1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cách chữa trị nộc độc rắn xanh bằng lá thuốc nam của người dân tộc mường

18 351 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 2,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách chữa trị nộc độc rắn xanh bằng lá thuốc nam của người dân tộc mường

Trang 1

MỤC LỤC

Lời cảm ơn 2

Lời cam đoan 3

Mở đầu 4

Nội dung Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn 1 Dây lá giang 6

2 Lá cây cỏ nọc 7

3 Lá chua me đất hoa vàng 8

4 Lá rau má mỡ 9

5 Lá rau ngổ 10

6 Lá cối xay 11

7 Lá thuốc dấu 12

8 Hạt đậu nọc 13

9 Lá cây cỏ gấu 14

10.Rễ cây gai 16

Chương 2 Cách bào chế bài thuốc và phương pháp chữa trị nọc rắn 1 Bài thuốc từ thảo dược tươi 18

2 Cách chế biến thảo dược thành cao 18

Chương 3 Khảo sát thực tế 19

Kết luận và kiến nghị 22

Tài liệu tham khảo 23

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài này, chúng em luôn nhận được sự động viên, chỉ bảo và hướng dẫn tận tình từ gia đình, giáo viên chủ nhiệm và các giáo viên bộ môn ở trường THPT Trần Quốc Toản và các bạn cùng lớp, chúng em xin cảm ơn! Chúng em rất cảm ơn cô Cao Ái Ly đã nhiệt tình hướng dẫn các bước nghiên cứu, các phương pháp luận và xin được tỏ lòng biết ơn người bà của chúng em, là người đã hình thành cho chúng em ý tưởng cũng như các bước thực nghiệm để thực hiện đề tài nghiên cứu này

Cuối cùng, chúng em xin gửi lời cảm ơn đến các quý ông bà, cô bác, anh chị và các em, những người đã hợp tác cùng chúng em trong suốt quá trình chữa trị để hoàn thành các bước thực nghiệm của đề tài

Xin chân thành cảm ơn!

Eakar, ngày 15 tháng 12 năm 2015

Nhóm tác giả thực hiện

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Chúng em xin cam đoan, ý tường thực hiện đề tài này là của chúng em, được hình thành từ suốt quá trình quan sát và tìm hiểu các chữa trị rắn độc cắn bí truyền của gia đình Các tên gọi thêm được chúng em tìm hiểu thêm trong giân dan và một số tài liệu về Đông y Tên khoa học, thành phần khoa học và các tác dụng trị các bệnh khác theo Đông y là do chúng em tìm hiểu, tham khảo trên các tài liệu hiện có

Vì thời gian hạn hẹp cũng như kiến thức và sự hiểu biết về Đông y học còn hạn chế, nên công trình nghiên cứu này của chúng em còn rất nhiều thiếu sót, rất mong được sự chỉ bảo và góp ý từ hội đồng giám khảo

Và cuối cùng, chúng em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước nhà trường và ban tổ chức cuộc thi “Sáng Tạo Khoa Học Kĩ Thuật Sở Giáo Dục Tỉnh Đăk Lăk” về lời cam đoan này

Eakar, ngày 15 tháng 12 năm 2015

Nhóm tác giả thực hiện

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nọc độc rắn là hỗn hợp phức tạp của các protein, được lưu trữ trong các tuyến độc ở phía sau đầu Các protein này có thể là hỗn hợp ccủa các độc tố thần kinh (tấn công vào hệ thần kinh của con mồi); độc tố hoại máu (tấn công vào hệ tuần hoàn của con mồi); độc tố tế bào và nhiều loại độc tố khác có tác động tới cơ thể con mồi theo các cách thức khác nhau Loại chất độc và tốc độ sát thương được hình thành phù hợp với đời sống của từng loại rắn

Ở tất cả các loài rắn có nọc, các tuyến này thông qua các ống dẫn vào các răng rỗng hay răng có khía ở hàm trên Gần như tất cả các loại nọc rắn đều chứa

hyaluronidaza, một enzym bảo đảm sự khuyếch tán nhanh của nọc Các loại rắn có

sử dụng độc tố hoại máu (hemotoxin) thường có các răng nọc ở phía trước miệng

chúng, giúp chúng dễ dàng hơn trong việc tiêm nọc vào nạn nhân của chúng Đây là một loại vũ khí tấn công hay phòng vệ hữu hiệu của loài rắn được tiến hóa trong nhiều triệu năm đã qua Nọc độc của rắn là một loại vũ khí chết người, được hình thành trong khoảng thời gian trên 100 triệu năm Nọc rắn cướp đi sinh mạng của hàng chục nghìn người mỗi năm

Thời gian qua, hiện tượng rắn lục đuôi đỏ liên tục xuất hiện và cắn người nhiều nơi trên khắp nước ta, khiến người dân hoang mang, lo sợ Nhiều nhất là các vùng hẻo lánh, khu dân cư không tập trung, xa bệnh viện hoặc trạm y tế dẫn đến không ít trường hợp nạn nhân bị rắn cắn khi đưa đến bênh viện cấp cứu thì đã muộn

Để góp phần khắc phục bớt những rủi ro do bị rắn cắn gây ra, tôi đã tận dụng, tiềm hiểu và nghiên cứu một số phương pháp “bí truyền” của người dân tộc Mường dựa trên nội dung của đề tài: “Cách chữa trị nọc độc rắn xanh bằng lá thuốc Nam của người dân tộc Mường”

2 Mục đích nghiên cứu

Trang 5

Với đề tài này, chúng tôi sẽ tiến hành tìm kiếm các loại thảo dược thường thấy trong vườn nhà để bào chế ra bài thuốc chữa nọc độc rắn, đặc biệt là rắn lục, loại rắn hay xuất hiện trong vườn nhà

3 Phương pháp nghiên cứu

a Nghiên cứu lí luận: Tìm kiếm các nguồn tài liệu, nghiên cứu lí thuyết bao

gồm phân tích, tổng hợp… nhằm nghiên cứu cơ sở lí luận của đề tài

b Nghiên cứu thực tiễn: Thực nghiệm với những người bị rắn cắn.

4 Phạm vi áp dụng

Chủ yếu dùng thảo dược dễ tìm, có sẵn tại nơi cư trú

5 Giả thuyết khoa học

Nếu dự án khả thi, sẽ phổ biến cho nhiều người biết, nhiều người sử dụng được để khắc phục tạm thời và chữa trị khẩn cấp cho những người bị rắn độc cắn

Trang 6

NỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Giới thiệu một số loại thảo dược dễ tìm thấy trong vườn nhà, thành phần khoa học và một số tính năng chữa bệnh theo Đông y của các loại thảo dược này

1 Dây lá giang

a Các tên thường gọi: Cây lá giang có tên khoa học là Aganonerion

polymorphum, thuộc họ La bố ma (Apocynaceae) còn được gọi là cây giang chua,

dây dang hay lá chu-mon (tiếng Mường)

b Thành phần khoa học: Thành phần lá cây lá giang có dược tính cao, chất

saponin trong lá giang có tính kháng sinh với các chủng khuẩn Salmonella typhi và Klebsiella.

c Tác dụng chữa bệnh theo Đông y: Theo y học cổ truyền, lá giang có vị chua

tính mát, tác dụng thanh nhiệt, khai vị, tiêu viêm, lợi niệu, giải khát, giảm đau

d Bộ phận sử dụng: Cây lá giang mọc hoang dại, họ dây leo có mủ trắng, lá đơn

hình trứng, mọc đối, có vị chua Hoa mọc thành chùm, màu hồng nhạt, năm cánh đều nhau; đài hoa có hình ống, tràng hình chuông, năm nhị ngắn, nhiều noãn; quả có hai đai; hạt có lông ở đỉnh Lá giang còn được chế biến với gà thành canh là một món ăn ngon và bỗ dưỡng Bộ phận thường dùng làm thuốc là lá

2 Lá cỏ nọc

a Các tên thường gọi: Cây cỏ nọc hay còn gọi là cây lưỡi rắn, đơn phòng, xà

thiệt thảo…

b Thành phần khoa học: Cây cỏ nọc có chứa chất corymbosin, scandosid,

asperulosid, asperglavcid, acid geniposidic và một số chất khác

c Tác dụng chữac bệnh theo Đông y: Theo Đông y, cây lưỡi rắn có tác dụng

thanh nhiệt giải độc, dùng chữa rắn cắn, sốt rét…

d Bộ phận sử dụng của cây: Bộ phận dùng làm thuốc là toàn cây, thu hái chủ

yếu vào mùa hè thu khi có hoa

Trang 7

e Cách điều trị riêng khi bị rắn cắn: Khi bị rắn cắn lập tức garo phía trên vết

cắn để nọc khỏi lan theo hệ tuần hoàn, dùng sợi tóc kéo căng gạt qua lại trên bề mặt vết cắn để bật phần ống nọc còn cắn vào da thịt, hút máu độc, sau đó lấy một nắm cây

cỏ nọc rửa sạch, nhai nuốt lấy nước, bã còn lại cho lên vết cắn Sau 5 phút có thể bỏ garo Sau 2 đến 3 giờ uống lại nước sắc cây cỏ nọc một lần

3 Lá chua me đất hoa vàng

a Các tên thường gọi: Lá chua me đất hoa vàng, có tên khoa học là Oxalis

corniculata, còn gọi là chua me ba chìa, tạc thương thảo, toan thương thảo hay sỏm

hém (tiếng Tày), là loại chua me đất hay gặp nhất ở nước ta Đây là một loại cỏ mọc lan bò trên mặt đất, thường gặp ở những nơi ẩm ướt như bờ ruộng, đồng cỏ hoang…

b Thành phần khoa học: Tên khoa học của chua me đất hoa vàng là Oxalis

corniculata L Trong lá và thân chua me đất có acid oxalic, muối oxalat kali Người

ta tính được theo mg%: P 125: carotene 8,41; B1 0,25; vitamin C 48 Toàn cây chứa

nhiều muối kali oxalat, acid oxalic Lá chứa vitamin C 125 mg/100 g, các axit tartaric, axit citric, axit malic và một lượng khá lớn oxalat kali 12%, oxalat canxi

5,6%, so với nguyên liệu khô

c Tác dụng chữa bệnh theo Đông y:

Theo Đông y, chua me đất hoa vàng có vị chua (do trong thành phần cây có chứa axit oxalic và muối kali oxalat với hàm lượng cao), tính hàn; có tác dụng tán ứ huyết, tiêu thũng, thanh nhiệt, giải độc; có thể được dùng để chữa các bệnh tổn thương do viêm loét, bỏng, mụn nhọt…

Lưu ý, với những người có tiền sử bệnh sỏi thận không nên ăn hay uống nhiều thành phần của chua me đất do muối oxalat có thể gây tích tụ trong bàng quang mà tạo nhiều sỏi hơn

d Bộ phận sử dụng của cây: Chua me đất hoa vàng có thân mảnh, thường có

màu đỏ nhạt, thân có lông, lá có cuống dài, thường mang ba lá mỏng hình tim, hoa

Trang 8

mọc thành tán gồm hai đến ba hoa, có khi bốn hoa màu vàng Có thể sử dụng toàn cây

4 Lá rau má mỡ

a Các tên thường gọi: Rau má mỡ (tên khoa học Hydrocotyle sibthorpioides

Lam), thường được gọi là Thiên hồ tuy, thuộc họ hoa tán (Apiaceae) Rau má mỡ là

loài cỏ nhiệt đới mọc hoang những nơi ẩm thấp, có thể thu hái quanh năm

b Thành phần khoa học: Thành phần hóa học của rau má mỡ có các loại phenol,

amino axit, cumarin….

c Tác dụng chữa bệnh theo Đông y: Theo Đông y, rau má mỡ có vị ngọt và

đắng, hơi cay, tính bình; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, chỉ khái, lợi niệu, tán kết tiêu thũng…; thường được dùng trị viêm gan vàng da, ho, việm họng, viêm kết mạc, bệnh zona, mụn nhọt, bệnh ngoài da, rôm sẩy, mẩn ngứa…

d Bộ phận sử dụng của cây: Lá rau má mỡ giống như lá rau má nhưng có kích

thước nhỏ hơn, mặt trên nhắn bóng giống như được bôi một lớp mỡ, hơi tròn, mép khía răng không đều; thân mọc bò, mang rễ ở các mấu; cụm hoa hình tán mọc ở nách

lá, mang 3-8 hoa nhỏ màu trắng, lá và cụm hoa đều có cuống dài, quả dẹt hoặc có lông rất nhỏ Có thể sử dụng toàn cây

5 Lá rau ngổ

a Các tên thường gọi: Rau ngổ (tên khoa học là Enydra fluctuans Lour) thuộc

họ cúc (Asteraceae), còn gọi là ngổ trâu, ngổ đắng, ngổ đất Rau ngổ thường mọc

theo đìa ao, bờ ruộng, ruộng rau muống và là cây dễ trồng chỉ cần dăm xuống đất là

có thể tự phát triển

b Thành phần khoa học: Thành phần hóa học gồm Stigmasterol, Enhydrin,

Octacosanol, Axit kaur-16-en-19-oic (đây là một axit diterpenic, có hoạt tính kháng

khuẩn mạnh)…

Trang 9

c Tác dụng chữa bệnh theo Đông y: Theo y học dân gian, rau ngổ có vị chua,

hơi the, mùi thơm, tính mát; có tác dụng thông mật, giãn cơ, chống co thắt, lợi tiểu… ngoài ra thường được dùng để chữa trị rắn cắn

d Các bộ phận sử dụng của cây: Rau ngổ có lá đơn không cuống, mọc đối hoặc

mọc vòng ba, có khi năm lá, mép lá hơi có răng cưa thưa Hoa đơn mọc ở nách lá Có thể sử dụng toàn cây

e Cách điều trị riêng khi bị rắn cắn: Có thể chữa trị cho người bị rắn cắn từ rau ngổ bằng cách giã nát rau ngổ tươi, chắt lấy nước uống còn lại bã đắp lên vết thương (4 đến 5 ngày liên tục)

6 Lá cối xay

a Các tên thường gọi: Cây cối xay (tên khoa học là Abutilon indicum (L.))

thuộc họ Bông (Malvaceae), hay còn gọi là Nhĩ hương thảo, Kim hoa thảo Cây mọc

hoang và được trồng ở nhiều nơi trong nước ta Vào mùa hạ, đem về, giü sạch bụi, cắt thành những đoạn theo kích thước quy định, phơi hoặc sấy khô

b Thành phần khoa học:

- Lá chứa nhiều chất nhầy Aspagarin

- Cây chứa tinh dầu với các thành phần là b-pinen, Caryophyllen oxit, Cineol, Geraniol, Geranyl axetat, Alemen, Eudesmol, Farnesol, Borneol.

- Hạt chứa Raffinose 1,6% và dầu nửa khô 4,21% gồm chủ yếu là Glycerid của các axit linoleic, oleic, palmitic, stearic Rễ chứa dầu béo, b- sitosterol, b-amyrin

và một alcaloid chưa xác định.

c Tác dụng chữa bênh theo Đông y: Theo Đông y, cây cối xay có vị hơi ngọt,

tính bình; tác dụng tán phong, thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết long đờm, lợi tiểu…; thường được dùng điều trị cảm mạo phong nhiệt, sốt, tiểu buốt, phù thũng, lở ngứa, dị ứng……

d Bộ phận sử dụng của cây: Cây nhỏ sống hàng năm hoặc lâu năm, mọc thành

bụi, cao từ 1 đến 2 mét, có lông mềm trên toàn thân và các bộ phận của cây; lá mọc so

Trang 10

le, hình tim, có mép khía răng; hoa vàng mọc ở nách lá, có cuống dài bằng cuống lá; quả gồm tới 20 lá noãn dính nhau như cối xay lúa; hạt hình thận, nhẵn, màu đen nhạt

Có thể sử dụng phần phía trên mặt đất (Herba Abutili indici), rễ, hạt

7 Lá thuốc dấu

a Các tên thường gọi: Cây thuốc dấu (có tên khoa học là Pedilanthus

tithymaloides (L.).Poit) có nơi gọi là thuốc giấu hay ngải rít, thuộc họ thầu dầu (Euphorbiaceae) Cây cao đến một mét, có nhựa mủ trắng; cành vặn vẹo, mọc thẳng

đứng; lá hình trứng, mọc so le thành hai dây rất đều; hoa màu đỏ, mọc ở ngọn thân Cây ra hoa tháng 3 đến 5 và tháng 8 đến 9

b Thành phần khoa học: Rễ, thân và lá cây chứa độc tố được gọi là euphorbol

(một terpene phức hợp) và các diterpen ester khác Đây là những chất gây ung thư.

Lá và thân cây cũng chứa beta- sitosterol, cycloartenon, octacosanol và oxime, là

những chất có dược tính dựa trên độc tính của chúng

c Tác dụng chữa bệnh theo Đông y: Cây thuốc dấu có vị chua hơi chát, tính hàn,

có độc; tác dụng thanh nhiệt giải độc, tán ứ tiêu thũng, chỉ huyết sinh cơ; rễ cây có tác dụng hơi nôn Cây thuốc dấu thường được dùng trị đòn ngã tổn thương, ngoại thương xuất huyết, mụn nhọt lở ngứa, viêm kết mạc mắt Lá thường dùng tươi giã đắp hoặc lấy mủ tươi đắp vết thương Để dùng uống trong, hãm lá trong nước sôi Để chữa đinh nhọt và viêm mủ da, vết thương chảy máu, giã cây tươi dùng rịt ở ngoài Để trị rắn cắn, giã cây tươi với một ít muối và đắp vào vết thương.Tại Ấn Độ, nhựa (mủ) các phần xanh của cây thường được dùng đắp lên mụn cóc Ở Malaixia thì nhựa cây được dùng đắp vào da trị bệnh bạch biến và dùng trị khi bị bò cạp, rết cắn

d Bộ phận sử dụng của cây: Cây thuốc dấu nguyên sản ở đảo Antilles (Trung

Mỹ) được nhập trồng làm cây cảnh, làm hàng rào Có nhiều phân loài khác nhau bởi thân, lá có lông mịn hay không lông, lá hẹp hay lá rộng; có một thứ gọi là Cẩm thạch (var variegatus Hort.) có lá với bớt xanh, hồng và trắng như vẽ bằng màu nước, thường được trồng Người ta thu hái toàn cây, lá quanh năm, thường dùng tươi

Trang 11

8 Hạt đậu nọc

a Các tên thường gọi: Hạt đậu nọc hay thường được gọi là đậu hút nọc, còn

được gọi với tên là hạt đậu mèo hay hạt đậu Lào

b Thành phần khoa học: (Chưa rõ).

c Tác dụng chữa bệnh theo Đông y: Theo kinh nghiệm của những người

chuyên đi săn rắn độc mà chúng tôi tìm hiểu được thì hạt đậu nọc có tác dụng dút nọc độc khi bị rắn cắn

d Bộ phận sử sụng: Hạt.

e Các sử dụng khi bị rắn cắn: Chẻ làm đôi hoặc làm ba hạt đậu nọc ra, lấy kim

chích vào vết thương rắn cắn cho máu phun ra, sau đó lấy hạt đậu nọc đã chẻ đắp lên Nếu đúng là bị rắn độc cắn thì hạt đậu sẽ dính vào vết thương, đến khi lượng nọc độc

bị hút giảm xuống thì hạt đậu sẽ tự nhả ra

9 Cây cỏ gấu

a Các tên thường gọi: Cây cỏ gấu có tên khoa học là Cyperus rotundus L Thuộc

họ cói Cyperaccae Còn được gọi là củ gấu hay cỏ cú Vị hương phụ là thân rễ-Rhizoma Cyperi phơi hay sấy khô của cây củ gấu hay cỏ gấu Cyperus stoloniferus Retz mọc nhiều ở bãi cát gần biển

b Thành phần khoa học: Một số hoạt chất đã được nhận biết trong toàn cây cỏ

gấu gồm: α-cyperon, β-selinen, cyperen, cyperotundon, patchoulenon, sugeonol, kobuson và isokobuson, là các hoạt chất có thể giải thích cho công dụng trong y học

dân gian một cách khoa học

c Tác dụng chữa bệnh theo Đông y:

Cỏ gấu là loại cỏ khó tiêu diệt với người làm nông, có tác hại đến việc trồng cây nông nghiệp nên được xem là thành phần cỏ dại Tuy nhiên, nếu biết xử lý thì có thể chế biến ra được một loại thuốc quý mà Đông y thường hay gọi là “hương phụ” Đông y có câu “ nam bất thiếu trần bì, nữ bất ly hương phụ” ý nói chữa bệnh cho nam

Ngày đăng: 26/03/2016, 14:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w