Tuy nhiên, có rất ít giải pháp can thiệp bằng truyền thông giáo dục dinh dưỡng nhằm thay đổi kiến thức, thái độ, thực hành của học sinh tiểu học và phụ huynh về sử dụng nước ngọt.. Chính
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI VIỆN ĐÀO TẠO Y HỌC DỰ PHÒNG VÀ Y TẾ CÔNG CỘNG
LẬP KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG
TRUYỀN THÔNG NÂNG CAO KIẾN THỨC, THỰC HÀNH SỬ DỤNG NƯỚC NGỌT Ở TRẺ EM TIỂU HỌC A TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2014-2015 NHẰM GÓP PHẦN GIẢM TỶ LỆ THỪA CÂN BÉO PHÌ
Họ và tên học viên: Nguyễn Hữu Chính
Lê Thị Thu Hà
Hồ Thị Hoa
Lớp: Cao học dinh dưỡng 22
HÀ NỘI – 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI VIỆN ĐÀO TẠO Y HỌC DỰ PHÒNG VÀ Y TẾ CÔNG CỘNG
LẬP KẾ HOẠCH TRUYỀN THÔNG
TRUYỀN THÔNG NÂNG CAO KIẾN THỨC, THỰC HÀNH SỬ DỤNG NƯỚC NGỌT Ở TRẺ EM TIỂU HỌC A TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2014-2015 NHẰM GÓP PHẦN GIẢM TỶ LỆ THỪA CÂN BÉO PHÌ
Họ và tên học viên: Nguyễn Hữu Chính
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thừa cân, béo phì đang là vấn đề y tế công cộng đáng chú ý trên toàn cầu Năm
2010, ước tính 3,4 triệu trường hợp tử vong do thừa cân, béo phì; mất đi 3,8% số năm sống điều chỉnh theo mức độ tàn tật (DALYs) trên toàn thế giới Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính trên toàn cầu có khoảng 1,4 tỉ người trường thành trên 20 tuổi bị thừa cân Trong đó, khoảng hơn 500 triệu trường hợp béo phì, chiếm khoảng 10% dân số thế giới (2008)[1] Trong khi đó, tại Mỹ năm 2008 có khoảng 12 triệu trẻ em và trẻ vị thành niên bị béo phì, tỷ lệ này ra tăng nhanh chóng qua các năm, giai đoạn 1988-
1994 tỷ lệ béo phì ở trẻ em học Trung học phổ thông là 11% thì tới giai đoạn
2005-2008 tỷ lệ này đã tăng lên 17,9% [2] Tại Hoa Kỳ, quốc gia có sản lượng tiêu thụ đồ uống giải khát lớn nhất thế giới, tỉ lệ béo phì là hơn 1/3 (34,9%) người trưởng thành, 18% ở trẻ em 6-11 tuổi, 21% ở thanh thiếu niên từ 12-19 tuổi[3]
Tại Việt Nam, tỉ lệ thừa cân, béo phì đang ngày càng tăng cao, đặc biệt tại các thành phố lớn.Các nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ TC-BP ở học sinh 6-11 tuổi là 38,5% năm 2012; tỷ lệ TC-BP ở học sinh trung học cơ sở năm 2012
là 22,6%, trung học phổ thông là 11,8% [4] Theo số liệu của tổng điều tra dinh dưỡng toàn quốc năm 2010, tỷ lệ TC-BP tại các thành phố lớn trên cả nước ở nhóm tuổi 5-7
là gần một nửa (47%), tỷ lệ này ở nhóm tuổi 8-11 cũng rất cao, tới gần 1/3 (31%) [5] Theo nghiên cứu của Bảo Khanh và cộng sự năm 2011, tại các thành phố lớn của nước
ta tỷ lệ trẻ trai TC-BP trong độ tuổi 6-11 là xấp xỉ 40%, cao hơn có ý nghĩa thống kê
so với tỷ lệ này ở nữ (25%)[6] Những tỷ lệ này cao hơn rất nhiều so với số liệu của một thập kỷ trước đây Năm 2002, tỷ lệ thừa cân ở trẻ em từ 6 -11 tuổi tại quận Đống
Đa, Hà Nội là 9,9%[7], cùng thời điểm này, tỷ lệ TC-BP của trẻ em 6 tuổi của Tp.Hồ Chí Minh cũng chỉ là 10.4%[8] Tất cả các số liệu trên đã cho thấy tỷ lệ TC-BP của trẻ
em tiểu học tại các thành phố lớn nước ta đang tăng rất nhanh và đã ở mức đáng báo động, cần có ngay những biện pháp can thiệp kịp thời
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra có mối liên quan giữa tiêu thụnước ngọt có ga và thừa cân béo phì [9-11] Uống nước ngọt mỗi ngày làm tăng nguy cơ bị béo phì ở cả trẻ em và người lớn Trẻ em trong độ tuổi 4 – 5 tuổi nếu uống 1 lon nước ngọt/ngày có nguy cơ béo phì cao gấp 1,43 lần trẻ uống < 1 lon nước ngọt/ngày[12] Ở lứa tuổi từ
Trang 511-13 tuổi, nếu sử dụng ít hơn 3 lon nước ngọt/ ngày sẽ có mức z-score BMI theo tuổi
và giới thấp hơn 1.02 lần so những trẻ tiêu thụ từ 3 lon nước ngọt trở lên [13] Nghiên cứu cắt ngang ở quần thể người trưởng thành trong độ tuổi 35 – 47 cho thấy có mối tương quan thuận giữa mức tiêu thụ nước ngọt và chỉ số BMI và tỉ lệ béo phì Theo đó
cứ mỗi 100 ml nước ngọt sẽ làm chỉ số BMI tăng thêm 0,213 kg/m2[14] Nếu tiêu thụ tăng 1% nước ngọt có ga thì trong 100 người trưởng thành sẽ tăng 4.8 người bị thừa cân và 2,3 người bị béo phì [10]
Thừa cân và béo phì có thể phòng ngừa được nhưng việc điều trị lại rất khó khăn, tốn kém và hầu như không có kết quả Trên phạm vi thế giới, chi phí cho giải quyết nạn dịch béo phì hiện nay đã làm cho tất các các chi phí sức khỏe khác trở nên nhỏ bé Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO)thì các chi phí trực tiếp cho điều trị béo phì chiếm tới 6,8% (hay 70 tỷ đô la Mỹ) trong tổng chi phí cho chăm sóc sức khoẻ Do đó phòng ngừa được béo phì ở trẻ em sẽ góp phần làm giảm tỷ lệ béo phì ở người lớn, giảm nguy cơ mắc các bệnh mãn tính không lây có liên quan đến béo phì và giảm chi phí y tế [15, 16] Trong khi đó đồ uống có ga được quảng cáo rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng Đôi khi, các quảng cáo trở nên quá mức khi các công ty sử dụng uy tín của thể thao và các nhân vật phim để thu hút giới trẻ Các quảng cáo để lại một ấn tượng lâu dài trong tâm trí củathế hệ trẻ và ảnh hưởng đến thói quen sử dụng nước ngọt có ga Thanh niên là đối tượng tiêu thụ nước ngọt có ga nhiều nhất, tuy nhiên nhiều người trong số họ cũng chưa hiểu hết về loại nước uống này Trong nghiên cứu của Anup Kharde năm 2013 trên 110 đối tượng sinh viên Y tại
Ấn Độ cho thấy, 100% đối tượng tham gia nghiên cứu đã từng nghe nói tới nước ngọt
có ga nhưng chỉ có 5,5% số người được hỏi biết được tất cả các nội dung có trên chai nước ngọt 73% người tham gia biết được các tác hại của uống nước ngọt có ga và 31% trả lời là thừa cân, béo phì là hậu quả chính của tiêu thụ nước ngọt có ga 5,5% đối tượng được hỏi cho rằng sẽ tiếp tục sử dụng nước ngọt có ga trong thời gian dài,
và 62,7% cho rằng chưa bao giờ cố gắng dừng hoặc từ bỏ uống nước ngọt có ga 50% đối tượng trả lời là sử dụng thường xuyên nước ngọt có ga và mỗi lần uống là khoảng
từ 200ml- 350ml [17] Điều này cũng tương tự tại Việt Nam, gần 100% người được hỏi trong nghiên cứu về “thói quen sử dụng nước ngọt có ga của Việt Nam” đã nghe
Trang 6Mức độ thường xuyên uống nước ngọt có ga cao nhất là 3 – 4 lần / tuần và 1 – 2 lần / tuần đồng chiếm tỷ lệ 28.6% [18].
Nhiều nghiên cứu đã tiến hành các biện pháp can thiệp với mục đích ngăn chặn
sự gia tăng của thừa cân, béo phì ở trẻ em lứa tuổi học đường Tuy nhiên, có rất ít giải pháp can thiệp bằng truyền thông giáo dục dinh dưỡng nhằm thay đổi kiến thức, thái
độ, thực hành của học sinh tiểu học và phụ huynh về sử dụng nước ngọt Chính vì những lý do trên nên chúng tôi tiến hành thực hiện hoạt động "Truyền thông nâng cao kiến thức, thực hành sử dụng nước ngọt ở trẻ em trường tiểu học A tại thành phố Hà nội năm 2014-1015 nhằm giảm tỷ lệ thừa cân béo phì"
Trang 7Tăng nguy cơ thừa cân- béo phìQuảng cáo quá mức
Tỷ lệ học sinh trường tiểu học A tại Hà Nội sử dụng nước ngọt cao
Trẻ thiếu kiến thức về tác hại của nước ngọt Thói quen sử dụng nước ngọt của gia đình
Giải tỏa cơn khát
Nước ngọt được bán rộng rãi
Chưa được truyền thông
Lợi nhuận từ nước ngọt lớn Chưa có sự quan tâm của các nhà quản lý
Truyền thông chưa hiệu quả
Bố mẹ chưa hiểu hết tác hại của nước ngọt Thiếu phương tiện/ tài liêu truyền thông
Kỹ năng TT, tư vấn chưa tốt
Cán bộ y tế/ giáo viên chưa được tập huấn về kỹ năng truyền thông
Thiếu sự quan tâm, tham gia của các ban ngành, đoàn thể
Hình thức, nội dung TT chưa phù hợp Thiếu kinh phí
Chưa biết tận dụng các nguồn lực sẵn có
II. CÂY VẤN ĐỀ
Trang 8Giảm tỷ lệ thừa cân- béo phìHạn chế quảng cáo
Nâng cao kiến thức và thực hành sử dụng nước ngọt ở học sinh trường tiểu học A tại Hà Nội
Tăng cường kiến thức về tác hại của nước ngọt cho trẻ Thay đổi thói quen sử dụng nước ngọt của gia đình Thay đổi thói quen sử dụng nước ngọt của trẻ Quy định địa điểm bày bán nước ngọt
Truyền thông về tác hại của nước ngọt trên các phương tiện
Tăng thuế nước ngọt Tăng cường sự quan tâm của các nhà quản lý
Nâng cao hiệu quả truyền thông
Tăng cường kiến thức của phụ huynh về tác hại của nước ngọt Xây dựng phương tiện/ tài liêu truyền thông
Nâng cao kỹ năng truyền thông/tư vấn
Tập huấn về kỹ năng truyền thông cho cán bộ y tế/giáo viên
Tăng cường sự quan tâm, tham gia của các ban ngành, đoàn thể Thay đổi hình thức TT phù hợp với học sinh tiểu học Kêu gọi tài trợ/xin kinh phí
Lập kế hoạch xin tài liệu TT từ các cơ quan, tổ chức
Trang 9III. CÂY MỤC TIÊU
Trang 10IV. MỤC TIÊU
1. Mục tiêu chung
V. Nâng cao kiến thức và thực hành sử dụng nước ngọt ở học sinh trường
tiểu học A tại Hà Nội góp phần làm giảm tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em
2.3. Đến tháng 5/2015, nước ngọt sẽ không được bán trong trường học
VI. PHÂN TÍCH NHÓM ĐÔI TƯỢNG
1. Các nhóm đối tượng ảnh hưởng đến dự án
VII. Đối tượng ưu tiên
XII. - Giáo viên chủ nhiệm/giáo viên phụ trách lớp
XIII. - Người phụ trách dinh dưỡng tại bếp ăn tập thể trong trường học
XIV. - Các thành viên khác trong gia đình của học sinh
XV. - Trạm y tế trường học
XVI. - Lãnh đạo nhà trường
XVII.
XVIII. PHÂN TÍCH NGUỒN LỰC
1. Bảng phân tích các bên liên quan trong chương trình can thiệp
XXVII. Giảm tỷ lệ trẻ bị TC – BP
XXVIII. Nâng cao kiến thưc, thực hành của học sinh về nước ngọt
XXIX. Toàn
bộ can thiệp
Trang 11-Trẻ không bị TC- BP.
-Trẻ và phụ huynh được cung cấp kiến thức về tác hại của nước ngọt tại trường học
XXXIII. Giai đoạn thực hiện tại trường học
-Trẻ không bị TC- BP
-Trẻ và phụ huynh được cung cấp kiến thức về tác hại của nước ngọt tại trường học
XXXVII. Giai đoạn thực hiện tại địa phương
XLI. -Nhận được các dịch vụ về phòng chống
TC - BP của trẻ
XLII. -Kiến thức về tác hại của nước ngọt
XLIX. -Mức sử dụng nước ngọt an toàn
L. Toàn bộ can thiệp
-Trẻ không bị TC- BP
-Trẻ và phụ huynh được cung cấp kiến thức về tác hại của nước ngọt tại trường học
LIV. Giai đoạn thực hiện tại địa phương
-Trẻ không bị TC- BP
-Trẻ và phụ huynh được cung cấp kiến thức về tác hại của nước ngọt tại trường học
LVIII.Giai đoạn xây dựng kế hoạch, triển khai can thiệp
-Quá trình triển khai hoạt động can thiệp
-Trẻ và phụ huynh được cung cấp kiến thức về tác hại của nước ngọt tại trường học
LXII.Quá trình triển khai hoạt động can thiệp
LXIII LXIV.Trung LXV. Đơn vì tài -Cung cấp các tờ rơi LXVI. Giai
Trang 12NGOs kỹ thuật hoạch, triển khai
can thiệp
2. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động truyền thông
2.1. Thuận lợi
LXVII. Kế hoạch hoạt động truyền thông trong có được sự ủng hộ của nhà
trường, Hội phụ huynh học sinh, cha mẹ học sinh, gia đình và cộng đồng
Nhà trường đã đồng ý thành lập ban chỉ đạo triển khai hoạt động can thiệp
Đồng thời, khi triển khai can thiệp cũng có sự ủng hộ của Viện Dinh Dưỡng,
và các cơ quan liên quan về cán bộ, tài liệu truyền thông, hướng dẫn triển
khai thực hiện… Hội phụ huynh học sinh sẽ phối hợp với các giáo viên
trong trường thực hiện tuyên truyền, ký cam kết giữa gia đình và nhà trường
trong việc kiểm soát sử dụng nước ngọt của học sinh
2.2. Rào cản
LXVIII. Bên cạnh các thuận lợi thì hoạt động truyền thông có thể gặp phải một
số khó khăn như: người làm công tác truyền thông thiếu kiến thức về tác hại của nước
ngọt, kỹ năng truyền truyền thông, tư vấn giáo dục sức khỏe Một năm chỉ có 2 lần
họp mặt được đầy đủ phụ huynh học sinh, tuy nhiên nhiều gia đình phụ huynh không
tham gia vào các buổi họp cũng ảnh hướng tới việc tuyên truyền tới phụ huynh học
sinh Nước ngọt có nhiều chủng loại, đầy đủ mùi, vị, phục vụ rất tốt nhu cầu, thị hiếu
của học sinh cũng như phụ huynh học sinh, tiện lợi sử dụng nên khi được truyền thông
hạn chế sử dụng cũng khiến thói quen khó thay đổi
3. Các yếu tố xã hội và hành vi ảnh hưởng tới hoạt động truyền thông
3.1.Yếu tố hành vi
- Đối tượng ưu tiên 1 : Các học sinh trường tiểu học A tại Quận Đống Đa, Hà Nội
LXIX. Hành vi hiện tại LXX. Hành vi mong muốn
LXXI. Không tìm hiểu về tác hại
Trang 13LXXV. Đòi gia đình mua nước
ngọt trong tất cả các dịp
LXXVI. Uống khác như nước lọc, nước hoa quả tươi, sữa tươi trong các dịp liên hoan
LXXVII. Ganh đua với bạn bè về
sử dụng nước ngọt
LXXVIII. Không sử dụng nước ngọt
là yếu tố để ganh đua
- Đối tượng ưu tiên 2 : Những người có vai trò trong việc chuẩn bị/chế biến/ cung cấp các bữa ăn cho học sinh
LXXIX. Hành vi hiện tại LXXX. Hành vi mong muốn
LXXXI. Chưa có các kiến thức về
tác hại của nước ngọt
LXXXII. Có kiến thức về tác hại của nước ngọt đối với sức khỏe
LXXXIII. Mua/cung cấp thường
xuyên nước ngọt cho trẻ
LXXXIV. Ngừng cung cấp nước ngọt cho trẻ
LXXXV. Chưa tư vấn, khuyên trẻ
không sử dụng nước ngọt
LXXXVI. Có kỹ năng tư vấn, tuyên truyền cho trẻ thay thể nước ngọt bằng các nước uống khác tốt cho sức khỏe
LXXXVII. Sử dụng nước ngọt
thường xuyên
LXXXVIII. Sử dụng nước ngọt hoặc nếu có sử dụng thì không sử dụng trước mặt trẻ em
- Đối tượng ưu tiên 3: Những người chăm sóc có sự ảnh hưởng đến hành vi sử dụng nước ngọt của học sinh (Các thành viên khác trong gia đình của học sinh, trạm y tế trường học, lãnh đạo nhà trường)
LXXXIX.Hành vi hiện tại XC. Hành vi mong muốn
XCI. Không quan tâm đúng mức đến
việc sử dụng nước ngọt của trẻ
XCII. Quan tâm hơn đến đến việc sử dụng nước ngọt của trẻ
Trang 14XCV. Chưa có các kiến thức về tác hại
của nước ngọt tới sức khỏe
XCVI. Có kiến thức cơ bản về về tác hại của nước ngọt tới sức khỏe
3.2. Các yếu tố xã hội
- Hoạt động quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng về nước ngọt diễn ra hàng ngày do vậy ảnh hưởng tới tâm lý của phụ huynh và học sinh nghĩ rằng sản phẩm đấy là tốt và phù hợp với gia đình mình Do vậy cần hạn chế các hoạt động quảng cáo hoặc yêu cầu cảnh báo nguy cơ nếu sử dụng nước ngọt thường xuyên
- Học sinh thích các buổi sinh hoạt nhóm, các cuộc thi vui nhộn, hấp dẫn nên các hoạt động tuyên truyền cần lồng ghép và các trò chơi, các cuộc thi giữa các lớp…
- Phụ huynh ở Hà Nội đi làm thường xuyên, nên ít có thời gian quan tâm tới con mình do vậy sẽ dễ dàng mua các loại nước ngọt (tiện lợi, không cần chế biến) cho trẻ sử dụng khi trẻ yêu cầu Cảnh báo nguy cơ sức khỏe đối với phụ huynh
XCVII. KẾ HOẠCH CAN THIỆP TRUYỀN THÔNG THAY ĐỔI HÀNH
VI
1. Thời gian can thiệp: 8/2014- 5/2015
2. Địa điểm can thiệp: Trường tiểu học A, Quận Đống Đa, Hà Nội
3. Đối tượng can thiệp
- Học sinh trường tiểu học A, quận Đống Đa, Hà Nội
- Phụ huynh học sinh tiểu học A, quận Đống Đa, Hà Nội
4. Các giải pháp can thiệp
XCVIII. Mục tiêu 1: Đến tháng 5/2015, 100% học sinh trường tiểu học A biết được tác hại của nước ngọt
- Phát sách mỏng có nội dung, hình ảnh về tác hại của nước ngọt, các hướng dẫn lựa chọn nước uống tốt cho sức khỏe cho học sinh
- In thông tin về tác hại của nước ngọt vào bìa sau tập vở tặng học sinh của nhà trường
- Dán poster, áp phích về tác hại của nước ngọt và chế độ ăn hợp lý cho trẻ tại trường học (sân trường, căng tin, )
XCIX. Mục tiêu 2: Đến tháng 5/2015, 90% học sinh trường tiểu học A chỉ sử dụng nước ngọt 1-2 lần/tháng
Trang 15- Tổ chức tư vấn dinh dưỡng trực tiếp cho trẻ có dấu hiệu TC - BP vào buổi khám sức khỏe định kì.
- Tổ chức các buổi nói chuyện lồng ghép trong các buổi sinh hoạt của tuần cho học sinh về các loại thức uống tốt cho sức khỏe
- Tổ chức cuộc thi tìm hiểu về tác hại của nước ngọt và các loại nước uống tốt cho sức khỏe thay thế nước ngọt
C. Mục tiêu 4: Đến tháng 5/2015, nước ngọt sẽ không được bán trong trường học
- Nhà trường sẽ không bán nước ngọt trong trường học thay thế nước ngọt bằng các loại nước hoa quả tươi và sữa, nước lọc
Trang 165. Kế hoạch hoạt động chi tiết:
6. Nội dung 7. Thời gian 8. Người chịu
14. Trường tiểu học A
15. Kinh phí từ TTYT quận
16. Xây dựng, thử
nghiệm, in ấn tài liệu
truyền thông
17. Tháng 9/2014
18. Phòng Y tế quận Đống đa
19. Viện Dinh dưỡng
20. Trường tiểu học A
21. Kinh phí từ TTYT quận
22. Tập huấn cho các
giáo viên, cán bộ y tế
trường
23. Tháng 09/2014
24. Phòng Y tế quận Đống đa
25. Viện Dinh dưỡng
26. Trường tiểu học A
27. Kinh phí từ TTYT quận
31. Giáo viên trường tiểu học A
32. Ban giám hiệu trường tiểu học A
33. Trường tiểu học A