thành lập ngày 11/10/1951 theo Nghị định 276 của Bộ Quốc gia Giáo dục Ngày 10/12/1993 theo Nghị định 97/CP của Chính phủ, trường là một trường thành viên của Đại học Quốc gia

Hà Nội Theo Quyết định 201/QĐTTg ngày 12/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ, trường được tách khỏi Đại học Quốc gia Hà Nội và mang tên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là trường trọng điểm, đầu ngành trong hệ thống của các trường sư phạm, là trung tâm lớn về đào tạo giáo viên

và nghiên cứu khoa học và là nơi tạo nên nhiều nhân tài, nhà khoa học danh tiếng cho đất nước Hiện nay, trường Đại học Sư phạm Hà Nội là một trong hai trường Đại học Sư phạm trọng điểm của nước ta

Quá trình hơn 50 năm xây dựng và phát triển của nhà trường gắn liền với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục – đào tạo và nền đại học Việt Nam Vượt lên những khó khăn, các thế hệ cán bộ quản lí, giảng viên, nhân viên, sinh viên, học sinh đã tô thắm truyền thống vẻ vang của nhà trường

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã và đang phấn đấu làm tròn chức năng “máy cái của ngành giáo dục”, trở thành trường chuẩn mực vừa đào tạo giáo viên các cấp có chất lượng cao vừa nghiên cứu khoa học đạt trình độ tiên tiến làm nòng cốt thức đẩy sự phát triển của hệ thống sư phạm trong cả nước,

Trang 27

góp phần giải quyết các vấn đề then chốt của nền giáo dục quốc dân nói chung và ngành sư phạm nói riêng

Trong quá trình xây dựng và phát triển, đặc biệt trong thời kì đổi mới, trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, được xã hội tín nhiệm và đánh giá cao

Một yếu tố quan trọng để bảo đảm yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo

và nghiên cứu khoa học là cơ sở vật chất kĩ thuật Cơ sở vật chất kĩ thuật của trường ngày càng được tăng cường Nhà trường đã có đủ giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, cơ sở thực tập và phương tiện kĩ thuật phục vụ cho dạy và học Nhà trường đã tạo ra môi trường xanh, sạch, đẹp và lành mạnh Trường Đại học Sư phạm Hà Nội kiên trì thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “…làm thế nào để nhà trường này chẳng những

là trường sư phạm mà còn là trường mô phạm của cả nước”

Trường Đại học sư phạm Hà Nội là đơn vị trọng điểm trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng khoa học giáo dục của ngành Các đề tài nghiên cứu bao gồm các lĩnh vực khoa học cơ bản, khoa học ứng dụng sản xuất phục vụ đời sống và khoa học sư phạm phục vụ đổi mới phương pháp đào tạo cử nhân chất lượng cao và sau đại học Trường kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu khoa học và đào tạo sau đại học thông qua hướng nghiên cứu gắn với các đề tài luận văn, luận án Trường còn triển khai nghiên cứu đưa công nghệ thông tin

và giáo dục môi truòng vào các trường phổ thông

Nhờ có đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu hùng hậu, Trường Đại học sư phạm Hà Nội có thể xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình có chất lượng cao nhằm phục vụ yêu cầu đào tạo của trường và cung cấp cho ngành sư phạm Hai phần ba số tác giả biên soạn sách giáo khoa phổ thông là cán bộ của trường

Trang 28

Trường Đại học sư phạm Hà Nội là một trong những trường có thành tích xuất sắc trong đào tạo tài năng trẻ cho đất nước Hệ trung học phổ thông chuyên đã đào tạo gần 2.000 học sinh tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc Có 36 học sinh đoạt Huy chương (10 Huy chương VÀng, 17 Huy chương Bạc và 11 Huy chương Đồng) tại các kì thi Olympic quốc tế Đặc biệt là liên tục từ năm

1999 đến nay, năm nào trường cũng có học sinh đoạt Huy chương Vàng Olympic quốc tế và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

1.2.2 Vài nét về Trung tâm Giáo dục từ xa

Trung tâm Giáo dục từ xa được thành lập từ tháng 11/1994 Sau gần 2 năm chuẩn bị, lớp học đầu tiên đào tạo giáo viên tiểu học có trình độ đại học

đã khai giảng tại Ninh Bình ngày 13/10/1996 Được sự chỉ đạo trực tiếp của

Bộ Giáo dục và Đào tạo, Trường Đại học sư phạm Hà Nội đã triển khai dự án Việt – Bỉ mở đầu cho chủ trương đào tạo từ xa nhằm nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên trước hết là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng Tây Nguyên 17 năm qua, giáo dục từ xa của Trường Đại học sư phạm Hà Nội đã không ngừng lớn mạnh, khẳng định vị thế của mình về một khoa học sư phạm

từ xa đầy mới mẻ và thách thức tại Việt Nam Có được điều đó ngoài sự lãnh đạo sâu sát, trực tiếp của các cấp, Trường Đại học sư phạm Hà Nội còn nhận được sự ủng hộ nhiệt thành từ phía các địa phương liên kết đào tạo Sự hợp tác và làm việc đầy thiện chí của các địa phương đã như những nhịp cầu nối chúng tôi đến với những học viên trên khắp mọi miền Tổ quốc Từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành phố đến nông thôn, từ huyện đảo Phú Quốc xa xôi đến vùng núi cao Lạng Sơn…đâu dâu cũng có những Sở, Trung tâm, trường Cao đẳng hoặc Phòng sẵn sàng hợp tác và trở thành những cơ sở liên kết đào tạo có hiệu quả với Trường Đại học sư phạm Hà Nội Thành tựu của sự liên kết thường xuyên, gắn bó này thể hiện trên các kết quả mà sự nghiệp giáo dục

từ xa của Trường Đại học sư phạm Hà Nội đã đạt được trong những năm qua

Trang 29

- Về công tác tuyển sinh và đào tạo:

Trong những năm qua, ngoài việc Trường Đại học sư phạm Hà Nội làm tốt công tác thông tin tuyên truyền đối với người học, chính các cơ sở liên kết đào tạo đã cung cấp những thông tin cần thiết cho người học, góp phần cùng Trường phát triển loại hình giáo dục từ xa Những ưu việt dễ nhận thấy của giáo dục từ xa là:

+ Học viên dẽ tận dụng được nhiều cơ hội trong học tập Đối tượng là những người vừa tham gia công tác, vừa có thể học tập để nâng cao, bổ sung kiến thức, năng lực chuyên môn cũng như bằng cấp

+ Với cách học vào những ngày nghỉ cuối tuần và học trong dịp hè, học viên có thể học tại ngay chính địa phương của mình, không tốn thời gian vào việc đi lại và đảm bảo an toàn

+ Tiết kiệm được chi phí, có hiệu quả kinh tế cao

+ Giúp nâng cao vị thế của người học

Quy mô tuyển sinh hệ từ xa của Trường Đại học sư phạm Hà Nội ngày càng phát triển cả về địa bàn cũng như ngành đào tạo

- Về địa bàn liên kết đào tạo:

Tính đến năm 2011, Trung tâm Giáo dục từ xa - Trường Đại học sư phạm Hà Nội đã liên kết đào tạo với 38 tỉnh, thành phố trong toàn quốc

Trang 30

Bảng 1: Hệ thống liên kết đào tạo của Trung tâm Giáo dục từ xa – ĐHSP

Hà Nội

học viên

Tổng số ngành đào tạo

Trang 31

là rất phù hợp và hiệu quả cao

Trong quá trình trưởng thành và phát triển hệ đào tạo từ xa Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã nhận được sự tín nhiệm, quan tâm, ưu ái của các cơ

sở liên kết đào tạo trên tinh thần “nối vòng tay lớn” để tất cả cùng hòa nhịp

Trang 32

bước tới đích “xã hội hóa giáo dục” Qua đó góp phần hoàn thành đề án “Phát triển giáo dục từ xa ở các trường đại học, cao đẳng” Để không phụ lòng tin tưởng của địa phương và những kì vọng của học viên về sự lựa chọn của mình khi theo học hệ từ xa Trung tâm còn đặc biệt chú trọng đến việc nâng cao chất lượng công tác giảng dạy và học tập, coi đây là điểm then chốt quyết định chất lượng đào tạo Cụ thể là:

- Về đội ngũ giảng dạy: Ngoài việc huy động chất xám các đội ngũ

GS, PGS, TS, giảng viên của trường Đại học Sư phạm Hà Nội làm nòng cốt Trường còn quan hệ chặt chẽ với đội ngũ các nhà khoa học của các trường đại học, cao đẳng cũng như của các viện, các cơ sở nghiên cứu trong cả nước Trung tâm đã huy động đội ngũ hơn 500 các thầy cô giáo thuộc các chuyên ngành có trình độ cao tham gia công tác đào tạo, biên soạn giáo trình, học liệu phục vụ công tác đào tạo từ xa Trung tâm nhận thấy rõ, qua các hoạt động đào tạo này trình độ giảng viên của trường được nâng cao bởi giáo dục không

có nghĩa là chỉ phục vụ cho một đối tượng (sinh viên chính quy), một địa điểm (trường Đại học) Nói cách khác, địa phương là những cơ sở thực hành nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ ưu việt cho đội ngũ giảng viên của trường

- Về giáo trình học liệu: Đến năm học 2010 - 2011, 16 ngành học đã

có đủ 100% tài liệu in phục vụ đào tạo từ xa Các tài liệu in đều được gửi tới tận tay học viên trước mỗi đợt học Để việc kết nối giữa trường và các địa phương ngày càng trở nên dễ dàng, thuận tiện và chuyển tải thông tin một cách nhanh chóng, cập nhật nhất, trường đã xây dựng và nâng cấp cơ

sở hạ tầng về công nghệ thông tin, đổi mới và cập nhật trang Web phục vụ đào tạo từ xa

- Về công tác kiểm tra đánh giá: Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, với

đặc điểm riêng biệt của đối tượng đào tạo hệ từ xa là những người đang làm thầy nên những kiến thức học viên thu nhận trong quá trình học sẽ phục vụ

Trang 33

trực tiếp cho sự nghiệp trồng người Vì thế, chất lượng đào tạo cũng phảo được thể hiện chínnh xác qua quá trình kiểm tra đánh giá Trong những năm vừa qua, hưởng ứng chủ trương: “Nói không với tiêu cực trong thi cử” Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã phối hợp triệt để hơn với địa phương để làm tốt công tác kiểm tra đánh giá Chúng tôi cũng đã nhận được sự đồng thuận của các địa phương từ khâu tôe chức thi, chuẩn bị cơ sở vật chất, tạo không khí nghiêm túc trong trường thi, báo kết quả thi cho học viên…

- Công tác quản lí đào tạo từ xa: Trong những năm qua, nhờ có sự

cộng tác chặt chẽ giữa các cơ sở liên kết đào tạo với Trung tâm mà công tác quản lý hệ đào tạo từ xa đã có rất nhiều thay đổi tích cực, hoạt động đi vào chiều sâu và có hiệu quả Cụ thể là:

Chuyên nghiệp hóa các hoạt động của Trung tâm Phối hợp chặt chẽ với từng địa phương để giải quyết kịp thời những tồn tại và những phát sinh trong quá trình đào tạo

Nề nếp hóa công tác kiểm tra hồ sơ, sổ sách, chấm thi, bảo quản bài thi

Ở mỗi khâu đều có quy trình cụ thể, ở mỗi công đoạn của quy trình đều phân công trách nhiệm cho từng cán bộ quản lí trực tiếp

Phối hợp đồng bộ giữa sự tự giác của bản thân người học với sự quản lí của Trung tâm Giáo dục từ xa với các địa phương, thường xuyên kiểm tra giám sát việc quản lí hồ sơ, kế hoạch giảng dạy…đảm bảo thông tin hai chiều giữa cơ quan quản lí và học viên

Tổ chức tốt khâu thi và xét tốt nghiệp thực hiện nghiêm túc và đúng quy chế các kì thi tốt nghiệp đại học từ khâu kiểm tra điều kiện, văn bằng, tổ chức thi, chấm bài và duyệt tốt nghiệp

- Về công tác thông tin tuyên truyền: Một trong những phương tiện

thông tin tuyên truyền mà Trường ĐHSP Hà Nội đã sử dụng có hiệu quả để

chuyển tải thông tin trong những năm qua là Bản tin Giáo dục từ xa và Tại

Trang 34

chức Được sự đón nhận của đông đảo học viên, được sự khích lệ của các

địa phương, bản tin ngày càng khởi sắc, đẹp về hình thức, phong phú về nội dung

Như vậy, những thành tựu mà Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã đạt được trong hệ đào tạo từ xa đều có sự góp mặt tích cực và ý nghĩa của các cơ

sở liên kết đào tạo, cửa các học viên Trung tâm Giáo dục từ xa coi đó là động lực vô cùng to lớn để thúc đẩy phát triển mạnh hơn nữa sự nghiệp giáo dục từ

xa, để giáo dục từ xa thực sự là chiếc chìa khóa giải quyết những vấn đề đặt ra trong những năm đầu thế kỉ XXI, mà mục tiêu là: tăng trưởng kinh tế nhanh, phát triển xã hội bền vững, xóa nghèo toàn diện trên các lĩnh vực tri thức, nhân văn và thu nhập Để mỗi học viên có thể tiến hành học tập theo nhu cầu

cá nhân nhằm nâng cao học vấn, hoàn thiện tay nghề, lấp những lỗ hổng trong kiến thức, trau dồi văn hóa và nhân cách

Kết luận chương 1

Trong xã hội hiện đại, giáo dục được phát triển theo xu hướng mở, thường xuyên cho nhu cầu học tập suốt đời cho xã hội học tập Xu hướng hiện đại này ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã định hướng: “Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mơt – mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tịc, liên thông giữa các bậc học, ngành học, xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho người lớn và hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên, tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho mọi người học, đảm bảo sự công bằng xã hội trong giáo dục” Những năm qua, quan điểm lý luận chỉ đạo trên đã được triển khai trong thực tiễn Nền giáo dục đã có nhiều thay đổi, đã đa dạng hóa nội dung, chương trình, hình thức giáo dục, đã mềm dẻo, linh hoạt trong tổ chức các hình thức

Trang 35

học tập: tập trung, từ xa, tại chức, chính quy, không chính quy…, đã cung ứng kịp thời nguyện vọng, nhu cầu cho hàng triệu người học trong cả nước Trongg thành tích đó có sự đóng góp rất to lớn của các trung tâm giáo dục thường xuyên của các trường dạy nghề, cao đẳng và đại học

Để nghiên cứu thực tiễn biện pháp quản lý hoạt động học tập của học viên hệ đào tạo từ xa tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đề tài đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản và sử dụng các khái niệm cơ bản sau :

Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tớ mục tiêu đã định

Quản lý khoa học hệ thống giáo dục có thể xác định như là tác động có

hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến các trường, các cơ

sở giáo dục khác ) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục – xã hội chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em, thiếu niên và thanh niên

Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lý, nhằm tập hợp

và tổ chức các lao động của giáo viên, học sinh sinh viên và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường

Học tập là hoạt động cơ bản của con người nhằm tìm hiểu và nghiên cứu các quy luật của thế giới Để đáp ứng được các yêu cầu, đòi hỏi của thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay,

“học tập là một bộ phận cấu thành con người, một phẩm chất vốn có tạo nên đời người” Nó là hoạt động giúp người học phát triển toàn diện, sáng tạo, có

Trang 36

trình độ chuyên môn và nghiệp vụ vững vàng để thích nghi nhanh chóng với

sự biến đổi phức tạp, đa dạng của cuộc sống

Giáo dục từ xa là một quá trình giáo dục, trong đó phần lớn có sự giãn cách gữa người dạy và người học về mặt không gian và thời gian Người theo học hình thức giáo dục từ xa , chủ yếu là học qua tài liệu học như giáo trình, băng hình, băng tiếng, CD-ROM, phần mềm vi tính, bằng việc sử dụng các phương tiện nghe nhìn, phát thanh, truyền hình, các tổ hợp truyền thông đa phương tiện, mạng Internet, dưới sự tổ chức trợ giúp của nhà trường

Biện pháp quản lý học tập cho học viên theo học hình thức từ xa là một

tổ hợp các tác động có định hướng của chủ thể quản lý (Trung tâm giáo dục

từ xa) đến đối tượng quản lý (học viên) nhằm đưa hoạt động của học viên đến mục tiêu đã đề ra

Trang 37

Chương 2 QUẢN LÝ CÁC LỚP HỌC CỦA TRUNG TÂM GIÁO DỤC TỪ XA TRƯỜNG ĐHSP HÀ NỘI – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

2.1 Thực trạng vấn đề quản lý các lớp học của TTGiáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội

2.1.1 Những thành tựu đã đạt được

Hình thức đào tạo từ xa để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục là một hình thức đào tạo khả thi và hiệu quả phù hợp với thực tế giáo dục các địa phương ở nước ta Trong gần

17 năm qua, trường ĐHSP Hà Nội đã thực sự đóng góp một phần quan trọng trong thực hiện tạo nguồn nhân lực, đổi mới giáo dục ở các địa phương, đặc biệt đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông Qua thực tế quản lý đào tạo từ xa ở các địa phương sẽ giúp nhà trường có những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng chuẩn hóa, đồng thời đội ngũ giảng viên cũng trưởng thành về nhiều mặt, hòa nhập với đồng nghiệp trong nước cũng như mở rộng giao lưu với đồng nghiệp quốc tế Những thành tựu của công tác quản lý giáo dục từ xa của Trường ĐHSP Hà Nội thể hiện trên những mặt sau:

2.1.1.1 Củng cố tổ chức, bộ máy quản lý của Trung tâm Giáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội và các cơ sở địa phương

- Trung tâm đã tổ chức bộ máy hoạt động thống nhất, có chất lượng ở các địa phương Mỗi cơ sở đào tạo đều lập Ban giám đốc điều hành và các cán bộ chuyên trách

- Ban hành các quy chế tuyển sainh, quy trình đào tạo Ngay từ những năm đầu thành lập, Trung tâm đã xây dựng được nội dung chương trình và các hình thức đào tạo phù hợp với loại hình đào tạo từ xa

Trang 38

Bộ máy hoạt động của Trung tâm Giáo dục từ xa – ĐHSP Hà Nội đã có

sự phân công, phân nhiệm rõ ràng Các hoạt động của Trung tâm đều dựa trên các văn bản, quy chế đào tạo đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt

2.1.1.2 Về xây dựng và quản lý chương trình đào tạo

Căn cứ vào quy chế đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành và Quyết định phê duyệt Đề án “Phát triển giáo dục từ xa giai đoạn 2005 – 2010” của Thủ tướng Chính phủ (04/07/2005), Trung tâm Giáo dục từ xa – ĐHSP

Hà Nội đã tiến hành xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo

Trước hết, Trung tâm Giáo dục từ xa – ĐHSP Hà Nội đã xây dựng được chương trình đào tạo hệ từ xa cho 16 ngành học làm cơ sở pháp lý để phối hợp với cơ sở địa phương tiến hành quản lý đào tạo một cách thống nhất, chặt chẽ

2.1.1.3 Quản lý công tác biên soạn giáo trình và học liệu

Cho đến nay Trung tâm Giáo dục từ xa – ĐHSP Hà Nội đã có đủ 100% tài liệu in ấn cho các ngành đào tạo từ xa Tất cả các môn học đều có giáo trình biên soạn và tài liệu hướng dẫn tự học Mặt khác Trung tâm Giáo dục từ

xa – ĐHSP Hà Nội còn tổ chức biên soạn được bộ băng đĩa hình cho 72 môn học Ngành giáo dục tiểu học đã phát sóng 2 buổi/tuần ở hê thống VTV2 – Đài truyền hình Việt Nam

Để quản lý đào tạo và giúp học viên ở các địa phương có thể truy cập, tìm hiểu về quá trình đào tạo, Trung tâm đã đưa lên trang web của trường (www hnue.edu.vn) tất cả các thông tin đào tạo từ xa Gần đây, Trung tâm đã

có tổ chức các buổi giải đáp thắc mắc cho học viên

Chủ trương của Trung tâm Giáo dục từ xa – ĐHSP Hà Nội là dùng công nghệ thông tin để truyền thông giáo trình hướng dẫn tự học cho học viên từ xa nhằm rút ngắn thời gian đào tạo, nâng cao chất lượng kiến thức cho học viên

Ngày đăng: 27/03/2016, 20:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Alvin Tofler (1992): Cú sốc tương lai, Nxb Thông tin lí luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cú sốc tương lai
Tác giả: Alvin Tofler
Nhà XB: Nxb Thông tin lí luận
Năm: 1992
2. Alvin Tofler (1992): Làn sóng thứ 3, Nxb Thông tin lí luận, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làn sóng thứ 3
Tác giả: Alvin Tofler
Nhà XB: Nxb Thông tin lí luận
Năm: 1992
3. Nguyễn Như Ất (2003): Về một số vấn đề lí luận xây dựng xã hội học tập ở nước ta, Tạp chí Phát triển giáo dục, 11/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một số vấn đề lí luận xây dựng xã hội học tập ở nước ta
Tác giả: Nguyễn Như Ất
Năm: 2003
4. Nguyễn Như Ất (2004): Về vị trí giáo dục không chính quy, giáo dục phi chính quy và xã hội học tập, Bộ GD&TĐ 5/2004, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vị trí giáo dục không chính quy, giáo dục phi chính quy và xã hội học tập
Tác giả: Nguyễn Như Ất
Năm: 2004
5. Ban soạn thảo Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000): Chiến lược phát triển GDTX đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển GDTX đến năm 2020
Tác giả: Ban soạn thảo Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2000
6. Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng (2004): Giáo dục Việt Nam hướng đến tương lai - vấn đề và giải pháp, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam hướng đến tương lai - vấn đề và giải pháp
Tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2004
7. Vũ Hữu Bình (1985): Về giáo dục người lớn, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 10/1985, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về giáo dục người lớn
Tác giả: Vũ Hữu Bình
Năm: 1985
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2005): Một số quy định mới về giáo dục và đào tạo, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số quy định mới về giáo dục và đào tạo
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2005
9. Phạm Khắc Chương (1992): J.A.Cômenxki – nhà giáo dục vĩ đại, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: J.A.Cômenxki – nhà giáo dục vĩ đại
Tác giả: Phạm Khắc Chương
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1992
10. Phạm Khắc Chương (2000): Đại cương quản lí giáo dục, ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương quản lí giáo dục
Tác giả: Phạm Khắc Chương
Năm: 2000
11. Jacques Delors (2003): Học tập - một kho báu tiềm ẩn, Nxb GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học tập - một kho báu tiềm ẩn
Tác giả: Jacques Delors
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2003
12. Phạm Tất Dong (2003): Xây dựng và phát triển một xã hội học tập, Tạp chí Dạy và Học số 2/2003, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và phát triển một xã hội học tập
Tác giả: Phạm Tất Dong
Năm: 2003
13. Đảng cộng sản Việt Nam (2006): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2006
14. Thái Xuân Đào (1989): Hình thành động cơ học tập cho người lao động, Tạp chí NCGD số 12/1989), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành động cơ học tập cho người lao động
Tác giả: Thái Xuân Đào
Năm: 1989
29. Quyết định 164/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Đề án “Phát triển giáo dục từ xa giai đoạn 2005-2010”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển giáo dục từ xa giai đoạn 2005-2010
15. Trần Khánh Đức (2002): Giáo dục kĩ thuật - nghề nghiệp và phát triển Khác
16. Nguyễn Minh Đường (2004): Bàn về triết lí của một xã hội học tập, Thông tin khoa học giáo dục số 12/2004, Hà Nội Khác
17. Nguyễn Minh Đường (2004): Xây dựng xã hội học tập - một yêu cầu tất yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, 7/2004, Hà Nội Khác
18. Nguyễn Minh Đạo (2000): Cơ sở của khoa học quản lý, Nxb CTQG, Hà Nội Khác
19. Phạm Minh Hạc (1999): Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỉ XXI, Nxb CTQG, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Hệ thống liên kết đào tạo của Trung tâm Giáo dục từ xa – ĐHSP - Đề tài Biện pháp quản lý các lớp học từ xa của trung tâm giáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội
Bảng 1 Hệ thống liên kết đào tạo của Trung tâm Giáo dục từ xa – ĐHSP (Trang 30)
Bảng 3: Đánh giá mức độ quản lý những hoạt động cơ bản ở các lớp từ xa - Đề tài Biện pháp quản lý các lớp học từ xa của trung tâm giáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội
Bảng 3 Đánh giá mức độ quản lý những hoạt động cơ bản ở các lớp từ xa (Trang 40)
Bảng 4: Đánh giá thực trạng về mối liên kết quản lý các lớp giáo dục từ xa - Đề tài Biện pháp quản lý các lớp học từ xa của trung tâm giáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội
Bảng 4 Đánh giá thực trạng về mối liên kết quản lý các lớp giáo dục từ xa (Trang 42)
Bảng 5: Những nội dung chủ yếu của dạy học trên lớp đối với giáo viên - Đề tài Biện pháp quản lý các lớp học từ xa của trung tâm giáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội
Bảng 5 Những nội dung chủ yếu của dạy học trên lớp đối với giáo viên (Trang 44)
Bảng 6: Những nội dung chủ yếu về hoạt động học của học viên - Đề tài Biện pháp quản lý các lớp học từ xa của trung tâm giáo dục từ xa trường ĐHSP Hà Nội
Bảng 6 Những nội dung chủ yếu về hoạt động học của học viên (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w