1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn thạc sĩ Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh hội nhập quốc tế qua thực tế ở tỉnh kiên giang hiện nay

115 1,6K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 564,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Tính cấp thiết của đề tàiVăn hóa, đó một hiện tượng xã hội có tính kế thừa, tính bền vững và luôn tồn tại trong dòng chảy của sự vận động, phát triển của lịch sử. Tuy nhiên, trong sự vận động đó, văn hóa lại không để mất đi cái cốt lõi của văn hóa mà trong đó, những giá trị văn hóa truyền thống bản sắc dân tộc, đóng một vai trò chi phối. Điều này khẳng định văn hóa mỗi dân tộc thể hiện hệ giá trị văn hóa của dân tộc đó, định hướng cho sự lựa chọn trong những hành động của con người, cá nhân và cộng đồng. Vì vậy mà trong giai đoạn ngày nay, từ những nguyên thủ quốc gia cho đến các nhà nghiên cứu lí luận trên thế giới đều thừa nhận văn hóa, những giá trị của văn hóa truyền thống làm nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc thực sự là một động lực tinh thần quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ xã hội; là yếu tố nối liền quá khứ với hiện tại, đem lại cơ sở để chúng ta có thể nhận thức về bản thân mình và thời đại mình.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Văn hóa, đó một hiện tượng xã hội có tính kế thừa, tính bền vững và luôntồn tại trong dòng chảy của sự vận động, phát triển của lịch sử Tuy nhiên, trong sựvận động đó, văn hóa lại không để mất đi cái cốt lõi của văn hóa mà trong đó,những giá trị văn hóa truyền thống - bản sắc dân tộc, đóng một vai trò chi phối.Điều này khẳng định văn hóa mỗi dân tộc thể hiện hệ giá trị văn hóa của dân tộc

đó, định hướng cho sự lựa chọn trong những hành động của con người, cá nhân vàcộng đồng Vì vậy mà trong giai đoạn ngày nay, từ những nguyên thủ quốc gia chođến các nhà nghiên cứu lí luận trên thế giới đều thừa nhận văn hóa, những giá trịcủa văn hóa truyền thống làm nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc thực sự là mộtđộng lực tinh thần quan trọng thúc đẩy sự tiến bộ xã hội; là yếu tố nối liền quá khứvới hiện tại, đem lại cơ sở để chúng ta có thể nhận thức về bản thân mình và thờiđại mình

Với Việt Nam, một đất nước được hình thành và có bề dài lịch sử hàng ngànnăm, đã trải qua bao biến thiên, thăng trầm của lịch sử, xã hội Trong điều kiệnsinh sống với tự nhiên khắc nghiệt và luôn phải chống chọi với những kẻ thù hungmạnh, muốn tồn tại và phát triển, dân tộc ta không còn cách nào khác là phải pháthuy nội lực của mình, đoàn kết gắn bó nhau, dũng cảm cùng nhau đương đầu vớikhó khăn, gian khổ Trong những thử thách gay go của lịch sử, những giá trịtruyền thống, những nét văn hóa tốt đẹp của dân tộc đã dần được hình thành vàphát triển theo thời gian, được gìn giữ và phát huy giá trị, được truyền từ thế hệnày qua thế hệ khác, nó là chuẩn giá trị chung của cộng đồng, xã hội; là bản sắcvăn hóa truyền thống của dân tộc

Tuy nhiên, những giá trị truyền thống cũng không phải là nhất thành bấtbiến, mà nó cũng vận động, biến đổi theo sự vận động và biến đổi cùa dòng chảycủa lịch sử, xã hội Khi lịch sử, xã hội bước sang trang mới thì những giá trị truyềnthống ấy lại cũng được gạn lọc, thẩm định lại và điều chỉnh cho phù hợp điều kiệnthực tế của đời sống xã hội Qua đó, những cái gì đã được qua một lần nữa chắclọc, thẩm định sẽ mang tính bền vững hơn, giá trị sâu sắc hơn, và đồng thời với nó,

Trang 2

những giá trị mới được hình thành cũng góp vào, hình thành nên hệ thống giá trịvăn hóa truyền thống của dân tộc ngày càng phong phú hơn, đặc sắc hơn

Ngày nay, trong bối cảnh thế giới có những biến động rất lớn, mà một trongnhững biến động đó là xu thế toàn cầu hóa Đây là một xu thế tất yếu, khách quan

và không một quốc gia nào đứng ngoài, không tham gia hội nhập nếu không muốn

bị tục hậu, bởi theo xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sẽ đem đến cho các nước

cơ hội tận dụng lợi thế của mình và phát triển nhanh hơn Không đứng ngoài dòngchảy của hội nhập quốc tế, nước ta cũng đang hội nhập và ngày càng sâu rộng vớithế giới trên tất cả các mặt để phát triển

Nhưng vấn đề là, sự tác động bởi mặt trái toàn cầu hóa khi hội nhập quốc tế

là không hề nhỏ Một trong những vấn đề thách thức đáng lo ngại nhất khi hộinhập ngày càng sâu rộng là nguy cơ của sự phá vỡ những giá trị văn hóa truyềnthống vốn có từ lâu đời của dân tộc, tức là đánh mất nền tảng xã hội của dân tộcmình; làm cho nền văn hóa dân tộc này có thể bị đồng hóa, tan chảy thành cáibóng của văn hóa của dân tộc khác Thế nên, ngày nay, văn hóa và những giá trịvăn hóa truyền thống được xem như là “chứng minh thư” cho mỗi quốc gia dântộc, mà nếu mất nó cũng đồng nghĩa với sự tiêu biến chính mình, chứ chưa nói gìđến sự phát triển kinh tế- xã hội

Chính vì vậy mà trong đường lối lãnh đạo của mình, Đảng và Nhà nước ta

đã đặt văn hóa - vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị lên vị trí chiến lược, đảm bảocho việc “hòa nhập chứ không hòa tan”, hội nhập để phát triển chứ không vì tăngtrưởng kinh tế bằng mọi giá Cho nên vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóatruyền thống đang được đặc ra, và làm thế nào vừa phát huy giá trị tích cực, lọc bỏmặt hạn chế của văn hóa truyền thống trong bối cảnh hội nhập quốc tế dưới sự tácđộng của toàn cầu hóa là vấn đề và cần phải có một nghiên cứu thấu đáo, toàndiện, nó vừa mang tính cấp thiết vừa lâu dài

Việt Nam, đất nước chúng ta có đến 54 dân tộc anh em, được phân bố rộngkhắp chiều dài đất nước, suốt từ Bắc, Trung, Nam; đồng bằng, trung du, miền núi.Với điều kiện địa lí của từng vùng, miền khác nhau dẫn đến hình thành văn hóavùng, miền với một số đặc trưng khác nhau, mà chính điều này cũng đã góp phần

Trang 3

tạo nên sự phong phú, đa dạng về nét văn hóa truyền thống, có tính bền vững nhưngkhông kém giá trị về mặt giáo dục, định hướng con người, so thời đại

Kiên Giang, là một tỉnh miền Tây Nam bộ thuộc vùng Đồng bằng sông CửuLong, là mảnh đất gần cuối trời tây của Tổ quốc Cũng như địa phương khác, KiênGiang cũng có góp phần tương xứng vào sự phong phú, làm tăng thêm sự đa dạngbản sắc văn hóa Việt với những nét đặc trưng và những cái riêng của mình Tuynhiên, với lịch sử - xã hội và điều kiện thực tế của mình, Kiên Giang cũng cònnhững hạn chế trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị của văn hóa truyềnthống trong xu thế hội nhập Chưa tận dụng và phát huy tốt mặt giá trị cũng như gạn

bỏ những mặt hạn chế của văn hóa, lịch sử truyền thống, để văn hóa thật sự là nềntảng cho quá trình phát triển xã hội của địa phương

Với những lý do đó, tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Bảo tồn và phát huy giátrị văn hóa truyền thống trong bối cảnh hội nhập quốc tế qua thực tế ở tỉnh KiênGiang hiện nay” - là vấn đề cần thiết cả về mặc lí luận và thực tiễn, có ý nghĩa hiệntại và lâu dài, nhất là riêng đối với Kiên Giang cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ trước đây, khi đất nước còn chưa độc lập, vai trò của văn hóa đối với xãhội đã được Bác Hồ đề cập đến trong Đề cương văn hóa 1943 Đến khi kinh tế đấtnước bắt đầu đổi mới và có sự tăng trưởng và hội nhập, thì đã có nhiều đề tàinghiên cứu về vấn đề văn hóa và sự phát triển, như Trần Ngọc Hiên (1994), “Vănhóa và phát triển-từ góc nhìn Việt Nam”, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội; HoàngTrinh (1996), “Vấn đề văn hóa và sự phát triển”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội;Phạm Văn Đồng (1998), “Văn hóa và đổi mới”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội;Đặng Hữu Toàn (1999), “Vai trò của văn hóa trong sự phát triển lâu bền theo

hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa”, Tạp chí Triết học, số 2/1999 Hay vấn đề

văn hóa được viết dưới góc độ triết học như Vũ Đức Khiêu (2000), “Văn hóa với

tư cách một khái niệm triết học và vấn đề xác định bản sắc văn hóa dân tộc”, Tạp chí Triết học, số 6/2000; Nguyễn Huy Hoàng (2002), “Văn hóa trong nhận thức

duy vật lịch sử của C.Mác,” NXB Văn hóa thông tin, Viện Văn hóa, Hà Nội

Với các công trình nghiên cứu trên, chủ yếu đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu vềvăn hóa và vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội và con người Đồng thời cũng

Trang 4

đề cập đến vai trò, tầm quan trọng của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội vớinền kinh tế mở trong giai đoạn mới

Tiếp đó, trong thời kỳ đối mới và hội nhập quốc tế theo xu hướng toàn cầuhóa đặc giá trị văn hóa truyền thống trước những thách thức mới Do đó, đã cónhững hội thảo, những đề tài nghiên cứu sâu sắc về vấn đề này, như: NguyễnTrọng Chuẩn (2001): “Các giá trị truyền thống trước sự thẩm định và thách thứccủa toàn cầu hóa”, Hà Nội 2001; Nguyễn Tài Thư: “Khả năng phát triển của giá trịtruyền thống Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa”, Hà Nội, 2001; Lê Ngọc Anh:

“Sự chuyển đổi giá trị truyền thống Việt Nam trước xu thế toàn cầu hóa”, Hà Nội,2001; Lê Hữu Nghĩa-Lê Ngọc Tòng (2004), “Toàn cầu hóa-những vấn đề lí luận

và thực tiễn”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Các bài viết nêu trên tập trung làm rõ thực chất của toàn cầu hóa và nhữngthách thức cũng như cơ hội khi hội nhập quốc tế với việc giữ gìn tồn và phát huynhững giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, qua đó đề xuất một số giải phápnhằm giữ gìn giá trị truyền thống đó trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay

Với các công trình như: Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sỹ Quýđồng chủ biên (2001), “Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình côngnghiệp hóa, hiện đại hóa”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, đã phản ánh rõ nhữngnét cơ bản về giá trị truyền thống được thể hiện trong mối quan hệ giữa văn hóatruyền thống với sự phát triển, và cũng nhấn mạnh yếu tố nội sinh của văn hóatrong hội nhập

Và trong những năm gần đây, có một số công trình nghiên cứu đáng chú ýnhư đề tài khoa học cấp Nhà nước do GS.TS Ngô Đức Thịnh làm chủ biên (2010),

“Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong đổi mới và hội nhập”,NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội; GS, TS Dương Phú Hiệp (2010), “Tác động củatoàn cầu hóa đối với sự phát triển văn hóa và con người Việt Nam”, NXB Chính trịQuốc gia, Hà Nội, đã nêu khái quát những lí thuyết bàn về phát triển văn hóa vàcon người trong bối cảnh toàn cầu hóa; PGS, TS Nguyễn Chí Bền chủ biên(2010), “Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, NXB Chính trịQuốc gia, Hà Nội, phát họa nên bức tranh toàn cảnh về văn hóa Việt Nam và dòngchảy lịch sử từ quá khứ đến hiện đại, và đề cập đến hiện trạng và những tác động

Trang 5

của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với các thành tố của nền văn hóa dân tộc;

GS, TS Dương Phú Hiệp chủ biên (2010), “Nghiên cứu văn hóa và con người ViệtNam hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội nêu lên những vấn đề về văn hóa

và con người Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, về quan hệgiữa phát triển văn hóa và phát triển con người, những mô hình văn hóa trong việc

kế thừa và phát triển văn hóa Việt Nam hiện nay và cách tiếp cận triết học về vănhóa

Ngoài các công trình nêu trên, còn có nhiều công trình, bày viết khác nghiêncứu về vấn đề này Với các công trình nghiên cứu trên, chủ yếu là xét về mặt vănhóa nói chung, bao gồm nhiều mặc của vấn đề về văn hóa; hoặc tập trung phântích làm rõ những yếu tố tích cực, tiêu cực của toàn cầu hóa và xu thế hội nhậpkinh tế quốc tế đối với nước ta trong định hướng phát triển kinh tế-xã hội; hoặcnêu lên sự biến đổi của giá trị truyền thống trước tác động của toàn cầu hóa Nhưvậy, do khuôn khổ hoặc mục đích riêng mà chưa có công trình nào đi sâu nghiêncứu một cách có hệ thống về vai trò và ý nghĩa của việc bảo tồn và phát huy giá trịvăn hóa truyền thống trong bối cảnh nước ta hội nhập quốc tế; chưa dành sự chútrọng thỏa đáng cho sự biến động của giá trị văn hóa truyền thống nói riêng, nhất

là với đặc thù văn hóa vùng, miền - vốn có điều kiện địa lí-tự nhiên khác nhau mà

đã hình thành nên phong tục, tập quán, ý chí, tư tưởng, tình cảm,…khác nhau

Trước tình hình trên, yêu cầu đặc ra là phải nghiên cứu sâu hơn vấn đề này,bởi đây là vấn đề có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của dân tộc trong xu thếhội nhập Đặc biệt là như với một số giá trị văn hóa truyền thống cơ bản như: giá trịtruyền thống yêu nước; giá trị truyền thống nhân văn; giá trị truyền thống đoàn kết;…

là những truyền thống luôn giữ nguyên giá trị, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa, vàqua thực tế ở tỉnh Kiên Giang hiện nay, luôn cần được quan tâm, chọn lọc, bảo tồn vàphát huy hơn nữa ở giá trị tích cực

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Với quan điểm của triết học Mác-Lênin, mục đích của luận văn là góp phầnlàm rõ vai trò của việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong bốicảnh hội nhâp quốc tế qua thực tế ở tỉnh Kiên Giang hiện nay Để đạt mục đíchtrên, luận văn có nhiệm vụ sau:

Trang 6

- Trên cơ sở lí luận chung, phân tích, làm rõ vai trò của bảo tồn văn hóatruyền thống đối với sự phát triển của xã hội, đồng thời khẳng định tính kháchquan của việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống trong bối cảnh hộinhập quốc tế theo tiến trình phát triển của mỗi dân tộc

- Làm rõ thực trạng tình hình và một số giải pháp cho việc bảo tồn và pháthuy một số giá trị văn hóa truyền thống trong điều kiện phát triển kinh tế, xâydựng và nâng cao các mặc đời sống xã hội bởi sự tác động tính hai mặt của giá trịvăn hóa truyền thống trong bối cảnh nước ta đang hội nhập quốc tế ở Kiên Gianghiện nay

4 Cơ sở lí luận và phương pháp nghiên cứu

- Luận văn chủ yếu dựa trên quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, tưtưởng Hồ Chí Minh, chính sách của Nhà nước về vấn đề giữ gìn và phát huy giátrị, bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh nước ta đang hội nhập quốc tế, dưới tácđộng của toàn cầu hóa và điều kiện phát triển kinh tế thị trường Đồng thời, trên cơ sởkết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, nhà lí luận trong thời gian gần đây về nhữngvấn đề tương đồng với vấn đề luận văn đề cập

- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử (Mác-Lênin) để phân tích, lí giải làm rõ các vấn đề, trong

đó thông qua kết hợp dùng các phương pháp lịch sử và lôgic, phân tích và tổng hợp,

so sánh… nhằm đạt tốt nhất mục đích của đề tài đặc ra

5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Luận văn nghiên cứu giá trị của văn hóa và việc bảo tồn văn hóa truyềnthống dưới góc độ triết học, tức là nghiên cứu một cách chỉnh thể và khái quát giátrị của văn hóa, từ đó xem xét sự tác động có tính hai mặt của văn hóa truyềnthống trong tiến trình hội nhập quốc tế, chứ không đi sâu giải quyết những vấn đề

cụ thể khác có liên quan của toàn cầu hóa

Tuy nhiên, vấn đề văn hóa là sự bao quát rộng lớn, bao trùm tất cà các lĩnhvực của đời sống xã hội, nên trong luận văn này chỉ nghiên cứu trong phạm vi củamột số giá trị văn hóa truyền thống cơ bản là: giá trị văn hóa yêu nước; giá trịtruyền thống nhân văn; giá trị truyền thống đoàn kết trong điều kiện phát triển kinh

Trang 7

tế, xây dựng và nâng cao các mặc đời sống xã hội qua thực tế của địa phương KiênGiang từ đổi mới đến nay.

6 Đóng góp mới của luận văn

Luận văn góp phần làm rõ và có hệ thống, toàn diện về vai trò, giá trị củavăn hóa truyền thống trong hệ giá trị văn hóa của Việt Nam qua phân tích tính tíchcực cũng như hạn chế của bối cảnh hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa; từ

đó có giải pháp định hướng cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyềnthống quan thực tế ở tỉnh Kiên Giang hiện nay

7 Ý nghĩa của luận văn

Là tài liệu tham khảo mang tính toàn diện về lí luận và thực tiễn cho địaphương Kiên Giang trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện việc bảo tồn,phát huy giá trị văn hóa truyền thống, góp phần thực hiện tốt mục tiêu tăng trưởngkinh tế hài hòa với phát triển văn hóa – xã hội ở địa phương

Làm đề cương bài giảng về văn hóa truyền thống, về tác động của xu thếtoàn cầu hóa trong bối hội nhập quốc tế đối với sự phát triển kinh tế-văn hóa-xãhội ở trường chính trị của địa phương, hoặc bài nói chuyên về chính trị-văn hóatrong hệ thống ngành tuyên truyền của Đảng ở địa phương

8 Kết cấu luận văn

- Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 02chương và 06 tiết

Trang 8

NỘI DUNGChương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG TRONG TOÀN CẦU HÓA VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

1.1 Các khái niệm văn hóa, truyền thống, giá trị và giá trị văn hóa truyền thống

1.1.1 Khái niệm văn hóa và văn hóa truyền thống

Hiện nay có nhiều định nghĩa cho khái niệm văn hóa truyền thống, nhưng

theo quan điểm của chúng tôi, nhận thấy rằng sẽ dễ dàng tiếp cận vấn đề hơn khi

tách rời khái niệm trên thành hai khái niệm văn hóa và truyền thống

Khi nói đến khái niệm văn hóa, thì cho đến nay vẫn có nhiều quan niệm khác

nhau về định nghĩa văn hóa do xuất phát từ cách tiếp cận khác nhau Ở phương Đông,

từ ngữ “văn hóa” đã xuất hiện từ rất sớm, từ thời Tây Hán (thế kỷ II trước côngnguyên) ở Trung Quốc Lưu Hương đã viết trong bài “Chi vũ” sách Thuyết Uyển:

“thánh nhân cai trị thiên hạ, trước hết dùng văn đức, sau mới dùng vũ lực Phàm khi dùng vũ lực thì không khuất phục nổi, văn hóa không sửa đổi được, cuối cùng sẽ bị suy kiệt” [28, tr 09] Vậy, từ văn hóa ở đây được hiểu là một cách thức, một thiết chế

để điều hành xã hội, dùng “văn trị” tức là dùng cái hay, cái đẹp, cái tốt để giáo dục,cảm hóa con người Cho đến thế kỷ XX thì ở Việt Nam, trong một nghị quyết chuyên

đề của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội.

Ở phương Tây, từ ngữ “văn hóa” xuất hiện từ thời Cổ đại, bắt nguồn từ chữ

latinh Cultara, nghĩa là gieo cấy, vun trồng, về sau được vận dụng và chuyển thành

“vun trồng trí tuệ” Như thế, cũng có thể hiểu theo nghĩa bóng từ “Cultara” là chămnom, giáo dục con người về cả hai mặt vật chất lẫn tinh thần Tuy nhiên, đến thế kỷXIX thuật ngữ “văn hóa” mới được các nhà nhân học phương Tây sử dụng như mộtdanh từ chính chức Đến thế kỷ XX thì khái niệm văn hóa đã thay đổi theo sự thayđổi của lịch sử và sự vận động của xã hội Tại hội nghị quốc tế ở Mêhicô năm 1982

do UNESCO chủ trì, người ta đã đưa ra hơn 200 định nghĩa về văn hóa, và cho đếnnay thì có tài liệu cho là có tới cả 1000 khía cạnh nói đến bản chất của văn hóa Điềunày đủ cho văn hóa là một khái niệm có nội dung vô cùng sâu rộng, phong phú và

Trang 9

phức tạp, được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau Nhưng hầu hết đều thống nhấtrằng, văn hóa ra đời trong buổi bình minh của lịch sử nhân loại với tư cách một sảnphẩm của hoạt động sống, hoạt động lao động sản xuất của con người Nghĩa là, vănhóa không phải là cái mà con người tự nhiên có được, mà là cái con người chỉ có thểtiếp nhận được khi phải trải qua một quá trình giáo dục (cả tự phát lẫn tự giác) lâu dài;

là toàn bộ những giá trị do con người tạo ra trong quá trình lao động của mình trên cảhai lĩnh vực là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần Và đấy là theo quan điểm của cácnhà nghiên cứu dưới góc độ chính trị học

Theo A.B Taylor xem văn hóa như một “phức hợp bao gồm tri thức, tínngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục cũng như mọi khả năng và thói quenkhác mà con người như một thành viên của xã hội tiếp thu được” [dẫn theo 13, tr.142].Còn E.X Marcarian thì : “mỗi biểu hiện đặc thù của hoạt động người đều tương ứngvới hệ thống phương tiện siêu sinh học thực hiện hoạt động đó…khái quát hóa phươngthức hoạt động đặc thù của con người được nhận thức như là văn hóa” [dẫn theo 23,tr.21] Xét về góc độ lịch sử, E.Sepir khẳng định rằng văn hóa có tình kế thừa Ôngviết: “văn hóa là tổ hợp các phương thức hoạt động và tín niệm cấu thành bộ khung củacuộc sống chúng ta, được kế thừa theo con đường xã hội” [35, tr.294]

Theo UNESCO, văn hóa được bộc lộ ra một cách khá đầy đủ và toàn diện vềbản chất, vì theo quan niệm của tổ chức này thì văn hóa không những là yếu tố nội sinhcủa sự phát triển, mà còn là mục tiêu, động lực và là hệ điều chỉnh cho sự phát triển xãhội: Văn hóa là “tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của con người đã diễn

ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại Qua hàng thế kỷ các hoạtđộng sáng tạo ấy đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống thị hiếuthẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng củamình”

Tuy mỗi định nghĩa được nêu trên đều hàm chứa những khía cạnh quan trọng,những đặc trưng của văn hóa, nhưng cách tiếp cận lại từ khía cạnh khác nhau, góc độkhác nhau Do đó, để hiểu một cách đầy đủ hơn, sâu sắc hơn, cần phải nghiên cứu cáchtiếp cận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy và chủ nghĩa duy vật lịchsử

Trang 10

Xuất phát từ chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy và chủ nghĩa duyvật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen nhìn nhận văn hóa là sản phẩm của lịch sử, là kếtquả hoạt động cải tạo thực tiễn của nhiều thế hệ người tạo ra; trình độ phát triển vănhóa phụ thuộc vào trình độ khám phá, làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bảnthân mình Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác đã cho rằng có thể xem xét lịch

sử dưới hai mặt, có thể chia lịch sử thành lịch sử tự nhiên và lịch sử nhân loại Tuynhiên hai mặt này không thể tách rời nhau Chừng nào mà loài người còn tồn tại thì lịch

sử của họ và lịch sử tự nhiên quy định lẫn nhau Do đó, văn hóa chỉ có thể gắn liền vớicon người và xã hội loài người Bản thân văn hóa chẳng có ý nghĩa gì cả nếu nó nằmngoài con người và xã hội loài người Và C.Mác còn cho rằng con người là “một thựcthể song trùng” thống nhất giữa “cái tự nhiên” và “cái xã hội”, trong đó, “tự nhiên làthân thể vô cơ của con người” Thế giới các đồ vật do con người tạo nên từ công cụ sảnxuất, đường xá, nhà cửa, máy móc, phương tiên giao thông, đến các thiết chế và tổchức xã hội, nhà nước, luật pháp, ngôn ngữ, văn hóa, nghệ thuật,….chính là thân thể vô

cơ của con người, bởi vì tất cả những đồ vật được tạo ra đó đều là sản phấm lấy từ chấtliệu của tự nhiên Chỉ nhờ những thân thể vô cơ ấy mới hình thành nên ý thức và cảmxúc, hình thành nên nhân cách, làm cho con người trở thành NGƯỜI thật sự Nhữngcái quy định bản chất của con người-cái tạo nên sự khác biệt về chất có “tính tộc loài”

để phân biệt con người với động vật chính là ở chổ con người với tính cách là một

‘thực thể xã hội” Vì lẽ đó, C.Mác khẳng định: “trong tính hiện thực của nó, bản chấtcon người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” [31, tr.11]

Chúng ta đều thừa nhận rằng, nếu như hoạt động của loài vật là hoạt động bảnnăng, hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên thì hoạt động của con người là hoạt động tựgiác nhằm nắm bắt sự hiểu biết, khám phá và sáng tạo ra bản thân mình với tư cách làngười, đó đồng thời cũng là sáng tạo ra “thiên nhiên thứ hai” của chính mình “Thiênnhiên thứ hai” ấy không gì khác hơn, đó chính là văn hóa Cho nên nói bản chất củacon người là “nhào nặng vật chất theo quy luật cái đẹp”, và đó chính là năng lực bảnchất đặc thù đặc biệt chỉ có ở con người, gắn với hoạt động của con người Do vậy, có

thể nói, sự thể hiện, phát huy những năng lực bản chất người, đó là văn hóa Như vậy,

xét đến cùng, văn hóa có nguồn gốc từ lao động Mọi hoạt động sáng tạo của con ngườinhằm biến đổi xã hội bao giờ cũng bắt đầu từ lao động, mà văn hóa thường gắn liền với

Trang 11

sự sáng tạo và năng lực của con người trong đời sống xã hội Cho nên những sản phẩmlàm ra trong quá trình lao động đó không chỉ thuần túy là và phục vụ cho nhu cầu vậtchất hàng ngày của con người, mà còn có ý nghĩa rất lớn và giá trị về mặt tinh thần.Điều này, C.Mác đã khẳng định: “căn cứ vào mức độ tự nhiên được con người chuyểnthành bản chất người, tức là mức độ tự nhiên được con người khai thác, cấu tạo thì cóthể xét được trình độ chung của con người” [32, tr.507] Như vậy, theo quan niệm củaC.Mác thì văn hóa được hình thành và phát triển trên cơ sở hình thành và phát triển conngười; trình độ phát triển chung của văn hóa phụ thuộc vào trình độ chinh phục tựnhiên của con người.

Và trên cơ sở kế thừa có chọn lọc, bảo vệ và phát triển nguyên lí của triết họcMác, V.I Lênin phân tích sâu sắc thêm về mặt xã hội của văn hóa và tiếp cận văn hóa

từ hình thái kinh tế xã hội Chính Lênin đã đề ra nguyên tắc quan trọng trong quá trìnhxây dựng nền văn hóa mới, đó là xác định sự nghiệp văn hóa là một bộ phận trongguồng máy cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản; văn hóa ngoàimang tính đảng, tính nhân dân, tính dân tộc thì còn mang tính nhân loại Đây cũng cóthể khẳng định là tính nhân văn cao cả của chủ nghĩa công sản vậy Lênin còn cho rằngnền văn hóa vô sản có khả năng phát triển toàn diện năng lực và bản chất con người,

nên nó phải là sự kế thừa có phê phán các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại để phát triển lên một tầm cao mới.

Đến Hồ Chí Minh-người học trò xuất sắc của chủ nghĩa Mác-Lênin - anh hùng

giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới thì bản chất văn hóa ở chỗ: “vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chũ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công

cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và cá phương phức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [01, tr.18-19].

Cũng cần nói thêm rằng, ở một mức độ nhất định, người ta thường dùng vớinghĩa hẹp hơn, như là một lĩnh vực hoạt động bên cạnh chính trị, kinh tế Đồng thời,văn hóa cũng được hiểu là văn hóa-nghệ thuật xếp cạnh giáo dục, khoa học Ở nghĩanày, khi nói đến văn hóa, người ta thường coi văn hóa là sự giáo dục, bồi dưỡng tâmhồn con người, gắn liền với giáo dục - đào tạo con người, một cộng đồng người hướng

Trang 12

tới những giá trị, những phẩm chất tốt đẹp cần thiết cho sự tồn tại và phát triển củamình

Với nội dung bao hàm sâu rộng của văn hóa, và có nhiều định nghĩa khácnhau tùy vào góc độ tiếp cận như vậy Theo quan điểm của chúng tôi, cho rằng:

Văn hóa là toàn bộ những giá trị phản ánh năng lực và bản chất người do con người sáng tạo ra trong lao động qua suốt tiến trình phát triển lịch sử-xã hội trên cả hai lĩnh vực sản xuất vận chất và sản xuất tinh thần.

Với cách hiểu khái niệm văn hóa như trên, chúng ta có thể xác định cấu trúccủa văn hóa ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, văn hóa gắn với sự hiểu biết của phương thức tồn tại người, là sự

thể hiện đầy đủ nhất bản chất của con người trong tất cả mọi hoạt động của conngười bao gồm hoạt động thực tiễn, hoạt động nhận thức, hoạt động giao tiếp,…Văn hóa cũng có mặt trong tất cả các mặt đời sống xã hội như kinh tế, chính trị,đạo đức, lối sống, pháp luật,…và trong mọi khía cạnh, mọi sự tồn tại của đời sốngtinh thần vô cùng phng phú, đa dạng của lĩnh vực tư duy của con người Nghĩa làtất cả những gì có liên quan đến con người với tư cách là con người cá nhân và xãhội, và liên quan đến mọi cách thức tồn tại của con người đều liên quan đến vănhóa

Thứ hai, văn hóa bao gồm giá trị vật chất và giá trị tinh thần đã được sáng

tạo ra trong quá trình lao động-hoạt động thực tiễn lịch sử xã hội của con người

Đó là cái “thiên nhiên thứ hai” với tư cách là sản phẩm của hoạt động “mang tínhtộc loài” của chính bản thân con người Như vậy, có thể nói văn hóa là sự pháttriển lực lượng vật chất và tinh thần của con người, là sự thể hiện những lực lượng

đó trong trong lĩnh vực sản xuất vật chất (mà sản phẩm tạo ra được gọi là văn hóavật chất) và lĩnh vực sản xuất tinh thần (sản phẩm tạo ra được gọi là văn hóa tinhthần)

Tuy nhiên cần nhận thức rằng, sự phân chia này cũng chỉ mang tính tươngđối, bởi lẽ cái gọi là “văn hóa vật chất” về thực chất cũng chỉ là cái sự “vật chấthóa” các giá trị tinh thần, và bản thân các giá trị tinh thần cũng không phải bao giờtồn tại một cách thuần túy tinh thần mà thường được “vật thể hóa” trong các dạngtồn tại vật chất Cùng với đó thì còn những giá trị tinh thần tồn tại tiềm tàng dưới

Trang 13

dạng “phi vật thể” nhưng vẫn mang tính tồn tại vật chất khách quan như văn hóatrong các lịnh vực đạo đức, giao tiếp, ý thức, ứng xử, lối sống, phong tục, tậpquán…

Với cách tiếp cận ở hai khía cạnh như vậy, sẽ dễ dàng hơn trong nhận thức

về văn hóa và cấu trúc văn hóa, về nội hàm và ngoại diên của văn hóa Nói đến nộihàm văn hóa, một điều cần lưu ý là, từ trước và hiện nay, không ít người vẫnthường dùng từ “văn minh” với tư cách từ đồng nghĩa với “văn hóa” Trên thực tế,hai khái niệm đó tuy có nhiều điểm tương đồng nhưng khác nhau nội hàm Nhưviện sĩ D.Likhachov nhận xét: “đây là những khái niệm gần gũi, có liên quan mậtthiết với nhau, song không đồng nhất…” [23, tr.25] Cơ sở để xác định sự khácnhau giữa hai khái niệm ấy là căn cứ vào quan điểm triết học của Mác về văn hóa

Nếu như văn hóa gắn với toàn bộ hoạt động sống của con người, thì văn minh chủ yếu gắn với một dạng hoạt động cơ bản là cải biến hiện thực.

Thực tế, văn hóa, trong bản chất của nó, thường hướng tới mục đích “nhân

đạo hóa” con người, hướng tới sự phát triển, giải phóng những năng lực bản chấtngười nhằm phát triển, hoàn thiện con người, hướng con người đến Chân, Thiện,

Mỹ và hoàn thiện xã hội Còn văn minh không phải bao giờ cũng đồng nhất với

văn hóa ở tính mục đích Bởi văn minh, một khi bị hướng tới một cách tự phát(hoặc tự giác) với mục đích phản nhân đạo thì sẽ tạo ra hiểm họa khó lường đốivới con người, kìm hãm sự phát triển con người và xã hội, như những vấn đề vềphá vỡ môi trường sinh thái, vi phạm thô bạo quy luật tự nhiên, cạn kiệt tài nguyênthiên nhiên, chiến tranh,…

Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận tính tích cực của văn minh, bởi trong sựphát triển nối tiếp không ngừng của văn minh, con người ngày càng muốn đượchọc tập với nhau để gần nhau, giống nhau hơn, để hoàn thiện khả năng hiện tồnhơn; đồng thời cũng để tương đồng nhau về mức sống và trình độ sống trong xãhội, để phục vụ mục đích phát triển vì con người Và đó cũng là lúc mọi thành tựucủa sự sáng tạo, về nguyên tác, đều có thể được truyền bá, phổ biến từ cộng đồngnày sang cộng đồng khác, mặc dù sự khác nhau giữa các cộng đồng có lớn đếnmấy đi nữa Nghĩa là với văn minh, một cách nhân văn, giữa các cộng đồng, dântộc, người ta càng tiếp nhận đầy đủ, nhanh chóng nhiêu thì kết quả mục đích vì sự

Trang 14

phát triển con người ở cộng đồng, dân tộc ấy nhanh chóng bấy nhiêu, nguyên dobởi văn minh thể hiện trình độ phát triển nhất định trong một giai đoạn nhất định

nào đó Và tất nhiên, văn minh chỉ có giá trị nhất trong trong một thời gian tùy

mục đích yêu cầu của nội dung phát triển kinh tế, xã hội của cộng đồng người.Song, với văn hóa thì khác

Bởi khi nói đến văn hóa, người ta thường chú ý đến đặc trưng, bản sắc củatừng cộng đồng, cái được bảo tồn, được giữ gìn trong và thông qua các nất thang,

sự thăng trầm của lịch sử mỗi công đồng; văn hóa mang tính lịch sử lâu đời nhưngvẫn đảm bảo tính ổn định và bền vững về giá trị Điều này có nghĩa là, khác vớivăn minh, văn hóa có xu hướng tiếp thu nhưng có chon lọc những cái là phù hợpvới lịch sử xã hội của cộng đồng, dân tộc và giữ lại được nét độc đáo, cái bản sắcriêng phù hợp của cộng đồng, dân tộc mình sẽ có giá trị trường tồn Cũng thế màngày nay, các quốc gia phát triển đều có xu hướng truyền bá văn hóa mình ra thếgiới nhưng rất kỷ càng, chọn lọc khắc khe trong tiếp nhận văn hóa của quốc gia,dân tộc khác Bở lẽ văn hóa được nảy sinh trên cơ sở kinh tế, do cơ sở kinh tếquyết định nhưng văn háo cũng là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa tiến bộvừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, xã hội

Đối với khái niệm truyền thống, khi nói tới truyền thống của một dân tộc, ta

có thể hiểu rằng đó là một hệ thống chuẩn mực giá trị riêng có của mỗi dân tộc vàkhông hoàn toàn giống nhau Nhưng một giá trị nào đó khi đã được xã hội chấpnhận thì sẽ trở thành cơ sở để hình thành nên truyền thống của chính dân tộc đó.Nói đến truyền thống, người ta nghĩ ngay đến những thói quen được lặp đi lặp lạinhiều lần và truyền từ đời này qua đời khác Tuy nhiên, đến nay thì vẫn còn cónhiều định nghĩa khác nhau về khai niệm này

Trong ngôn ngữ phương Tây, từ truyền thống bắt nguồn từ chữ La tinh tradition, có nghĩa là “giao, chuyển giao” Định nghĩa của Bách khoa thư Pháp,

thì: “Truyền thống theo nghĩa tổng quát là tất cả những gì người ta biết và thựchành bằng sự chuyển giao từ thế hệ này đến thế hệ khác, thường là truyền miệng,hay bằng sự bảo tồn và noi theo những tập quán, những cách ứng xử, những mẫuhình và tấm gương” [14, tr.10]

Trang 15

Truyền thống, Từ điển Bách khoa Xô viết định nghĩa: “đó là những yếu tốcủa di tồn văn hóa, xã hội truyền từ đời này qua đời khác và được lưu giữ trongcác xã hội, giai cấp và nhóm xã hội trong một quá trình lâu dài Truyền thống đượcthể hiện trong chế định xã hội, chuẩn mực hành vi, các giá trị, tư tưởng, phong tụctập quán và lối sống…Truyền thống tác động khống chế đến mọi xã hội và tất cảmọi lĩnh vực trong đời sống xã hội” [22, tr.11]

Còn theo chúng tôi nhận thấy rằng, truyền thống là những gì thuộc về tư tưởng, tình cảm, ý chí, tập quán, phong tục, cách ứng xử, quy tắc đạo đức, luật lệ… của một cộng đồng người được hình thành trong điều kiện lịch sử nhất định, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và đã qua sự thẩm định của

xã hội được mọi người mặc nhiên tự nguyện thừa nhận.

Như vậy, có thể nói, truyền thống của một dân tộc là phức hợp những tưtưởng, tình cảm, lối sống, quy tắc, chuẩn mực, thói quen…của một công đồngngười đã được hình thành trong lịch sử, trở nên ổn định và được truyền từ thế hệnày sang thế hệ khác, được mọi người trong cộng đồng mặc nhiên thừa nhận bởitính di tồn, tính ổn định, tính đặc trưng của nó Theo suốt tiến trình tồn tại và pháttriển của mình, từ buổi đầu sơ khai, con người đã quan hệ với thiên nhiên và xãhội, và trong suốt quá trình đó đã tích lũy những kinh nghiệm trong sản xuất, trongsinh hoạt hàng ngày và cả trong chiến đấu, nhằm phục vụ lại tốt hơn cho đời sốngcủa mình Từ đó, những kinh nghiệm quý được giữ lại đã dần dần ăn sâu vào tưtưởng, tâm lí của con người và vì thế được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác,trở thành truyền thống Tuy nhiên, những thuộc tính này chỉ mang tính tương đối,nghĩa là không phải bất biến Bởi, truyền thống là một bộ phận của ý thức xã hộinên truyền thống của một dân tộc không phải tự nhiên mà có, cũng không phải conngười tự muốn lựa chọn cho mình thế nào cũng được, mà nó được hình thành,được quy định bởi điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội mà dân tộc đó trải qua C.Mác

đã khẳng định rằng

cả một kiến trúc thượng tầng những cảm giác, những ảo tưởng, những lốisuy nghĩ và quan niệm sống khác nhau và độc đáo đã mọc lên trên nhữnghình thức khác nhau, trên các điều kiện sinh hoạt xã hội Toàn thể giai cấptạo ra và hình thành nên tất cả những cái đó trên cơ sở những điều kiện

Trang 16

vật chất của mình và trên những quan hệ xã hội tương ứng Một cá nhân,qua truyền thống hoặc qua giáo dục mà tiếp thu được những tình cảm vàquan điểm ấy… [29, tr.179-180]

Do tồn tại xã hội luôn vận động, biến đổi nên những truyền thống được hìnhthành trên nền cơ sở hạ tầng xã hội cũng không thể nhất thành bất biến Vì nếutruyền thống luôn biến đổi thì nó không còn được gọi là truyền thống nữa, nhưngchính trong sự vận động biến đổi ấy, truyền thống giữ lại những yếu tố cốt lõi bêntrong nó Nên nói truyền thống là một trong những yếu tố bền vững, khó thay đổinhất trong ý thức xã hội, dù tồn tại xã hội đã thay đổi

Từ đó, có thể nhận thấy rằng, chính tính ổn định và bảo thủ của truyền thống

mà trong mỗi thời kỳ, thời điểm nhất định, thì truyền thống bao giờ cũng mangtính hai mặt, mặt giá trị và mặt phản giá trị

Thực tế nhận thấy rằng, có những truyền thông tích cực sẽ tạo ra sức mạnhcho dân tộc, lại có những truyến thống tiêu cực cản trở sự phát triển của dân tộc.Đồng thời, có những truyền thống trước đây có giá trị tích cực nhưng khi điều kiệnlịch sử-xã hội thay đổi thì không còn giá trị nữa, và thậm chí là cản trở nhưng đểloại bỏ nó đi thì thật không dễ dàng Vấn đề này, C.Mác đã viết: “truyền thống củatất cả các thế hệ đã chết đè nặng như quả núi lên đầu óc những người đang sống”[29, tr.178] Nghĩa là cho dù thực tiễn đã có nhiều thay đổi, nhưng các thế hệ đisau vẫn rập khuôn, không thoát khỏi cái bóng của thế hệ cha ông đi trước, ràngbuộc bởi nếp nghĩa, cách làm của họ một cách máy móc Đây chính là mầm mốngcủa sự trì trệ, bảo thủ, cản trở sự phát triển của xã hội Nên để truyền thống củamỗi dân tộc tồn tại và phát triển, cần giữ lại cái cốt lõi, cái nền giá trị là bản chất,còn thì cần được đổi mới, bổ sung cho phù hợp với điều kiện lịch sử mới, sự pháttriển mới của xã hội

Ở mặt thứ nhất, mặt giá trị, đó là truyền thống có vị trí rất quan trọng trongquá trình phát triển của mỗi dân tộc, là một điều kiện thiết yếu của quá trình duy trì

và phát triển của đời sống xã hội Truyền thống góp phần suy tôn, giữ gìn những gìquý giá, là cốt cách, là nền tảng cho sự phát triển, cự vận động đi lên của cộngđồng, dân tộc, là chỗ dựa tích cực về mặt tinh thần không thể thiếu cho con đườngphát triển, đi lên của xã hội Vì vậy mà, có thể khẳng định, giải pháp truyền thống

Trang 17

luôn là một giải pháp quan trọng hàng đầu đối với một xã hội cần có sự ổn định đểphát triển Điều này, Giáo sư Vũ Khiêu khẳng định: “với truyền thống, con người

xã hội tiếp thu được những thành tựu của người đời trước, rút ngắn lại thời gian,không phải mò mẫm lại từ đầu Con người sinh ra trong xã hội, không thể chọnriêng lấy một cách thức làm ăn Con người phải đi vào quỹ đạo của lịch sử vớinhững phương tiện sản xuất, những quan hệ xã hội, những cách thức ăn, ở, đối xử,suy nghĩa, hành động…đã có sẵn và được truyền lại từ thế hệ trước” [11, tr.36]

Mặc khác, truyền thống cũng là nơi dung dưỡng, “bảo trợ”, làm sống lạinhững mặt bảo thủ, lạc hậu, lỗi thời khi lịch sử-xã hội đã thay đổi, điều này kìmhãm sự phát triển của xã hội Đây là mặt phi giá trị của truyền thống

Vì thế, khi nói đến truyền thống, cần phân biệt truyền thống tôt đẹp, có giátrị với những truyền thống lạc hậu, lỗi thời cần loại bỏ, từ đó mới có định hướngchính xác và bảo tồn, phát huy những truyền thống giá trị, là bản sắc riêng của vănhóa dân tộc Vần đề này cần phải có sự nhìn nhận một cách nghiêm túc, bởi sựsống còn của một truyền thống (tốt đẹp hay không tốt đẹp) là dựa vào yếu tố conngười-những người lựa chọn truyền thống đó, ở từng thời kỳ Cho nên việc chấpnhận (bảo tồn) hay phủ nhận một truyền thống không phải là một hành vi mùquáng hoặc vô tâm, mà là sự lựa chọn có chủ đích của con người Thực tế, có thểkhắng định rằng, không phải tự truyền thống buộc con người phải lựa chọn nó, màchính là giá trị của truyền thống tạo nên sự chọn lấy và bảo tồn của con người Nêntruyền thống phải được lựa chọn bằng đạo đức của con người giữa sự được và mất

Như vậy, theo chúng tôi, văn hóa truyền thống là những gì thuộc đời sống

xã hội được hình thành trong điều kiện lịch sử cụ thể, được lưu giữ và truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác, bao gồm vật chất lẫn tinh thần được thẩm định qua thời gian và được mọi người mặc nhiên thừa nhận ở tính quy chuẩn,

có giá trị mang tính định hướng, giáo dục thẩm mỹ phù hợp sự phát triển của

xã hội

Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, giữa truyền thống và truyền thống vănhóa có mối quan hệ thống nhất nhưng không đồng nhất Truyền thống mang trong

nó tính hai mặt Một mặt, truyền thống góp phần suy tôn, giữ gìn những gì quý giá,

là cốt cách, là nền tảng cho sự phát triển của cộng đồng dân tộc, ở góc độ này

Trang 18

truyền thống mang những giá trị tích cực, là chỗ dựa không thể thiếu của dân tộctrên con đường đi đến tương lai Mặt khác, truyền thống còn là nơi dung dưỡngduy trì, làm sống lại mặt bảo thủ lạc hậu khi điều kiện và hoàn cảnh đã thay đổi.Mặt này góp phần kìm hãm, níu kéo làm chậm trễ sự phát triển của một quốc giadân tộc Như vậy, văn hóa truyền thống là một bộ phận của truyền thống, là mặttích cực, mặt giá trị của truyền thống

Vì vậy, khi nói đến văn hóa truyền thống là nói đến những truyền thống đã được lịch sử đánh giá, khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với cộng đồng trong một giai đoạn lịch sử nhất định Đồng thời, khi xem xét đánh giá truyền

thống và các giá trị văn hóa truyền thống cần phải có quan điểm biện chứng, quanđiểm lịch sử cụ thể nghĩa là phải đặt chúng trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch

sử nhất định của cả quá khứ và hiện tại

1.1.2 Khái niệm giá trị và giá trị văn hóa truyền thống

Như trên, thì định nghĩa cho khái niệm văn hóa truyền thống đã được nêu

khá rõ Tuy nhiên, những cái gì được cho là có giá trị trong lĩnh vực văn hóatruyền thống? Trước tiên, hãy xem thế nào là giá trị

Khái niệm giá trị xuất hiện từ rất sớm, bắt đấu từ thời kỳ cổ đại, trong triết

học Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp,…khi bàn đến cái cao cả, cái chân, cái thiện, cái

mỹ, cái ích trong cuộc sống Nhưng mãi đến từ nữa sau thế kỷ XIX thì giá trị mới

trở thành một khái niệm trung tâm của giá trị học với tính cách là một khoa học,

(theory of values – tức học thuyết về giá trị).

Giống như tính đa nghĩa của từ Văn hóa, và từ trước đến nay cũng có không

ít định nghĩa về giá trị Giá trị, khái niệm này có rất nhiều cách tiếp cận, từ góc độ

kinh tế, chính trị, nhận thức, đạo đức, mỹ học,….mỗi góc độ có quan niệm khácnhau, hay là chưa có sự đồng nhất về mặt ngôn từ

Nhìn từ góc độ giá trị học, thì giá trị đó là những cái được con người sáng

tạo và sử dụng trong hoạt động của mình

Tiếp cận từ góc độ kinh tế chính trị học, giá trị là giá trị của hàng hóa, là

một trong hai thuộc tính cơ bản của hàng hóa, lá lượng lao động xã hội kết tinhtrong hàng hóa Những hàng hóa nào có lượng hao phí lao động xã hội lớn kết tinhcàng lớn thì giá trị của nó càng lớn, và ngược lại Giá trị được biểu hiện thông qua

Trang 19

giá cả khi hàng hóa được đem ra trao đổi, mua bán trên thị trường Khi việc traođổi được tiến hành ngang giá, hàng hóa nào có giá cả càng cao thì tất nhiên giá trịcủa nó càng lớn và ngược lại Như vậy, trong kinh tế chính trị học, giá trị là giá trịvật chất, nó chỉ tồn tại trong nền sản xuất hàng hóa.

Nhìn từ góc độ nhận thức, tức là chỉ xét trong lĩnh vực nhận thức của con

người, thì giá trị chính là những kết quả thu được thông qua quá trình nhận thức,

phản ánh một cách khách quan, chân thực thế giới tự nhiên và xã hội, được biểuhiện qua khái niệm, phạm trù, quy luật,…có ý nghĩa tích cực trong việc chỉ đạohoạt động thực tiễn của con người, làm cho hoạt động này đạt hiệu quả cao hơn,tốt hơn Nghĩa là nó hướng con người đến cái “Chân”

Dưới góc độ đạo đức học, giá trị được nhìn nhận trong phạm vi đời sống

đạo đức của con người Giá trị đọa đức chính là hành vi, thái độ ứng xử được conngười lựa chọn, được đánh giá là có ý nghĩa tích cực đối với đời sống xã hội, được

dư luận đồng tình và vì phù hợp với chuẩn đạo đức chung của xã hội trong từngthời kỳ nhất định, chủ ý là hướng con người vào cái “Thiện”

Nhìn từ góc độ mỹ học, giá trị ở đây được xem xét trong phạm vi đời sốngthẩm mỹ cùng các quan hệ thẩm mỹ của con người Giá trị thẩm mỹ đó là nhữngchuẩn mực thẩm mỹ được nhận thức thông qua các khách thể thẩm mỹ, như cáiđẹp, cái cao cả, cái có ích, cái hài, cái bi,…trong cuộc sống và nghệ thuật, phù hợpvới nhu cầu lành mạnh, thị hiếu thẩm mỹ tích cực, giúp con người đạt được cảmgiác vui sướng, thăng hoa trong sáng tạo, thưởng thức, đánh giá, cảm nhận thẩm

mỹ Trong đó, cái đẹp chân chính, phù hợp thuần phong mỹ tục xã hội được xem

là giá trị cơ bản, nghĩa là giá trị thầm mỹ là hướng con người đến cái “Mỹ”

Còn tiếp cận từ góc độ triết học – là cách tiếp cận khái quát nhất nhưng cũng

tối ưu nhất cho xác định nội dung của định nghĩa giá trị Tuy nhiên cũng có nhiều

quan niệm khác nhau

Chủ nghĩa quy tâm tiên nghiệm cho rằng giá trị là sự tồn tại của bản chấttiên nghiệm, những chuẩn mực, lý tưởng tồn tại bên ngoài sự vật, không phụcthuộc vào nhu cầu, ham muốn của con người Chủ nghĩa duy tâm chủ quan lại phủnhận yếu tố khách quan của giá trị, coi giá trị là hiện tượng của ý thức, là biểu hiện

Trang 20

thái độ chủ quan của con người đối với khách thể mà người đó đang đanh giá Giátrị chỉ mang nghĩa mà con người gán ghép, áp đặt vào sự vật mà thôi

Còn theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, giá trị được thừa nhận có mang bản chất xãhội, tính lịch sử, tính nhận thức được và tính thực tiễn của giá trị Xem giá trị lànhững hiện tượng xã hội đặc thù và mọi giá trị đều có nguồn gốc từ lao động sángtạo của quần chúng Như Giáo sư Vũ Khiêu, thì

dưới ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta quan niệm giá trị lànhững thành tựu của con người góp vào sự phát triển đi lên của lịch sử xãhội, phục vụ cho lợi ích là hạnh phúc của con người Giá trị xuất hiện từmối quan hệ xã hội giữa chủ thể và đối tượng, nghĩa là từ thực tiễn vàchiến đấu của con người xã hội Giá trị vì thế được xác định bởi sự đánhgiá đúng đắn của con người, xuất phát từ thực tiễn và được kiểm nghiệmqua thực tiễn [10, tr.10]

Như vậy, giá trị được xác định từ hai phía, khách thể (bản thân sự vật, vớinhững phẩm chất khách quan của nó) và chủ thể (sự đánh giá của con người đốivới khách thể đó) Ở đó, về mặc khách thể, giá trị mang tính khách quan, bởi vìchính những khách thể mang trong mình chúng những thuộc tính có khả năng thỏamãn những nhu cầu đa dạng của con người, mang lại lợi ích nhiều mặt cho conngười được chính con người cảm nhân và đánh giá Còn về mặt chủ thể, đó là sựđánh giá và giá trị phải được xác định ở những gì khách thể có thể thỏa mãng nhucầu tích cực, đem lại sự phát triển, sự tiến bộ, sự tốt đẹo cho con người và xã hội,hướng con người đến cái “Chân, Thiện, Mỹ”

Với cách tiếp cận này, thì sự đánh giá của con người luôn mang tính lịch sử

cụ thể Bởi mỗi thời đại, mỗi cộng đồng xã hội, mỗi dân tộc có những quan niệmkhác nhau về giá trị và cũng có chuẩn mực giá trị khác nhau Và chính vì vậy,thang bậc giá trị trong xã hội nói chung cũng vận động, biến đổi Điều này cũngphù hợp với lịch sử loài người – là lịch sử của quá trình tìm kiếm, nhận thức khôngngừng các chân giá trị, là lịch sử của quá trình tích lũy, chọn lọc, kế thừa, phát huy

và không ngừng tìm ra những giá trị mới ngày càng phù hợp hơn với sự tiến bộcủa con người và cho sự tiến bộ của xã hội

Trang 21

Với không ít cách tiếp cận như trên, khái niệm giá trị cũng có nhiều địnhnghĩa Ở đây, chúng ta xem qua một vài định nghĩa để rút ra định nghĩa riêng chokhái niệm này.

Theo Từ điển Bách khoa triết học của Liên Xô, giá trị được hiểu là: “kháiniệm triết học và xã hội học dùng để chỉ, thứ nhất, tầm quan trọng có tính khẳngđịnh hay phủ định một khách thể nào đó, khác với đặc tính tồn tại và chất lượngcủa khách thể này (…), thứ hai, khía cạnh chuẩn mực, mệnh lệnh-đánh giá của cáchiện tượng ý thức xã hội” [25, tr.7]

Theo tác giả Hồ Sỹ Quý,

giá trị là thuật ngữ…dùng để chỉ ý nghĩa văn hóa và xã hội của các hiệntượng Về thực chất, toàn bộ sự đa dạng của hoạt động người, của cácquan hệ xã hội, bao gồm cả những hiện tượng tự nhiên có liên quan, cóthể được thể hiện là các “giá trị khách quan” với tính cách là khách thểcủa quan hệ giá trị, nghĩa là, được đánh giá trong khuôn thước của thiện

và ác, chân lý và sai lầm, đẹp và xấu, được phép và cấm kỵ, chính nghĩa

và phi nghĩa,…[22, tr.42]

Từ điển Bách khoa toàn thư Xôviết,

giá trị là sự khẳng định hay phủ định ý nghĩa của các đối tượng thuộc thếgiới chung quanh đối với con người, giai cấp, nhóm hoặc toàn bộ xã hộinói chung Giá trị được xác định không phải bởi bản thân các thuộc tính

tự nhiên, mà là bởi tính cuốn hút (lôi cuốn) của các thuộc tính ấy vàophạm vi hoạt động sống của con người, phạm vi các hứng thú và nhu cầu,các mối quan hệ xã hội, các chuẩn mực và phương thức đánh giá ý nghĩanói trên được biểu hiện trong các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức, trong

lý tưởng, tâm thế và mục đích [dẫn theo 27, tr.51-52]

Như vậy, có thể nhận rằng, một hiện tượng nào đó chỉ có giá trị đối với chủthể khi nó có tác dụng tích cực đối với chủ thể; nó thỏa mãng được nhu cầu nhấtđịnh của con người Và bất cứ một sự vật nào cũng là vật mang giá trị, miễn là sựvật ấy được các thành viên trong xã hội thừa nhận, có vị trí như là nhu cầu thực sự

và lành mạnh Chính ý nghĩa tích cực này là động cơ kích thích chủ thể hành động.Theo Giáo sư Nguyễn Trọng Chuẩn: “nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặt

Trang 22

tích cực, mặt chính diện, nghĩa là bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cáiđúng, cái tốt, cái hay, cái đẹp; là nói đến cái có khả năng thôi thúc con người nổlực hành động và nổ lực vươn tới” [02, tr.16]

Chính vì thế, vì có sự định chế của các nhu cầu và lợi ích của con người nhưthế mà giá trị mang tính khách quan, nghĩa là sự tồn tại hay mất đi của một giá trịnào đó không phụ thuộc vào chủ thể mà phục thuộc vào sự tồn tại hay mất đi củamột nhu cầu nào đó Điều này là do thực tiễn quy định, bỡi thực tiễn vừa là nơi tạo

ra các giá trị, vừa là nơi mà ở đó các giá trị hình thành và nảy sinh, nên có thể

khẳng định thực tiễn vừa là tiêu chuẩn của chân lý về bản chất của khách thể, vừa

là tiêu chuẩn của chân lý về giá trị của khách thể. Thực tiễn luôn là nơi kiểmnghiệm tính đúng đắn của lý thuyết và mọi giá trị

Tuy nhiên, mặt khác, cũng phải thừa nhận rằng, giá trị còn mang tính chủquan Bởi giá trị là phạm trù mang bản chất người, chỉ có trong xã hội loài người,

sự vật mới có giá trị Ví dụ, một phong cảnh, một bức tranh, một hành vi được gọiđẹp hay không phải qua đánh giá mới biết thật sự nó có đẹp hay không, có giá trịhay không Vậy thì sự đánh giá đó còn phụ thuộc tính chủ quan – thái độ nhìnnhận, đánh giá và sự lựa chọn giá trị xã hội của chủ thể-con người Do đó, giá trịkhông những bị chế ước bởi tính chất của khách thể mà còn bị chế ước bởi nhu cầucủa chủ thể Điều này lí giải vì sao, ở mỗi thời đại lịch sử khác nhau, quan niệmcủa con người về giá trị có sự khác nhau, và nagy trong một thời đại, ở mỗi tậpđoàn người, mỗi giai cấp khác nhau thì quan niệm về giá trị cũng có khác nhau.Cái được cho là có giá trị ở thời đại này, giai cấp này nhưng rất có thể lại không cógiá trị với thời đại khác, giác cấp khác

Hình thức biểu hiện giá trị cũng vô cùng phong phú, đa dạng phụ thuộc vàotính đa dạng trong nhu cầu của con người Cóa giá trị vật chất, có giá trị tinh thần;

có giá trị chung cho toàn nhân loại, có giá trị riêng của mỗi dân tộc, công đồng hay

cá nhân; có những giá trị lâu bền được giữ gìn, kế thừa qua nhiều thế hệ và ngàycàng được phát huy, có những giá trị tồn tại trong thời điểm rồi mờ dần và mất đi

do hoàn cảnh lịch sử biến đổi, thay thế vào đó là một giá trị mới phù hợp hơn Chonên nói “cái này có giá trị” không có nghĩa là nó bất biến, luôn tồn tại vĩnh viễntheo thời gian mà nó cũng là theo quy luật vận động phát triển của lịch sử-xã hội

Trang 23

Như vậy, quá trnh nghiên cứu, tiếp cận vấn đề qua nhiều góc độ khác nhau

về khái niệm giá trị Theo quan điểm của chúng tôi, cho rằng giá trị là khái niệm dùng để chỉ cái làm cơ sở, tiêu chí để con người (cá nhân, cộng đồng, dân tộc) dựa vào đó xem xét bản thể vật chất (hay tinh thần) mang tính tích cực có khả năng thỏa mãn những nhu cầu nào đó của con người một cách lành mạnh, thúc đẩy con người vươn tới cái hữu ích.

Mỗi dân tộc dù ở trình độ văn minh cao hay thấp đều có những văn hóatruyền thống đặc trưng riêng của mình Hệ thống giá trị đó chính là sự kết tinh tất

cả những gì tốt đẹp nhất được chắt lọc qua nhiều thời đại lịch sử để tạo nên bảnsắc riêng của một dân tộc Giá trị văn hóa truyền thống đó được truyền lại cho thế

hệ sau và trở thành một động lực nội sinh để phát triển đất nước Nhà triết học cổđiển Đức, E Kant nói: “vật nào có thể đem trao đổi được đều có một giá, duy cómột số vật không lấy gì làm thay thế được thì có một giá trị” [28, tr.115] Ví dụ,chiếc nhẫn kim cương có một giá, chiếc xe ôtô có một giá, còn tình bạn, lòng yêunước, tín ngưỡng,…là những cái vô giá, tức có nghĩa là những giá trị xã hội, giá trị

văn hóa Vậy thế nào là giá trị văn hóa truyền thống? Để dễ tiếp cận hơn, chúng ta

hãy xem qua thế nào là giá trị truyền thống, (bởi như trên chúng tôi đã trình bày,

văn hóa và văn hóa truyền thống là hai khái niệm tương đồng nhưng không đồngnhất)

Theo giáo sư Trần Văn Giàu,

truyền thống thì có cái tốt cái xấu; nhưng khi chúng ta nói “giá trị truyềnthống” thì ở đây chỉ có cái tốt mà thôi, bởi vì chỉ có những cái gì tốt đềuđược gọi là giá trị; thậm chí, không phải mỗi cái gì tốt đều được gọi là giátrị, mà phải là những cái tốt phổ biến, cơ bản, có nhiều tác dụng tích cụccho đạo đức, luân lí, có cả tác dụng hướng dẫn sự nhận định và hướng dẫn

sự hành động, thì mới được mang danh là giá trị truyền thống [10, tr.50]Như vậy, khi nói đến giá trị truyền thống là chúng ta chỉ nói đến nhữngtruyền thống nào đã được sự thẩm định nghiêm ngặt bởi thời gian, đã có sự chonlọc, sự phân định và khẳng định ý nghĩa tích cực của chúng đối với xã hội trong

những giai đoạn lịch sử cụ thể nhất định Thế, cũng có nghĩa là không thể hoàn toàn đồng nhất giữa truyền thống hoặc giá trị với giá trị truyền thống Bởi, giá trị

Trang 24

truyền thống, trước hết, đó là những truyền thống, nhưng điều phải chú ý là không

phải truyền thống nào cũng có giá trị hoặc luôn mang giá trị với thời gian và đều làgiá trị truyền thống Khi một giá trị đã trở thành giá trị truyền thống, nghĩa là nói

đến giá trị đó ở khía cạnh có ý nghĩa lâu dài, mang tính bền vững Từ đó, khi nói

đến giá trị truyền thống, là nói đến những truyền thống có giá trị và lâu dài, vữngbền đã qua sự thẩm định của thực tiễn, và mặc nhiên như là “cái chuẩn” liên kếtcủa cộng đồng, dân tộc; nối tiếp nhau, từ thế hệ này truyền sang thế hệ khác, làtinh hoa, là bản sắc văn hóa dân tộc

Do đó, có thể khẳng định rằng, giá trị truyền thống dân tộc là sự kết tinhtoàn bộ tinh hoa được chắc lọc, cô đúc nên từ những di sản truyền thống trong suốtquá trình hình thành, tồn tại và phát triển của dân tộc Chính vì vậy mà không thểtách rời giá trị truyền thống với văn hóa dân tộc Giá trị truyền thống là một bộphận của văn hóa, là cái cốt lõi làm nên sức mạnh nội sinh của một nền văn hóa; là

do các thế hệ nối tiếp nhau hung đúc nên dần theo suốt dòng chảy lịch sử của mỗidân tộc

Tuy vậy, vẫn phải thừa nhận các dân tộc cũng không thể lựa chọn cho mìnhnhững giá trị truyền thống theo ý muốn chủ quan của con người, mà những gái trịtruyền thống được hình thành dực trên cơ sở những điều kiện kinh tế, lịch sử, xãhội của chính mỗi dân tộc trong suốt quá trình phát triển đó C.Mác: “con ngườilàm ra lịch sử của chính mình, nhưng không phải làm theo ý muốn tùy tiện củamình, trong những điều kiện tự mình chọn lấy, mà là trong những điều kiện trựctiếp có trước mắt, đã cho sẵn và do quá khứ để lại” [29, tr.145] Nghĩa là conngười cũng có quyền lựa chọn cho mình những giá trị truyền thống, nhưng đó lànhững cái có giá trị, phù hợp ở hiện tại, có tính ổn định và bền vững, trên cái nềncủa quá khứ-lịch sử để lại Cho nên nói, giá trị truyền thống “có giá trị” chính là ởtính khách quan trong quá trình hình thành, tồn tại; được lưu giữ, truyền lại mãi do

đã trải qua sự thẩm định gắt gao của thời gian cũng như điều kiện thay đổi củathời đại

Mặc khác, giá trị truyền thống còn có một giá trị ở khía cạnh là “tập hợp sứcmạnh” của dân tộc trong mỗi thời đại cho từng thời đại Trong giá trị truyền thốngdân tộc thì người xưa và người nay đều cơ bản đồng tình, người sau nối chí người

Trang 25

trước, phát huy lên, làm giàu mãi Ở đây, theo Giáo sư Trần Văn Giàu: “giá trịtruyền thống là một sức mạnh vĩ đại không thể xem thường Huy động các giá trịtruyền thống để làm cách mạng và kháng chiến hiện đại, là huy động sức mạnh củamấy mươi thế kỷ tổ tiên ông cha cổ vũ và trợ chiến cho con cháu hoàn thành sựnghiệp dân tộc” [10, tr.52] Sở dĩ được như thế-và đấy cũng là cái tạo nên một chấtkeo kết dính, huy động được sức mạnh dân tộc-chính là ở chỗ giá trị truyền thốngđược hình thành trên cơ sở có cái lõi bất biến đồng thời có phần biến động để cóthể bổ sung, đổi mới cho ngày càng phong phú và phù hợp với đặc trưng, tính chấtthời đại.

Như vậy, từ cách tiếp cận hai mặt như thế, chúng tôi nhận thấy rằng có thể

định nghĩa giá trị văn hóa truyền thống, là tất cả những gì thuộc đời sống vật chất, tinh thần mang tính tích cực được hình thành trong điều kiện lịch sử cụ thể và tồn tại qua sự thẫm định của thời gian, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Có giá trị giáo dục, có ý nghĩa định hướng con người trong ứng xử

và hành động nhằm đảm bảo cho yêu cầu thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người mang tính lành mạnh; có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của dân tộc và

là cơ sở nền tảng cho bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong mọi thời đại.

Chính vì thế mà giá trị văn hóa truyền thống có vị trí vô cùng quan trọng sựtồn tại và phát triển của một dân tộc, cho nên để tồn tại và phát triển, càng ngày,mọi dân tộc càng nhận thức được rằng giá trị văn hóa truyền thống của một dân tộc

là tài sản vô giá của chính dân tộc ấy Cho nên bảo tồn, khai thác và phát huynhững giá trị văn hóa truyền thống dân tộc hiệu quả, phù hợp từng thời kỳ chính làkhai thác giá trị vật chất, tinh thần của lịch sử - xã hội nhằm phát triển xã hội từnggiai đoạn một cách hài hòa, bền vững là một lực chọn hết sức đúng đán và phù hợpmọi thời đại Bởi thế, nên cần nhân thức được rằng, khi lịch sử có những biến độnglớn thì mỗi dân tộc không vì thế mà phủ định sạch trơn những giá trị văn hóatruyền thống đã có từ ngàn xưa hoặc vồ vập văn hóa ngoại, mà cần phải biết chắclọc, kế thừa những giá trị của văn hóa truyền thống của chính dân tộc mình, đồngthời bổ sung, phát triển làm cho nó trở thành động lực cho tiến trình đi lên của đấtnước

Trang 26

Với sức mạnh nội sinh đó, cùng với tiếp thu tinh hoa từ bên ngoài bổ sungcho cái bên trong, giá trị văn hóa truyền thống sẽ ngày càng phong phú và sẽ là cơ

sở vững chắc cho sự vận động của xã hội, cho sự phát triển của đất nước trong mọigiai đoạn, thời kỳ mà không sợ bị xóa nhòa bản sắc văn hóa của dân tộc, kể cảtrong gia đoạn hiện nay, khi nước ta đang hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầuhóa của thế giới

1.2 Tác động của toàn cầu hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế đối với vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống

Trước tiên, chúng ta phải thừa nhận rằng các dân tộc trên thế giới sinh sốngtrong điều kiện tự nhiên và xã hội không hoàn toàn giống nhau, thậm chí là tráingược nhau Chính và vậy mà ở mỗi dân tộc hình thành một nền văn hóa vớinhững phong tục, tập quán, tư tưởng, tâm lý, thói quen, chuẩn mực đạo đức,…(những ý thức xã hội) khác nhau phản ánh tồn tại xã hội của chính dân tộc đó Vàtrong nền văn hóa của mỗi dân tộc chứa đựng hệ giá trị truyền thống tiêu biểu làmnên bản sắc văn hóa, làm nên cốt cách tinh thần, hình thành nên nét độc đáo riêng

có của dân tộc ấy

Vì vậy, hệ giá trị chính là yếu tố cơ bản phân biệt dân tộc này với dân tộckhác, và cũng chính nó góp phần làm cho nền văn hóa chung của nhân loại trở nên

đa dạng, phong phú Điều này được khẳng định với lưu ý thêm rằng, khi toàn cầu hóa chưa xuất hiện, các dân tộc ít có cơ hội giao lưu văn hóa với nhau Họ sống và

lao động bằng những suy nghĩ, phong tục, tập quán, thói quen,…những truyềnthống…của chính dân tộc mình với tất cả những gì mà tổ tiên đã để lại Họ khôngbiết và cũng tất ít có cơ hội biết đến văn hóa của những dân tộc khác, hoặc có biếtthì cũng biết mơ hồ Vì thế mà nền văn hóa của mỗi dân tộc được xem như một thếgiới riêng-có thể nói như vây, và tất nhiên, điều này cũng có hai mặt của nó.Nhưng, khi xu thế toàn cầu hóa xuất hiện thì tình hình đã thay đổi, nhất là tronggiai đoạn hiện nay

1.2.1 Toàn cầu hóa và hội nhập

Toàn cầu hóa là tiến trình lịch sử bao gồm nhiều thời kỳ khác nhau và hiệnnay vẫn có nhiều quan điểm khác nhau về thời điểm khởi đấu của tiến trình này.Tuy nhiên, cùng với phần lớn quan điểm của các nhà nghiên cứu, chúng tôi thống

Trang 27

nhất theo quan điểm là từ khi danh từ “Globalizatiion” xuất hiện vào giai đoạncuối thập niên 1980 và được chính thức sử dụng rộng rãi từ những năm 1990 củathế kỷ 20 Toàn cầu hóa là một hiện tượng xã hội khách quan, nhưng thực chất nó

là gì thì có nhiều cách tiếp cận theo quan niệm rộng, hẹp khác nhau và cả theoquan điểm về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… nữa Đã có rất nhiều nhà nghiêncứu cố gắng đưa ra định nghĩa toàn cầu hóa, nhưng từ quan điểm tiếp cận vấn đềkhác nhau như vậy, nên nhìn chung vẫn chưa có sự thống nhất hoàn toàn về kháiniệm này

Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, xuất phát điểm của toàn cầu hóa là toàn cầuhóa kinh tế, nhưng toàn cầu hóa về kinh tế sớm hay muộn cũng sẽ tác động đếnlĩnh vực khác, trong đó tất yếu là có văn hóa-điều này cách nay 150 năm đã được

C.Mác và Ph.Ăngghen nhân định trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản,

Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và dân tộc vẫn

tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộcphổ biến giữa các dân tộc Mà sản xuất vật chất đã như thế thì sản xuấttinh thần cũng không kém như thế Những thành quả của hoạt động tinhthần của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc Tínhchất đơn phương và phiến diện dân tộc ngày càng không thể tồn tại đượcnữa [30, tr.602]

Toàn cầu hóa ngày nay, có thể hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp Theo nghĩa rộng, thì đa số các học giả trên thế giới đều xác định nó như là một hiện tượng hay

một quá trình làm gia tăng mạnh mẽ các mối liên hệ gắn kết, tác động, phụ thuộclẫn nhau; là sự giao lưu ngày càng nhộn nhịp về kinh tế, chính trị, văn hóa, giữacác quốc gia trong phạm vi toàn cầu Giáo sư Lê Hữu Nghĩa,

“toàn cầu hóa, xét về bản chất là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mốiliên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cảcác khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới…Toàn cầu hóa

là giai đoạn mới, là giai đoạn phát triển cao của quá trình quốc tế hóa đãdiễn ra từ nhiều thế kỷ trước và sẽ tiếp tục diễn ra trong thế kỷ XXI [20,tr.07]

Trang 28

UNDP, trong báo cáo về phát triển con người năm 1999 cho rằng: “Toàncầu hóa không mới, nhưng thời đại hiện nay của toàn cầu hóa có các tính chấtriêng biệt Sự hẹp lại của không gian và sự biến mất của các đường biên giới đanggắn kết cuộc sống của mọi người với nhau một cách sâu sắc, chặt chẽ và trực tiếphơn bao giờ hết” [20, tr.123] Theo nghĩa hẹp, toàn cấu hóa được hiểu là tiến trìnhcác quốc gia, khu vực bị cô lập đã và đang hội nhập với quốc tế Ở góc độ hẹp này,

đa số các nhà nghiên cứu khi đế cập đến toàn cầu hóa, thì trước hết lá đề cập đếntoàn cầu hóa về kinh tế Theo các nhà kinh tế thuộc UNCTAD: “Toàn cầu hóa liên

hệ tới các luồng giao lưu không ngừng tăng lên của hàng hóa và nguồn lực vượtqua khỏi biên giới quốc gia cùng với sự hình thành các cấu trúc tổ chức trên phạmvii toàn cầu nhắm quản lí các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế không ngừnggia tăng đó” [dẫn theo 03, tr.44]

Còn nếu xét theo phương diện khác nhau, cũng có nhiều lí giải khác nhau.Người lí giải toàn cầu hóa từ phương diện văn hóa thì nhận định rằng, toàn cầu hóa

là sự hợp nhất nền văn hóa hoặc văn minh toàn cầu, trong khoảng thời gian đó sẽdiễn ra sự đụng độ về văn hóa và cũng có cả sự hòa nhâp về văn hóa; có ngườixuất phát từ lập trường chủ nghĩa dân tộc, thì lại nhân định rằng toàn cầu hóa làphương Tây hóa, hay Mỹ hóa,… Như vậy, nhìn chung là chưa có ý kiến thốngnhất hoàn toàn về định nghĩa khái niệm toàn cầu hóa; đồng thời cũng có đa số ýkiến đó đồng nhất toàn cầu hóa là toàn cầu hóa kinh tế Trong khi đó, kinh tế chỉ làmột lĩnh vực cơ bản của toàn cầu hóa và nó không thể tốn tại, phát triển tách rờilĩnh vực khác như chính trị, văn hóa, xã hội…

Đối với chúng ta, việc nhận thức đúng đắn bản chất và nguyên nhân củatoàn cầu hóa kinh tế cũng như những tác động của nó đến mặt chính trị, văn hóa,

xã hội có ý nghĩa rất quan trọng trong hoạch định chính sách và giải pháp về hộinhập quốc tế trong xu thế hiện nay Cho nên, dưới góc độ triết học, xét theo qunađiểm duy vật lịch sử, chúng tôi nhìn nhân toàn cầu hóa như là một xu thế vận độngtất yếu của xã hội loài người theo quy luật chung từ thấp đến cao Vận động xã hội

là hình thức vận động cao nhất của thế giới vật chất Hình thức vận động này lấycon người và sự tác động lẫn nhau giữa con người với con người làm nền tảng.Bằng hoạt động sản xuất vật chất, con người chủ động tác động vào tự nhiên, cải

Trang 29

biến tự nhiên, đồng thời thúc đểy sự vận động, phát triển của lịch sử xã hội Chonến, xét đến cùng, bất kỳ một sự biến đổi, phát triển nào trong xã hội cũng là đều

do con người quyết định

Từ đó, vận dụng học thuyết về hình thái kinh tế-xã hội (của chủ nghỉa duyvật lịch sử) để giải thích hiện tương toàn cầu hóa, thì theo chúng tôi, nó không phải

là một hiện tượng xuất hiện ngẫu nhiên hay do ý muốn chủ quan của cá nhân mộthay một nhóm người, mà là một quá trình khách quan bắt nguồi từ hoạt động sảnxuất vật chất Trong quá trình sản xuất vật chất, quna hệ giữa con người với conngười được hình thành và ngày càng mở rộng Khi lực lượng sản xuất ở trình độthấp, quan hệ giữa con người với con người chỉ bó hẹp trong một lãnh thổ nhấtđịnh, đến khi lực lương sản xuất ngày càng phát triển thì các quan hệ đó càng được

mở rộng trên phạm vi toàn cầu Vậy, toàn cầu hóa đấy chính là xu hướng mở rộngcác quan hệ giữa con người với con người trên phạm vi toàn cầu vậy thì tất nhiêntrong “tổng hòa các mối quan hệ” ấy, có quan hệ vế kinh tế, chính trị, văn hóa, xãhộ,… và các quan hệ này tồn tại trong một chỉnh thể, có tác động qua lại lẫn nhau,trong đó quan hệ kinh tế giữ vai trò là nền tảng

Từ những nhận định trên, chúng tôi cho rằng, toàn cầu hóa là một xu thế khách quan mà theo đó sự liên kết ở tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa,…đối với tất cả các quốc gia trên thế giới ngày càng tăng, làm cho khoảng cách từng quốc gia, châu lục và cá nhân ngày càng thu hẹp và có sự tác động gắn kết nhau trong định chế quốc tế nhằm quản lí và điều chỉnh các hoạt động mang tính toàn cầu.

Với định nghĩa này, chúng ta thấy có một số vấn đề đặt ra khi hội nhập quốc

tế đối với các quốc gia là, ngoài ý nghĩa là một hiện tượng vật chất, nó còn mangmột ý nghĩa văn hoá, tinh thần sâu sắc Bởi lẽ, trên thực tế, không có một côngviệc nào của con người, không có một hiện tượng nào trong xã hội lại chỉ mang ýnghĩa thuần tuý kinh tế Toàn cầu hóa thể hiện ở tất cả các mặt của đời sống xãhội, mà nội dung chính của nó bắt nguồn từ lĩnh vực kinh tế, từ đó dẫn đến toàncầu hóa về chính trị, văn hóa và xã hội

Và đồng thời, khi hộp nhập, các quốc gia sẽ chịu một số mặt tác động của toàn cầu hóa ở hai mặt tích cực và tiêu cực.

Trang 30

Tích cực: Một là toàn cầu hóa thúc đẩy sự phát triển rất nhanh và mạnh sự

phát triển và xã hội hóa lực lượng sản xuất, đưa lại sự tăng trưởng kinh tế cao cho

các quốc gia khi tham gia hội nhập; Hai là truyền bá và chuyển giao trên quy mô

ngày càng lớn những sáng tạo khoa học và công nghệ, về tổ chức và quản lí, về

sản xuất và kinh doanh, đưa kiến thức và kinh nghiệm đến với các dân tộc; Ba là

tạo thêm khả năng phát triển rút ngắn và mang lại những nguồn lực quan trọng, rấtcần thiết cho các nước đang phát triển, như vốn, tri thức, kinh nghiệm, chiến lượchoạch định chính sách dài hạn, tổ chức tiến hành ở cả tầm vĩ mô (quốc gia) và vi

mô (doanh nghiệp, hộ dân); Bốn là thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau, làm cho

con người ở mọi châu lục ngày càng hiểu biết và gần nhau hơn Đấy là bốn yếu tốtích cực cơ bản khi hội nhập quốc tế mà toàn cầu hóa đem lại

Tiêu cực: Một là toàn cầu hóa làm trầm trọng thêm bất công xã hội, khoét sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo giữa các nước và trong từng quốc gia; Hai là

gây bất ổn định và làm cho đời sống con người trở nên kém an toàn, cả từ trong

từng con người, từng gia đình và an ninh quốc gia; Ba là quyền lực, phạm vi và

hiệu quả tác động của các nhà nước – dân tộc bị thu hẹp nhất định, ảnh hưởng rung

động nền tảng đời sống của các quốc gia và đặt ra những vấn đề nhạy cảm; Bốn là

đặt các nước đang phát triển (như Việt Nam ta, chẵng hạn) trước những thách thứckhốc liệt

Và như vậy, theo quan điểm của chúng tôi, riêng về lĩnh vực văn hóa khi mởcửa hội nhập, các quốc gia (nhất là các nước nghèo, chậm phát triển) sẽ phải đối

mặt với những ngoài những thuận lợi và nguy hiểm không thể xem nhẹ

1.2.2 Sự tác động của toàn cầu hóa đối với các giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam khi hội nhập quốc tế.

Như đã trình bày, đến nay, hầu hết mọi người đều thừa nhận toàn cầu hóa làmột thực tế khách quan không thể cưỡng lại Nó có nhiều mặc tích cực, thấy rõnhất là về mặt kinh tế nhưng cũng không ít mặt hạn chế trong tất cả các lĩnh vựcđời sống xã hội Khi quyết định mở cửa và tham gia hội nhập quốc tế, Đảng ta đãnhận định và đánh giá về toàn cầu hóa, là: “xu thế khách quan, lôi cuốn nhiềunước tham gia…chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêucực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh” [07, tr.64]

Trang 31

Xét về lĩnh vực văn hoá, toàn cầu hoá không chỉ tạo ra cơ hội cho cácquốc gia, dân tộc mở rộng sự giao lưu, hiểu biết và xích lại gần nhau, mà cònđặt những giá trị văn hoá của mỗi dân tộc trước nhiều thách thức to lớn Riêngđối với văn hóa hay là giá trị văn hóa truyền thống thì nó có những tác động tíchcực và tiêu cực đan xen nhau rất khó phân định rạch ròi trong một thời gian ngắnhoặc với tư tưởng chủ quan hay bảo thủ Để giữ gìn văn hóa dân tộc, bảo tồn bàphát huy các giá trị văn hoá truyền thống của mình, chúng ta cần phải tăngcường giáo dục truyền thống lịch sử và truyền thống cách mạng của dân tộccùng với đẩy mạnh việc giáo dục pháp luật và đồng thời xác lập bản lĩnh vănhoá Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.

Thật vậy, trong bối cảnh quốc tế hiện thời, toàn cầu hoá không chỉ mang lạithời cơ lớn, mà còn tạo ra những thách thức không nhỏ đối với tất cả các quốc gia,đặc biệt là với các nước đang phát triển trong trào lưu hội nhập quốc tế Toàn cầuhoá đang đặt chúng ta trước những thách thức lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống

xã hội, nhất là trong lĩnh vực văn hoá Đảng và nhân dân Việt Nam nhận thức sâusắc rằng, đối với một nước đang phát triển như nước ta thì thách thức nhiều hơn làthời cơ, khó khăn nhiều hơn thuận lợi Trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, vănhoá Việt Nam có cơ hội hội nhập và giao lưu với các nền văn hoá khác của thếgiới để làm giàu và khẳng định bản sắc của mình Song, hơn lúc nào hết, đây cũng

là giai đoạn mà văn hóa nói chung và các mặt đời sống xã hội phải đối diện vớinhững tác động tiêu cực của toàn cầu hoá

Theo số liệu điều tra năm 2000 của FAO thuộc Liên hợp quốc, hàng năm có

ít nhất 5 triệu trẻ em bị chết đói, 852 triệu người đói kinh niên; trong số khoảng 4,4

tỷ người ở các nước đang phát triển, có tới 60% thiếu các phương tiện vệ sinh cơbản, 33% không được tiếp cận nước sạch, 25% không có nhà ở kiên cố, 20%không được tiếp cận dịch vụ y tế, 20% trẻ em không được học đến lớp 5 [20,tr.470]

Với điều kiện như vậy, không khó khăn gì cho mưu đồ bá chủ thế giới vàđồng hóa văn hóa thế giới theo văn hóa Mỹ, bởi phần thắng thuộc về kẻ mạnh –

“ai thống trị kinh tế kẻ đó có thể chi phối mọi thứ” theo ý mình! Cho nên, vì lợiích của mình, phương Tây buộc thế giới phi phương Tây phải khuất phục hoàn

Trang 32

toàn, trong đó văn hóa là một “mặt trận” không hề được xem nhẹ, như ngày nay,các quốc gia dân tộc càng nhận thức sâu sắc rằng, văn hóa chính là nền tảng tinhthần, là động lực thúc đẩy xã hội phát triển, là “chứng minh thư” cho sự khác biệtcủa quốc gia, dân tộc này với quốc gia, dân tộc khác trong điều kiện ranh giới giữacác quốc gia ngày càng xóa nhòa, thế giới gần như là “ngôi nhà chung” trong toàncầu hóa.

Hội nhập quốc tế đang là một nhu cầu khách quan; nó đòi hỏi chúng ta phải

mở cửa, giao lưu với cộng đồng thế giới để đón nhận và tiếp thu những giá trị mới,tiến bộ của nhân loại Tuy nhiên, một dân tộc nào đó sẽ không còn là chính mìnhnếu đánh mất bản sắc văn hoá dân tộc Theo đó, hội nhập quốc tế và giữ gìn bảnsắc văn hoá dân tộc là những nhu cầu tất yếu, khách quan để một dân tộc có thểtồn tại và phát triển trong xu thế toàn cầu hoá Hội nhập quốc tế và giữ gìn bản sắcvăn hoá dân tộc là hai mặt thống nhất, có quan hệ chặt chẽ với nhau Vì vậy, đốivới Việt Nam, việc nhận thức rõ vấn đề này có ý nghĩa hết sức quan trọng trongquá trình thực hiện nhiệm vụ bảo tồn, phát huy giá trị truyền thống dân tộc nóiriêng và phát triển đất nước nói chung

Đến năm 2010, Việt Nam đã ký 242 điều ước quốc tế song phương và đaphương về văn hóa với các nước, các tổ chức quốc tế và khu vực (trong đó có 84điều ước hiện đang có hiệu lực); ký kết và gia nhập 13 điều ước quốc tế nhiều bêntrong lĩnh vực văn hóa Trong quá trình hội nhập quốc tế, riêng trong lĩnh vực vănhóa, chúng ta đã tổ chức thành công việc quảng bá hình ảnh đất nước, như: ngàyViệt Nam ở các nước; phát động và hưởng ứng bầu chọn Vịnh Hạ Long là kỳ quanthế giới; tổ chức Festival hoa Đà Lạt; Festival Huế; Lễ hội Đền Hùng; tổ chứcchương trình Duyên dáng Việt Nam ở châu Âu, nhiều “tuần lễ văn hóa” Việt Namđược tổ chức ở nhiều nước trên thế giới…Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã có 11 disản văn hóa được UNESCO công nhận, trong đó có 06 vi sản văn hóa vật thể(Vịnh Hạ Long, động Phong Nha, quần thể di tích Cố đô Huế, Khu di tích MỹSơn, Phố cổ Hội An, Hoàng thành Thăng Long) và 05 di sản văn hóa phi vật thể(nhã nhạc Cung đình Huế, Cồng chiên Tây Nguyên, Quan họ Bắc Ninh, Ca trù,Hội Gióng Phù Đổng)

Trang 33

- Mặc tác động tích cực của hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa đối với văn hóa

Trong xu thế hội nhập, giao lưu văn hóa chính là điều kiện thuận lợi nhất đễđưa đất nước nhanh chóng phát triển kinh tế, nhằm tạo điều kiện thuận lợi chonâng cao nền văn hóa dân tộc tạo tiền đề cho việc bảo tồn và phát huy những giátrị văn hóa thuộc bản sắc dân tộc Có điều, cần lưu ý rằng, khi hội nhập quốc tếtrong toàn cầu hóa, thì các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội một mặt, chịu sựquyết định bởi kinh tế; mặt khác, lại có tính độc lập tương đối và tác động trở lạiđối với kinh tế Vì vậy, trong hội nhập quốc tế sâu rộng trong bối cảnh toàn cầuhóa ngày nay, văn hóa nói chung và các giá trị văn hóa truyến thống nói riêng,cùng lúc chịu sự tác động trực tiếp của nhiều yếu tố, mà trước hết là kinh tế Kinh

tế có thể trực tiếp hoặc thông qua chính trị mà tác động đến các giá trị văn hóatruyền thống

Mặt khác, bản thân văn hóa lại có quy luật vận động nội tại riêng của nó làmcho giá trị văn hóa truyền thống của tất cả các dân tộc trên thế giới tác động lẫnnhau thông qua giao lưu văn hóa với nhiều hình thức và con đường khác nhau Bởi

lẽ văn hóa bao giờ cũng mang tính lịch sử cụ thể, một mặt, nó là sản phẩm của sựphát triển kinh tế-xã hội, mặt khác, lại luôn chịu sự tác động của chính bản thânvăn hóa Điều đó khẳng định rằng, Đảng ta xác định lấy văn hóa làm nền tảng tinhthần và động lực cho phát triển xã hội là hoàn toàn phù hợp và đúng đắn Trướcđây, để phát triển kinh tế, người ta thường nhấn mạnh và khai thác yếu tố lao độngcủa con người cho sự phát triển Ngày nay, trong điều kiện của cuộc cách mạngkhoa học và công nghệ hiện đại, yếu tố quyết định cho sự phát triển là trí tuệ, làthông tin, là sáng tạo và đổi mới không ngừng nhằm tạo ra những giá trị vật chất

và tinh thần ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của mỗi ngườicũng như của toàn xã hội

Trong thời đại ngày nay, một nước giàu hay nghèo không chỉ ở chỗ có nhiềuhay ít lao động, vốn, kỹ thuật và tài nguyên thiên nhiên, mà chủ yếu ở chỗ có khảnăng phát huy đến mức cao nhất tiềm năng sáng tạo của nguồn lực con người haykhông? Tiềm năng sáng tạo này nằm trong các yếu tố cấu thành văn hóa, nghĩa làtrong ý chí tự lực, tự cường và khả năng hiểu biết, trong tâm hồn, đạo lý, lối sống,

Trang 34

trình độ thẩm mỹ của mỗi cá nhân và của cả cộng đồng Điều này không phải ngẫunhiên mà có, cũng không phải học được trong thời gian ngắn, mà nó là bản sắc, làđặc trưng của mỗi dân tộc thông qua việc giữ gìn và kế thừa những giá trị của vănhóa truyền thống, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác

Một chính sách phát triển đúng đắn là chính sách làm cho các yếu tố cấuthành văn hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực sáng tạo của con người: văn hóatrong sản xuất, văn hóa trong quản lý, văn hóa trong lối sống, văn hóa trong giaotiếp, văn hóa trong sinh hoạt gia đình, ngoài xã hội, văn hóa trong giao lưu và hợptác quốc tế… Nói cách khác, hàm lượng trí tuệ, hàm lượng văn hóa trong các lĩnhvực của đời sống con người càng cao bao nhiêu thì khả năng phát triển kinh tế - xãhội càng trở nên hiện thực bấy nhiêu Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thịtrường và tham gia hội nhập quốc tế đã tạo cho nền kinh tế Việt Nam có đượcbước phát triển đáng kể, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện,

có mặt được nâng cao và điều này đã có tác động tích cực đối với việc bảo đảm sự

ổn định chính trị - xã hội Đây chính là cơ hội để Việt Nam thực hiện đường lối

“muốn là bạn của tất cả các nước”, phát huy truyền thống lâu đời của dân tộc tronggiao lưu văn hóa

Phải thừa nhận rằng, từ khi đi vào đổi mới và đến khi bắt đầu hội nhập quốc

tế, mà tiêu biểu là gia nhập WTO, thì đất nước ta đã có sự phát triển vượt bật vàkhá toàn diện Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân không ngừng được cảithiện và nâng lên Việt Nam từ một nước nghèo, kém phát triển đã vươn lên thànhnước phát triển trung bình Trình độ dân trí của nước ta đã và đang tiến dần đếnphổ cập trung học phổ thông Điều này chứng minh cho chính sách phát triển đúngđắn đó, trên cơ sở nhận thức đúng về vị trí, thực lực của Việt Nam trong hội nhậpcùng với một thái độ hợp lí khi nhìn nhận về thuận lợi và khó khăn khi gia nhậpvào kinh tế quốc tế, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước

Những hoạt động kinh tế trong toàn cầu hóa như: tự do thương mại và đầu

tư, sự hoạt động mạnh mẽ của các công ty xuyên quốc gia, việc chuyển giao khoahọc-công nghệ, xuất khẩu lao động,… đã làm cho số lượng người, hàng hóa, sảnphẩm công nghệ,… mang những yếu tố văn hóa được lưu chuyển từ nước nàysang nước khác ngày càng nhiều, thông qua đó mà giá trị văn hóa truyền thống của

Trang 35

các dân tộc có cơ hội tiếp xúc, giao lưu nhiều hơn, và cũng tiếp biến nhiều hơn.Đây là vấn đề khách quan và cũng là sự cần thiết phải có để mỗi dân tộc có thể hộinhập quốc tế một cách có hiệu quả cao nhất Và đấy không chỉ là nhu cầu tự thâncủa văn hóa và giá trị văn hóa truyền thống, mà là sự đòi hỏi của nền kinh tế thịtrường mang tính toàn cầu hiện nay Đồng thời đó, phải công nhận rằng, việc sảnxuất và kinh doanh những sản phẩm văn hóa, du lịch không chỉ vì mục đích muốngiới thiệu, quảng bá nền văn hóa của một dân tộc mà xét đền cùng, đó là vì lợinhuận

Theo báo cáo phát triển người của UNDP năm 1999, từ 1980 đến 1998, cácsản phẩm và dịch vụ văn hoá tăng lên gấp 5 lần Trong quá trình toàn cầu hoá,công nghiệp văn hoá trở thành một ngành kinh tế; các dịch vụ và sản phẩm vănhoá như là một bộ phận của nền kinh tế toàn cầu Năm 2000, gần một nửa nhữngngành công nghiệp văn hoá được đặt cơ sở tại Mỹ, 30% được đặt tại châu Âu vàphần còn lại đang có mặt ở châu Á Về mặt phim ảnh, 85% các bộ phim có mặttrên thế giới được sản xuất ở Hollywood, trong khi đó ở châu Phi, mỗi năm trungbình chỉ có 42 bộ phim được xuất xưởng Ở Chi Lê và Costa Rica, 95% các bộphim được nhập khẩu từ Mỹ, và ngành này của Mỹ có tổng thu nhập lên tới 30 tỷUSD năm 1997 [03, tr.167]

Việt Nam, mặc dù có một nền văn hóa lâu đời và đa dạng, nhưng nhìn chungngành công nghiệp điển ảnh gần như còn bỏ ngỏ, tuy nhiên về lĩnh vực du lịch thìngày càng tăng trưởng khá Tuy nhiên, có điều thú vị là, riêng năm 2010, chúng ta

đã đón hơn 05 triệu lượt khách quốc tế, tổng doanh thu do du lịch mang lại gần 96ngàn tỷ đồng, chiếm tỷ lệ tương đương 4,5% tổng GDP năm 2010 của cả nước.Điều này khẳng định là, văn hóa Việt Nam nói chung (vật thể và phi vật thể) cũngnhư những truyền thống văn hóa - lịch sử nói riêng của con người Việt Nam chúng

ta có giá trị rất lớn, có sức hút mạnh mẽ đối với thế giới Hội nhập, là cơ hội tốtcho chúng ta quảng bá văn hóa nước nhà, đồng thời cũng thuận lợi cho giao lưu,tiếp thu, bổ sung, hoàn thiện làm phong phú hơn, giàu hơn bản sắc văn hóa dântộc, và cũng là góp phần cho phát triển kinh tế của đất nước

+ Hội nhập mở ra cơ hội giao lưu, hợp tác quốc tế về văn hóa cũng là gópphần tích cực trong việc nâng cao trình độ tư duy khoa học của xã hội công

Trang 36

nghiệp, thể hiện ở việc phổ biến giá trị văn hóa, các loại hình hoạt động văn hóamới phục vụ tốt hơn cho việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân;

Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân

tộc; văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực phát triển xã hội; phát triển kinh tế

đi đôi với nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân là phát triển bền vững Đó làxác định và khẳng định của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình hội nhập quốc tế.Chúng ta đều biết rằng, khi nói dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc, trong xu thếhội nhập quốc tế như hiện nay thì rất khó thể tách khỏi mối quan hệ này với thếgiới Và chúng ta cũng đang chứng kiến xu thế toàn cầu hóa đời sống con người

Đó là xu thế khách quan, tất yếu mang tính thời đại, trước hết trong lĩnh vực kinh

tế Xu thế này tạo điều kiện cho các quốc gia, dân tộc xích lại gần nhau, kéo gầnkhoảng cách địa lí, và cả vị thế của nhau trên trường quốc tế qua việc hỗ trợ, giúp

đỡ lẫn nhau trên tinh thần hợp tác cùng có lợi

Việc giao lưu văn hóa giữa các dân tộc trong xu thế hội nhập quốc tế có ýnghĩa đặc biệt quan trọng, bởi nó không chỉ làm phong phú thêm hệ giá trị truyềnthống của văn hóa của mỗi dân tộc, mà trên cơ sở đó, còn là động lực cho sự pháttriển kinh tế Chúng ta đã từng nghe rằng, khi giải thích về sự phát triển thần kýcủa Nhật Bản và những nước được mệnh danh là “con rồng châu Á”, đã có không

ít học giả cho rằng Nhật bản đã vận dụng công thức “Tinh thần Nhật Bản + Côngnghệ phương Tây”, nghĩa là những giá trị tinh thần “nguyên chất Nhật Bản”, haycũng có thể nói rộng hơn là châu Á, là động lực tinh thần duy nhất cho sự bức phákinh tế của Nhật Bản Tuy nhiên, xét đến cùng, không hẳn là vậy Bởi khi khi nói

“tinh thần” và “công nghệ” là hai yếu tố riêng biệt thì không xác đáng, nếu khôngmuốn nói là sai lầm và phiến diện Vì thực ra, trong thành tựu của “công nghệphương Tây” ấy, đã chứa đựng trong nó kết quả của một hệ thống các giá trị, quanniệm về tự nhiên, về lao động, về tư duy và phong cách làm việc,… của ngườiphương Tây rồi Như vậy, vô hình chung, Nhật Bản cũng như các nước châu Á đã

ít nhiều khi đã tiếp nhận “công nghệ phương Tây” cũng đã tiếp nhận những “giá trịtinh thần” của người phương Tây một cách tương ứng

Thật vậy, lĩnh vực sản xuất vật chất đơn thuần cũng hàm chứa trong nónhững nội dung văn hóa, phản ánh đặc tính văn hóa của con người, của cộng đồng

Trang 37

người trong lĩnh vực sản xuất vật chất đó Một sản phẩm vật chất cụ thể bao giờcũng kết tinh những giá trị văn hóa nào đó Một công ty liên doanh kinh tế khôngphải đơn thuần chỉ có nội dung kinh tế mà chứa đựng trong đó những giá trị vănhoá, những mối quan hệ văn hóa giữa các bên liên doanh: văn hóa giao tiếp, ứngxử; văn hóa sản xuất, kinh doanh và cả những yếu tố chính trị - tư tưởng Sự tácđộng của quá trình này đối với văn hóa vừa biểu hiện trên các lĩnh vực kinh tế,thương mại và các lĩnh vực khác, vừa trực tiếp tác động đến văn hóa, đến các giátrị văn hóa, đến phong tục tập quán, các giá trị truyền thống và các thiết chế vănhóa của xã hội… mà hiện nay chúng ta khó có thể dự lường hết được.

Vì thế, cần phải tận dụng mọi điều kiện có lợi do xu thế này tạo ra, đặc biệt

là tranh thủ những khả năng vật chất, kỹ thuật, công nghệ, những kinh nghiệm vàtri thức hiện đại rất cần thiết cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong xuthế toàn cầu hóa ngày nay, cũng như nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII của Đảng

đã xác định: làm tốt việc giới thiệu vǎn hóa, đất nước và con người Việt Nam vớithế giới; tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân vǎn, khoa học, tiến bộ của nướcngoài Phổ biến những kinh nghiệm tốt xây dựng và phát triển vǎn hóa của cácnước là một giải pháp trước mắt cũng như lâu dài, vừa bảo tồn và phát huy bản sắcvăn hóa dân tộc, vừa tiếp thu những tinh hoa, tiến bộ của khoa học-công nghệ quagiao lưu hội nhập văn hóa trong quá trình hội nhập quốc tế của đất nước

+ Thuận lợi trong giúp cho việc bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bảnpháp lí về văn hóa trong nước cũng như trong giao lưu hợp tác quốc tế, đảm bảotốt hơn cho quyền bình đẳng cũng như trong giao lưu văn hóa, quảng bá nhữngtinh hoa, giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc

Có thể nói, thông qua toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, mỗi nền văn hóa củadân tộc đếu có cơ sở và cơ hội xích lại gần nhau, tạo cơ hội cho các dân tộc gầngũi, thông hiểu nhau Thông qua đó, mỗi dân tộc có thể “cho và nhận”, nghĩa là cóthể học tập, tiếp thu những giá trị tinh hoa của nhau làm phong phú thêm hệ giá trịvăn hóa truyền thống của dân tộc mình Không chỉ vậy, thông qua giao lưu vănhóa như vậy, mỗi dân tộc có thể nhận thấy những yếu tố, hạn chế, lỗi thời, lạc hậutrong truyền thống của dân tộc so với dân tộc khác và thời đại, từ đó có thể thẳngthắn nhìn nhận và mạnh dạn phá bỏ, bổ sung hoặc hiện đại hóa để phù hợp với sự

Trang 38

phát triển trong xu thế mới Đây chính là quá trình đấu tranh giữa hệ giá trị củavăn hóa truyền thống của các dân tộc riêng biệt để hình thành nên những chuẩn giátrị phổ biến phù hợp với yêu cầu của thời đại Đồng thời đó, đến lực mình, các giátrị văn hóa mới được hình thành và được chấp nhận sẽ kết hợp với những giá trịtruyền thống làm phong phú thêm hệ giá trị văn hóa dân tộc, thậm chí là còn cảitạo cả những yếu tố không còn phù hợp của truyền thống văn hóa nhằm làm chogiá trị truyền thống văn hóa dân tộc phát triển theo hướng tích cực.

Văn hóa, cũng như các lĩnh vực khác, chịu sự tác động sâu sắc của quá trìnhtoàn cầu hóa kinh tế Bản thân văn hóa không chỉ thể hiện ở những sản phẩm vănhóa tinh thần, trong các hoạt động văn hóa tinh thần mà còn ẩn chứa bên trong tất

cả các hoạt động của đời sống xã hội, trong tất cả các nhóm dân cư, trong đời sốngtâm lý, tình cảm, tư tưởng của con người, trong các thể chế chính trị - xã hội củađất nước Giao lưu trong nền kinh tế thị trường, văn hóa trở thành “hàng hóa đặcbiệt” Khi thừa nhận tích chất hàng hóa của văn hóa giúp cho mỗi quốc gia, nhất làcác nước đang phát triển như Việt Nam có định hướng và đổi mới chính sách đốivới các hoạt động văn hóa phù hợp với nền kinh tế thị trường và hội nhập với thếgiới

Chính vì thế, trong một văn bản chính thức của Đảng – Nghị quyết Trungương 5 khóa VIII –nghị quyết chuyên đề về văn hóa, đã khẳng định:

bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu

có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong vǎn hóa các dân tộc khác.Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trongphong tục, tập quán, lề thói cũ [30]

bảo tồn và phát huy những di sản vǎn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng tạonên những giá trị vǎn hóa mới, xã hội chủ nghĩa, làm cho những giá trị ấythấm sâu vào cuộc sống toàn xã hội và mỗi con người, trở thành tâm lý vàtập quán tiến bộ, vǎn minh là một quá trình cách mạng đầy khó khǎn,phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian Trong công cuộc đó, "xây" đi đôi với

"chống", lấy "xây" làm chính Cùng với việc giữ gìn và phát triển những

di sản vǎn hóa quý báu của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa vǎn hóa thế

Trang 39

giới, sáng tạo, vun đắp nên những giá trị mới,…[ 29] Trich nghi quyết

TW 5

Hoàn chỉnh các vǎn bản luật pháp về vǎn hóa, nghệ thuật, thông tin trongđiều kiện của cơ chế thị trường; ban hành các chính sách khuyến khíchsáng tạo vǎn hóa và nâng mức đáp ứng nhu cầu hưởng thụ vǎn hóa củanhân dân [31] Trich nghi quyết TW 5

Với nhận thức như vậy, logic của vần đề là, văn hóa nằm trong kinh tế,trong chính trị, trong pháp luật, trong mọi lĩnh vực hoạt động và tổ chức quản lí xãhội, và như thế, bản thân văn hóa đã có hai nghĩa: một là, bản thân mỗi lĩnh vựcdựa trên truyền thống, có văn hóa riêng của mình, như văn hóa sản xuất-kinhdoanh, văn hóa lao động, văn hóa chính trị, văn hóa quản lí,…; hai là, hoạt động

và kết quả hoạt động của mỗi lĩnh vực đều tác động qua lại với đời sống văn hóatinh thần chung của xã hội, và có thể nói là phải chịu dưới sự kiểm định gắc gaocủa văn hóa truyền thống-những chuẩn mực, đạo đức chung của xã hội Kinh tếphát triển, đời sống vật chất được cải thiện thì đời sống văn hóa tinh thần cũngđược nâng cao; nếu kỷ cương phép nước không nghiêm, văn bản pháp luật khôngtoàn diện bao quát thì tự nó đã biểu hiện văn hóa pháp trị thấp Do đó, giao lưu,hội nhập quốc tế là môi trường, hay cũng có thể nói là “ngôi trường” tốt cho việctiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới, hoàn thiện thể chế nhà nước nói chung cũng nhưchính sách về bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc nói riêngtrong xu thế toàn cầu hóa hiện nay Và cho đến những năm gần đây, Việt Nam đã

có quan hệ giao lưu với trên 170 nước và có quan hệ hợp tác về văn hóa với hơn

60 nước; đã ký kết nhiều dự án hợp tác về văn hóa và cũng thu hút được một lượngvốn không nhỏ đầu tư từ nước ngoài Đồng thời, nước ta đã là thành viên của các

tổ chức quy mô khu vực và quốc tế như: APEC (Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á –Thái Bình Dương), ASEAN (Hiệp hội các nước Đông nam Á), AFTA (Khu vực tự

do mậu dịch Bắc mỹ), WTO (Tổ chức thương mại quốc tế), ASEM (Tổ chức hợptác Á – Âu)Liên hiệp quốc,… đấy là điều kiện thuận lợi đễ Việt Nam học hỏi, tiếpthu những tiến bộ và quảng bá hình ảnh đất nước ra thế giới trong quá trình hộinhập quốc tế

Trang 40

- Mặt tiêu cực của toàn cầu hóa trong quá trình hội nhập quốc tế đối với giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc và nguyên nhân

Sự tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại trong quá trình hội nhập là điều

vô cùng thuận tiện và đáng quý để làm giàu thêm bản sắc, vốn văn hóa truyềnthống của dân tộc Nhưng có một thực tế khó phụ nhận là, khi nền kinh tế mở cửa

để hội nhập với quốc tế thì nó không chỉ đón những làn gió mát, trong lành, tiếpnhận những điều tốt, cái đẹp cái hay mà nó còn phải đương đầu, đố mặt với nhữngcơn gió độc, những đều dỡ, cái tệ Trong quá trình giao lưu văn hóa ưu thế đangthuộc về các nước phát triển, bởi nền văn hóa của các nước này đang được hậuthuẫn bởi sức mạnh vật chất to lớn Vì vậy, những giá trị văn hóa truyền thống dântộc của các nước nghèo, chậm phát triển hoặc hay đang phát triển rất dễ bị lấn átbởi những tác động từ bên ngoài dễ dẫn đến mất đi bản sắc riêng có của dân tộc

+ Hội nhập kinh tế quốc tế, giao lưu hội nhập văn hóa là điều kiện đễ pháttriển kinh tế, xây dựng xã hội tốt đẹp, hướng tới mục đích vì cuộc sống tốt đẹp củamỗi người Tuy nhiên sẽ khó tránh khỏi việc không đảm bảo chất lượng về bản sắcvăn hóa dân tộc do thương mại hóa đồng thời với đó là tiếp nhận sản phẩm vănhóa bên ngoài tràng lan, thiếu tính chọn lọc, không phù hợp với thuần phong mỹtục, văn hóa đạo đức của người Việt Nam Bời vì, như chúng ta đã biết, thang giátrị vá chuẩn mực giá trị ở các thời đại khác nhau, của các dân tộc khác nhau khônghoàn toàn giống nhau Trong khí đó, với khả năng kha chênh lệch trong lĩnh vựcthông tin đại chúng như hiện nay thì sự áp đặt về thông tin, về giá trị, về chuẩnmực giá trị sống của con người của một số nước này lên một số nước khác là mộtthực tế

Bên cạnh đó, đối với một số nước đang phát triển, do đời sống nhân dân cònnhiều khó khăn, như Việt Nam chúng ta chẳng hạn, thì trình độ nhận thức củangười dân còn nhiều hạn chế nên sẽ gặp khó khăn trong nhận thức và nhận diệnđâu là giá trị, đâu là phản giá trị và dễ nhầm lẫn trong chọn lựa và tiếp thu giá trịvăn hóa ngoại nhập Đây chính là mãnh đất màu mỡ để những giá trị văn hóa xa lạ,không phù hợp của bên ngoài lấn át, thậm chí là làm xói mòn, băng hoại những giátrị truyền thống của văn hóa dân tộc Đó chính là nguy cơ đồng hóa văn hóa trong

xu thế thế toàn cầu hóa khi hội nhập bởi quốc tế

Ngày đăng: 25/03/2016, 23:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w