+ Dữ liệu không gian địa chính: là dữ liệu về vị trí, hình thể của thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu về hệ thống thủyvăn, hệ thống thủy lợi; hệ thống đường giao t
Trang 1- GIS: Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System)
- XML: (eXtensible Markup Language) Ngôn ngữ đánh dấu mởrộng
Trang 2DANH MỤC HÌNH ẢNH
STT Tên hình
1 Hình 1.1 Các nhóm dữ liệu cấu thành CSDL Địa
2 Hình 1.2 Sơ đồ liên kết giữa các nhóm dữ liệu thành phần 14
3 Hình 1.3 Sơ đồ quy trình 1 xây dựng CSDLĐC 24
4 Hình 1.4 Sơ đồ quy trình 2 xây dựng CSDLĐC 25
5 Hình 1.5 Sơ đồ quy trình 3 tích hợp cơ sở dữ liệu địa 26
11 Hình 3.4 Biên tập dữ liệu không gian 43
12 Hình 3.5 Biên tập dữ liệu phi không gian 46
16 Hình 3.9 Chuyển đổi dữ liệu đồ họa vào hệ thống 52
18 Hình 3.11 Kiểm tra tiếp biên tờ bản đồ 54
Trang 319 Hình 3.12 Hiển thị dữ liệu số thửa – loại đất – diện
22 Hình 3.15 Nhập dữ liệu Excel vào phần mềm
TMV.CADAS
57
23 Hình 3.16 Thống kê dữ liệu thuộc tính và đồ họa 58
28 Hình 3.21 Cập nhật hồ sơ quét cho thửa đất đã có
29 Hình 3.22 Nhập đăng ký quyền sử dụng đất 64
38 Hình 3.25 Bổ sung thông tin thửa đất đăng ký 67
39 Hình 3.26 Bổ sung thông tin giấy chứng nhận cũ 68
40 Hình 3.27 Bổ sung Nghĩa vụ tài chính và hạn chế
41 Hình 3.28 Giao diện thông tin cấp giấy chứng nhận 70
42 Hình 3.29 Xử lý thông tin cấp giấy chứng nhận
43 Hình 3.30 Bản mô tả ranh giới mốc thửa đất 72
44 Hình 3.31 Kết quả đo đạc địa chính thửa đất 72
Trang 51 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là một loại tài nguyên thiên nhiên đặc biệt có mối quan hệchặt chẽ với hầu hết các yếu tố kinh tế, chính trị, có ý nghĩa thiết thực vàquan trọng đối với các hoạt động sản suất, kinh doanh, sinh hoạt và pháttriển không chỉ giới hạn một cá nhân, một đơn vị hành chính và còn làcủa cả một nền kinh tế, của tất cả các quốc gia Trong giai đoạn hiện nay,
sử dụng đất đai đang là nhu cầu thiết yếu ngày càng tăng của con người,kéo theo đó là yêu cầu về sự quản lý chặt chẽ và có hệ thống của Nhànước nhằm mục đích sử dụng hiệu quả và bền vững nguồn tài nguyênhữu hạn này Ngày 30 tháng 10 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã kýquyết định phê duyệt Dự án “Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai”giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường làm cơ quan chủ quản và Tổngcục Quản lý đất đai làm chủ đầu tư Thời gian thực hiện Dự án từ năm
2012 đến 2018 theo quy định tại Quyết định số 1892/QĐ-TTg, ngày 14tháng 12 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án nâng caonăng lực quản lý nhà nước ngành quản lý đất đai giai đoạn 2011 - 2020”.Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai bao gồm các cơ sở dữ liệu thành phần sau:
- Cơ sở dữ liệu địa chính;
- Cơ sở dữ liệu quy hoạch sử dụng đất;
- Cơ sở dữ liệu giá đất;
- Cơ sở dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai
Trong đó cơ sở dữ liệu địa chính là thành phần cơ bản của cơ sở dữliệu đất đai, làm cơ sở để xây dựng và định vị không gian các cơ sở dữliệu thành phân khác
Hiện nay ở Việt Nam có 3 bộ phần mềm đủ điều kiện ứng dụngtrong công tác xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu đất đai được Bộ Tài
Trang 6nguyên và Môi trường thông qua là phần mềm VILIS, ELIS, vàTMV.LIS Trên cơ sở đó, tôi đã lựa chọn đề tài:
“Khảo sát và đánh giá công nghệ xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính tại Uông Bí – Quảng Ninh”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
- Đánh giá phần mềm ELIS trong công tác xây dựng cơ sở dữ liệuđịa chính
- Nâng cao nhận thức về cơ sở dữ liệu địa chính
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đề tài đi sâu vào ngiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính bằnggiá phần mềm ELIS
4 Nội dung nghiên cứu:
- Công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính ở Việt Nam.
- Phần mềm ELIS trong xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Thực nghiệm xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính một xã bằng phầnmềm ELIS
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:
- Từ thực nghiệm để đưa ra những giải pháp hoàn thiện hơn cho phần mềm ELIS phục vụ nhu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính
7 Cấu trúc luận văn:
- Luận văn gồm phần mở đầu và 3 chương với 81 trang, phần kết luận được trình bày trong 2 trang với 42 hình
8 Lời cảm ơn
Để hoàn thành được luận văn này, trước hết, tôi xin chân thành
cảm ơn TS Trần Thùy Dương đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ýkiến khoa học trong quá trình nghiên cứu và xây dựng luận văn
Trang 7Tôi xin cảm ơn tập thể giảng viên Khoa Trắc địa, đặc biệt là Bộmôn Địa chính, phòng Đại học và Sau đại học, Trường Đại học Mỏ - Địachất, các cán bộ và các bạn đồng nghiệp tại xý nghiệp GIS đã giúp đỡ, tạođiều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành bản luậnvăn.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Trang 8CHƯƠNG 1
CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH Ở VIỆT NAM 1.1 Giới thiệu chuẩn dữ liệu địa chính
1.1.1 Khái niệm về dữ liệu và cơ sở dữ liệu
Cơ sở dữ liệu: Tập hợp dữ liệu được lưu trữ trong máy tính theo
một quy định nào đó được gọi là cơ sở dữ liệu ( Database – CSDL) Nóđược tổ chức thuận tiện cho việc sắp xếp, cập nhật, tra cứu, lưu trữ, cungcấp sao cho chúng được chia sẻ cho các đối tượng sử dụng khác nhau Cónhiều cách để tổ chức CSDL, trong đó cách phổ biến hiện nay là tổ chứcCSDL dưới dạng quan hệ
Hệ quản trị cơ sở dữ liệu: Phần chương trình có thể xử lý, thay đổi
dữ liệu gọi là hệ quản trị cơ sở dữ liệu ( Database management System –DBMS)
Khả năng của Hệ quản trị cơ sở dữ liệu đó là: Khả năng quản lýnhững dữ liệu cố định; Khả năng truy xuất có hiệu quả một khối lượng dữliệu lớn; Hỗ trợ ít nhất một mô hình dữ liệu mà nhờ đó người sử dụng cóthể xem được dữ liệu; Hỗ trợ một số ngôn ngữ bậc cao cho phép người sửdụng định nghĩa các cấu trúc dữ liệu, truy xuất và thao tác dữ liệu; Quản
lý giao dịch, cho phép nhiều người sử dụng truy xuất đồng thời và chínhxác đến một cơ sở dữ liệu; Điều khiển các quá trình truy xuất, giới hạncác quá trình truy xuất dữ liệu của những người không được phép vàkiểm tra độ tin cậy của dữ liệu; Các đặc tính tự thích ứng, là khả năng tựphục hổi lại số liệu do sự cố của hệ thống mà không làm mất dữ liệu
Cơ sở dữ liệu có một số ưu điểm như sau:
- Giảm sự trùng lặp thông tin xuống mức thấp nhất do đó đảm bảothông tin có tính nhất quán và toàn vẹn dữ liệu
Trang 9- Đảm bảo dữ liệu có thể được truy xuất theo nhiều cách khác nhau, cókhả năng xử lý một khối lượng dữ liệu lớn trong một khoảng thời gianngắn.
- Nhiều người có thể sử dụng một cơ sở dữ liệu
1.1.2 Khái niệm về dữ liệu và cơ sở dữ liệu địa chính
Theo công văn số 1159/TCQLĐĐ-CĐKTK ngày 21 tháng 9 năm
2011 của Tổng cục Quản lý đất đai về việc hướng dẫn xây dựng cơ sở dữ
liệu địa chính [1]:
- Dữ liệu: là thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình
ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự
- Cơ sở dữ liệu địa chính: là tập hợp thông tin có cấu trúc của dữ
liệu địa chính (gôm dữ liệu không gian địa chính, dữ liệu thuộc tính địachính và các dữ liệu khác có liên quan) được sắp xểp, tổ chức để truy cập,khai thác, quản lý và cập nhật thường xuyên bằng phương tiện điện tử
Trong đó:
- Dữ liệu địa chính: là dữ liệu không gian địa chính, dữ liệu thuộc
tính địa chính và các dữ liệu khác có liên quan
+ Dữ liệu không gian địa chính: là dữ liệu về vị trí, hình thể của
thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu về hệ thống thủyvăn, hệ thống thủy lợi; hệ thống đường giao thông; dữ liệu về điểm khốngchế; dữ liệu về biên giới, địa giới; dữ liệu về địa danh và ghi chú khác; dữliệu về đường chỉ giới và mốc giới quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xâydựng, quy hoạch giao thông và các loại quy hoạch khác, chỉ giới hànhlang an toàn bảo vệ công trình
+ Dữ liệu thuộc tính địa chính: là dữ liệu về người quản lý đất,
người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tổchức và cá nhân có liên quan đến các giao dịch về đất đai, nhà ở và tài
Trang 10sản khác gắn liền với đất; dữ liệu thuộc tính về thửa đất, nhà ở và tài sảnkhác gắn liền với đất; dữ liệu về tình trạng sử dụng của thửa đất, nhà ở vàtài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu về quyền và nghĩa vụ trong sử dụngđất, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu giao dịch về đấtđai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Theo định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế - InternationalStandard Organisation (ISO) thì tiêu chuẩn (trong nhiều trường hợp mộtnhóm các tiêu chuẩn gọi là chuẩn) là những thống nhất bằng văn bản quyđịnh về các thông số kỹ thuật hoặc các tiêu chuẩn chính xác cần phải sửdụng một cách nhất quán như: Quy phạm, hướng dẫn, định nghĩa các tiêuchí để đảm bảo rằng các sản phẩm đưa ra như nguyên vật liệu, quy trình
và các dịch vụ có thể sử dụng được đúng như mục đích của nó
Ngày 04 tháng 10 năm 2010, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã rathông tư số 17/2010/TT-BTNMT quy định kỹ thuật về chuẩn dữ liệu địachính Thông tư này quy định về nội dung và cấu trúc dữ liệu; hệ quychiếu không gian và thời gian; siêu dữ liệu; chất lượng dữ liệu; trình bày,trao đổi và phân phối dữ liệu; xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác sửdụng dữ liệu đối với dữ liệu địa chính trên phạm vi cả nước [2]
Dữ liệu địa chính bao gồm các nhóm dữ liệu sau đây:
a) Nhóm dữ liệu về người: gồm dữ liệu người quản lý đất đai, nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất, người sử dụng đất, chủ sở hữu nhà ở vàtài sản khác gắn liền với đất, người có liên quan đến các giao dịch về đấtđai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
b) Nhóm dữ liệu về thửa đất: gồm dữ liệu không gian và dữ liệuthuộc tính của thửa đất;
c) Nhóm dữ liệu về tài sản gắn liền với đất: gồm dữ liệu khônggian và dữ liệu thuộc tính của nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
Trang 11d) Nhóm dữ liệu về quyền: gồm dữ liệu thuộc tính về tình trạng sửdụng của thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; hạn chế quyền
và nghĩa vụ trong sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền vớiđất; giao dịch về đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;
đ) Nhóm dữ liệu về thủy hệ: gồm dữ liệu không gian và dữ liệuthuộc tính về hệ thống thủy văn và hệ thống thủy lợi;
e) Nhóm dữ liệu về giao thông: gồm dữ liệu không gian và dữ liệuthuộc tính về hệ thống đường giao thông;
g) Nhóm dữ liệu về biên giới, địa giới: gồm dữ liệu không gian và
dữ liệu thuộc tính về mốc và đường biên giới quốc gia, mốc và đường địagiới hành chính các cấp;
h) Nhóm dữ liệu về địa danh và ghi chú: gồm dữ liệu không gian
và dữ liệu thuộc tính về vị trí, tên của các đối tượng địa danh sơn văn,thuỷ văn, dân cư, biển đảo và các ghi chú khác;
i) Nhóm dữ liệu về điểm khống chế tọa độ và độ cao: gồm dữ liệukhông gian và dữ liệu thuộc tính về điểm khống chế tọa độ và độ cao trênthực địa phục vụ đo vẽ lập bản đồ địa chính;
k) Nhóm dữ liệu về quy hoạch: gồm dữ liệu không gian và dữ liệuthuộc tính về đường chỉ giới và mốc giới quy hoạch sử dụng đất, quyhoạch xây dựng, quy hoạch giao thông và các loại quy hoạch khác; chỉgiới hành lang an toàn bảo vệ công trình
Trang 12Các nhóm dữ liệu cấu thành CSDL Địa chính
CSDL Địa chính
Nhóm dữ liệu về giao thông
Nhóm dữ liệu về địa danh và ghi chú
Nhóm dữ liệu về quy hoạch
Nhóm dữ liệu
về điểm khống chế toạ độ và
độ cao
Nhóm dữ liệu về thủy hệ
Hình 1.1 Các nhóm dữ liệu cấu thành CSDL Địa chính
Trang 13Sơ đồ liên kết giữa các nhóm dữ liệu thành phần
Nhóm dữ liệu
về biên giới, địa giới
Nhóm dữ liệu
về quy hoạch
Nhóm dữ liệu về điểm khống chế toạ độ và độ cao Nhóm dữ liệu
Hình 1.2 Sơ đồ liên kết giữa các nhóm dữ liệu thành phần
1.2 Các yêu cầu kỹ thuật để xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính
- Cơ sở dữ liệu địa chính phải đảm bảo tính thống nhất nội dungthông tin không gian địa chính và thông tin thuộc tính địa chính
- Bản đồ địa chính đã được thành lập hoặc đã được chuyển đổi về
hệ tọa độ VN – 2000, múi chiếu 3 độ, kinh tuyến trục phù hợp với từngtỉnh;
Trang 14- Các đối tượng nội dung bản đồ phải tuân theo bảng phân lớp cácđối tượng nội dung bản đồ địa chính và hồ sơ đã lập
- Tài liệu phải được chỉnh lý biến động đất đai cho phù hợp giữabản đồ địa chính và hồ sơ đã lập
- Hồ sơ địa chính được lập theo quy định hiện hành về lập, chỉnh
lý, quản lý hồ sơ địa chính của Bộ Tài nguyên & Môi trường;
- Tài liệu đang được tổ chức lưu trữ dưới dạng cơ sở dữ liệu sốhoặc dưới dạng giấy theo quy định hiện hành
1.3.1 Tình hình xây dựng hồ sơ địa chính
Việc xây dựng hồ sơ địa chính có thể tóm tắt thành một số giaiđoạn:
Từ năm 1989, việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ được chính thức
thực hiện Cùng với việc cấp giấy CNQSDĐ, việc xây dựng hồ sơ địachính được chú trọng thực hiện trên cơ sở rà soát, hoàn thiện hồ sơ đăng
ký ruộng đất lập trong giai đoạn từ 1981 – 1988
Tuy nhiên trong quá trình triển khai, việc rà soát hồ sơ đăng kýruộng đất lập theo Chỉ thị 299/TTG đã phát hiện quá nhiều sai sót, tồn tại,hơn nữa hệ thống chính sách đất đai lúc đó lại đang trong quá trình đổimới làm cho hiện trạng sử dụng đất biến động rất mạnh mẽ so với bản đồ
và sổ sách đăng ký đã lập trước đó
Vì vậy việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ và xây dựng hồ sơ địachính ở các địa phương thực hiện trong thời gian này rất chậm; hầu hếtcác địa phương phải tôt chức đo đạc chỉnh lý lại bản đồ giải thửa hoặc đo
vẽ mớ bản đồ giải thửa theo tọa độ độc lập; tổ chức kê khai đăng ký vàxét duyệt lại để cấp giấy chứng nhận và hồ sơ địa chính Hồ sơ địa chínhgiai đoạn này chủ yếu lập theo mẫu quy định tại Quyết định số 56/ĐKTK;
Trang 15song bên cạnh đó, nhiều địa phương tự quy định các mẫu sổ sách mớidùng trong đăng ký đất đai để đáp ứng yêu cầu thay đổi của tình hìnhthực tế Các hồ sơ này, đến nay nhiều địa phương đã chuyển đổi sangmẫu quy định mới, song vẫn còn một số xã, huyện đang tiếp tục sử dụng.Việc đo đạc bản đồ địa chính theo hệ tọa độ thống nhất bắt đầu được triểnkhai thực hiện theo Quy phạm đo vẽ bản đồ địa chính tỷ lệ 1/1000,1/2000, 1/5000 ban hành kèm Quyết định số 220/QĐ – TCQLRĐ ngày
01 tháng 7 năm 1991 của Tổng cục Quản lý ruộng đất
Từ sau Luật đất đai 1993, ruộng đất mông, lâm nghiệp được giao
ổn định lâu dài cho các hộ gia đình, cá nhân, người sử dụng đất đượchưởng quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê, thế chấpQSDĐ… Do đó, việc cấp GCN trở thành yêu cầu cấp bách phục vụ choviệc quản lý đất đai của Nhà nước và quyền lợi của người sử dụng đất.Công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp GCN bắt đầu đượccác địa phương tập trung chỉ đạo triển khai mạnh
Để phù hợp với yêu cầu quản lý đất đai theo Luật đất đai năm
1993, Tổng cục Địa chính đã sửa đổi hoàn thiện để ban hành chính thức 4loại sổ mới (gồm có sổ địa chính, sổ mục kê, sổ cấp GCN và sổ theo dõibiến động đất đai), hê thống đăng ký đất đã có sự thay đổi cơ bản về nộidung dữ liệu đất đai Quy định này đã được các địa phương triển khai ápdụng rộng rãi, liên tục đến năm 2004 Các tài liệu hồ sơ địa chính lập theoquy định này, hiện vẫn đang được sử dụng ở hầu hết các địa phương vàchiếm tỷ lệ chủ yêu trong hệ thống hồ sơ địa chính đã lập của cả nướchiện nay Để đáp ứng yêu cầu quản lý Tổng cục Địa chính đã ban hànhQuy phạm thành lập bản đồ địa chính và Ký hiệu bản đồ địa chính tỷ lệ1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000, 1:10000 và 1:25000 theo Quyết định số
Trang 16719/1999/QĐ – ĐC và Quyết định 720/1999/QĐ – ĐC (thay thế Quyphạm năm 1991)
Từ khi Luật Đất đai năm 2003, ban hành có hiệu lực, Bộ Tài
nguyên và Môi trường đã ban hành Quy định về GCNQSDĐ và hướngdẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính Theo quy định này, mẫugiấy chứng nhận mới đã có sự thay đổi căn bản: cấp theo từng thửa đất vàđược cấp thành 2 bản để lưu 1 bản tại Văn phòng đăng ký QSDĐ, nộidung trên giấy chứng nhận có đầy đủ thông tin như trên hồ sơ địa chínhnhưng được ghi cụ thể bằng tên gọi đối với tất cả các nội dung mà khôngghi bằng ký hiệu như trước đây Hồ sơ địa chính vẫn bao gồm bản đồ địachính, sổ địa chính, sổ mục kê đất đai, sổ theo dõi biến động đất đai vàđược lập 3 bộ để sử dụng ở 3 cấp xã, huyện, tỉnh như trước đây Ngoài ra,việc xây dựng hồ sơ địa chính dạng số bắt đầu được chỉ đạo thực hiện vớichủ trương để thay thế dần cho hồ sơ địa chính trên giấy; tuy nhiên tạithời điểm này, do điều kiện ứng dụng công nghệ chưa phát triển nên Bộvẫn chỉ đạo các địa phương tiếp tục lập hồ sơ địa chính dạng giấy (kể cảnơi đã triển khai xây dựng hồ sơ địa chính dạng số)
Theo quy định hiện nay, mẫu và nội dung dữ liệu địa chính trên hồ
sơ địa chính trên hồ sơ địa chính và giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtkhông thay đổi so với các văn bản quy định trong năm 2004, tuy nhiêngiấy chứng nhận có thể được sử dụng để cấp chung một giấy cho nhiềuthửa đất sản xuất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân đặc biệt là bản lưugiấy chứng nhận QSDĐ được xác định là một bộ phận và là tài liệu pháp
lý quan trọng trong hồ sơ địa chính Ngoài ra theo quy định tại thông tư
số 09/2007/TT – BTNMT các địa phương xây dựng cơ sở dữ liệu địachính (hồ sơ địa chính dạng số) sẽ không phải lập hồ sơ địa chính trêngiấy để sử dụng ở các cấp tỉnh, huyện như trước đây Cơ sở dữ liệu địa
Trang 17chính trở thành mục tiêu của chủ yêu việc đăng ký đất đai phải hoànthành trên phạm vi cả nước từ nay đến năm 2020.
Việc ứng dụng công nghệ trong việc lập hồ sơ địa chính dạng số( cơ sở dữ liệu địa chính) theo Thông tu 09/2007/TT – BTNMT đã đượctriển khai thực hiện ở hầu hết các tỉnh, song phần lớn các tỉnh thực hiệncòn ít, chủ yếu ở quy mô làm điểm một số xã, huyện do còn nhiều bất cập
về thiết bị, năng lực công nghê, đặc biệt là chưa có phần mềm hoànchỉnh
Việc áp dụng phần mềm ở các địa phương hiện nay không thốngnhất, mỗi tỉnh sử dụng một phần mềm khác nhau, thậm chí một số tỉnhcòn có sự khác nhau phần mềm giữa cấp tỉnh và cấp huyện
Đa số các địa phương đã sử dụng công nghệ để lập hồ sơ địa chínhnhưng chưa được kết nối tự động giữa các cấp; thậm chí nhiều địaphương chỉ được khai thác sử dụng ở một cơ quan nơi đã thực hiện màchưa sao được cho các cấp sử dụng Việc cập nhật, chỉnh lý biến độngthường xuyên vào cơ sở dữ liệu hồ sơ địa chính cũng chưa được thực hiệnđầy đủ, không thống nhất giữa các cấp
Chất lượng hồ sơ địa chính đã lập còn nhiều sai sót, không đúngquy định Hồ sơ địa chính sử dụng nhiều loại tài liệu đo đạc có chất lượngkhác nhau
1.2.2 Thực trạng về chuẩn dữ liệu địa chính ở Việt Nam
Trước năm 2010
Hệ thống quản lý đất đai Việt Nam hoạt động theo mô hình phâncấp Các tỉnh chịu trách nhiệm về tất cả các hoạt động quản lý đất đai ởđịa phương theo chỉ đạo và hướng dẫn kỹ thuật của Bộ Tài Nguyên vàMôi Trường
Trang 18Thời gian qua do chưa xây dựng được một “ Chuẩn” về dữ liệu địachính chính thức để áp dụng thống nhất trên toàn quốc vì vậy các địaphương đã thiết lập và duy trì dữ liệu địa chính với cấu trúc và nội dungkhông đồng nhất
Có thể tóm tắt thành một số giai đoạn sau:
- Thời kỳ đo đạc lập bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính trước năm
1954 ở Miền Bắc và trước năm 1975 ở Miền Nam: Bản đồ và hồ sơ địachính chủ yếu ở dạng giấy và với nội dung tương đối đơn giản mục đíchxác định được diện tích đất đai, chủ sử dụng (sở hữu) làm công cụ để thuthuế là cơ bản Bản đồ chủ yếu được vẽ dưới dạng sơ đồ hoặc bình đồkhông có tọa độ hoặc theo tọa độ giả định của địa phương
Thời kỳ đo đạc lập bản đồ, hồ sơ địa chính theo chỉ thị 299/TTg của Thủtướng Chính phủ: Thời kỳ này chủ yếu bản đồ được lập theo tọa độ địaphương hoặc hệ tọa độ Nhà nước HN – 72 Phần lớn bản đồ được lưu trữ
ở dạng giấy, trên đế phim Diamat hoặc được sao lưu bằng phương pháp nOOZalit Các bản đồ này chủ yếu hiện đang lưu trữ tại kho lưu trữ thuộcTrung tâm Thông tin tài nguyên môi trường thuộc sở Tài nguyên và Môitrường cấp tỉnh Một khối lượng nhỏ được sao lưu để sử dụng tại cấphuyện
- Thời kỳ hậu 299 đến trước năm 1999: các địa phương đã bắt đầuứng dụng công nghệ số để thành lập bản đồ địa chính tùy thuộc vào khảnăng về kinh phí và trình độ cán bộ của từng địa phương Khuôn dạngcủa bản đồ số và hồ sơ địa chính rất đa dạng Bản đồ chủ yếu ở khuôndạng của phần mềm AutoCad, ITR, một phần ở khuôn dạng củaMapInfo… và chủ yếu ở hệ tọa độ Hn – 72; hồ sơ địa chính chủ yếu đượcquản lý ở dạng CSDL trong Foxpro
Trang 19- Sau năm 1999 khi Tổng cục Địa chính ban hành áp dụng phầnmềm FAMIS cho công tác thành lập bản đồ địa chính, bản đồ địa chính
đã cơ bản thống nhất một khuôn dạng của phần mềm Microstation và Hồ
sơ địa chính đã cơ bản theo phần mềm CadDB Tuy nhiên, trong thời giannày do phần mềm lập hồ sơ địa chính chưa hoàn thiện và không đáp ứngđược các yêu cầu có tính đặc thù của địa phương nên vẫn còn nhiều địaphương tiếp tục sử dụng các phần mềm tự do phát triển để xây dựng hồ
sơ địa chính sau đó chuyển đổi sang khuôn dạng của CadDB và cơ bảnbản đồ vẫn xây dựng trên hệ tọa độ HN – 72
- Sau năm 2000 khi ban hành hệ tọa độ VN – 2000 và các phầnmềm trong đang ký đất đai đã phần nào được hoàn thiện và nâng cấp nhưphần mềm CILIS, PLIS, VILIS, ELIS, CCAD&CDATA… được đưa vào
sử dụng Khoảng trên 30 tỉnh sử dụng theo CILIS, 20 tỉnh theo khuôndạng VILIS, một số tỉnh sử dụng cả hai khuôn dạng, số tỉnh còn lại sửdụng theo các phầm mềm do đơn vị thi công tự lập hoặc theo phần mềmcủa địa phương Đến năm 2007 khi Bộ Tài nguyên và Môi trường banhành Quyết định số 221/2007/QĐ – BTNMT quy định sử dụng thốngnhất phần mềm VILIS trong các văn phòng đăng ký quyền sử dụng đấtthì việc xây dựng hồ sơ địa chính chủ yếu sử dụng phần mềm nói trên.Tuy nhiên, phần mềm CILIS và ELIS vẫn được tiếp tục triển khai songhành, đặc biệt là các tỉnh có sự tài trợ của chương trình SEMLA
Tóm lại, do sự thiếu thống nhất như đã nêu ở trên đã để lại kết quả
là hồ sơ địa chính và bản đồ được thiết lập ở rất nhiều dạng khác nhaunên đã gây ra khó khan trong việc tích hợp dữ liệu khi xây dựng một cơ
sở dữ liệu thống nhất có thể chia sẻ thông tin không những trong nước màvới cả các nước trong khu vực và trên thế giới
Trang 20Thêm vào đó, việc thiếu một chuẩn dữ liệu và quy trình tác nghiệptrong thiết lập và duy trì dữ liệu địa chính sẽ khiến cho công tác quản lýđất đai trở nên không thống nhất giữa các tỉnh.
Định hướng của Bộ Tài nguyên và Môi trường là xây dựng một Hệthống thông tin đất đai thống nhất toàn quốc Để có thể có một CSDL đấtđai thống nhất có thể tích hợp được từ các CSDL đất đai thành phần tạicác Sở TN&MT, Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng và ban hànhmột chuẩn dữ liệu địa chính thống nhất trong cả nước
Trong bất kỳ một CSDL được đưa vào sử dụng chung đều phải tiếnhành chuẩn hóa dữ liệu Có như vậy khai thác dữ liệu mới có thể chia sẻcho nhiều đối tượng sử dụng, việc hiện chỉnh dữ liệu từ nhiều nguồn mớiđảm bảo tính thống nhất
Ngoài ra còn thêm một số dữ liệu từ các nguồn ở các cơ quan điềutra cơ bản khác Người sử dụng rất đa dạng từ ngành quản lý đất đai cảtrung ương và các cấp địa phương, các cơ quan quản lý Nhà nước, các bộngành khác, từ các tổ chức trong và ngoài nước, từ các đối tượng cư dân
có nhu cầu Trong bối cảnh như vậy việc chuẩn hóa dữ liệu, hệ thốngthiết bị, tổ chức quản lý phải thống nhất
Cơ sở dữ liệu đất đai là một trong bảy CSDL quốc gia trongchương trình ứng dụng công nghệ thông tin của Chính phủ Để có thể tíchhợp và trao đổi dữ liệu giữa các CSDL quốc gia với nhau, cần thiết phảixây dựng chuẩn hóa cho từng CSDL thành phần
Hiện nay tập hợp dữ liệu của ngành quản lý đất đai đã khá lớn Mộtphần ở dạng truyền thống trên giấy, một phần ở dạng số như trong nhiềuđịnh dạng khác nhaum một phần đã ở dạng thống nhất theo định hướngcủa Bộ Tài nguyên và Môi trường Vấn đề đặt ra là phải xem xét biện
Trang 21pháp chuẩn hóa dữ liệu thế nào để thu được một CSDL thống nhất Cácvấn đề cần giải quyết như sau:
- Xây dựng cơ sở dữ liệu theo quy định kỹ thuật chuẩn thống nhất cho
dữ liệu địa chính
- Xây dựng quy trình thống nhất để chuyển các dữ liệu cũ về dạngchuẩn đã định; xây dựng quy trình thống nhất về thu thập dữ liệu để cóđược các dữ liệu chuẩn
Việc xây dựng CSDL địa chính ở nước ta sẽ dựa trên một số quyđịnh theo: Thông tư 09/2007/TT-BTNMT ngày 02 tháng 8 năm 2007 của
Bộ Tài nguyên và Môi trường về hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơđịa chính; Thông tư 17/2009/TT-BTNMT ngày 21 tháng 10 năm 2009của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; Thông tư17/2010/TT-BTNMT ngày 04 tháng 10 năm 2010 của Bộ Tài nguyên vàMôi trường quy định kỹ thuật về chuẩn dữ liệu địa chính; Công văn số1159/TCQLĐĐ-CĐKTK ngày 21 tháng 9 năm 2011 của Tổng cục Quản
lý đất đai về việc hướng dẫn xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính; Công văn
số 529/TCQLĐĐ-CĐKTK ngày 26 tháng 5 năm 2011 của Tổng cụcQuản lý đất đai về việc sao và quét giấy chứng nhận, hồ sơ cấp giấychứng nhận để xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính; Thông báo số106/BTNMT-CNTT ngày 12 tháng 01 năm 2012 của Bộ Tài nguyên vàMôi trường thông báo các danh sách các phần mềm đủ điều kiện ứngdụng trong công tác xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu đất đai; Thông tư04/2013/TT-BTNMT ngày 24 tháng 4 năm 2013 của Bộ Tài nguyên vàMôi trường Quy định về xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai
Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính:
Trang 22- Quy trình 1: Xây dựng CSDLĐC đối với trường hợp thực hiệnđồng bộ việc chỉnh lý, hoàn thiện hoặc đo đạc lập mới bản đồ địa chínhgắn với đăng ký, cấp mới, cấp đổi Giấy chứng nhận và xây dựng cơ sở
dữ liêu địa chính cho tất cả các thửa đất
- Quy trình 2: Xây dựng CSDLĐC đối với trường hợp đã thực hiện
việc đo đạc lập, chỉnh lý bản đồ địa chính và đã đăng ký, cấp Giấy chứngnhận theo bản đồ địa chính
- Quy trình 3: Tích hợp cơ sở dữ liệu địa chính cấp tỉnh từ sảnphẩm cơ sở dữ liệu địa chính cấp xã và tạo bản sao cơ sở dữ liệu địachính cấp huyện từ cơ sở dữ liệu địa chính cấp tỉnh
Trang 23Hình 1.3 Sơ đồ quy trình 1 xây dựng CSDLĐC
Trang 24Hình 1.4 Sơ đồ quy trình 2 xây dựng CSDLĐC
Trang 25Hình 1.5 Sơ đồ quy trình 3 tích hợp cơ sở dữ liệu địa chính
Trang 26Trong nhiều năm qua, các địa phương đã quan tâm, tổ chức triểnkhai thực hiện ở nhiều địa bàn gắn với đo đạc lập bản đồ địa chính, đăng
ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản gắn liền với đất Trong đó, một số địa phương cơ bản đã hoànthành cơ sở dữ liệu địa chính và đã tổ chức quản lý, vận hành phục vụyêu cầu khai thác sử dụng rất hiệu quả và được cập nhật biến độngthường xuyên ở các cấp tỉnh, huyện Tuy nhiên, còn nhiều địa phươngxây dựng cơ sở dữ liệu địa chính mới chỉ dừng lại ở việc lập bản đồ địachính và hồ sơ địa chính dạng số cho riêng từng xã ở một số địa bàn màchưa được kết nối, xây dựng thành cơ sở dữ liệu địa chính hoàn chỉnh nênchưa được khai thác sử dụng hiệu quả và không cập nhật biến độngthường xuyên Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên đây là do sự nhậnthức về cơ sở dữ liệu địa chính hiện nay chưa đầy đủ; việc đầu tư xâydựng cơ sở dữ liệu địa chính ở các địa phương chưa đồng bộ và các bướcthực hiện chưa phù hợp
Trang 27CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU PHẦN MỀM ELIS TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH
Ngày 12 tháng 01 năm 2012, Bộ Tài nguyên và Môi trường rathông báo số 106/BTNMT-CNTT về danh sách các phần mềm đủ điềukiện ứng dụng trong công tác xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu đất đai[3]
- Hệ thống thông tin đất đai và môi trường - ELIS được Cục Côngnghệ thông tin và Tổng cục Quản lý đất đai phối hợp phát triển trongkhuôn khổ Chương trình hợp tác Việt Nam - Thụy Điển về tăng cườngnăng lực Quản lý Đất đai và Môi trường (SEMLA) Sau khi chương trìnhSEMLA kết thúc, hệ thống phần mềm được bàn giao cho Cục Công nghệthông tin tiếp tục phát triền hoàn thiện Sản phẩm đã được Cục Côngnghệ thông tin đăng ký bản quyền tại Cục Bản quyền tác giả, ban hànhquy chế hợp tác và phát triển phần mềm ELIS và triển khai thực tế tạimột số địa phương trên cả nước
- Hệ thống thông tin đất đai VILIS là sản phẩm của đề tài nghiêncứu khoa học cấp Nhà nước “Xây dựng mô hình cơ sở dữ liệu đất đai cấptỉnh” do Viện Nghiên cứu địa chính thực hiện Được Trung tâm Viễnthám quốc gia tiếp tục phát triển Sau đó, Tổng cục Quản lý đất đai nângcấp, hoàn thiện triền khai trong Dự án Hoàn thiện và hiện đại hóa hệthống quản lý đất đai Việt Nam (VLAP) ở 9 tỉnh/thành phố và cũng đãtriền khai ở một số địa phương khác
- Hệ thống thông tin đất đai TMV.LIS được phát triển bởi Tổngcông ty Tài nguyên và Môi trường Việt Nam - Bộ Tài nguyên và Môitrường qua quá trình thi công, triển khai thu thập, quản lý CSDL đất đaitrong thực tế của Tổng công ty
Trang 28Các Sở Tài nguyên và Môi trường căn cứ nhu cầu và tình hình thực
tế tại địa phương có thể lựa chọn phần mềm trong danh sách trên để phục
vụ công tác quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi tỉnh/thành phố chophù hợp
ELIS được thiết kế mở, có thể tùy chỉnh để phù hợp với đặc thùcông tác quản lý đất đai và môi trường của tất cả các tỉnh/thành trên toànquốc và được cập nhật liên tục đảm bảo phù hợp với các văn bản phápluật mới nhất về công tác quản lý đất đai và môi trường
Hình 2.1 Tổng quan về ELIS
Trang 29Hiện nay ELIS đã được đăng ký bản quyền tác giả và triển khaihiệu quả tại một số tỉnh/thành, sẵn sàng nhân rộng phục vụ nhu cầu côngtác quản lý nhà nước về đất đai và môi trường trên toàn quốc.
2.1.3 Mục đích của sản phẩm
- Lồng ghép được vấn đề quản lý đất đai và môi trường trong một
hệ thống thống nhất theo các cấp
- Quản lý tích hợp dữ liệu, loại bỏ tính dư thừa và trùng lặp dữ liệu
- Hỗ trợ cải cách hành chính và công khai hóa thông tin trong lĩnhvực đất đai và môi trường
- Xây dựng và cung cấp điểm truy cập duy nhất về thông tin đất đai
và môi trường tại các tỉnh, thành phố
- Cho phép quản lý thông tin dưới dạng không đầy đủ ( có thôngtin đến đâu thì quản lý thông tin tới đó ) và liên tục được cập nhật theoyêu cầu quản lý
Trang 30- Xây dựng hệ thống trên nền tảng hệ quản trị dữ liệu lớn, đa ngườidung và có tính ổn định cao, đảm bảo tốc độ xử lý dữ liệu với khối lượng
dữ liệu lớn
- Đảm bảo bảo mật hệ thống thông qua các phương pháp phânquyền và mã hóa thông tin, đặc biệt trong công khai hóa thông tin trênInternet
Hình 2.2 Mục đích của ELIS
2.1.4 Cơ sở hạ tầng thông tin
Elis xây dựng các hệ thống văn bản hướng dẫn các đơn vị tham gia
và các Tỉnh xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin, bao gồm:
- Phần mềm hệ thống: hệ điều hành máy chủ ( Window, Unix), hệquản trị cơ sở dữ liệu, các phần mềm quản trị và bảo mật hệ thống mạngmáy tính
- Máy chủ: cấu hình máy chủ tùy thuộc vào khối lượng dữ liệu,đảm bảo vận hành Elis ổn định và an toàn
Trang 31- Mô hình mạng máy tính: thiết kế mạng theo chuẩn thống nhất,các thiết bị an toàn mạng, phương pháp bảo mật và an toàn dữ liệu, đảmbảo hỗ trợ cơ chế đồng bộ dữ liệu giữa 2 cấp Tỉnh và Huyện.
2.1.5 Chính sách và quy trình
Elis đưa ra các dự thảo chính sách về thông tin, bao gồm:
- Chính sách chia sẻ và truy cập thông tin
- Quy định về tấn suất và trách nhiệm cập nhật thông tin cho từngkhối dữ liệu chuyên ngành
- Các quy định về sao lưu và an toàn dữ liệu
Elis đưa ra các quy trình mẫu theo chuẩn ISO 9001-2000 trongquản lý hành chính Nhà nước
- Phân loại theo lĩnh vực quản lý Nhà nước
- Tuân thủ hệ thống van bản quy phạm pháp luật do Chính phủ và
Bộ tài nguyên và Môi trường ban hành
Elis tuân thủ thông tư 17/2010 về Chuẩn địa chính, thông tư17/2009, 20/2010,21 về Cấp giấy Chứng nhận QSDĐ, luật đất đai, cácnghị định 81, 88 về việc thi hành Luật [4]…
2.2 Chức năng
ELIS là một bộ sản phẩm bao gồm nhiều phân hệ phần mềm với rấtnhiều chức năng hỗ trợ công tác quản lý đất đai và môi trường Sau đây làmột số phân hệ chính:
2.2.1 Phân hệ Đăng ký cấp giấy và chỉnh lý biến động đất đai (Land Registration and Changing – LRC):
- Kê khai đăng ký, quản lý và cấp giấy chứng nhận (Đăng ký cấpgiấy, Thẩm tra cấp giấy, Lập phiếu chuyển thông tin, Trích lục thửa đất,Lập tờ trình, Lập quyết định cấp giấy và đăng ký cấp giấy)
Trang 32- Chỉnh lý cập nhật biến động đất đai, quản lý lịch sử thửa đất (Cậpnhật biến động đất đai trên thực địa vào hệ thống; Quản lý lịch sử thayđổi, lịch sử biến động về thông tin thuộc tính và đồ họa đối với từng thửađất).
- Xây dựng bộ hồ sơ địa chính (Xây dựng hồ sơ địa chính theođúng quy định hiện hành của Bộ Tài nguyên và Môi trường)
2.2.2 Phân hệ Quản lý quy trình và luân chuyển hồ sơ (Process Management and Documents - PMD):
- Đáp ứng mô hình một cửa, xử lý hồ sơ theo quy trình tại các sởTài nguyên và Môi trường
- Tuân theo chuẩn WfMC về tự động hóa luồng công việc
2.2.3 Phân hệ Thiết kế quy trình nghiệp vụ (Process Editor PE):
Phân hệ PE có nhiệm vụ thiết kế các quy trình xử lý hồ sơ, cungcấp các khung quy trình này cho phân hệ Quản lý quy trình và luânchuyển hồ sơ (PMD) để quản lý các công việc thực tế
- Cung cấp công cụ với giao diện đồ họa mạnh, dễ dùng (thực hiệntheo cách “kéo và thả”) hỗ trợ người dùng tự thiết kế quy trình nghiệp vụcho phù hợp với địa phương mình
- Cho phép người dùng chỉnh sửa, cập nhật các quy trình nghiệp vụ
để phù hợp với sự thay đổi thực tế tại các sở Tài nguyên và Môi trường
2.2.4 Phân hệ Quản lý thông tin môi trường (Environmental Information Management - EIM):
- Phân hệ EIM có nhiệm vụ quản lý thông tin môi trường, bao gồmcác thông tin chính: Điểm nóng, Cơ sở ô nhiễm, Quan trắc môi trường,Rừng ngập mặn, Vườn quốc gia, khu bảo tồn
Trang 332.2.5 Phân hệ Hỗ trợ định giá bất động sản (Real Estate Valuation - REV):
- Phân hệ REV hỗ trợ công tác định giá bất động sản cho các sởTài nguyên và Môi trường theo quy định của Bộ Tài nguyên và Môitrường và Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành
- Cho phép quản lý thông tin của toàn bộ quá trình định giá bấtđộng sản từ khâu: Tạo lập dự án; Tạo lập hồ sơ; Xây dựng phiếu điều trakhảo sát; Định giá đất; Xây dựng bản đồ định giá …
2.2.6 Phân hệ Đồng bộ dữ liệu (SYN):
- Phân hệ SYN hỗ trợ công tác đồng bộ dữ liệu giữa các CSDL đấtđai các cấp SYN được thiết kế với các chức năng giúp người sử dụng cóthể đồng bộ dữ liệu một cách chính xác, nhanh chóng và an toàn
- Cơ chế đồng bộ của SYN có thể được cấu hình cho phép cácCSDL đồng bộ tự động theo chu kỳ, hoặc thủ công
2.2.7 Cổng thông tin đất đai và môi trường (ELIS Portal):
- Là điểm truy cập tập chung và duy nhất tích hợp các kênh thôngtin các dịch vụ, ứng dụng trong toàn bộ hệ thống ELIS
- Công bố thông tin một cách tùy biến từ các phân hệ khác trong hệthống ELIS
- Hỗ trợ dịch vụ hành chính công cho người dân thông qua việctích hợp với hạ tầng thông tin di động (SMS)
2.3 Công nghệ phát triển
- Công cụ phân tích thiết kế: UML, Rational Rose
- Ngôn ngữ lập trình: Visual Studio 2008, ArcObjects
- Hệ quản trị CSDL: MS SQL Server 2005
- Công nghệ GIS: ArcGIS – ESRI
Trang 34CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM VÀ ĐÁNH GIÁ PHẦN MỀM ELIS TRONG XÂY
DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH 3.1 Giới thiệu chung về khu vực nghiên cứu
3.1.1 Vị Trí địa lý
Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính phường Thanh Sơn – T.p Uông
Bí – Tỉnh Quảng Ninh
Thành phố Uông Bí nằm ở phía tây tỉnh Quảng Ninh, cách thủ đô
Hà Nội 130km, cách Hải Phòng gần 30km, và cách thành phố Hạ Long45km Có tọa độ địa lý từ 20058’ đến 2109’ vĩ độ Bắc và từ 106041’ đến
106052’ kinh độ Đông Các phía giáp:
- Phía Đông giáp huyện Hoành Bồ và thị xã Quảng Yên
- Phía Tây giáp huyện Đông Triều
- Phía Nam Giáp Thủy Nguyên
- Phía Bắc giáp huyện Sơn Động
Uông Bí có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, làtuyến phòng thủ phía đông Bắc của Việt Nam
3.1.2 Điều kiện tự nhiên
Thành phố Uông Bí chủ yếu là đồi núi chiếm 2/3 diện tích, đồi núidốc nghiêng từ phía Bắc xuống Nam Địa hình ở đây có thể chia thành 3vùng, bao gồm vùng cao chiếm 65.04%, vùng thung lũng chiếm 1.2% vàcuối cùng là vùng thấp chiếm 26.90% diện tích tự nhiên thành phố Do vịtrí địa lý và địa hình nằm trong cánh cung Đông Triều – Móng Cái, vớinhiều dãy núi cao ở phía Bắc là thấp dần xuống nên tao cho Uông bí cómột chế độ khí hậu vừa mang tính chất khí hậu miền núi và vừa mangtính chất khí hậu miền duyên hải Nhiệt độ trung bình hàng năm là22.20C Số giờ nắng trung bình năm là 1.600 mm cao nhất 2.200 mm
Trang 35Mưa thường tập trung vào các tháng 6, 7, 8 trong năm, số ngày mưa trungbình năm là 153 ngày Độ ẩm tưong đối trung bình năm là 81%, độ ẩmtương đối thấp nhất trung bình là 50.8%
Thành phố Uông Bí có 11 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đógồm 9 phường và 2 xã
3.2 Xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính bằng phần mềm ELIS
3.2.1 Nguồn dữ liệu sử dụng trong thi công
Dữ liệu do sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh cung cấpbao gồm: Dữ liệu Quy hoạch đất đai; Dữ liệu Thống kê kiểm kê đất đai;
Dữ liệu địa chính
Dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai
1 Bộ bản đồ hiện trạng sử
dụng đất của 11 phường, xã
thuộc Thành phố Uông Bí
xây dựng năm 2010
Dữ liệu dạng số Đã cung cấp cho
đơn vị thi công
2 Dữ liệu thống kê, kiểm kê
đất đai năm 2010 của
Thành Phố Uông Bí
Dữ liệu ở dạng CSDL
Đã cung cấp chođơn vị thi công
Lưu trữ tại Sở Tài Nguyên Môi trường tỉnh Quảng Ninh và Phòng Tài nguyên môi trường Thành phố Uông Bí
Trang 362 Sổ mục kê của 11 phường,
xã thuộc thành phố Uông
Bí
Dữ liệu dạng giấy
Lưu trữ tại Sở Tài Nguyên Môi trường tỉnh Quảng Ninh và Phòng Tài nguyên môi trường Thành phố Uông Bí
3.2.2 Đánh giá hiện trạng
- Dữ liệu hồ sơ địa chính xã Thanh Sơn hiện đang được lưu trữdưới dạng giấy Trong đó các tài liệu hồ sơ địa chính xây dựng theo cácquy định trước năm 2005, nhìn chung không có nội dung theo yêu cầuquản lý đất đai hiện nay
- Dữ liệu bản đồ địa chính được thành lập từ định dạng *dgn và hệquy chiếu VN2000
Vì vậy dữ liệu bản đồ và hồ sơ địa chính của xã Thanh Sơn đápứng được yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ cho việc quản lý đấtđai
3.2.3 Quy trình thực hiện
3.2.3.1 Xây dựng CSDL Địa chính
Theo yêu cầu CSDL địa chính bao gồm dữ liệu không gian và phikhông gian phải đáp ứng yêu cầu độ chính xác về đồ họa, đúng và đủ cácthông tin thuộc tính đi kèm và đống nhất với nhau để phù hợp với chuẩnđịa chính cũng như ngoài thực địa
Trang 37Hình 3.1 Sơ đồ quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính
1 Quét hồ sơ
Công tác quét hồ sơ là công đoạn đầu và cũng là tài liệu cơ bản để
phục vụ công tác nhập file thuộc tính, gồm: GCN đã ký; Đơn đăng ký cấp
GCN; Các giấy tờ gốc về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản; Các
Quét tài liệu để lưu trữ
Chuẩn hóa dữ liệu quét Tạo, nhập và chuẩn hóa
file thuộc tính, dữ liệu phi không gian
Chuẩn dữ liệu bản đồ (không gian)
Đồng bộ dữ liệu không gian và dữ liệu phi không gian; tích hợp cơ
sở dữ liệu cấp xã, huyện,
tỉnh
Vận hành thử, kiểm tra
và giao nộp sản phẩm
Trang 38giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định củapháp luật; Các giấy tờ có tính pháp lý khác liên quan của thửa đất
Tên Phường ( Xã)
Hồ sơ cá nhân
Tên Phường ( Xã) Tên hồ sơ
Hồ sơ địa chính
Đặt tên file:
File tài liệu sau khi được scan được đặt tại thư mục cuối cùng củacây thư mục tương ứng Cách đặt tên tương ứng với từng loại tài liệuđược quy đinh theo công văn số 529/TCQLDĐ-CĐKTK ngày 26 tháng 5năm 2011 về việc sao và quét giấy chứng nhận, hồ sơ cấp giấy chứngnhận để xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính như sau [5]:
Trang 39 Tài liệu scan là quyết định: QĐ_Số quyết định_Nơi ra quyếtđịnh_Date_Số trang (VD: QĐ_186_UBND_18062010)
Tài liệu scan là công văn: CV_Số công văn_Nơi ra côngvăn_Date_Số trang.(VD: CV_189_UBND_123456)
Tài liệu scan là GCNQSDĐ: Mã của GCNQSDĐ (VD:AB123456)
c Sản phẩm giao nộp
Sản phẩm giao nộp là toàn bộ dữ liệu hồ sơ địa chính đã được scan
và tổ chức lưu trữ theo đúng quy định.
Hình 3.2 Hồ sơ quét (1)