1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo nhóm chính sách phát triển khoa học công nông nghiệp

21 303 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 199,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong phạm vị chương trình cử nhân của học viện Hành chính quốc gia, bộ môn quản lý nhà nước về nông nghiệp nông thôn có vị thế là bộ môn cơ sở ngành, học tập bộ môn quản lý nhà nước về

Trang 1

BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NHÓM

NGHỆ TRONG

NÔNG NGHIỆP

NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM KỶ NGUYÊN MỚI

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: PHẠM THANH HƯƠNG

LỚP KH14XH

- Hà Nội, năm 2016

-BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC NHÓM KỶ NGUYÊN MỚI

Lớp: KH14XHKhóa: 2013 – 2017Thành viên: 8 sinh viên

Trang 2

HỌ VÀ TÊN NHIỆM VỤ GHI CHÚ

1. Lê Văn Hiệp Tổng hợp bài word, bài

thuyết trình, báo cáo sản phẩm, phân công, đánh giá công việc, chỉnh sửa,

in ấn, lời nói đầu, kết luận

Trưởng nhóm Mức độ hoàn thành:

1. Trần Thu Trang Khái niệm, vị trí, vai trò Mức độ hoàn thành: khá

1. Trần Thị Tuyết

2. Hoàng Anh Tú

Nội dung( tập trung nghiên cứu quyết định ) ; Hạn chế của chính sách

Mức độ hoàn thành: tuyết : tốt

Mức độ hoàn thành:

Vi: kháThuận: kháHương : khá

Trang 3

1. Lời nói đầu

Nông nghiệp từ lúc khởi thủy đến nay, vẫn luôn giữ vững vị thế quan trọng của

mình trong đời sống của xã hội loài người, bởi hơn ai hết, theo tháp nhu cầu của

Macslow, cái nhu cầu căn bản từ thuở hồng hoang vẫn là ăn, mặc để được tồn tại Với xã hội hiện đại ngày này, mặc dù các quốc gia đều hướng đến giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế, song điều đó không có nghĩa là chúng ta đang hạ thấp vai trò vị trí của nông nghiệp bởi lẽ dù chúng ta có giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu, song sản lượng nông nghiệp luôn tăng và tăng mạnh trong giai đoạn hiện nay để đáp ứng những nhu cầu về lương thực thực phẩm và nguyên nhiên liệu ngày càng tăng của xã hội hiện đại Và tất nhiên để làm điều đó, một trong những đóng góp mà chúng ta khổng thể không nói đến là việc áp dựng nhũng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, và hơn hết dưới góc độ quán lý đó là chính sách phát triển khoa học công nghệ của từng quốc gia Việt Nam chúng ta trong bối cảnh của một thé giới phẳng hiện nay, chúng ta không thể nào “ tồn tại” một mình nếu thiếu đi sự liên kết quốc tế Trong bối cảnh xây dựng một đất nước công

nghiệp hiện đại, văn minh chúng ta đã, đang và sẽ không ngừng “ đi tắt đón đầu”

tận dụng những thời cơ của quá trình đổi mới và hợp tác quốc tế, đồng thời tìm cách hạn chế những khó khắn, thách thức nhằm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội bản sắc Việt Nam Nông nghiệp từ ngàn đời nay là cái nôi văn hóa của người việt, chúng ta chưa bao giờ quên điều đó, và phát triển nông nghiệp nông thôn trở thành nhiệm vụ trọng tâm, vừa để xây dựng một đát nước tiên tiến, hiện đại vừa là

để lưu giữ cái hồn cốt cảu dân tộc Trong phạm vị chương trình cử nhân của học viện Hành chính quốc gia, bộ môn quản lý nhà nước về nông nghiệp nông thôn có

vị thế là bộ môn cơ sở ngành, học tập bộ môn quản lý nhà nước về nông nghiệp nông thôn, giúp cho đội ngũ các nhà quản lý tường lai” cán bộ, công chức” có một cái nhìn khoa học, vừa lý luận vừa thực tiễn về quản lý nông nghiệp, nông thôn dưới góc độ quản lý nhà nước.Nông nghiệp, nông thôn là một ngành rộng lớn, tuy nhiên trong phạm vi nghiên cứu, do nhân lực và thời gian còn hạn hẹp nên nhóm

chỉ tập trung : “nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về chính sách phát triển khoa

học công nghệ trong nông nghiệp nông thôn” Do trình độ chuyên môn còn hạn

chế, nên bài viết không thể tránh khỏi thiếu xót, rất mong được sự góp ý của giảng viên đề bài viết hoàn thiện hơn

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn./.

Trang 5

1. KHÁI NIỆM, VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

1.1 Khái niệm

Chính sách phát triển khoa học công nghệ là chính sách tác động của Nhà nước giúp cho việc nghiên cứu sáng tạo các công nghệ mới lực chọn và phổ biến cho con người áp dụng trong thực tiễn sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm tốt có sức cạnh tranh cao

1.2 Vai trò

Thứ nhất, chính sách phát triển khoa học công nghệ là động lực để khuyến

khích cac nhà khoa học tập trung nghiên cứu phát minh công nghệ phục vụ có hiệu quả cho quá trình sản xuất

Thứ hai, chính sách phát triển khoa học công nghệ khuyến khích chuyển giao

công nghệ mới từ khoa học tới người dân và việc áp dụng ngày càng nhiều khoa học tiến bộ góp phần tạo giống tốt năng suất cao giá thành hạ, phù hợp vs nền kinh

tế hội nhập quốc tế

Thứ ba, chính sách phát triển khoa học công nghệ đặc điểm của các sản phẩm

nông nghiệp là khoa bảo quản , nên việc ứng dụng KHCN sẽ giúp cho công đoạn bảo quản hiệu quả hơn, nâng cao giá thành sản phẩm, tăng thu nhập cho người dân

NGHỆ

Ngày 11 tháng 4 năm 2012 Thủ tướng chình phủ đã ký ban hành Quyết định số

418/QĐ-TTg về việc: Phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ giai đoạn 2011 – 2020 theo đó, nội dung của chính sách phát triển khoa học công

nghệ trong nông nghiệp nông thôn như sau:

* Chọn, tạo các loại giống cho năng suất, chất lượng cao, khả năng kháng bệnh tốt, tính chịu mặn, chịu hạn và phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng

- Đối với cây trồng: tập trung nghiên cứu và ứng dụng ưu thế lai và công nghệ gen để tạo ra các giống cây trồng mới, có tốc độ sinh trưởng cao, cây trồng biến đổi gen có các đặc tính nông học ưu việt, phù hợp với yêu cầu của thị trường; công nghệ vi nhân giống để đáp ứng nhu cầu cây giống có chất lượng, sạch sâu bệnh;

- Đối với giống vật nuôi: nghiên cứu cải tiến công nghệ sinh sản, đặc biệt là công nghệ tế bào động vật trong đông lạnh tinh, phôi và cấy chuyển hợp tử, thụ tinh ống nghiệm; áp dụng phương pháp chỉ thị phân tử, công nghệ gen trong chọn,

Trang 6

tạo các giống vật nuôi mới có năng suất, chất lượng cao, sạch bệnh; ứng dụng công nghệ gen trong xác định giới tính phôi một số loại gia súc quan trọng;

* Phòng, trừ dịch bệnh cây trồng, vật nuôi bằng cách phát triển công nghệ vi sinh để sản xuất phân vi sinh, phân hữu cơ, các chế phẩm sinh học bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu sinh học với mục tiêu phát triển nền nông nghiệp sinh thái và bền vững;

- Về phòng, trừ dịch bệnh cây trồng: nghiên cứu và ứng dụng công nghệ vi sinh, công nghệ enzym và protein để sản xuất quy mô công nghiệp các chế phẩm sinh học dùng trong bảo vệ cây trồng; nghiên cứu phát triển các kit để chuẩn đoán, giám định bệnh cây trồng; nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ viễn thám, công nghệ hàng không trong quản lý và phòng trừ dịch sâu, bệnh hại rừng;

- Về phòng, trừ dịch bệnh vật nuôi: nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học để chuẩn đoán bệnh ở mức độ phân tử; nghiên cứu sản xuất vắc-xin thú y, đặc biệt là vắc-xin phòng, chống bệnh nguy hiểm như: cúm gia cầm, bệnh lở mồm, long móng ở gia súc và các bệnh nguy hiểm khác;

- Về phòng, trừ dịch bệnh thủy sản: nghiên cứu sản xuất một số loại kit chẩn đoán nhanh bệnh ở thủy sản; nghiên cứu ứng dụng sinh học phân tử và miễn dịch học, vi sinh vật học trong phòng, trị một số loại dịch bệnh nguy hiểm đối với thủy sản

* Nghiên cứu, phát triển các quy trình công nghệ trong sản xuất:

- Đối với trồng trọt: Nghiên cứu phát triển quy trình công nghệ tổng hợp và tự động hóa qui trình trồng trọt và thu hoạch như: giá thể, công nghệ thủy canh, tưới nước tiết kiệm, điều tiết tự động dinh dưỡng, ánh sáng, chăm sóc, thu hoạch Nghiên cứu phát triển quy trình công nghệ thâm canh và quản lý cây trồng tổng hợp; quy trình công nghệ sản xuất cây trồng an toàn theo VietGAP;

- Đối với chăn nuôi: nghiên cứu phát triển quy trình công nghệ tổng hợp và tự động hóa quy trình chăn nuôi quy mô công nghiệp, có sử dụng hệ thống chuồng kín, hệ thống điều hòa nhiệt độ, ẩm độ phù hợp, hệ thống phân phối và định lượng thức ăn tại chuồng;

* Tạo ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị sử dụng trong nông nghiệp

- Nghiên cứu tạo ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp, đặc biệt là cây trồng trong nhà kính, nhà lưới, như:

Trang 7

phân bón chuyên dụng, giá thể, chế phẩm sinh học, khung nhà lưới, lưới che phủ,

hệ thống tưới, thiết bị chăm súc, thu hoạch, hệ thống thông thoáng khí;

- Nghiên cứu tạo ra các loại vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ cho chăn nuôi

và nuôi trồng thủy sản, như: thức ăn, chế phẩm sinh học; khung nhà, hệ thống chiếu sáng, hệ thống phân phối thức ăn, thu hoạch trong chăn nuôi; hệ thống xử lý nước thải và chất thải rắn, hệ thống điều tiết nước tuần hoàn, hệ thống mương nổi,

hệ thống ao nhân tạo trong nuôi trồng thủy sản

* Công nghệ bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp:

- Đối với công nghệ bảo quản, chế biến nông sản: nghiên cứu phát triển công nghệ chiếu xạ, công nghệ xử lý hơi nước nóng, công nghệ xử lý nước nóng, công nghệ sấy lạnh, sấy nhanh trong bảo quản nông sản; công nghệ sơ chế, bảo quản rau, hoa, quả tươi qui mô tập trung; công nghệ bao gói khí quyển kiểm soát; công nghệ bảo quản lạnh nhanh kết hợp với chất hấp thụ etylen để bảo quản rau, hoa, quả tươi; công nghệ tạo màng trong bảo quản rau, quả, thịt, trứng; công nghệ lên men, công nghệ chế biến sâu, công nghệ sản xuất sản phẩm chức năng; công nghệ sinh học và vi sinh sản xuất chế phẩm sinh học và các chất màu, chất phụ gia thiên nhiên trong bảo quản và chế biến nông sản;

- Đối với công nghệ bảo quản, chế biến lâm sản: nghiên cứu ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ tự động hóa nhằm tiết kiệm nguyên liệu, thời gian và nâng cao hiệu quả sử dụng gỗ; công nghệ biến tính gỗ, công nghệ sấy sinh thái, công nghệ ngâm, tẩm để bảo quản gỗ; công nghệ sinh học sản xuất chế phẩm bảo quản, chế phẩm chống mối, mọt thế hệ mới; công nghệ sản xuất các màng phủ thân thiện với môi trường;

- Đối với công nghệ bảo quản, chế biến thủy sản: Nghiên cứu phát triển công nghệ lạnh bảo quản dài ngày sản phẩm thủy sản trên tàu khai thác xa bờ; công nghệ sinh học sản xuất các chất phụ gia trong chế biến thủy sản; công nghệ lên men nhanh để chế biến các sản phẩm thủy sản truyền thống

* Nghiên cứu sản xuất các loại thức ăn chăn nuôi đảm bảo chất lượng phục vụ chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản tạo ra các sản phẩm sạch cho sức khỏe con người

* Chấn chỉnh tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các viện nghiên cứu, các trung tâm, tổ chức sự nghiệp khoa học trong nông, lâm, ngư nghiệp

3. THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trang 8

3.1 Đối với cây trồng:

Về Nghiên cứu chọn tạo giống mới:

Trong giai đoạn 2006 - 2012, Viện khoa học nông nghiệp Việt Nam đã được công nhận 391 giống cây trồng mới (trong đó, 121 giống công nhận chính thức,

270 giống công nhận tạm thời); 19 kỹ thuật tiến bộ và 27 biện pháp kỹ thuật khác được công nhận thử nghiệm trong hầu hết các lĩnh vực

Ở phía Bắc, thành tựu nổi bật nhất là chọn tạo thành công và phát triển trên diện rộng bộ giống lúa ngắn ngày và lúa thơm năng suất cao, chất lượng gạo cao hơn so với giống lúa thuần Trung Quốc Một số giống nổi bật là AC5, PC6, HT6, SH14 Ước tính diện tích giống mới của Viện được sản xuất ở các tỉnh phía Bắc chiếm khoảng 750 - 800 ngàn ha/năm Xét về hiệu quả kinh tế, chỉ tính giống mới cho năng suất tăng 10% thì diện tích trên đã làm tăng thêm khoảng 350 ngàn tấn thóc, tương đương 1,2 ngàn tỷ đồng/năm

Ở phía Nam, kết quả điều tra của Trung tâm Khảo Kiểm nghiệm Giống, Sản phẩm cây trồng và Phân bón Quốc gia (2008) cho thấy diện tích sử dụng giống lúa

do Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam chọn tạo đã đạt trên 2,4 triệu ha, chiếm 34,9% diện tích gieo trồng cả nước hay 80% diện tích lúa vùng Đồng bằng sông Cửu Long Với 2,4 triệu ha, giống mới cho năng suất tăng 10%, sản lượng sẽ tăng thêm 1,2 triệu tấn thóc/năm thì đã làm lợi khoảng 4.200 tỷ đồng/năm Giống lúa của Viện còn được trồng phổ biến ở Duyên hải Miền Trung và Tây Nguyên với tổng diện tích gieo gần 100 ngàn

ha chiếm 37,7%; ở vùng Đông Nam Bộ trên diện tích 221 ngàn ha, chiếm 45,4%

Giống lúa lai: Có 5 giống được công nhận (2 giống 3 dòng và 3 giống 2 dòng)

Các giống lai 2 dòng (HYT102, HYT103, HYT108) có năng suất và chất lượng khá hơn giống lai 2 dòng của Trung Quốc; giống lai 3 dòng (HYT100) hạt gạo trong đẹp, chất lượng cơm tương đương với giống lai có chất lượng tốt nhất của Trung Quốc

Giống ngô: Có 20 giống ngô mới được công nhận, trong đó có 17 giống lai Năng

suất giống mới tương đương với các giống do các công ty nước ngoài giới thiệu vào Việt Nam;

tính chống chịu hạn, sâu bệnh khá hơn, giá cả thấp hơn 30 - 40%.các giống ngô lai cho năng suất cao như: NK4300,NK 5400, DK 9955

Đậu đỗ: Đã có 9 giống lạc mới, 12 giống đậu tương mới được công nhận, trong đó

nổi bật nhất là các giống lạc năng suất cao, góp phần đưa năng suất lạc tăng toàn quốc từ 12,8 tạ/ha (1999) lên 21,0 tạ/ha hiện nay.Nổi bật như giống lạc L18,L23

Trang 9

Cây ăn quả: Đã bình tuyển và chọn ra 4 giống vải chín sớm (sớm hơn vải Thanh

Hà 20 - 25 ngày), 2 giống nhãn chín muộn hơn các giống khác khoảng 20 ngày Viện cũng đang mở nhanh diện tích giống cam không hạt V2 tại nhiều vùng cam truyền thống như Phủ Quỳ, Anh Sơn (Nghệ An), Cao Phong, Hòa Bình Đây là giống có chất lượng tốt, rất ít hạt, mã quả đẹp, khả năng kháng bệnh tốt, năng suất tại Nghệ An có nơi đã đạt 20 tấn quả/ha ngay ở năm thứ 4 Giống đã được làm sạch bệnh qua vi ghép đỉnh sinh trưởng Với ưu điểm vượt trội nên diện tích cam V2 đã đạt hàng ngàn hecta chỉ trong 2 - 3 năm

Ngoài ra nhiều giống mới được công nhận như giống cam Sành không hạt, giống thanh long ruột đỏ, ruột hồng; các giống dứa Cayen Long Định 2, Cayen H180 đang được phát triển rộng trong sản xuất ở các tỉnh phía Nam

Ngoài ra, Viện cũng đã tuyển chọn và thuần hóa được nhiều giống cây ăn quả ôn đới như hồng, lê, đào, mận, đang được trồng ở một số tiểu vùng có khí hậu đặc thù tại Miền núi phía Bắc và Tây Nguyên:

• Giống cà phê: Các dòng cà phê vối mới được chọn tạo (TR4, TR5, TR6, TR7,

TR8,TR9, TR10, TR11, TR12, TR13) năng suất bình quân 4 - 6 tấn nhân/ha, khối lượng 100 nhân 17 - 19g, kháng cao với bệnh gỉ sắt So với giống thực sinh năng suất cà phê cao hơn từ 0,5 đến 1 tấn nhân/ha

• Giống sắn: Có thể nói giống sắn của Viện đã có những tiến bộ vượt bậc Giống

mới chủ lực như KM94, KM140, KM98-7 phủ gần như toàn bộ diện tích sắn cả nước với năng suất tăng 100% trong 10 năm qua, đưa năng suất sắn trung bình đạt gần 18 tấn/ha

• Giống rau: Đã tạo được giống cà chua lai FM20, FM29, Lai số 9 năng suất đạt

45 - 50 tấn/ha; giống dưa chuột lai CV5, CV11, CV29 và CV209 có khả năng trồng được nhiều vụ trong năm với năng suất trung bình đạt 40 - 55 tấn/ha; 2 giống

ớt cay lai HB9, HB14 có thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất trung bình đạt 30 -

35 tấn/ha, cao hơn các giống phổ biến 10 - 15%

• Giống hoa: Từ nguồn gen thu thập trong nước và nhập nội, Viện đã chọn, tạo

được 13 giống mới của các loài: hoa hồng, cúc, đồng tiền, lily, loa kèn, lan hồ điệp

và layơn Giống mới và kỹ thuật đã giúp miền Bắc từ chỗ không trồng được hoa lily, đến nay hầu hết các tỉnh đều trồng được vào vụ Đông - Xuân với sản lượng trên 10 triệu cây (cành)/năm, chất lượng hoa không thua kém hoa nhập khẩu từ Côn Minh, Trung Quốc Các giống và quy trình kỹ thuật trồng hoa của Viện đã được chuyển giao cho trên 30 tỉnh Viện cũng đã nghiên cứu và làm chủ được công nghệ sản xuất hoa lan Hồ Điệp quy mô công nghiệp, từ sản xuất cây in vitro, nuôi cấy, xử lý ra hoa và thương mại sản phẩm

Trang 10

Nấm ăn và nấm dược liệu:

Trong vòng 16 năm (1996 - 2012) đã khôi phục và phát triển nghề trồng nấm với tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, từ sản lượng năm 50 tấn năm 1995 lên 270.000 tấn năm 2010 Đồng thời, Viện đã nhập nội được 120 chủng giống nấm khác nhau

để đưa vào sản xuất đại trà 16 chủng giống nấm, trong đó, 3 chủng giống nấm được công nhận chính thức, 7 giống công nhận tạm thời và 11 quy trình công nghệ được công nhận là tiến bộ kỹ thuật Nhiều giống nấm chất lượng cao như nấm Trân châu, Ngọc trâm, Chân dài hay nấm Linh chi đã trở nên phổ biến trong sản xuất.Ngoài ra, nhiều giống cây trồng mới cũng đang được phổ biến như điều, ca cao, chuối tiêu hồng, chanh leo, cao su chịu lạnh

3.2 Về Chăn nuôi:

Viện đã nghiên cứu thành công và chuyển giao vào sản xuất “Dòng lợn nái lai tổng hợp giữa hai nhóm giống Landrace × Yorkshire làm nái nền trong sản xuất lợn thương phẩm” và “Dòng lợn đực giống cuối cùng được lai giữa hai nhóm giống Pietrain và Duroc”, Đã xây dựng thành công thương hiệu Bình Thắng là một trong những nơi cung cấp lợn giống tốt nhất phía Nam;

Hàng năm Viện cung cấp 700 lợn đực giống, 2000 lợn nái hậu bị giống ông

bà, 250.000 con gà giống cho 40 tỉnh thành trong toàn quốc, trong đó 70% là ở các tỉnh phía Nam Đã lai tạo được giống gà thịt thả vườn BT2 thích nghi tốt với điều kiện chăn nuôi nông hộ, năng suất trứng đạt 195 - 200 trứng/mái/năm; năng suất thịt của dòng trống lúc 12 tuần tuổi đạt 2,0 - 2,2 kg, tiêu tốn thức ăn đạt 2,4 - 2,6kg TĂ/kg

Trung tâm Gia súc lớn đã cung cấp 150 bò đực giống lai Sind, lai Brahman, Droughtmaster thuần cho các trang trại và hộ chăn nuôi để cải tạo đàn bò địa phương, đàn con sinh ra tăng trọng bình quân 500 - 600 g/con/ngày so bò địa phương chỉ khoảng 300 - 400 g/con/ngày, góp phần tăng thu nhập cho các hộ/trang trại chăn nuôi bò khoảng 20%

Việc chuyển giao 30 trâu đực Murah chất lượng tốt để cải tạo đàn trâu địa phương tỉnh Bình Phước góp phần gia tăng tầm vóc đàn trâu lên khoảng 15% Hàng năm cung cấp 10 - 15 tấn hom và 700 - 1000 kg hạt giống cỏ các loại cho hầu hết các tỉnh thành trong cả nước, góp phần phát triển nguồn thức ăn cho chăn nuôi bò thịt và bò sữa

Đã chọn tạo 2 giống tằm lưỡng hệ nguyên Đ2, E38 và giống lai tứ nguyên GQ2218 cho miền Bắc và miền Trung, 4 giống tằm lưỡng hệ nguyên LAREC1, LAREC2, LAREC7, LAREC8 và giống tằm lai tứ nguyên TN1278 cho vùng Tây Nguyên

Ngày đăng: 27/03/2016, 15:31

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC NHÓM KỶ NGUYÊN MỚI - Báo cáo nhóm chính sách phát triển khoa học công nông nghiệp
BẢNG PHÂN CÔNG CÔNG VIỆC NHÓM KỶ NGUYÊN MỚI (Trang 1)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w