1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ ĐỂ PHỤC HỒI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG HIỆN NAY

37 328 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 738,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gần như trong suốt thời gian dài của gần 30 năm đổi mới vừa qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn thời kỳ trước đổi mới và được xem là thuộc loại tăng trưởng cao tr

Trang 1

VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ ĐỂ

PH ỤC HỒI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG HIỆN NAY

PGS TS Bùi Tất Thắng Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển

I TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VIỆT NAM QUA 30 NĂM ĐỔI MỚI

Nhìn một cách tổng quát, trong gần 30 năm đổi mới vừa qua, kinh tế Việt Nam đã được xem như một trong những nền kinh tế có khá nhiều thành tích được ghi nhận Một trong những thành tựu nổi bật nhất là nhờ tăng trưởng kinh tế cao hơn bất cứ thời kỳ nào trước đó mà phần lớn người dân đã thoát khỏi đói nghèo vốn đeo đẳng hàng triệu người một cách dai dẳng Song, cùng với thời gian, thực tiễn cũng lại đang đặt ra nhiều vấn đề

phải giải quyết để tiếp tục duy trì những thành tích đã đạt được trong quá khứ Hiện tại,

nền kinh tế Việt Nam đang nổi lên một số đặc điểm đáng chú ý sau

M ột là, kinh tế Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình (thấp), nhưng thực tế đang đòi hỏi định hình mô hình tăng trưởng kinh tế mới

Gần như trong suốt thời gian dài của gần 30 năm đổi mới vừa qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn hẳn thời kỳ trước đổi mới và được xem là thuộc

loại tăng trưởng cao trên thế giới (xem bảng 1)

Bảng 1 Tốc độ tăng GDP Việt Nam (năm sau so với năm trước)

Năm

Tốc độ tăng GDP (%)

Năm

Tốc độ tăng GDP (%)

Năm

Tốc độ tăng GDP (%)

Năm

Tốc độ tăng GDP (%)

Trang 2

Ghi chú:

- Số liệu 1995-2004: theo giá so sánh 1994;

- Số liệu 2005-2013: theo giá so sánh 2010

Tốc độ tăng trưởng toàn nền kinh tế và từng khu vực và phân theo từng thời kỳ cụ thể như sau:

Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân năm (%)

và thuỷ sản Công nghiệp và xây dựng Dịch vụ

Kết quả là từ năm 2008, với mức GDP bình quân đầu người đạt 1.047 USD (giá

thực tế), Việt Nam đã ra khỏi nhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp, để gia nhập nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình thấp (Năm 2013 GDP/người đạt 1.960 USD)

Bảng 3 Xếp hạng các nước theo tổng thu nhập quốc gia (GNI) trên đầu người

(số liệu năm 2010)

2 Các quốc gia có thu nhập trung bình thấp 995 - 3.465 USD 58

3 Các quốc gia có thu nhập trung bình cao 3.466 - 10.725 USD 48

Nguồn: Ngân hàng Thế giới

Hiện có ý kiến tranh luận rằng, kinh tế Việt Nam hiện đang ở trang thái tăng trưởng khá cao, nhưng chất lượng tăng trưởng thấp Cần hướng tới sự phát triển bền vững hơn, coi trọng chất lượng tăng trưởng hơn

Thông thường, người ta so sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm giữa các quốc gia dựa trên cơ sở các số liệu thống kê sẵn có Theo cách này, từ nhiều thập niên qua, người ta nhận thấy trong thế giới mà chúng ta đang sống, có một dải tốc độ tăng trưởng

Trang 3

kinh tế hàng năm khá rộng, từ mức tăng trưởng âm – có thể tới – 10% vào một năm nào

đó, tới mức tăng trưởng dương – có thể tới 15% vào một năm nào đó, cá biệt có thể tới trên 20% Tuy nhiên, dải tốc độ tăng trưởng hàng năm thường được quan sát thấy chủ yếu năm ở mức -1% đến + 10% Vậy nên, tùy theo mục tiêu nghiên cứu, có thể phân chia tốc

độ tăng trưởng của các nên kinh tế trên thế giới thành các loại: cao – trung bình – thấp; hoặc rất cao – cao – trung bình – thấp – rất thấp – không tăng trưởng/tăng trưởng âm Chẳng hạn, theo cách đơn giản, phân chia tốc độ tăng trưởng của các nên kinh tế trên thế giới thành 3 loại: cao (7 - 10%), trung bình (4 - 6%) và thấp (0 – 3%)

Tuy những số liệu mang tính trực quan này rất thường được sử dụng để phân tích, đánh giá so sánh về tăng trưởng giữa các nền kinh tế và không phải không hữu ích, nhưng

ở góc độ kinh tế học, chúng cũng che lấp nhiều khía cạnh mang tính bản chất, mà nếu như không được phân tích một cách kỹ lưỡng, có thể dẫn đến những nhận định sai lệch

Thật vậy, những nền kinh tế thuộc nhóm tăng trưởng cao (7 - 10%/năm) hầu hết đều là những nước ở trình độ đang phát triển hoặc vừa trở thành những nền kinh tế mới CNH, hay đúng hơn là nhờ đạt mức tăng trưởng cao liên tục trong nhiều năm mà trở thành

nền kinh tế mới CNH Rất hiếm những nền kinh tế đã CNH (hoặc đã phát triển cao – nhóm OECD) đạt tốc độ tăng trưởng cao trên 7%/năm, thậm chí đạt mức tăng trưởng trung bình Hầu như nhóm này chỉ đạt mức thấp hoặc trung bình thấp (từ 1 đến dưới 4% năm) Tuy nhiên, với mức tăng 3-4%/năm mà nếu kéo dài liên tục được nhiều năm ở nhóm này, các kinh tế gia đã cho là “lý tưởng”

Ở đây có hai lý do quan trọng

Một là, về mặt thống kê, do quy mô kinh tế ở những nước này lớn và rất lớn, nên 1% tăng trưởng của họ hàm chứa một khối lượng GDP tính theo USD đôi khi lớn hơn nhiều lần tổng GDP của nhiều nền kinh tế khác Ví dụ, năm 2012, kinh tế Mỹ với quy mô GNP 15.684,8 tỷ USD, 1% tăng trưởng của họ sẽ làm tăng thêm gần 157 tỷ USD, gần tương đương với quy mô kinh tế của Peru hay New Zealand, và lớn hơn quy mô kinh tế

của Việt Nam (141,7 tỷ USD) cùng năm Trong khi đó, 1% tăng trưởng của kinh tế Việt Nam năm 2012 chỉ là 1,4 tỷ USD, năm 2012 tăng trưởng 5,3%, tức là chỉ tạo ra được hơn 7,4 tỷ USD tăng thêm Nếu tăng ở mức rất cao: 10% thì cũng mới chỉ tạo ra 14 tỷ USD Vì

vậy, đối với những nước kinh tế chậm phát triển, quy mô nhỏ bé, tốc độ tăng trưởng cao tuy rất quan trọng đối với chính họ, nhưng không “cùng chất” khi so sánh với tốc độ tăng trưởng ở mức thấp hơn của các nền kinh tế đã phát triển Nghĩa là, khi phân tích so sánh kinh tế, mức tăng trưởng cao ở những nền kinh tế chưa phát triển chưa đủ nói lên rằng, trạng thái phát triển ở đó tốt hơn trạng thái phát triển của những nền kinh tế đã đạt trình độ phát triển cao hơn

Hai là, lý do giải thích về mặt bản chất kinh tế cho những số liệu thống kê nêu trên nằm ở khái niệm kinh tế: đường giới hạn tiềm năng sản xuất (production possibility curve hay production possibility frontier) Tại mỗi thời điểm nhất định, đối với mỗi nền kinh tế, công nghệ và nguồn lực đầu vào (như: đất đai, nguồn vốn, lao động tiềm năng) cho trước

sẽ sản xuất ra một mức giới hạn tổng sản lượng đầu ra Trong trường hợp sản lượng của

Trang 4

các loại hàng hóa và dịch vụ nằm trên vòng cung chứa điểm A, nền kinh tế được coi là toàn dụng mọi tiềm năng sẵn có – đạt mức hiệu quả lý tưởng (Hình 1)

Hình 1: Đường giới hạn tiềm năng sản xuất

Thông thường, trên thực tế các nền kinh tế chỉ đạt mức sản lượng nằm ở đâu đó phía trong vòng cung chứa điểm A (chẳng hạn điểm B) Đường cong chứa điểm B càng gần đường cong chứa điểm A thì nền kinh tế càng có hiệu quả Quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế là quá trình mở

rộng đường giới hạn tiềm năng sản xuất từ trái qua phải (Hình 2)

Hình 2: Quá trình mở rộng đường giới hạn tiềm năng sản xuất

Do vậy, tốc độ tăng trưởng của một thời kỳ nào đó có thể do hai lý do: một là sử dụng tốt hơn các tiềm năng sản xuất sẵn có Đây là quá trình chuyển đường cong chứa điểm B vốn nằm rất

xa đường tiềm năng sản xuất (chứa điểm A) tiến sát lại đường tiềm năng sản xuất với tốc độ nhanh, chẳng hạn quá trình tăng trưởng nhờ “cởi trói”, “bung ra” do cơ chế cũ kìm hãm không cho các tiềm năng sản xuất được phát huy Tăng trưởng nhanh dạng như thế có thể coi là sự “tăng bù” cho mức tăng đáng ra đã xảy ra từ trước đó Dạng tăng trưởng này có thể quan sát thấy ở các nền kinh tế chuyển đổi Tính chất “phát triển” của dạng tăng trưởng này khác với kiểu “diễn ra như một quá

Trang 5

trình lịch sử tự nhiên” như cách nói của K Marx Hai là, sự mở rộng (expansion) đường giới hạn

tiềm năng sản xuất (từ Q1Q3 lên Q2Q4 trong Hình 2) do tác động phát triển của các yếu tố tiềm năng sản xuất: tăng thêm vốn, nguồn lực tự nhiên, số lượng và chất lượng lao động tăng, khoa học công nghệ… Sự tăng trưởng kiểu này là sự tăng trưởng mang tính phát triển cao, thường khó có mức cao đột biến, nhưng bền bỉ, bền vững hơn Dạng tăng trưởng này thường thấy ở các nền kinh tế

đã CNH hoặc đang phát triển nhưng CNH thành công Ngoài ra, còn có thể thấy từ thực tế một số ít trường hợp ở một thời điểm nào đó, một nền kinh tế có đường giới hạn tiềm năng sản xuất (đường

chứa điểm A trên Hình 1), nhưng sản lượng của nó lại nằm trên đường cong chứa điểm C trên Hình

1 (vượt ra ngoài đường giới hạn tiềm năng sản xuất) – tình huống sản lượng vượt tiềm năng Điều này chỉ xảy ra xét trong phạm vi một nền kinh tế quốc gia chứ không thể là nền kinh tế toàn cầu, vì cái gọi là “sản lượng vượt tiềm năng” chỉ là vượt so với tiềm năng của riêng nền kinh tế ấy Sự

“vượt” tiềm năng này có được hoặc là do chiếm đoạt/cướp đoạt (các nước từng là thực dân cũ và

mới), hoặc là do các nguồn lực từ bên ngoài (các nền kinh tế kêu gọi được nhiều FDI… từ bên ngoài) mang lại

Như vậy, kinh tế học vừa đồng thời coi trọng chỉ số % tăng trưởng hàng năm của các nền kinh tế, lại vừa rất quan tâm đến cái cách mà nền kinh tế đạt mức tăng trưởng trên như thế nào Ở

một thời điểm nào đó, có những nền kinh tế chỉ tăng 5%/năm, nhưng xuất phát điểm là từ mức đã toàn dụng các tiềm năng sản xuất sẵn có, nên 5% tăng trưởng có được chủ yếu do mở rộng đường giới hạn tiềm năng sản xuất, thì đã có thể nhận định là rất cao Ngược lại, có nền kinh tế tăng trưởng

tới 10%/năm, nhưng chủ yếu do trước đó xuất phát từ tình trạng chưa toàn dụng được các tiềm năng

sản xuất sẵn có (điểm B nằm rất xa đường giới hạn tiềm năng sản xuất), nay có điều kiện tăng tốc chuyển sản lượng về đường giới hạn tiềm năng sản xuất, hoặc có thể kết hợp với mức thu hút được các tiềm năng sản xuất từ bên ngoài, nhưng vẫn có thể đánh giá không cao bằng trường hợp chỉ tăng trưởng 5% đã nêu ở trên Thậm chí, mức tăng đã là 10%, nhưng vẫn còn là “dưới” tiềm năng sản

xuất – nghĩa là vẫn có thể và đáng ra còn phải đạt mức tăng trưởng lớn hơn 10%

Đối với Việt Nam, trong một vài thập niên sắp tới, nhu cầu tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh một cách liên tục vẫn cần được đặt ra, vì:

- Mặc dù Việt Nam đã và đang đạt tốc độ tăng trưởng khá cao trong thời kỳ đổi mới vừa qua, nhưng khoảng cách tụt hậu so với các nước vẫn có nguy cơ tăng lên

- Yêu cầu phải tiến tới nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình (giữa) vào năm 2020, tránh bẫy “nước có mức thu nhập trung bình”

- Việt Nam là nước có quy mô dân số lớn, cần có một quy mô kinh tế tương xứng

để tham gia các công việc quốc tế tương xứng với tầm vóc đáng có

- Mức thu nhập đầu người thấp hạn chế khả năng nắm bắt cơ hội tối đa hóa lợi ích trong hội nhập quốc tế trên nhiều phương diện

- V.v…

Hơn nữa, việc nâng cao hơn nữa tốc độ tăng trưởng kinh tế không phải là không thể đạt được Trong quãng thời gian 1991-2013, kinh tế Việt Nam đã từng có 2 năm đạt tốc độ

Trang 6

tăng trưởng cao hơn 9%; 7 năm đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn 8% Thế giới cũng đã có những nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng rất cao trong thời gian dài Ví dụ, kinh tế Nhật Bản thời kỳ 1961-1970 đạt tốc độ tăng trưởng 10,2%/năm; kinh tế Đài Loan thời kỳ 1961-

1980 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 9,7%/năm, thời kỳ 1981 – 1990 đạt 8,0%/năm; kinh

tế Hàn Quốc thời kỳ 1961-1980: 7,9%/năm, thời kỳ 1981 – 1990 đạt 9,2%/năm; kinh tế Trung Quốc thời kỳ 1991-2009 đạt tốc độ tăng trưởng 9,6%/năm; v.v…

Nhờ tăng trưởng kinh tế nhanh mà Việt Nam đã đạt thành tựu được quốc tế đánh giá cao về lĩnh vực xóa đói giảm nghèo Thành tích giảm đói nghèo không chỉ trực tiếp cải thiện đời sống của nhiều chục triệu dân khỏi tình trạng thiếu ăn thiếu mặc và ít có cơ hội được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản; mà điều không kém phần quan trọng xét về dài hạn là góp phần khẳng định các chính sách đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trường, mở cửa thời gian qua là đúng hướng, mở ra cơ hội chuyển dần lên các nấc thang cao hơn trong bước đường phát triển để cùng hội nhập chung vào dòng chảy phát triển kinh tế của các quốc gia phát triển trên thế giới

Các báo cáo về tình hình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam tuy đôi khi không giống nhau về số liệu do cách tính toán và áp dụng các mức chuẩn nghèo không giống nhau, nhưng đều thống nhất ở một điểm: thừa nhận Việt Nam là một trong những quốc gia có thành tích xóa đói giảm nghèo tốt Ngân hàng thế giới trong “Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam năm 2012” đã viết: “Thành tích của Việt Nam về tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo trong hai thập kỷ qua rất lớn Nếu sử dụng chuẩn nghèo “dựa theo nhu cầu cơ bản” như

thống nhất từ đầu vào năm 1998, tỉ lệ nghèo tính theo đầu người giảm từ 58% vào đầu

thập kỷ 1990 xuống 14,5% năm 2008, và theo chuẩn này tỉ lệ nghèo ước giảm xuống dưới 10% vào năm 2010 Những thành tựu tương tự khi tính đến yếu tố thu nhập tăng đều cũng thể hiện rất rõ khi đánh giá theo chuẩn “quốc tế” bình quân đầu người 1,25 USD và 2 USD/ngày (tính ngang giá sức mua tương đương 2005) Việt Nam cũng tiến bộ đáng kể ở các khía cạnh đời sống khác, từ tỉ lệ nhập học tiểu học và trung học cao và cải thiện về y

tế, tới giảm tỉ lệ bệnh tật và tử vong Việt Nam đã đạt được và, trong một số trường hợp thậm chí còn vượt các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG) Những cải cách theo cơ chế thị trường nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở tốc độ cao và bền vững đóng vai trò tối quan trọng đối với thành công của Việt Nam, và những nỗ lực đó lại được củng cố thêm

bởi các chính sách đảm bảo công bằng trong cung cấp các dịch vụ cơ bản, trong sử dụng đất, và đầu tư vào cơ sở hạ tầng nhằm đảm bảo người nghèo được tiếp cận cơ hội rộng

rãi” (Ngân hàng th ế giới: “Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam năm 2012; Hà Nội 2012)

Tuy đạt tốc độ tăng trưởng khá cao trong gần suốt cả thời kỳ đổi mới vừa qua, nhưng việc định hình mô hình tăng trưởng kinh tế tiếp theo vẫn còn chưa thực sự rõ ràng,

đặc biệt là xét từ góc độ phát triển bền vững Tính chưa định hình của mô hình tăng

trưởng, một mặt thể hiện ở tình trạng tăng trưởng còn dựa quá nhiều vào nguồn vốn đầu

tư, trong khi với một nước nghèo như Việt Nam, vốn đầu tư luôn là một nguồn lực khan hiếm Mặt khác, sau gần 30 năm đổi mới, chuyển sang nền kinh tế thị trường và mở cửa, hội nhập; nhưng đến nay, tiến trình chuyển sang kinh tế thị trường vẫn chưa hoàn tất, việc

Trang 7

mở cửa, hội nhập vẫn còn rất nhiều việc phải làm, nhất là nhìn từ góc độ hài hòa hóa các quy định trong nước với thông lệ kinh doanh quốc tế Trong cam kết khi gia nhập WTO, thời điểm hoàn tất các quy định để được xem xét công nhận nền kinh tế thị trường là năm

Nếu so sánh tốc độ tăng vốn đầu tư hàng năm với tốc độ tăng GDP hàng năm trong thời gian từ 1991-2010 thì thấy tốc độ tăng vốn đầu tư cao gấp 3 lần tốc độ tăng GDP (22,9% so với 7,4%)

B ảng 3 Tốc độ tăng vốn đầu tư thời kỳ 1991-2010

Tốc độ tăng vốn cao hơn hẳn tốc độ tăng GDP đã phần nào cho thấy hiệu suất đầu

tư chưa được cải thiện

Bảng 4 Tổng vốn đầu tư xã hội và tổng sản phẩm quốc nội

Năm Tổng vốn đầu tư xã

hội (giá hh)

Tổng vốn đầu

tư xã

hội (giá

ss)

Chỉ số tăng vốn đầu tư

*

GDP (giá hh)

GDP

(giá ss)

Tăng trưởng GDP*

Tỷ lệ vốn đầu tư/

GDP (%)

ICOR

Trang 8

Ghi chú: * 1986-2004: theo giá so sánh 1994; 2005-2013: theo giá so sánh 2010

Theo bảng trên, chỉ có giai đoạn 1995-1997 và năm 2005, chỉ số ICOR của Việt Nam nhỏ hơn 5 (tương đương như các nước ghi trong bảng 5), còn lại trong suốt thời gian

từ 1998 đến nay (trừ năm 2005), chỉ số ICOR đều lớn hơn 5, cao hơn hẳn các nước trong khu vực thời kỳ CNH (ghi trong bảng 5)

Trang 9

Nếu so sánh với các nền kinh tế mới công nghiệp hóa như Hàn Quốc, Đài Loan thời

kỳ 20 năm CNH của họ (1961 – 1980), với mức đầu tư/GDP cao như Việt Nam hiện nay (31-45%/năm), nếu đạt hiệu quả đầu tư cao như hai nền kinh tế này thì mức tăng trưởng kinh tế hàng năm của Việt Nam có thể đã vượt quá 10%/năm

Bảng 5: Tỷ lệ vốn đầu tư/ GDP của một số nền kinh tế

Nước Giai đoạn Tăng trưởng

GDP (%/năm)

T ổng đầu tư (% của GDP/năm) ICOR

ch ọn Thành công - Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam

Ngoài ra, xét về xu hướng, tương quan đầu tư – tăng trưởng cũng cho thấy, mức tăng đầu tư liên tục và khá “nóng”, nhưng mức tăng trưởng lại không tăng tương ứng, đã phát ra tín hiệu hiệu quả đầu tư chẳng những chưa cao mà còn có dấu hiệu đi xuống Ở góc

độ kinh tế và dài hạn, xu hướng trên không thể kéo dài mãi Vì vậy, nếu không có các giải pháp khắc phục, sự trục trặc chỉ còn là vấn đề thời điểm và cách thức diễn ra như thế nào

mà thôi!

Tình trạng hiệu suất đầu tư thấp còn biểu hiện qua mức đóng góp của TFP vào tăng trưởng GDP thấp Những tài liệu về TFP tuy có sự khác nhau nhất định, nhưng đại thể thì cho rằng, đóng góp vào tăng trưởng Việt Nam lớn nhất là từ tăng vốn đầu tư (khoảng 50%), từ lao động (khảng 30%) và cuối cùng là từ TFP (chỉ khoảng 20%)

Năng suất lao động thấp và mức cải thiện chậm có nhiều nguyên nhân Trong số đó, thông thường các nhà kinh tế nghĩ ngay đến nguyên nhân từ giáo dục và đào tạo Và thực

tế chứng minh rằng, cách tư duy truy tìm nguyên nhân của các nhà kinh tế là có lý Theo

một báo cáo của Công ty QS (Quacquarelli Symonds) công bố bảng xếp hạng các trường đại học châu Á cho năm 2010, Việt Nam không hề có một trường Đại học nào tron số 200 trường Đại học hàng đầu châu Á Trong khi đó, trong số 200 trường hàng đầu châu Á,

Nhật Bản có 56 trường, Hàn Quốc 42, Trung Quốc 40, Đài Loan 17, Hồng Kông 7 Các nước Đông Nam Á có tên trong bảng 200 trường hàng đầu là Indonesia (7), Thái Lan (7),

Malaysia (6), Philippines (4) và Singapore (2) (Ngu ồn: VietnamNet: Thứ Hai, 17/05/2010 (GMT+7) Kết quả xếp hạng này tuy không nhất thiết là đã đánh giá được hết mọi khía

Trang 10

cạnh của giáo dục, nhưng cũng có ý nghĩa tham khảo nhất định Điều quan tâm ở đây là,

sự vắng mặt các trường Đại học Việt Nam trong số 200 trường hàng đầu châu Á phần nào cho thấy hệ thống giáo dục và đào tạo của Việt Nam hiện nay khó đáp ứng được nguồn nhân lực cho kỷ nguyên kinh tế hội nhập toàn cầu

Ba là, nguy cơ bất ổn kinh tế vĩ mô luôn gây áp lực lên nền kinh tế

- Thâm hụt ngân sách và nợ quốc gia:

B ảng 6: Thu – chi Ngân sách nhà nước (tỷ đồng)

Trang 11

lệ huy động vào ngân sách nhà nước bình quân thời kỳ 2001 - 2010 đạt khoảng 26% GDP

Bội chi ngân sách hàng năm khống chế trong khoảng dưới 5%/GDP và được coi là mức an toàn

Về nợ công, mặc dù hiện nay Việt Nam vẫn thuộc nhóm nước có tỷ lệ nợ công trung bình, nhưng đang có xu hướng tăng lên, với một số đặc điểm đáng lưu ý là: (1) Tốc

độ tăng nợ công cao hơn nhiều so với tốc độ tăng GDP tính bằng USD theo giá thực tế Ước tính năm 2010, GDP của nước ta đạt khoảng 100,8 nghìn tỷ USD, gấp 3,1 lần năm

2001, tăng bình quân mỗi năm 13,4%; trong khi đó nợ công năm 2010 gấp gần 5,7 lần năm 2001, tăng bình quân mỗi năm 21,2% (2) Tỷ lệ nợ công so với GDP của nước ta đã cao hơn tỷ lệ nợ công phổ biến 30-40% GDP của các nước đang phát triển và cao hơn tỷ lệ

nợ công của một số nước trong khu vực (tại thời điểm tháng 10/2010, tỷ lệ nợ công của Thái Lan bằng 48,6% GDP; In-đô-nê-xi-a bằng 26,5% GDP; Trung Quốc bằng 17,4% GDP) (3) Nợ công tăng lên, trong khi ngân sách lại thâm hụt ngày càng lớn, chứng tỏ khả

năng trả nợ chưa vững chắc (Xem: Tổng cục Thống kê: Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam mười năm 2001-2010 NXB Thống kê, Hà Nội 2011) Vì vậy, những tranh luận về độ

an toàn của mức nợ và thâm hụt ngân sách hiện cũng đang là chủ đề thời sự thu hút sự quan tâm của nhiều người

- Khối lượng xuất nhập khẩu tăng nhanh nhưng mức nhập siêu lớn

Các số liệu thống kê cho thấy, Việt Nam rất hiếm khi có xuất siêu, và mức nhập siêu thì ngày càng tăng Chỉ trừ năm 1992 có mức xuất siêu 40 triệu USD, còn lại từ năm

2002 đến nay, mức nhập siêu tăng rất nhanh Đáng chú ý là, trong lúc Việt Nam nhập siêu, hầu hết các nước trong khu vực đang có xuất siêu, thậm chí xuất siêu lớn Trong số những nước nhập siêu, tỷ lệ nhập siêu/GDP của Việt Nam là khá lớn

Bảng 7: Nhập siêu (tỷ USD) và tỷ lệ nhập siêu/GDP (%)

Trang 12

Đã có nhiều ý kiến tranh luận về vấn đề nhập siêu Có thể tóm tắt là: nhập siêu tự

nó không tốt cũng không xấu “Xấu” và “tốt” của nhập siêu tùy thuộc vào những bối cảnh

cụ thể, chính sách cụ thể, tình hình tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô cụ thể Vì vậy,

cần phân tích những nguyên nhân xác thực của nhập siêu để có kết luận thỏa đáng và từ

đó, nếu thấy cần thiết thì tìm giải pháp cho những tình huống cụ thể

Các nhà kinh tế đều biết một cách lập luận đã thành "phổ thông" biện hộ cho tình hình nhập siêu ở những nước đang phát triển đang trong thời kỳ CNH Lập luận rằng, các nước đang phát triển thiếu vốn, thiếu công nghệ, thiếu thiết bị ; nay vì (và để) CNH, phải

nhập máy móc thiết bị, công nghệ phục vụ CNH, trong lúc giả cả các loại thiết bị này cao,

mà các nước đang phát triển chỉ nông phẩm và khoáng sản thô (tùy điều kiện cụ thể của từng nước), giá cả lại thấp, nên nhập siêu là lẽ đương nhiên Đúng vậy! Sẽ không có gì đáng phải đặt lại vấn đề, nếu Nếu thời gian nhập siêu để CNH không quá dài Nếu CNH

đi liền với hiện đại hóa đạt được những kết quả "không thể nghi ngờ"…

Vậy bao nhiêu năm thì được coi là dài? Như thế nào thì được coi là CNH đạt kết quả rõ rệt? Ai cũng biết, trong thế kỷ trước, một số nền kinh tế mới CNH đã trở thành

"mới CNH" trong khoảng thời gian ngắn kỷ lục: 30 - 40 năm (có tài liệu cho là 25-30 năm) Hàn Quốc từ lúc bắt đầu tái thiết nền kinh tế đến khi được gia nhập OECD mất khoảng 40 năm (từ giữa những năm 1950 đến 1996) Lúc đó (1996), GDP/người của Hàn

Quốc khoảng 6.500 USD Trong khoảng thời gian ấy, Hàn Quốc cũng là nước gần như luôn nhập siêu Thế nhưng, Hàn Quốc đã hoàn thành CNH, tức là công cuộc CNH đã đạt

kết quả rõ rệt, được thế giới công nhận (gia nhập OECD tháng 12/1996)

Trong cơ cấu xuất – nhập khẩu của Việt Nam, các mặt hàng thô hoặc mới sơ chế có

mức xuất siêu, còn các mặt hàng chế biến hoặc đã tinh chế, trong đó có máy móc, phương

tiện vận tải và phụ tùng nhập siêu Nhìn qua, đúng là cơ cấu này đã ủng hộ cho lập luận nhập siêu để CNH Tuy nhiên, cũng cần lưu ý là, giá trị tuyệt đối của xuất siêu sản phẩm thô hoặc mới sơ chế cũng tăng nhanh, trong lúc nhập khẩu máy móc thiết bị chỉ chiếm khoảng 2/3 mức nhập siêu Một xu hướng cho thấy tình hình công nghệ và trình độ CNH được cải thiện chậm

Hơn nữa, trong lúc toàn bộ nền kinh tế nhập siêu thì với các nước OPEC, xuất nhập

bằng nhau; với EU, Mỹ, Nhật Bản và Úc, Việt Nam luôn có xuất siêu, nhất là với Mỹ, EU

và Úc Riêng với Nhật Bản, mức xuất siêu có ít hơn và có năm nhập siêu chút ít từ nước này Trong khi đó, Việt Nam lại nhập siêu rất lớn từ các nước ASEAN, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Hàn Quốc Như vậy, những nước Việt Nam nhập siêu không phải là nước có “công nghệ nguồn” Thành ra, lập luận nhập siêu để đổi lấy CNH ở Việt Nam thời gian qua chưa thuyết phục

Một lập luận khác cho rằng, nhập siêu là do lượng FDI vào nhiều, họ mang vào đầu

tư và ghi là nhập khẩu nên khối lượng nhập khẩu nhiều, không có gì đáng ngại Cũng đúng

là như vậy Nhưng ta hãy xem, FDI nhập nhiều hay trong nước nhập nhiều?

Trang 13

Theo số liệu ở Bảng 8, khu vực FDI, nếu kể cả xuất khẩu dầu thô thì luôn xuất siêu

Nếu trừ phần xuất khẩu dầu thô, mức độ nhập siêu sẽ không quá nhiều Trong khi đó, mức

nhập siêu từ khu vực trong nước rất cao, luôn vượt cả mức nhập siêu của cả nền kinh tế (vì trên số liệu, được bù lại đúng bằng phần xuất siêu của khu vực FDI, tính cả xuất khẩu dầu mỏ)

Bảng 8 Trị giá xuất - nhập khẩu hàng hóa phân theo khu vực kinh tế (tỷ USD)

Trang 14

* Ghi chú: Kể cả dầu thô

Nguồn: Tính theo: Tổng cục Thống kê Trong mục Số liệu thống kê - Thương mại và giá cả http://www.gso.gov.vn/

Như vậy, nhập siêu ở Việt Nam có thể chịu tác động bởi nhân tố FDI, nhưng khó có thể khẳng định chủ yếu là do FDI gây ra Trên thực tế, cũng không ít nước có FDI lớn vẫn không nhập siêu, thậm chí xuất siêu lớn Ví dụ điển hình là Trung Quốc láng giềng

Còn một lập luận khác nữa lại cho rằng, nhập siêu ở Việt Nam là do tác động của giá cả thế giới vừa qua tăng cao, rằng VN phải nhập khẩu lạm phát của thế giới Về lý thuyết chung cũng đúng Khi giá cả thế giới tăng lên, một nền kinh tế có độ mở cao, gắn

bó chặt chẽ với kinh tế thế giới và hội nhập sâu, dĩ nhiên cũng sẽ ảnh hưởng đến giá cả trong nước Thế nhưng, những số liệu thống kê lại không cho thấy một cách rõ rệt như

vậy Bảng 9 cho thấy, thời gian qua, chỉ số giá xuất khẩu và chỉ số giá nhập khẩu đều cùng tăng, nhưng mức tăng của chỉ số giá xuất khẩu luôn lớn hơn mức tăng của chỉ số giá nhập khẩu

Bảng 9: Chỉ số giá xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam (Năm trước = 100) %

1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 XUẤT

KHẨU

Trang 15

Tư liệu sản xuất 104,6 104,7 120,5 86,5 105,6 - - -

Nguồn: Tính theo: Tổng cục Thống kê Trong mục Số liệu thống kê - Thương mại và giá c ả http://www.gso.gov.vn/

Tóm lại, phần thảo luận về quan hệ xuất - nhập khẩu cho thấy, nhập siêu của Việt

Nam không phải được đổi bằng sự thành công mỹ mãn của CNH; không phải để CNH

hướng xuất khẩu, mà thực tế, mô hình "kết hợp" hướng về xuất khẩu + thay thế nhập khẩu lại chủ yếu nghiêng hẳn về thay thế nhập khẩu Nhập siêu của Việt Nam không phải chủ yếu do FDI mà chủ yếu do khu vực doanh nghiệp trong nước; và cũng không phải chủ yếu

do giá thế giới tăng

Trang 16

- Lạm phát:

Có thể nói, mức lạm phát của Việt Nam thuộc loại cao so với rất nhiều nước khác

Những năm trước đổi mới, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từ 1981-1985 lần lượt tăng là: 70%,

95%, 50%, 65% và 92% Năm đầu tiên đổi mới – 1986, lạm phát lên tới 775%, và mặc dù sau đó giảm nhanh, nhưng nhìn chung, mức lạm phát thường lớn hơn mức tăng trưởng Trong giai đoạn 1996-2012, Việt Nam có 13 năm lạm phát trên 2 con số, trong đó đáng kể

nhất là từ 1986-1992 với mức lạm phát bình quân 225%/năm; 2007-2008 với 16,3% năm

và 2010-1011 với 15%/năm Gần đây nhất, thời kỳ, 2008-2012 tốc độ tăng trưởng của Việt Nam là gần 5,9% năm, và lạm phát là 12,6%; còn Trung Quốc tương ứng là 9,3%/năm và 3,3%/năm Trong 20 năm (1991-2010), Việt Nam tăng trưởng bình quân năm khoảng 7,4%, lạm phát gần 11%; thì Trung Quốc tương ứng là 10,5% và 4,8% Đồng thời, “Xu hướng biến thiên của đường lạm phát rất phức tạp, biến động mạnh, đỉnh nhọn, biên độ

lớn Điều đó cho thấy kiểm soát lạm phát ở Việt Nam chưa bền vững; sự bất ổn của tiền tệ

và kinh tế vĩ mô còn tiềm ẩn lớn” (Theo TBKTSG)

Trang 17

II NH ỮNG THÁCH THỨC PHÁT TRIỂN PHÍA TRƯỚC VÀ YÊU CẦU CỦA VIỆC TÁI CƠ CẤU KINH TẾ, CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG

Những đặc điểm kinh tế nêu trên đã phần nào cho thấy những thách thức ở phía trước của nền kinh tế Việt Nam Có thể khái quát lại một số những thách thức mới như sau

2.1 Thách thức của việc phục hồi tốc độ tăng trưởng

Trong báo cáo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 đã nêu rõ: phấn đấu đến năm 2020, GDP bình quân đầu người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 USD Muốn đạt mức này, GDP năm 2020 theo giá so sánh phải bằng khoảng 2,2 lần so với năm 2010 và tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân 7 - 8%/năm (2011-2020) Hai năm qua, tốc độ tăng GDP đề đã thấp hơn so với mục tiêu kế hoạch: năm 2011 đạt 5,9%, năm 2012 chỉ đạt 5,03% (thấp hơn kế hoạch: 6-6,5%) và kế hoạch năm 2013 là khoảng 5,5% Tại Hội nghị Nhóm tư vấn Các nhà Tài trợ cho Việt Nam 2012 (họp tại Hà Nội ngày 10 tháng 12 năm 2012), Ngân hàng Thế giới đã cho rằng:

“xu hướng tăng trưởng tiếp tục giảm xuống trong những năm qua – năm nay là tăng trưởng thấp nhất kể từ năm 1999 - cho thấy nền kinh tế đang mất đi một số động lực mà những cản trở về cơ cấu đã và đang làm ảnh hưởng đến tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế” Trong khi đó, những nước xung quanh ta về cơ bản vẫn giữ được tốc độ

Trang 18

tăng trưởng kinh tế khá cao, kể cả Lào và Campuchia, khiến cho nguy cơ bị tụt hậu trở thành áp lực lớn

Như vậy, nếu trong một vài năm tới, tốc độ tăng trưởng kinh tế không được phục hồi trở lại ở mức bình quân khoảng 7,5%/năm trong giai đoạn 2 thập kỷ (1991-2010) vừa qua, thì việc đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn nữa cho những năm sau đó (đến 2020) để bù đắp cho những năm tăng trưởng giảm đi hiện nay, sẽ là một thách thức không nhỏ

Vì vậy, cần có những nghiên cứu khẩn cấp về chuyển đổi mô hình tăng trưởng để

đề ra được những chính sách rất cụ thể, khả thi và hữu hiệu trong tình hình hiện nay

2.2 Thách thức của việc đảm bảo những nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu chiến lược

Để đẩy nhanh tốc độ thực hiện hiện CNH, HĐH, nền kinh tế phải có khả năng thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, trong đó đặc biệt là nguồn vốn đầu tư Để duy trì tốc độ tăng trưởng ở mức khoảng 7,5% như thời gian vừa qua, nền kinh tế đã phải duy trì mức đầu tư cao tới trên 35% GDP, cá biệt có năm lên tới trên 40% GDP Trong khi đó,

do khả năng tích lũy, tiết kiệm để đầu tư từ trong nước có hạn, chúng ta đã phải dựa một

phần vào FDI, một phần vào vốn vay (cả trong nước và quốc tế) Tình hình đó nếu cứ tiếp

tục kéo dài, có thể sẽ ảnh hưởng không tốt đến khả năng đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô

Hiện nay, do Việt Nam đã bước vào nhóm nước có mức thu nhập trung bình (tuy là mức thu nhập trung bình thấp: ≥ 1.000 USD), nhưng điều đó cũng có nghĩa là những khoản vốn vay ưu đãi sẽ thu hẹp dần lại Ngân hàng thế giới đang đề nghị Việt Nam “tốt nghiệp” về vay ODA (không cho vay giá rẻ nữa)!

Vì vậy, đã đến lúc cần phải có những thay đổi kể cả từ nhận thức đến hành động chính sách về việc đảm bảo những cân đối lớn trong nền kinh tế, đặc biệt là cân đối giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa tiết kiệm và đầu tư, thu hút được các nhà đầu tư tốt cho phát triển

2.3 Thách th ức duy trì ổn định kinh tế vĩ mô

Trong thời điểm hiện tại, tuy tình hình ổn định kinh tế vĩ mô đã được cố gắng giải quyết và đã đạt được một số kết quả quan trọng: lạm phát đã được kiềm chế, kinh tế vĩ mô

ổn định hơn, nhiều lĩnh vực sản xuất, dịch vụ tiếp tục phát triển; an sinh xã hội được bảo đảm… Nhưng, như Thông báo của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI (15/10/2012) đã chỉ rõ: “Nền kinh tế nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức Kinh tế vĩ mô chưa

thật ổn định; kết quả kiềm chế lạm phát chưa vững chắc Doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, nhất là khó vay vốn tín dụng, hàng tồn kho cao Nợ xấu cao và có xu hướng tăng

Giải quyết việc làm khó khăn Thị trường bất động sản đình trệ chưa có khả năng phục

hồi, tiềm ẩn nhiều rủi ro Đời sống của một bộ phận nhân dân còn nhiều khó khăn… Năm

2013, dự báo kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến khó lường, còn tiềm ẩn nhiều khó khăn, rủi ro; thương mại toàn cầu ít có khả năng được cải thiện, tăng trưởng không cao hơn nhiều so

Ngày đăng: 26/03/2016, 04:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. Xếp hạng các nước theo tổng thu nhập quốc gia (GNI) trên đầu người - VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ ĐỂ PHỤC HỒI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG HIỆN NAY
Bảng 3. Xếp hạng các nước theo tổng thu nhập quốc gia (GNI) trên đầu người (Trang 2)
Hình 2: Quá trình mở rộng đường giới hạn tiềm năng sản xuất - VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ ĐỂ PHỤC HỒI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG HIỆN NAY
Hình 2 Quá trình mở rộng đường giới hạn tiềm năng sản xuất (Trang 4)
Hình 1: Đường giới hạn tiềm năng sản xuất - VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ ĐỂ PHỤC HỒI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG HIỆN NAY
Hình 1 Đường giới hạn tiềm năng sản xuất (Trang 4)
Bảng 4. Tổng vốn đầu tư xã hội và tổng sản phẩm quốc nội - VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ ĐỂ PHỤC HỒI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG HIỆN NAY
Bảng 4. Tổng vốn đầu tư xã hội và tổng sản phẩm quốc nội (Trang 7)
Bảng 5: Tỷ lệ vốn đầu tư/ GDP của một số nền kinh tế - VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ ĐỂ PHỤC HỒI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG HIỆN NAY
Bảng 5 Tỷ lệ vốn đầu tư/ GDP của một số nền kinh tế (Trang 9)
Bảng 7: Nhập siêu (tỷ USD) và tỷ lệ nhập siêu/GDP (%) - VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ ĐỂ PHỤC HỒI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG HIỆN NAY
Bảng 7 Nhập siêu (tỷ USD) và tỷ lệ nhập siêu/GDP (%) (Trang 11)
Bảng 8. Trị giá xuất - nhập  khẩu hàng hóa phân theo khu vực kinh tế  (tỷ USD) - VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ ĐỂ PHỤC HỒI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG HIỆN NAY
Bảng 8. Trị giá xuất - nhập khẩu hàng hóa phân theo khu vực kinh tế (tỷ USD) (Trang 13)
Bảng 9: Chỉ số giá xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam (Năm trước = 100) % - VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ ĐỂ PHỤC HỒI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG HIỆN NAY
Bảng 9 Chỉ số giá xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam (Năm trước = 100) % (Trang 14)
Bảng 10. Tăng trưởng GDP và lạm phát* (%) - VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ ĐỂ PHỤC HỒI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG HIỆN NAY
Bảng 10. Tăng trưởng GDP và lạm phát* (%) (Trang 16)
Hình 3. Việt Nam mới đang ở giai đoạn 1 của quá trình công nghiệp hóa - VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ ĐỂ PHỤC HỒI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG HIỆN NAY
Hình 3. Việt Nam mới đang ở giai đoạn 1 của quá trình công nghiệp hóa (Trang 19)
Hình 4. Sự gia tăng thu nhập thực tế đầu người Vương quốc Anh, 1100-1995 - VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ ĐỂ PHỤC HỒI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG HIỆN NAY
Hình 4. Sự gia tăng thu nhập thực tế đầu người Vương quốc Anh, 1100-1995 (Trang 23)
Hình 5: Các giai đọan phát triển của một nền kinh tế - VẤN ĐỀ TÁI CƠ CẤU KINH TẾ ĐỂ PHỤC HỒI TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG HIỆN NAY
Hình 5 Các giai đọan phát triển của một nền kinh tế (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w