1. Lý do chọn đề tài:Chèo là môn nghệ thuật truyền thống của dân tộc Việt Nam, được sinh ra ở vùng đồng bằng Bắc bộ. Từ những sáng tác dân gian, Chèo đã được ông cha ta bồi đắp, tạo thành một hình thức nghệ thuật sân khấu mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc. Cùng với các thành tố khác như hát, múa, diễn mỹ thuật đã sớm trở thành một phần quan trọng trong quá trình hình thành và biến đổi của nghệ thuật Chèo. Khi tìm hiểu về Chèo sân đình chúng ta được biết rằng, sân khấu tức nơi trình diễn trò của các nghệ sĩ rất thô sơ (chỉ là 4 chiếc chiếu điều ghép lại), với một tấm màn nâu chăng ngang phía sau tạo thành bức “phông hậu” ngăn cách giữa buồng trò và nơi trình diễn trò. Trang phục của diễn viên hầu như chỉ là những trang phục thường ngày, diễn viên lên sân khấu cũng hoá trang theo nhân vật nhưng không quá cầu kỳ, chỉ có những vai Hề là hoá trang “nặng” theo kiểu “vẽ mặt gây cười”. Ngoài ra, sân khấu Chèo cổ diễn ở sân đình không có phông màn cảnh trí.
Trang 1Bộ giáo dục - đào tạo Bộ văn hoá , thể thao và du lịchTrờng đại học sân khấu & điện ảnh hà nội
Trần Đức Minh
Một số khuynh hớng thiết kế
Mỹ thuật trong chèo
luận VĂN thạc sĩ nghệ thuật sân khấu
Trang 2Chuyªn ngµnh : Lý luËn phª b×nh s©n khÊu
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Chèo là môn nghệ thuật truyền thống của dân tộc Việt Nam, được sinh ra
ở vùng đồng bằng Bắc bộ Từ những sáng tác dân gian, Chèo đã được ông cha
ta bồi đắp, tạo thành một hình thức nghệ thuật sân khấu mang đậm bản sắcvăn hoá dân tộc
Cùng với các thành tố khác như - hát, múa, diễn - mỹ thuật đã sớm trởthành một phần quan trọng trong quá trình hình thành và biến đổi của nghệthuật Chèo
Khi tìm hiểu về Chèo sân đình chúng ta được biết rằng, sân khấu tức nơitrình diễn trò của các nghệ sĩ rất thô sơ (chỉ là 4 chiếc chiếu điều ghép lại),với một tấm màn nâu chăng ngang phía sau tạo thành bức “phông hậu” ngăncách giữa buồng trò và nơi trình diễn trò Trang phục của diễn viên hầu nhưchỉ là những trang phục thường ngày, diễn viên lên sân khấu cũng hoá trangtheo nhân vật nhưng không quá cầu kỳ, chỉ có những vai Hề là hoá trang
“nặng” theo kiểu “vẽ mặt gây cười” Ngoài ra, sân khấu Chèo cổ diễn ở sânđình không có phông màn cảnh trí
Với một sân khấu như vậy, người ta có thể lầm tưởng rằng sự có mặtcủa yếu tố mỹ thuật là không đáng kể trên sân khấu Chèo xưa, nhưng thực
tế, những khía cạnh của yếu tố mỹ thuật đã nằm ngay trong cách ăn mặc,hoá trang của các diễn viên, yếu tố mỹ thuật tồn tại ngay trong lời thoại củanhân vật
Càng về sau này, cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu thẩm mỹcủa khán giả ngày càng tăng, đòi hỏi tính chuyên sâu của các thành phầnnghệ thuật trở thành cấp thiết, mỹ thuật đã dần trở thành một lĩnh vựcchuyên môn có vị trí độc lập tương đối trong mỗi vở Chèo
Trang 4Mỹ thuật Chèo truyền thống bao gồm nhiều bộ phận: địa điểm trình diễn,nơi diễn trò (sân khấu), trang phục, hoá trang, đạo cụ… Mỗi bộ phận có chứcnăng riêng nhưng thống nhất ở phương pháp thể hiện Cũng như tất cả cáchình thức sân khấu khác, Chèo là môn nghệ thuật mang tính chất nghe - nhìn.
Mỹ thuật Chèo là một trong những yếu tố cấu thành quan trọng góp phần làmnên yếu tố “nhìn”, đóng góp một phần hiệu quả nghệ thuật cho vở diễn Tuy có tầm quan trọng như vậy, nhưng dường như trong suy nghĩ củakhông ít người, mỹ thuật trong Chèo chỉ có vai trò thứ yếu Do đó, khâu mỹthuật chưa được quan tâm đúng mức trong quá trình sáng tạo cũng như đúckết lý luận cho nghệ thuật thiết kế mỹ thuật sân khấu nói chung, sân khấuChèo nói riêng
Vì vậy, việc tìm hiểu những thành công, những hạn chế của các khuynhhướng thiết kế mỹ thuật trong Chèo để từ đó tìm ra cách khắc phục nhượcđiểm, phát huy ưu điểm, xác định hướng đi đúng đắn cho những sáng tạo mới
đó trở thành yêu cầu bức thiết đối với các hoạ sĩ nói riêng và những ngườilàm Chèo nói chung
Hoạ sĩ Lê Huy Quang trong một bài đăng trên tạp chí Văn hóa Nghệthuật đã viết - Với mỹ thuật sân khấu, tuy đã đạt một số hiệu quả nhất định,nhưng như một số bài báo đã lên tiếng thì chúng ta lo nhiều hơn mừng, vì rấtnhiều vở diễn vẫn đưa đẩy lên sân khấu bục bệ phông cảnh (mềm và cứng),lối vẽ tả thực quá chi tiết, rườm rà, rối rắm, vừa không tạo được không giandiễn xuất cho diễn viên, vừa đi ngược lại những nguyên lý cơ bản của nghệthuật chèo - Đó là chất tự sự, trữ tình, tả ý, đó là cách điệu, ước lệ, tượngtrưng chứ không phải là quá nệ thực, cố tình hoành tráng, nên đã làm cho sânkhấu cồng kềnh, nặng nề và còn tốn kém về mặt kinh phí
Chúng ta ghi nhận những công lao đóng góp của nhiều thế hệ họa sĩ đã
giúp cho chèo có thêm vẻ đẹp Nhưng, một thực tế cho thấy kể từ sau những
Trang 5năm 1990 trở lại đây, chất lượng của mỹ thuật đã có dấu hiệu giảm sút rõ rệt.Đội ngũ họa sĩ sân khấu thưa dần, tác phẩm trang trí sân khấu thiếu sự đầu tưtrí tuệ, đi theo lối mòn, thậm chí trở thành quá dễ dãi
Tình trạng xem thường vai trò của mỹ thuật trong vở diễn còn dẫn tớiviệc một số đoàn trong quá trình dựng vở mới đã không cần làm thiết kế mỹthuật mà tận dụng phông cảnh, trang phục của các vở cũ để gia công lắp rápvào tiết mục mới Với cách làm như vậy, thành ra những năm gần đây không
có được mấy vở có thiết kế mỹ thuật khả dĩ đem lại ấn tượng mạnh mẽ chokhán giả
Như vậy, có thể nói rằng đến tận hôm nay, không ít các họa sĩ vẫn cònkhá lúng túng trong việc xác định được một phong cách theo khuynh hướngthiết kế mỹ thuật cho chèo Giải quyết vấn đề này đòi hỏi người hoạ sĩ phải cóbản lĩnh vững vàng trong sáng tạo nghệ thuật, cũng như trong quá trình tiếpthu, học hỏi những tinh hoa của các khuynh hướng thiết kế mỹ thuật Chèo,theo một hệ thống những nguyên tắc độc đáo của nó, nhận thức sâu sắc để từ
đó sáng tạo nên những tác phẩm mới có giá trị, đóng góp cho sự nghiệp bảotồn và phát triển nghệ thuật Chèo Đó là việc làm tất yếu phù hợp với quy luậtcủa phát triển nghệ thuật nói chung, nghệ thuật Chèo nói riêng
Quan Âm Thị Kính vào năm 1956 Nhóm họa sĩ tham gia công trình
gồm Sỹ Ngọc, Quang Phòng và Nguyễn Đình Hàm Cả ba đều tốtnghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương, và từ vốn hiểu biết sâu sắc về
mỹ thuật cổ Việt Nam đã cống hiến từ những năm đầu ấy một bộ mẫu
Trang 6hình phục trang và hóa trang về một loạt những hình tượng nhân vật
chèo cổ và một bộ trang trí Quan Âm Thị Kính có thể coi là cổ điển
cho một trò diễn chèo trên sân khấu hộp” [tr 5 30]
Từ mốc lịch sử ấy, về sau chúng ta có các công trình nghiên cứu tiêu biểu
“Bàn về tính dân tộc và hiện đại trong không gian sân khấu truyền thống” củaHọa Sỹ Hà Quang Sơn (2002), “Mỹ thuật Chèo truyền thống” của Họa sĩ DânQuốc (2007), “Mỹ thuật sân khấu Chèo 1990 – 2000” của Họa sĩ Lê Quân(2000) Nghiên cứu về mỹ thuật sân khấu nói chung chúng ta có các côngtrình: “Sự hình thành và phát triển của Mỹ thuật sân khấu Kịch nói” của Họa
Sỹ Phùng Huy Bính (2003), “Không gian và thời gian sân khấu” của Họa Sĩ
Hà Quang Sơn (2007), “Tìm hiểu mỹ thuật sân khấu” của nhóm tác giả, ĐỗHữu chủ nhiệm đề tài (2003)…cùng đó là nhiều bài viết về mỹ thuật chèo, mỹthuật sân khấu truyền thống của Đoàn Thị Tình, Phan Cẩm Thượng, NguyễnQuân…Đó là những tư liệu hết sức quý báu, mang tính “dẫn đường” cho luận
văn Một số khuynh hướng thiết kế mỹ thuật trong chèo
3 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của phương pháp sáng tạo nghệthuật Chèo, trên cơ sở các nguyên tắc trong sáng tạo thiết kế mỹ thuật sânkhấu Chèo, luận văn phân tích, đưa ra một số khuynh hướng chính trong sựphát triển của thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo Nhằm mục đích phát hiệnnhững cái hay, cái đẹp của các khuynh hướng thiết kế mỹ thuật đó; đối chiếu
so sánh để kế thừa những giá trị thẩm mỹ, với thái độ nghiêm túc cầu thị “họcxưa vỡ nay”
Thông qua những phân tích về yếu tố thiết kế mỹ thuật Chèo ở một số
vở diễn cụ thể, rút ra những nguyên nhân thành công và chưa thành côngtrong từng khuynh hướng đó
4 Phạm vi nghiên cứu:
Trang 7Như tên của đề tài đó xác định, luận văn này chỉ giới hạn phạm vi nghiêncứu là một số các khuynh hướng thiết kế mỹ thuật trong Chèo, dựa trên những
vở tiêu biểu cho các khuynh hướng thiết kế đó
Trên cơ sở kế thừa các quan điểm của cha anh trong quá trình nghiên cứu
về mỹ thuật sân khấu Chèo, học viên xây dựng cho mình hướng nghiên cứu
về một số khuynh hướng thiết kế mỹ thuật trong Chèo
5 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp: Phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu, mô tả…
6 Đóng góp của đề tài:
6.1 Đóng góp về mặt lý luận:
- Bước đầu hướng tới những tiền đề lý luận mỹ thuật sân khấu chèo.
Luận văn hy vọng sẽ là một tư liệu tham khảo cho công việc nghiên cứu vàgiảng dạy về thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo
6.2 Đóng góp về thực tiễn:
- Đưa ra diện mạo về các giai đoạn phát triển cũng như một số khuynh
hướng chính của thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo qua các giai đoạn
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục các tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu thành 3 chương chính
Trang 8ch¬ng 1
sù h×nh thµNh vµ ph¸t triÓn cña mü thuËt s©n KhÊu chÌo 1.1 Kh¸i lîc vÒ sù h×nh hµnh vµ ph¸t triÓn nghÖ thuËt ChÌo
Chèo có từ lâu đời, là sản phẩm của người dân lao động hình thànhtrong quá trình lịch sử lâu dài, có nguồn gốc từ nền dân ca, dân vũ, từ cácnghi thức tế lễ, lễ hội dân gian của người Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.Nhiều nhà nghiên cứu đoán định thời điểm ra đời của Chèo cổ vào khoảngcuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV và trưởng thành vào thế kỉ XVI, XVII, pháttriển rực rỡ vào thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX
Theo các tài liệu nghiên cứu, nghệ thuật Chèo có sự gắn bó đặc biệt vớingười nông dân Đồng bằng bắc bộ Xuân thu nhị kỳ, hội hè đình đám, cáccanh hát Chèo đã trở thành món ăn tinh thần của người nông dân Bắc bộ Hátchèo được sinh ra từ đây, được văn hóa Bắc bộ nuôi dưỡng, nó phản ánh tâm
tư nguyện vọng của người dân chế độ xưa Nó phản chiếu đời sống tình cảmhồn hậu của người dân quê mộc mạc Nó được gửi gắp những bài học đạo đứchiếu thuận, thủy chung Nghệ thuật Chèo phản ánh văn hóa sống của conngười nông thôn Việt Nam xưa Đồng thời nó là sản phẩm nghệ thuật diễn kể,hát múa độc đáo chứa đựng bản sắc và tinh thần truyền thống dân tộc Việt
Chúng ta có: Trương Viên; Lưu Bình, DươngLễ;Từ Thức; Quan Âm Thị
Kính; Chu Mãi Thần;Kim Nham; Súy Vân… để tự hào với truyền thống sân
khấu dân tộc của các nước trong khu vực và thế giới
* Các giai đoạn hình thành và phát triển của nghệ thuật chèo
Chúng ta có dấu vết của nghệ thuật Chèo từ kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình)
Ưu bà Phạm Thị Trân, một vũ ca tài ba trong hoàng cung nhà Đinh vào thế kỷ
10 đã dạy binh lính, cung nữ những điệu hát múa…sau phát triển rộng ra
Trang 9đồng bằng Bắc Bộ Nên có ý kiến cho rằng - Chèo bắt nguồn từ âm nhạc vàmúa dân gian, nhất là trò nhại từ thế kỷ 10
Sự kiện bắt Lý Nguyên Cát, một lính của quân Mông – Nguyên sangxâm chiếm nước ta vào thế kỷ 14, Lý Nguyên Cát vốn xuất thân từ một diễn
viên, nên đã dạy binh lính của ta biểu diễn, cũng được cho là có sự ảnh hưởng
trong quá trình phát triển của nghệ thuật Chèo Chèo từ trò nhại, từ dân ca dân
vũ, đã có tích, có trò, trở thành các vở diễn dài, trọn vẹn
Năm 1462, vua Lê Thánh Tôn quy định rằng "Nhà phường chèo con hát
và những kẻ phản nghịch, ngụy quan, có tiếng xấu, bản thân và con cháu đềukhông được đi thi, nếu mang sách hay mượn người làm hộ, thì trị tội theoluật." [27, tr.183] Chèo bị đuổi khỏi kinh thành, trở về với thôn quê và đượcngười dân ưa chuộng ,
"Khoảng năm Cảnh Hưng, phường hát chèo bội mới pha thêm lốituồng, cũng đóng vai trò vẽ mặt ra múa hát đùa cợt, không khác gì ở hítrường Các nhà tang gia hay đua nhau mượn phường chèo đóng tuồng
để khoe khoang Các quan chính phủ ghét hung lễ lại dùng lẫn lộn cảcát lễ, bèn nghiêm cấm, đã hơn mười năm Đến năm Canh Tuất (1790)lại thấy dân gian bày trò hát bội ấy Các con nhà lương gia tử đệ cóngười bỏ cả chức nghiệp đi theo học hát, khăn áo dáng bộ như đàn bà,thường khi ở nhà cũng nghêu ngao tập hát chèo, trước mặt khách cũngkhông thẹn thò gì cả Lại còn trò đánh bạc chọi gà sinh ra nhan nhản.Tập tục đến thế thật đáng buồn!" [8, tr 57]
Các nhà nghiên cứu đã nhận định - Tới thế kỷ 18, hình thức chèo đã đượcphát triển mạnh ở vùng nông thôn Việt Nam và tiếp tục phát triển, đạt đến
Trang 10đỉnh cao vào cuối thế kỷ 19 Những vở nổi tiếng như Quan Âm Thị Kính , Lưu Bình Dương Lễ , Kim Nham , Trương Viên xuất hiện trong giai đoạn này
Chúng ta có các hình thức: Chèo sân đình là hình thức chèo cổ của
những phường chèo xưa, thường được biểu diễn ở các sân đình, sân chùa, sânnhà các gia đình quyền quý Sân khấu chèo sân đình thường chỉ là một chiếcchiếu trải ngoài sân, đằng sau treo chiếc màn nhỏ, diễn viên và nhạc côngngồi hai bên mép chiếu tạo dàn đế Chèo diễn theo lối ước lệ, cảnh trí chỉđược thể hiện theo ngôn ngữ, động tác cách điệu của diễn viên Đạo cụ củangười diễn hay sử dụng là chiếc quạt; Chèo cải lương là một dạng chèo cách
tân do Nguyễn Đình Nghi khởi xướng và theo đuổi để thực hiện từ đầu nhữngnăm 1920 đến trước Cách mạng tháng Tám 1945 Chèo cải lương được soạn
thành màn, lớp, bỏ múa và động tác cách điệu trong diễn xuất; Chèo truyền thống – khôi phục lại các tích chèo cổ trên cơ sở nghiên cứu, kế thừa, bảo tồn
các giá trị nghệ thuật chèo cổ được lưu truyền lại qua các lớp nghệ sỹ diễnviên Chèo Có thể coi sự ra đời của Ban nghiên cứu Chèo (1958) là cột mốc
đánh dấu quá trình khôi phục bảo tồn, phát triển Chèo truyền thống; Chèo hiện đại: Bộ môn nghệ thuật Chèo truyền thống được “hiện đại” để phục vụ
nhiệm vụ văn hóa trong kháng chiến cách mạng Cả nước đồng lòng đấu tranhgiành độc lập, thống nhất đất nước, người nghệ sỹ Chèo không đứng ngoàicuộc Các “chiến sỹ - nghệ sỹ” đã sáng tạo nên Chèo hiện đại trên cơ sở kếthừa các thủ pháp diễn, hát, múa…chèo truyền thống nhưng phản ánh đờisống con người mới, chứ không phải truyện người xưa tích cũ Mở màn cho
giai đoạn Chèo hiện đại là các vở Chị Tấm anh Điền, Con trâu hai nhà…
Ngày hôm nay, chúng ta vẫn có những hướng bảo tồn và phát triển bộmôn nghệ thuật chèo trên cơ sở kế thừa truyền thống và phát huy tinh thầnnghệ thuật Chèo truyền thống trong mảng đề tài hiện đại của nghệ thuật Chèo
Trang 111.2 Vai trò của thiết kế mỹ thuật sân khấu trong nghệ thuật Chèo
1.2.1 Vài nét về mỹ thuật sân khấu
Sân khấu là môn nghệ thuật tổng hợp, bên cạnh nghệ thuật biên kịch, đạodiễn, diễn viên thì âm nhạc và mỹ thuật là những thành phần không thể thiếutrong một vở diễn Mỹ thuật tham gia vào vở diễn với tư cách là mỹ thuật sânkhấu Nói một cách khác là mỹ thuật đã được sân khấu hoá, mỹ thuật bướcvào sân khấu và tuân thủ các tính chất của mỹ thuật sân khấu
Mỹ thuật sân khấu bao gồm: cảnh trí sân khấu, phục trang nhân vật, hoátrang nhân vật, đạo cụ …
Mỹ thuật sân khấu góp phần tạo nên những quy định về không gian, địađiểm của vở diễn (kịch đang diễn ra ở đâu); Mỹ thuật sân khấu góp phần tạonên thời gian sân khấu (kịch đang diễn ra vào mùa nào: xuân, hạ, thu, đông…,cảnh kịch đang diễn ra vào sáng, trưa, chiều, tối…); Mỹ thuật sân khấu gópphần làm nổi bật tính chất bi, hài, lãng mạn…trong vở diễn; Mỹ thuật sânkhấu góp phần vào sáng tạo trong nghệ thuật biểu diễn của diễn viên; Mỹthuật sân khấu tạo hứng thú đối với cảm xúc thẩm mỹ của khán giả xem nghệthuật sân khấu…
1.2.2 Vai trò của thiết kế mỹ thuật sân khấu trong nghệ thuật Chèo
Từ buổi sơ khai hình thành, mỹ thuật đã tồn tại với tư cách là một thànhphần của nghệ thuật Chèo Ta đã biết, Chèo được sinh ra và phát triển từ tròdiễn dân gian ở vùng quê Châu thổ sông Hồng, nên Chèo mang bản sắc vănhoá Đồng Bằng Bắc Bộ - giản dị nhưng sâu sắc tinh tế Nghệ thuật Chèo nói
chung, mỹ thuật sân khấu Chèo nói riêng không ồn ào, hào nhoáng, mà chắt
lọc, giản dị đi vào chiều sâu, đi vào cốt lõi của tinh thần nghệ thuật Chèo Theo NSƯT, Hoạ Sỹ Dân Quốc:
“Chèo là môn nghệ thuật dân gian của những người dân quê chân lấmtay bùn nên điều kiện vật chất eo hẹp Cộng thêm ảnh hưởng sâu sắc
Trang 12của phong cách ước lệ trong nghệ thuật biểu diễn, nên phần mỹ thuậttrong Chèo được giản lược đến mức tối đa, theo xu hướng chắt lọc, côđọng Cho đến những năm đầu thế kỷ XX, bối cảnh của một đêm diễnChèo vẫn chỉ vẻn vẹn có một hòm đồ đặt giữa chiếc chiếu đại, phía sau
có một tấm phông ngăn cách buồng trò với nơi biểu diễn”[29, tr 23] Thiết kế Mỹ thuật sân khấu Chèo là một phần của nghệ thuật Chèo Nói cáchkhác, nó là một bộ phận của bộ môn nghệ thuật đồng cấu tạo bởi các hìnhthức nghệ thuật khác nhau
Thiết kế Mỹ thuật sân khấu Chèo không chỉ đơn thuần là cảnh trí, phôngphi, bục bệ…các điều kiện hỗ trợ cho nghệ thuật biểu diễn, mà tự thân nó
cũng góp lên tiếng nói nghệ thuật của vở - tiếng nói của màu sắc, đường nét,
phối cảnh…qua đó người xem cảm nhận được tinh thần quán xuyến của tác
phẩm – thể tài (bi, hài, chính kịch…) của vở Chèo.
Thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo, bản thân nó là một tác phẩm nghệ
thuật độc lập trong tính chất tổng hợp của nghệ thuật Chèo Khán giả xem
Chèo, cũng còn xem mỹ thuật của vở Chèo Từ cách bài trí, từ phối cảnh từđường nét, màu sắc…người xem cảm nhận được cái tài của họa sỹ thiết kế vàthái độ của anh đối với tác phẩm với vở Chèo
GS Trần Bảng đã viết: “Có thể nói rằng: thuộc về một loại sân khấu tổngthể (Theatretotal) Nghệ thuật Chèo đã hội tụ ở nơi mình tinh hoa của cả nềnvăn hóa gốc gác lâu đời của lưu vực sông Hồng” [2, tr.7] – từ đây ta cũng cónhận định – thiết kế Mỹ thuật sân khấu Chèo góp phần tạo nên màu sắc tinh
hoa của nền văn hóa có gốc gác lâu đời của lưu vực sông Hồng.
1.3 Các giai đoạn phát triển của thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo
1.3.1 Thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo cổ
Họa sỹ NSND Nguyễn Đình Hàm đã có những đúc kết về Mỹ thuật sânkhấu Chèo cổ:
Trang 13“Chèo là một hình thức sân khấu dân gian của ta từ xưa Không có trangtrí bối cảnh sân khấu, điều kiện biểu diễn ở chòi hay bục sân đình trongphạm vi từ ba đến bốn thước vuông trên một chiếu hoa Dàn nhạc đơn
sơ, người hát đế, người đánh trống ngồi hai bên chiếu Đầu chiếu métrong kê một hòm vuông đựng đồ nghề Sau hòm có chăng một sợi dâyngang, trên vắt phục trang đồng thời là màn hậu ngăn đôi sân khấu vớibuồng trò Đôi hòm vuông của Chèo ngày xưa rất quan trọng và cầnthiết Trên dọc đường lưu động, nó là rương là hòm đựng toàn bộ đồnghề Khi biểu diễn nó là vật trang trí, đồng thời là đạo cụ Nó là bànghế, là án thư, có khi là núi là đèo hay cũng có thể là thuyền là sập”[25, tr.7-8]
Chúng ta thấy mỹ thuật trong Chèo cổ thật đặc biệt bởi tính chất đơn sơ,giản dị Nhưng qua đó cũng toát lên tinh thần của nghệ thuật Chèo, tinh thầncủa văn hóa nông thôn Bắc Bộ xưa – đó là chọn tinh chứ không chọn thô, lấyđiểm tả diện, lấy cái tượng trưng để biểu biện cái toàn thể, cốt gạn cho đượccái thần, cái hồn chứ không dừng lại ở hình thức bề ngoài…
Người nghệ sỹ Chèo xưa lựa chọn cho mình không gian biểu diễn nơi
sân đình, chọn cho mình tấm chiếu điều để làm sàn diễn, chọn tấm màn hậu
mầu nâu, chọn cái hòm đồ, chọn cái quạt …để rồi tung hoành hát múa, diễn
kể hóa thân trong các nhân vật Đó là sự lựa chọn, chọn lọc một cách có chủđích, bởi đó là những không gian, đồ vật gắn chặt với đời sống người dânnông thôn đồng Bằng Bắc bộ
Đình làng, nơi sinh hoạt cộng đồng, nơi diễn ra những hoạt động tinhthần tín ngưỡng; chiếc chiếu gắn với những giấc ngủ thư thái, thảnh thơi saumột ngày lao động cấy cày, tấm màn nâu giản dị làm vật ngăn chia các khônggian sống trong ngôi nhà Việt truyền thống Đồng bằng Bắc bộ, rồi chiếc hòm
đồ, sản vật có giá trị cất giữ những vật phẩm thiết yếu trong nhu cầu sinh
Trang 14hoạt, trong cuộc sống thường nhật, cái quạt che đầu khi nắng mưa, làm mátnhững trưa hè nồng nực, quạt che nụ cười duyên của nàng thiếu nữ, quạt dùng
để đề những vần thơ ngẫu hứng của văn nhân… Tất cả đều quen thuộc, gầngũi với cuộc sống của người dân Việt Bắc bộ truyền thống Tất cả đều toátnên sự yên bình trong lành nhưng nên thơ như đã được đúc kết trong quang
cảnh của làng cảnh Bắc bộ - cây đa, giếng nước, sân đình…
Từ cuộc sống thường ngày, những không gian, đồ vật giản dị bước vào
sân khấu Chèo với tất cả tâm tư, tình cảm nguyện vọng của con người, nhữngngười dân là chủ của bộ môn nghệ thuật truyền thống dân tộc – nghệ thuậtChèo
Cặp chiếu điều, tấm màn hậu ngăn buồng trò và sàn diễn, cái hòm đồ, cáiquạt…trong thiết kế mỹ thuật Chèo cổ đã vượt thời gian, trở thành những biểutrưng mỹ thuật Chèo Nó mang hồn, mang tinh thần của mỹ thuật Chèo, bởi ở
đó ẩn chứa tính chất ước lệ, cách điệu đặc trưng của nghệ thuật Chèo
1.3.2 Thiết kế mỹ thuật mỹ thuật sân khấu Chèo Văn minh, Chèo Cải Lương
Từ nông thôn lên thành thị, Chèo được diễn trong sân khấu hộp – rạp hát Chèo đã cởi bỏ lớp áo quê mùa, để nhập đô, để phù hợp với nội dung
chuyển tải là truyện ở thành thị chứ không phải truyện sau lũy tre làng nữa
“Ở thành thị xuất hiện Chèo Văn minh, Chèo Cải lương, laicăng vừa Tuồng vừa Cải lương, vừa kịch và trình điễn ở sân khấuvới hình thức trang trí phông bình diện vẽ như thật của cụ TrầnPhềnh, đồng thời bầy biện toàn đồ đạc thật chuyên diễn những vởChèo thời sự nhằm đáp ứng những yêu cầu thị hiếu của khán giảthời đó để tồn tại” [25, tr 8]
Nói về thiết kế mỹ thuật giai đoạn này, NSƯT Dân Quốc cũng đã nhậnđịnh:
Trang 15“Đến những năm 20 cùng thế kỷ, do quá trình thâm nhập thành thị,nghệ thuật Chèo đã bước vào sân khấu hộp, dẫn đến nhiều thay đổitrong phần mỹ thuật Cùng với sự manh nha của xu hướng chuyênnghiệp hóa và sự hình thành bước đầu vai trò người thiết kế mỹ thuật,liều lượng trang trí trên sân khấu Chèo đã tăng lên đáng kể Tuy nhiên,cũng chỉ đến mức có thêm dăm ba tấm phông hậu, một vài đạo cụ…”[29, tr.23, 24]
Vào những năm đầu thế kỉ XX, Chèo ra thành thị, phục vụ nhu cầuthưởng thức của lớp khán giả thành phố với lối sống và cách suy nghĩ hoàntoàn khác so với tầng lớp nông dân ở các làng quê Văn hoá, văn minhphương Tây theo chân thực dân Pháp trên đường khai thác thuộc địa đãc tạonên lớp nguời thị dân thành thị Lớp người này hướng phong cách sống theolối “Âu hoá”, ăn cơm Tây, ở nhà Tây, mặc đồ Tây…Và nhu cầu thưởng thứcvăn hoá nghệ thuật của người thành thị cũng thay đổi cho hợp thị hiếu đương
thời Ở các trung tâm, đô thị Hà Nội, Hải Phòng xuất hiện chèo văn minh,
chèo cải lương Chèo văn minh, là Chèo tân thời, Chèo ở thành thị khác với
hìnht hức Chèo cổ ở nông thôn trước kia Chèo văn minh sáng tác những tích
trò mới, chắp vá những tích trò cũ cho mạch lạc, đưa y phục và trang trí mớivào diễn Chèo
Chèo cải lương là đường lối cải cách nghệ thuật chèo theo “lối diễn kịch
Thái Tây” cho phù hợp với buổi giao thời của chế độ xã hội thực dân nửa
phong kiến, giữa sự chộn rộn của mới và cũ, của văn hoá truyền thống phương Đông và văn minh Phương Tây Chèo cải lương của cụ Nguyễn Đình
Nghị đã sáng tạo, viết lại một loạt vở cũ, viết lại chúng theo “lối Thái Tây”như chia thành lớp lang, phân hồi, phân cảnh Đông thời viết những vở mới -đưa lên sân khấu chèo những nhân vật là con người của thời đại mới, những
Trang 16con người với danh phận chỉ có sau khi thực dân Pháp khai thác thuộc địa trênđất nước ta, như Mợ Phán, con Sen, thằng Nhỏ…
Với chủ trương tiếp thu cái mới theo lối kịch Thái Tây, Chèo Cải lương
hầu như chối bỏ thủ pháp ước lệ , cách điệu, tượng trưng vốn là nhưng đặc
trưng của nghệ thuật Chèo Chèo cải lương hướng sáng tạo theo phương
pháp tả chân (tả thực), gần với phong cách của kịch nói Thiết kế mỹ Chèo đã
có sự thay đổi để phù hợp với lối sáng tạo mới ấy - đưa cảnh trí mới, phụctrang mới vào các vở diễn để diễn viên có điều kiện thuận lợi diễn theo lối tảthực, để người xem thuận tiện trong quá trình tiếp thu nội dung vở diễn Về
yếu tố mĩ thuật, trong đó có phần bài trí sân khấu, Chèo văn minh, Chèo cải
lương vẫn sử dụng tấm màn hậu truyền thống, nhưng cái khác ở đây là nó đã
được vẽ lên những cảnh trí tự nhiên theo lối tả chân “in như thật”
Cùng với Sán Nhiên Đài, rạp Quảng Lạc, ở Cải lương Hí việncũng cho vẽ 5 phông lớn với 5 địa điểm theo phong cách tả thực,
đó là: Hàng cơm, Hương thôn, Ngoài đường đi, Nhà nghèo, Nhàphú quê, dùng chung cho nhiều vở bất chấp nội dung gì Ở sânkhấu của chèo văn minh và chèo cải lương, phông cảnh được bố trínhư sau:
Phông cảnh chính được treo trong cùng sân khấu, màn ngoàibằng vải dày ngăn cách sàn diễn với khán trường, ở giữa dùngđơzem (tấm màn thứ hai - cảnh thứ hai) thường là cảnh chuẩn bịcho lớp diễn trước, ví dụ: Cảnh đường đi - khi cần thay cảnh thì rútđơzem lên, hay kéo sang một phía để lộ phông cảnh trong cùngdùng cho cảnh sau - cảnh trong nhà chẳng hạn, những công việcnày thường được gọi là “bỏ đơzem, mở đơzem ’’[24, tr.160]
Phần bài trí sân khấu, ngoài tấm phông hậu như đã nói ở trên,trên sân khấu chèo văn minh, chèo cải lương người ta không còn
Trang 17thấy những hòm, những bồ như ở chèo sân đình nữa Để hợp vớikhung cảnh thực của những tấm phông hậu .Người ta đã làmnhững hòn núi giả bằng vải sẫm, hay bằng giấy màu cho Thị Màu
có chỗ nấp rình Tiểu Kính và tấm phông sau lấp lánh kim nhũ vẽPhật ngàn mắt ngàn tay ngự toà sen, những bậc thềm nhà Huyện tểlàm bằng khung gỗ, có vẽ tường vôi kiểu gạch xây, hoặc chiếc bànkhăn phủ riềm hoa với đôi ghế đòn khắc triện dùng làm án thư choDương Lễ” [21, tr.115]
Và nhiều thứ đồ dùng sinh hoạt khác như bàn, ghế, giường, tủ thậtcũng được bê lên sân khấu cho đạt hiệu quả “như thật” Với chủtrương bài trí sân khấu “như thật” nên trong cách bài trí nội cảnh,hoặc ngoại cảnh đều được triệt để dùng phương pháp tả chân, “ với phong cách này, việc bày biện “in như thật” trên sân khấu tất
sẽ tạo nên sự chật hẹp về không gian, nhất là những cảnh ở trongnhà, không còn“đất”cho thủ pháp múa hoạt động” [24, tr.161]
Đi cùng với những thay đổi trong diện đề tài phản ánh, các lớp người mớihình thành ở thị thành đã bước lên sân khấu Chèo, và tất nhiên để bảo đảmtính hợp lý của nhân vật chèo, các trang phục của nhân vật cũng thay đổi theo
nhân vật, không còn lớp áo mớ ba mớ bẩy, không còn khăn đầu rìu…thay vào
đó là những trang phục hợp mốt thời thượng Thậm chí các nhân vật của tích
Chèo cũ được dựng lại trên sân khấu Chèo văn minh cũng đã vận trên mình
những bộ trang phục tân thời?
“ Về phục trang nhân vật cũng tìm cách làm cho “hợp thờitrang, thời thượng” Các vai nữ ra sân khấu không còn yếm cổ xẻ,
áo mớ ba, váy lụa, dải yếm đào như trước nữa mà nhất loạt mặctheo kiểu tân thời khăn nhung, áo cài khuy, vòng vàng Thị Màu,Thị Kính, Thuý Kiều bước ra sân khấu với bộ đồ của một tiểu thư
Trang 18con quan tổng đốc đương thời, không kể gì đến bối cảnh lịch sử và
xã hội của nhân vật nữa” [38, tr.107]
Chèo trở thành “kịch chèo” và từ giã sân đình với mảnh chiếu chèo quenthuộc nơi làng quê dân dã, trong canh hát xem quây quần tứ phía…để bướcvào một loại sân khấu mới: Sân khấu hộp - sân khấu kín ba mặt, mặt thứ tưđược mở ra quay về phía khán
Trong một giai đoạn không dài so với bề dày tích tụ của Chèo cổ, Chèo
Văn minh – Chèo Cải Lương còn “vụng” bởi lối sáng tạo tự nhiên chủ nghĩa,
nhưng nó đã mở ra một hướng mới cho nghệ thuật Chèo, một hướng tiếp cậnthời đại, sáng tạo nghệ thuật tuân theo quy luật biến đổi của thời cuộc
Chèo của giai đoạn này đã tiếp thu cái mới vào sáng tạo trong nghệ thuật
biên kịch, nghệ thuật sắp trò (đạo diễn), nghệ thuật biểu diễn và nghệ thuật
thiết kế mỹ thuật theo lối - tả chân
Sân khấu hộp đã làm mất đi một phần những nét đặc trưng riêng củanghệ thuật chèo cổ, trong đó có thủ pháp ước lệ, và tính ngẫu hứng do có sựngăn cách không gian Song, Chèo diễn trên sân khấu hộp đã mở ra mộthướng đi mới cho Chèo, hướng đến một dạng sân khấu biểu diễn hiện đại, vớinhững vở diễn mang tính thời đại
Về khả năng diễn tả, Chèo văn minh, Chèo cải lương đã cho khán giả
thấy khả năng phối hợp cao với các hình thức nghệ thuật khác như: múa, âmnhạc, mĩ thuật, âm thanh, ánh sáng để nâng cao tính tổng hợp của vở Chèo,gia tăng tính hấp dẫn cho hình thức sân khấu cổ truyền dân tộc
Giai đoạn này đã mở ra tính chuyên nghiệp trong nghệ thuật thiết kế mỹthuật, và nó đã được phát huy tính chuyên nghiệp ấy vào các giai đoạn kế tiếpcủa nghệ thuật Chèo
1.3.3 Thiết kế mỹ thuật giai đoạn Chèo hiện đại trong những năm 1950
Trang 19Năm 1953 Đội chèo Trung ương được thành lập với nòng cốt là các nghệ
nhân Năm Ngũ, Cả Tam, Trùm Thịnh… Chị Trầm, Tát nước cấy chiêm, Tổ
ba nhà, Chị Tấm anh Điền được dàn dựng phụ vụ kịp thời cho các sự kiện
trong giai đoạn đấu tranh cách mạng
Vở Tấm Điền ra đời ở Việt Bắc năm 1953 trong hoàn cảnh
kháng chiến Để có thể đưa vở ra phục vụ nhân dân sớm, vở đãđược trang trí bằng một phông bình diện độc nhất màu xám do họa
sĩ Sỹ Ngọc thể hiện một cảnh cổng ngõ nhà mụ Cám bằng phươngpháp cắt giấy mã, còn những cảnh khác thì bằng những vật liệuthật Bất cứ ở nơi nào tùy theo điều kiện địa phương sân khấu ghépbằng bàn bằng cánh cửa hay sạp nứa… tạo ra một sàn diễn tạmthời Màn II có cảnh cái giếng dùng là mảnh cót cuộn tròn phủ vải
dù xanh rêu, bờ rào bằng tre hay bằng nứa đan cánh sẻ và cài cànhcây Màn nhà già Đa bày cây chuối thật xịn của nhân dân hay chặtchuối rừng dựng đứng cạnh hàng rào nứa [25, tr.9]
Hình dung từ sự mô tả của NSND Nguyễn Đình Hàm ở trên, chúng tathấy rằng thiết kế mỹ thuật Chèo giai đoạn Chèo hiện đại trong kháng chiếncũng mang tính chất đơn sơ và giản dị, mộc mạc như Chèo cổ vậy Khácchăng ở tinh thần sáng tạo, tinh thần sáng tạo gắn với sự khó khăn về vật chấtcủa kháng chiến của chiến tranh, khác ở sự khắc phục với tinh thần vượt khócủa nghệ sỹ cách mạng
Không có được sự chắt lọc đến mức tinh giản như trong mỹ thuật Chèo
cổ - bởi ở đó là một bề dày văn hóa được tích tụ đúc kết Nhưng sự giản dịcủa thiết kế Mỹ thuật Chèo hiện đại trong kháng chiến lại chứa đựng sự hồnnhiên vận động tự thân của người nghệ sỹ - họa sĩ Có thể thiết kế mỹ thuậtChèo giai đoạn này không có nhiều tính cống hiến, không có thành tựu nổibật, nhưng nó lại đánh dấu một thời kỳ sáng tạo đầy cố gắng vượt qua sự khó
Trang 20khăn về vật chất, vượt qua sự khốc liệt đau thương của chiến tranh Ngườinghệ sỹ Chèo nói chung, các họa sĩ Chèo hiện đại nói riêng đã vượt qua khókhăn gian khổ để mang đến những món ăn tinh thần, phục vụ cho chiến sỹ,đồng bào Lớp diễn Chèo hiện đại có thể còn bất cập giữa nội dung và hìnhthức thể hiện, cảnh trí vở Chèo có thể còn thô sơ chắp vá…nhưng tình thầnnghệ thuật Chèo – bộ môn nghệ thuật dân tộc – chắc chắn đã làm ấm lòngđồng bào chiến sỹ, chắc chắn đã tiếp thêm sức mạnh tinh thần trong cuộcchiến chống Đế quốc của dân tộc.
1.3.4 Thiết kế mỹ thuật Chèo từ sau 1954 đến 1980
Điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - xã hội thay đổi, sân khấu Chèo dã chiến đãhoàn thành nhiệm vụ chính trị Hòa bình lập lại, xã hội mới có những đòi hỏimới trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Trong bối cảnh chung, nghệ thuậtChèo cần chuyển mình để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của xã hội, của côngchúng Ban nghiên cứu Chèo đã có những cuộc hội nghị bàn thảo nghiêm túc
về hướng sáng tạo nghệ thuật Chèo Trong đó, bộ phận thiết kế mỹ thuật Chèocũng không đứng ngoài công cuộc nghiên cứu học tập từ Chèo cổ, để sáng tạothiết kế mỹ thuật Chèo hôm nay Họa sỹ, NSND Nguyễn Đình Hàm đã viết:
“Năm 1956, ngành Chèo đã bắt đầu tập hợp các nghệ nhân nổitiếng nhất của các Chiếng, mở các hội nghị biểu diễn, học tập cáctrích đoạn truyền thống Các diễn viên trẻ đẹp được truyền nghề mộtcách hệ thống Cách ra trò, cách thể hiện nhân vật của các nghệ nhân
đã khơi dậy trong lòng các họa sĩ trang trí Mỹ thuật những suy nghĩbước đầu về cách trang trí phù hợp với cách biểu diễn ấy Lúc đó,chúng tôi cho rằng: Muốn tham gia một cách đồng bộ vào một lốidiễn Chèo không gì bằng sử dụng những thành tựu, hội họa dân giancủa tổ tiên để lại Bởi vì Chèo cổ và hội họa dân gian Việt Nam xưađều nằm trong phạm trù văn hóa dân tộc Cách cảm thụ, cách suy
Trang 21nghĩ và cách thể hiện của hai bộ môn có những điểm gần gũi vớinhau Chúng tôi đã tìm hiểu trong kho tàng tranh dân gian như những
bức tranh Thất đồng, hứng dừa, đánh ghen v.v… đã có những hình
tượng châm biếm rất Chèo, ngoài ra các kiểu phục trang trong tranhtượng ở các đình chùa, tìm các mô típ đặc sắc nhất sắp xếp lại thànhmột bộ sưu tập.” [25, tr.13]
Qua lời bộc bạch trên, chúng ta có thể thấy, các họa sỹ thiết kế mỹ thuậtchèo giai đoạn này đã tìm tòi chất liệu từ nghệ thuật tạo hình dân gian, và đây
là một hướng sáng tạo nghiêm túc, có tìm tòi, khám phá và là hướng sáng tạophù hợp với nghệ thuật Chèo, bởi nó đã tựa được vào gốc bản sắc văn hóađồng bằng Bắc bộ, vốn là nôi của nghệ thuật Chèo
Để có được bộ trang trí như trong vở Chèo Quan Âm Thị Kính(do ban nghiên cứu Chèo đã nghiên cứu, chỉnh lý từ chèo cổ), các họa
sỹ thiết kế Mỹ thuật Chèo đã tuân thủ các đặc trưng của hình thức nghệthuật Chèo như: tính chất ước lệ, cách điệu, tính hiện thực tả ý…
“Lúc đó đoàn chèo Trung ương quyết định chỉnh lý vở chèo cổ
Quan Âm Thị Kính Kịch bản được ổn định và đã chia thành màn lớp
cho phù hợp với yêu cầu sân khấu một mặt, song về đại thể, tính chấtước lệ, cách điệu và tính hiện thực tả ý quán triệt toàn bộ vở diễnkhông cho phép trang trí vở một cách tự nhiên được.” [25, tr13]
Cùng với Quan Âm Thị Kính (1956), lần lượt các vở chèo cổ được chỉnh lý, phục dựng như Lưu Bình - Dương Lễ (1958), vở Súy Vân (1962) được cải biên từ tích Chèo cổ Kim Nham… Đồng hành cùng các vở Chèo truyền thống
này là các phần thiết kế mỹ thuật nhất quán bám sát vào đặc trưng nghệ thuậtChèo, khai thác màu sắc, đường nét… từ nghệ thuật tạo hình dân gian đồngbằng Bắc bộ Họa Sỹ, NSND Nguyễn Đình Hàm, người có công lớn trongthiết kế mỹ thuật Chèo giai đoạn này đã nhận định:
Trang 22“Nhìn chung trong giai đoạn này trang trí mỹ thuật của đoàn chèoTrung ương đã có những thành tựu nhất định Trước hết nó góp phầnlàm nổi bật chủ đề tư tưởng của các vở, tham gia đắc lực vào tính toànvẹn nghệ thuật của từng vở diễn Hai là nó đã tạo nên những không gianbiểu diễn thuận tiện và thoải mái cho diễn viên Ba là nó đã tồn tại ở sânkhấu như một bối cảnh đầy ngoạn mục, gây ra những cảm giác đẹp đẽtrong lòng người xem.” [25, tr 24]
Có thể nói, những mô hình thiết kế mỹ thuật Ngõ mận vườn đào
(cảnh 1 – vở Quan Âm Thị Kính); Quán Nghinh hương (cảnh 2 – vở Lưu Bình Dương Lễ) hay hình ảnh chuồn chuồn mắc phải lưới nhện - trên phông
hậu của màn Xúy Vân giả dại kiệt xuất…chính là những chỉnh thể trong thiết
kế mỹ thuật Chèo truyền thống Chúng là những sáng tạo thành công trongthiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo truyền thống nói riêng, mỹ thuật Chèo nóichung Đó là những thành quả của quá trình nghiên cứu mỹ thuật sân khấuChèo một cách hệ thống, kỹ lưỡng, và là những nét vẽ, những thiết kế tài bacủa các họa sỹ sân khấu Chèo
Trong giai đoạn này của thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo, còn cónhững thiết kế phục vụ cho các vở diễn được sáng tác mới từ tích truyện dân
gian như Lọ Nước Thần (lần 1 – 1957, lần 2 – 1960, lần 3 - 1971) Tấm Cám (lần 1 – 1958), Mai An Tiêm (1973) và các vở Chèo đề tài hiện đại, mở đầu là
Đường đi đôi ngả (1959), Hương lúa tình quê (1960), Máu chúng ta đã chảy
(1962), Cô gái Sông Lam (1963), Cô giải phóng (1964), Đường về trận địa
(1965)…
Thiết kế mỹ thuật của các vở Chèo trên đều được êkíp sáng tạo và họa
sỹ thiết kế thống nhất vẫn phải dựa vào những nguyên tắc mang tính đặctrưng của nghệ thuật Chèo Nhưng đúng như Họa Sỹ NSND Nguyễn ĐìnhHàm đã nhận định:
Trang 23“nhìn vào bối cảnh lớn của giai đoạn này chúng tôi thấy rõ ràng cáchtrang trí của các vở cũ cải biên hoặc các vở viết theo đề tài cũ (cổ tích,truyện dân gian) đều dễ dàng đạt tới độ nhuần nhị nhất định, còn trangtrí ở một vở đề tài hiện đại, chúng tôi luôn luôn gặp một trở ngại hếtsức lớn lao: đó là mâu thuẫn giữa truyền thống và hiện đại, nói khác đi
là mâu thuẫn giữa tính ước lệ cách điệu cổ truyền với tính hiện thựcthời đại của con người và sự kiện ngày nay.” [25, tr 24]
Với sự sáng tạo không ngừng để bắt kịp, để tạo sự đồng bộ trong các sángtác Chèo, càng về cuối giai đoạn, thiết kế mỹ thuật càng có sự sáng tạo, khắcphục được những nhược điểm và bước đầu có những thành công Trong mảng
đề tài hiện đại, nổi bật về thiết kế mỹ thuật, để lại dấu ấn trong lòng công
chúng và giới nghề có lẽ là Chuyện tình những năm 80 (1980) của tác giả
-đạo diễn Trần Bảng, Thiết kế mỹ thuật: Phạm Duy Tùng
Họa sỹ NSƯT Dân Quốc đã tổng kết những nhận xét đánh giá về thiết
kế mỹ thuật của vở này:
“Đây là một vở thể nghiệm mạnh mẽ về chèo, nhưng nghiêm túc
về nhiều mặt, trong đó có mỹ thuật chèo Về trang trí, họa sĩ PhạmDuy Tùng thống nhất với đạo diễn không cụ thể, phải có tính chấttượng trưng mạnh Từ đầu đến cuối chỉ có 6 dải vải lanh màu ghi nhạtvắt đi vắt lại mà thành rừng cây, công viên, nhà Thơm Thảo, bếnsông, bệnh viện, ấn tượng đẹp là cảnh Tư, tự trói mình khi chạy trốn.Nhưng có lẽ thành công nhất là hai cảnh cuối Nhà cô Mai với chiếcvõng đưa nôi nồng hậu, ân tình rồi sau đó lại rứt ra thành đôi bơichèo, đưa Thơm, Thảo trở lại với quê hương thắm tình đẹp nghĩa.Trang trí ở giữa sân khấu có một bục tròn thanh thoát, không bịt kín,tạo sự mỏng mảnh cuộc chìm nổi của các số phận nhân vật: Tư, ThơmThảo Chiếc bục còn được tôn lên bởi ba sóng nước vẽ trên chắn đèn
Trang 24phía sau bục Về trang phục đã có nhiều tìm tòi kiểu dáng hiện đại,
mô đéc mà không lai căng Sau này cũng có một số bộ hiện diện đồng
điệu với đời thường Chuyện tình những năm 80 là vở chèo hiện đại,
mỹ thuật có nhiều tìm tòi cả về trang trí và trang phục: Giản dị, hiệnđại mà hàm súc.” [25, tr 73- 74]
Những năm sau của giai đoạn này, trên sân khấu chèo còn xuất hiện dạng
đề tài lịch sử Ở dạng đề tài này, có thể thấy thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo
đã có những hướng vận động sáng tác khác so với hai dạng thiết kế được nhắc
tới ở trên Đề tài lịch sử vốn là sở trường của nghệ thuật Tuồng, thiết kế mỹ
thuật sân khấu Chèo đề tài lịch sử cho ra được chất Chèo thì có lẽ là mộtthách thức lớn đối với các họa sỹ thiết kế Nhận định về thiết kế mỹ thuậtChèo đề tài lịch sử, Họa sỹ NSƯT Dân Quốc đã cho rằng: “Nghệ thuật chèođến với đề tài lịch sử đã khó, nhưng khó hơn cả đó là phần mỹ thuật Trongkhi đó nghệ thuật tuồng là mảnh đất đắc địa Làm sao để có một trang trí cótính lịch sử của thời đại đó nhưng lại phải chèo, đó là một việc làm khó.” [25,
tr 82]
Với những dấu ấn thiết kế mỹ thuật Chèo trong vở Trưng Trắc đề tài
lịch sử được dàn dựng năm 1978 tại Nhà hát Chèo Trương Ương – nay là NhàHát Chèo Việt Nam, trang trí do NSND Họa sĩ Phùng Huy Bính đảm nhiệm;
đã bước đầu ghi dấu ấn thành công của mỹ thuật sân khấu Chèo đề tài lịch sử
“Họa sĩ đã lấy cảm hứng chủ đạo cho trang trí là chất liệu dathú và đồ đồng Trên một nền vàng vẽ vân mây tượng trưng chogian sơn gấm vóc nước Việt, 6 tấm da hổ được di chuyển theo bốcục của từng cảnh diễn Biểu tượng quân khởi nghĩa của Trưng Trắc
là những chiếc chiêng đồng kêu gọi và tập hợp nhân dân đứng lênđánh đổ viên thái thú Tô Định Hàng ổ của địch được thay bằng biểutượng hổ phù, nhe nanh vuốt dữ tợn tượng trưng cho sức mạnh của
Trang 25thiên triều Những hình tượng này được thay đổi trên nền 6 tấm dathú Một bục cao phía sau chạy suốt sân khấu cùng một số tam cấpphía trước dành để tạo không gian cho sân khấu 6 tấm da hổ đượcchế tác công phu bằng đay bông với những vằn đen trên nền nhungtrông mộc mạc nhưng rất hiệu quả; cùng với phong cách dàn dựnghoành tráng của đạo diễn Trung Anh, tuy đôi màn còn nặng nề, rậmrạp, hạn chế sự phóng khoáng của Mỹ thuật chèo Trang phục vớimột số lượng đáng kể: trên 120 bộ do họa sĩ Phạm Duy Tùng sángtác Thống nhất với trang trí thời điểm mọi sinh hoạt ở nước ta cònrất mông muội, họa sĩ đã chọn chất liệu cho trang phục, trang sức là
đồ da, đồ đồng và đồ đá Những hộ tâm kính bằng đồng, giáp đồng,
vũ khí khiên, mác đồng Những mảnh da thú làm mũ, áo che thân.Trang sức gồm những vòng tay, chân, đeo tai, đeo cổ bằng đồng đá.Những răng hùm vuốt hổ cùng lông chim quý hiếm cũng được sửdụng đắt giá Chất liệu kim sa đã được dùng khá lớn trong trangphục, nhấn mạnh sự lấp lánh của thời đại đồ đồng trên những hoavăn đường kỷ hà, có cân nhắc kỹ càng của văn hóa Đông Sơn.Trang phục có chú ý đến các đặc trưng của các nữ binh vùng núi,đồng bằng duyên hải Tuy có khác nhau nhưng cũng có hòa sắcchung: Rực rỡ mà không lòe loẹt, nhiều kiểu dáng mà không laicăng Ta địch rõ ràng, tốt xấu minh bạch.” [25, tr 70-71]
1.3.5 Thiết kế mỹ thuật Chèo giai đoạn 1980 - 1986
Đất nước ta từ việc khắc phục hậu quả sau chiến tranh, lại bước vàokhủng hoảng kinh tế do một số quan niệm sai lầm trong quản lý nhà nước tậptrung bao cấp, cộng với sự cấm vận của Mỹ, đã khiến đời sống sinh hoạt củanhân dân gặp nhiều khó khăn
Trang 26Các dòng nghệ thuật giải trí như ca nhạc, cải lương với những câuchuyện tình éo le, mùi mẫn, ủy mị và sự pha trò giật gân câu khách đã đánhtrúng vào tâm lý thị hiếu của một bộ phận đông đảo khán giả, đẩy nghệ thuậtsân khấu truyền thống dân tộc, trong đó có nghệ thuật Chèo vào tình trạngvắng khách.
Giải pháp tình thế, một số đoàn chèo địa phương đã táo bạo đổi tênthành đoàn nghệ thuật Ca kịch và đi lưu diễn khắp miền với những vở Cakịch Các vở ca kịch diễn theo cấu trúc kịch, phần âm nhạc được phối khí và
các bài hát được nhạc sỹ sáng tác theo kiểu ca mới, và tất nhiên, trang trí – thiết kế mỹ thuật cũng đồng bộ với cuộc cách tân này, sân khấu ngổn ngang
bục bệ, bối cảnh nặng về tả thực để phù hợp với cách diễn và cách biểu hiệntheo kiểu Kịch có ca thời bấy giờ
Đi đầu cho phong trào Ca kịch này phải kể đến các vở Một tình yêu sẽ
đến (1983) với bục hoành tráng và được thiết kế quay tròn – gây sự thích thú
lạ lẫm đối với khán giả; vở Bông hồng kiêu hãnh (1984) thì một đường đi
được tạo bằng bục, đi thằng từ sàn diễn băng qua hố nhạc, để nữ nhân vật
chính biểu diễn tâm trạng trên cây cầu đó…đã khiến khán giả ồ lên thích thú
khi nữ diễn viên xinh đẹp đi đến sát chỗ ngồi của khán giả… ( đây là các vởcủa Đoàn chèo Hà Sơn Bình (cũ), sau là Nhà hát Chèo Hà Tây, rồi lại đượcsát nhập thành Đoàn 3 của Nhà hát Chèo Hà Nội bây giờ)
Và nổi tiếng nhất có lẽ phải kể đến vở Nàng SiTa của Đoàn Chèo Hà
Nội, nay là Nhà hát Chèo Hà Nội – với phần thiết kế mỹ thuật hoành trángtheo phong cách tả thực: cảnh rừng hoang với vô vàn lá cây, dây leo, cảnhcung đình tráng lệ nguy nga…và tất nhiên là không thể thiếu rất nhiều bục bệtam cấp, đa cấp, được di chuyển khớp nối ngang dọc theo sự thay đổi củacảnh diễn
Trang 27Có thể nói với sự cách tân triệt để từ tên gọi Ca kịch đến cấu trúc kịchbản theo cấu trúc kịch chứ không còn là cấu trúc mảnh trò, nghệ thuật đạodiễn tri phối mọi thành phần sáng tạo từ nghệ thuật diễn viên, đến âm nhạc,
mỹ thuật …cuốn theo một lối biểu diễn mới hoàn toàn – lối biểu diễn ca kịch.Trong bối cảnh đó, thiết kế mỹ thuật Chèo không còn giữ vững đặctrưng thể loại mà đã lai căng và biến đổi cho phù hợp với diện mạo của mộthình thức biểu diễn nghệ thuật sân khấu mới không phải là nghệ thuật Chèo
1.3.6 Thiết kế mỹ thuật Chèo giai đoạn 1986 đến nay
Sau nhiều nỗ lực của ngành Chèo, nghệ thuật Chèo đã dần lấy lại đặctrưng nghệ thuật của mình Sau cuộc “chao đảo” ca kịch – Chèo đã trở về làChèo với các làn điệu truyền thống với nghệ thuật diễn kể kỳ ảo của sân khấuphương Đông Các thành tố cấu thành nên nghệ thuật Chèo đã trở về quỹ đạosáng tạo nghệ thuật Chèo bám sát đặc trưng ước lệ, cách điệu, khoa trương, tả
ý, tả thần…của nghệ thuật Chèo truyền thống
Ở các vở diễn truyền thống được khôi phục lại như Quan Âm Thị Kính,
Lưu Bình Dương Lễ, Đôi ngọc truyền kỳ (có đơn vị gọi lại tên theo tích Trương Viên), Suý Vân… các thiết kế mỹ thuật được các hoạ sỹ như NSƯT
Dân Quốc, NSƯT Tất Ngọc, Đinh Quý Thêm thể hiện lại trên cơ sở kế thừacác thiết kế truyền thống Những sáng tạo về thiết kế đều không đi ra ngoàinhững nguyên tắc của thiết kế mỹ thuật Chèo
Với những vở Chèo đề tài hiện đại, đề tài dân gian dã sử, đề tài lịch sử,
các tính chất ước lệ, cách điệu, khoa trương, tả chân… được thêm bớt liều
lượng cho phù hợp với diện đề tài phản ánh của vở, tạo điều kiện để nghệthuật biểu diễn được thăng hoa
Thiết kế mỹ thuật giai đoạn này đã kế thừa nghệ thuật thiết kế mỹ thuậtChèo truyền thống đã được định hình từ cuối những năm 1980 (bị gián đoạn
Trang 28vào giai đoạn 1980 - 1986) – các thiết kế mỹ thuật đã góp phần vào sự thànhbại của một tác phẩm Chèo từ sau đổi mới đến nay.
* Tiểu kết:
Nghệ thuật Chèo của Việt Nam là hình thức nghệ thuật sân khấu tự sựphương Đông, là “đặc sản” sân khấu Đồng bằng châu thổ sông Hồng Nómang đặc trưng màu sắc riêng biệt và định hình trong lịch sử phát triển của bộphận sân khấu dân tộc nói riêng và trong nền nghệ thuật sân khấu Việt Namnói chung
Mỹ thuật sân khấu Chèo đã song hành cùng nghệ thuật Chèo từ thủa sơkhai và dần phát triển hoàn thiện theo lịch sử phát triển nghệ thuật Chèo quatừng giai đoạn
Dựa vào những biến chuyển trong hình thức, tính chất thiết kế mỹ thuật
sân khấu Chèo, học viên đã phân chia các giai đoạn: Thiết kế mỹ thuật sân
khấu Chèo cổ; Thiết kế mỹ thuật mỹ thuật sân khấu Chèo văn minh – Chèo
cải lương; Thiết Kế mỹ thuật giai đoạn Chèo hiện đại trong những năm 1950; Thiết kế mỹ thuật Chèo từ sau 1954 đến 1980; Thiết kế mỹ thuật Chèo giai
đoạn 1980 – 1986 và Thiết kế mỹ thuật Chèo giai đoạn 1986 đến nay
Theo các giai đoạn phát triển chúng ta phần nào thấy rõ thiết kế Mỹthuật sân khấu Chèo là một phần của nghệ thuật Chèo Thiết kế Mỹ thuật sânkhấu Chèo không chỉ đơn thuần là cảnh trí, phông phi, bục bệ…các điều kiện
hỗ trợ cho nghệ thuật biểu diễn, mà tự thân nó cũng góp lên tiếng nói nghệ
thuật của vở - tiếng nói của màu sắc, đường nét, phối cảnh…qua đó người
xem cảm nhận được tinh thần quán xuyến của tác phẩm – thể tài (bi, hài,
chính kịch…) của vở Chèo Thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo, bản thân nó là
một tác phẩm nghệ thuật độc lập trong tính chất tổng hợp của nghệ thuật
Chèo Khán giả xem Chèo, cũng còn xem mỹ thuật của vở Chèo Từ cách bài
Trang 29trí, từ phối cảnh từ đường nét, màu sắc…người xem cảm nhận được cái tàicủa họa sỹ thiết kế và thái độ của anh đối với tác phẩm với vở Chèo Mỹ thuậtsân khấu Chèo góp phần tạo nên màu sắc tinh hoa của nghệ thuật Chèo, màu
sắc của nền văn hóa có gốc gác lâu đời của lưu vực sông Hồng.
CH¦¥NG 2 MỘT SỐ KHUYNH HƯỚNG THIẾT KẾ MỸ THUẬT
TRONG SÂN KHẤU CHÈO
Chúng ta biết rằng, ước lệ, tượng trưng là đặc tính của nghệ thuật nóichung và của sân khấu nói riêng Đặc tính này càng đậm nét trong sân khấuchèo truyền thống đến mức độ đã trở thành phong cách Phong cách ước lệ,tượng trưng là một trong những đặc trưng cơ bản chi phối toàn bộ hoạt độngcủa sân khấu chèo trong đó có phần mỹ thuật sân khấu
Trang 30Ước lệ, tượng trưng, cách điệu…là những thủ pháp quán xuyến trongkhuynh hướng sáng tác thiết kế mỹ thuật Chèo Ở từng khuynh hướng liềulượng các thủ pháp này nằm trong ý đồ thiết kế của các hoạ sĩ Phát huy cácthủ pháp trong mỗi khuynh hướng đã tạo nên các điểm nhấn khác biệt củamỗi tác phẩm.
Bên cạnh đó còn rất nhiều các thủ pháp đã được các hoạ sỹ lão thành củaChèo vận dụng trong những khuynh hướng sáng tác của mình như: đăng đối,
bán tượng trưng, gây ấn tượng (từ dùng theo Hoạ sĩ Nguyễn Đình Hàm [25,
tr 25])…
Dưới đây học viên xin được tìm hiểu một vài khuynh hướng sáng tạo chủđạo trong thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo, để thấy được những nét khác biệt,những điểm nhấn trong thủ pháp sáng tạo của mỗi khuynh hướng, với mongmuốn, tiếp thu, học hỏi trong lĩnh vực thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo
2.1 Một số khuynh hướng chủ đạo trong thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo
2.1.1 Khuynh hướng hiện thực tả ý
Khuynh hướng thiết mỹ thuật này gắn chặt với tính tự sự của nghệ thuậtChèo Nói cách khác người diễn viên chèo diễn kể tích trong bối cảnh khônggian được quy định trong tích trò Khuynh hướng thiết kế hiện thực tả ý trongChèo là kết quả của quá trình nghiên cứu, tìm tòi từ mỹ thuật, hội hoạ tạohình dân gian Việt Nam Người hoạ sỹ Chèo đã đi tìm ý tứ (gắn với tích trò)
từ những chất liệu có thật của cuộc sống phù hợp với hoàn cảnh, với nhân vật,với trạng thái tình cảm của các nhân vật có trong lớp trò
Theo hoạ sỹ Hà Quang Sơn:
“Trong một vở diễn, phương pháp tả ý của người họa sĩ là đưa rađược cảnh, vật, tranh, cây cối, hoa, những con vật… vào trong từngmàn diễn, nó làm tăng thêm nội dung của lớp diễn chính trong màn đó
có thể là lột tả thêm tính cách của nhân vật chính, nội dung tư tưởng
Trang 31chính yếu của câu chuyện trong từng màn hay toàn bộ vở diễn Phươngpháp tả ý với bút pháp tả hình vừa có giá trị vật thể, vừa có ý nghĩa ẩn
dụ là cốt lõi của phương pháp này” [30, tr 153]
Nói đến khuynh hướng hiện thực tả ý trong thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo,
chúng ta không thể không nhắc đến những thiết kế trong hai vở Quan Âm Thị
Kính (1956) và Suý Vân (1962) của Hoạ sĩ, NSND Nguyễn Đình Hàm.
Trong vở Quan Âm Thị Kính – khuynh hướng hiện thực tả ý gần như
quán xuyến toàn bộ ý đồ cũng như cách thể hiện trong thiết kế mỹ thuật sânkhấu
Màn I – Ngõ mận vườn đào
“ Câu chuyện chủ yếu của màn này là chuyện Mãng ông gảThị Kính cho Thiện Sĩ Đám cưới của hai người không giống nhưđám cưới ngoài đời mà chỉ là một lớp múa Vu qui nhằm “tả ý”.Chúng tôi đã dựa vào câu nói đếm của Thiện Sĩ
Đây đã tới ngõ mận vườn đào Trông chẳng khác tranh đồ thủy mạc.” [25, tr 14]
Nắm bắt ý vu quy của trò diễn, hoạ sĩ Nguyễn Đình Hàm đã miêu tả
không gian sân khấu với toàn cảnh có cây mận và cây đào để so le, giữa kêmột ghế đẩu tre để ông Mãng ngồi khi diễn trò Trang trí được vẽ theo lối vẽdân gian, lấy đường viền đậm, nhạt quanh các mầu sắc xanh tươi của cây lá,màu hồng phớt xen lẫn hồng thắm của hoa đào, màu trắng điểm nhị vàng củahoa mận Đường nét và màu sắc của trang trí mang phong cách của tranh dângian Đông Hồ đã quen thuộc trong tiềm thức của người Việt
Ở cảnh II, tại nhà Thiện Sĩ – cảnh này có hai phần, phần đầu là cảnh vợ
chồng hạnh phúc hoà hợp Chồng đọc sách, vợ canh cửi tầm tang, nhưng sau
sự biến cắt râu oan nghiệt, hạnh phúc lứa đôi đã bị chia lìa bởi không cần hiểu rõ sự tình Sùng bà đã khép Thị Kính vào tội Gái mê giai lập trí giết
Trang 32chồng, quyết liệt đuổi nàng ra khỏi nhà, cắt đứt tình chồng vợ với Thiện Sĩ.
Hoạ sỹ Nguyễn Đình Hàm đã lấy hình tượng Trúc Mai giao hoà để tả ý cho việc Thị Kính và Thiện Sỹ đã nên vợ nên chồng Chồng quân tử như Trúc, vợ đẹp hiền cao quý như Mai Sự phối màu trang nhã giữa màu xam lá trúc, màu
trắng của hoa mai toát lên vẻ đẹp kín đáo, không phô trương trong thiết kế mỹthuật Chèo Cạnh đó là sự đăng đối, hài hoà của hai bên lan can điểm xuyếnnhững cành hoa nhài hoa trắng xem trong lá xanh đậm Toàn cảnh thiết kế đãtoát nên tinh thần của nhân vật trong lớp trò, người quân tử (Thiện Sỹ), ngườithục nữ (Thị Kính), trang nhã không phô trương loè loẹt (thể hiện ở mầu sắc),ngay ngắn chỉnh tề chuẩn mực (trong đường nét hài hoà đăng đối)
Trên nền bối cảnh yên bình như ta cảm nhận thấy ở trên, thì nỗi oan củaThị Kính như được khắc hoạ sâu hơn bởi tính đối tỷ giữa cảnh sắc và tâmtrạng, hoàn cảnh cảu nhân vật Chèo Trong sự yên bình và nhu thuật đạo vợ
chồng, vậy mà với hành động cắt râu dị hình mọc ngược – Thị Kính đã mang
tiếng giết chồng – mở màn cho cuộc đời trầm luân khổ ải của người phụ nữ
đức hạnh đoan trang trong cái hà khắc đến mức tàn tệ của chế độ xưa
“Cuộc sống của đôi vợ chồng chuyển hóa từ hạnh phúc sang bấthạnh Vậy tạo không gian thế nào cho phù hợp với cả hai hoàn cảnh
Để có được một âm điệu cơ bản đau xót cho cảnh lứa đôi hạnh phúc,đạo diễn đã nhấn mạnh cảnh êm ấm của lứa đôi thắm thiết rồi độtnhiên tan vỡ khi Thị Kính đưa dao định tỉa râu chồng – Khi bà Sùngxuất hiện, cảnh ấy bị chà đạp một cách bất công, nỗi đau xót đượcnhấn mạnh đã đem lại một rung động và một nhận thức nhất định chokhán giả Trên cơ sở ấy chúng tôi đã sáng tạo nên một cảnh trúc mailồng vào nhau tươi mát rườm rà thể hiện theo phong cách cách điệuhóa đặt giữa sân khấu, hai bên là hai mảnh lan can trúc có hoa nhài.Trước khóm trúc mai kê một chõng tre trên có gối xếp kỷ sách, cây
Trang 33đèn, ống bút, chàng độc sách nàng thêu thùa dưới ánh sáng trongxanh như ánh trăng dọi vào Lớp trò được kết thúc vào chỗ Thị Kínhgục đầu bên chõng tre mà vừa mới đây là cảnh vợ chồng êm ấm, nhưnuối tiếc hạnh phúc vừa qua nhưng lại bất lực trước những bất công
của chế độ phong kiến Cảnh này chúng tôi đặt tên là Trúc mai xum
họp để có sự tương phản của cuộc đời Thị Kính” [25, tr 15 - 16]
Cảnh III: Thị Mầu lên chùa.
Trang trí cảnh cứng bao gồm cây đại xum xuê ở gần giữa sân khấu, được
vẽ cách điệu nhất quán với các cảnh thiên nhiên cỏ cây hoa lá của những cảnhtrước Phía tay phải của khán giả ngồi đối diện với sân khấu là mô hình tượngquan Quan Âm mầu nâu sậm chùa chiền, hai tay chắp trước ngực, mắt nhìnxuống kệ kinh chuông mõ
“…là cảnh chùa, nơi Thị Kính thể phát đi tu Tại đây một nhân vậtđau xót trước “số phận” bị oan trái lại gặp một thiếu nữ đang xuânyêu đời đến trêu cợt Trong chốn cửa thiền âm u Thị Kính ngồi tụngkinh cho vợi nỗi sầu lòng, thì Thị Mầu xuất hiện Cảnh này chúng tôi
đã bố trí bên trái sân khấu một tượng Bồ Tát ngồi nghiêng trên bệ tayphải bắt quyết để trước ngực, mầu sơn sẫm, nhìn xuống, dưới là bụckinh kệ chuông mõ của Thị Kính Bên phải một cây đại cách điệusum xuê hoa lá lấy cơ sở và chỗ dựa cho Thị Mầu ra múa và hát ghẹoTiểu Không khí ở sân khấu gây cho khán giả hai cảm giác trongchùa và sân chùa Mé cây đại rộng, ép cảnh Thị Kính và tượng Phậtvào một bên Thị Mầu đã quán xuyến cả sân khấu, tươi mát nồng nànsức sống tương phản với Thị Kính trong bộ nâu sồng gây cho khẳngđịnh một nỗi xót sa cho Thị Kính mà không ghét Thị Mầu với vẻ đẹprực rỡ như một luồng ánh sáng mùa xuân Cảnh này chúng tôi đặt tên
là Thị Mầu lên chùa.” [25, tr.16]
Trang 34Ở đây, chúng ta thấy, ngoài việc là nền, là bối cảnh phụ trợ đắc lực chonghệ thuật biểu diễn của diên viên, thì trang trí mỹ thuật đã gói ghém trongbản thân nó những ý tứ nhất quán trong ý đồ sáng tạo của lớp trò Bản thân
thiết kế mỹ thuật đã góp tiếng nói, góp thái độ trước sự kiện xảy ra trong tích
trò Cây đại và tượng phật không chỉ giúp khán giả mường tượng ra hai không
gian sân chùa (Thị Màu lên chùa – múa Cấm giá ở sân, lớpn sau Thị Kính cầm chổi quét sân chùa, Nô đi tìm Màu gặp gỡ và múa Hát Đúm cũng tại sân
chùa…) và trong chùa (Thị Kính lên khoá lễ, Thị Màu vào dâng hương vàđứng rình nấp mê mẩn thầy tiểu…), mà còn tạo nên cảm giác thanh thịnh, tịchmịch nơi chùa chiền, nhưng lại là nơi xảy ra xung đột cao trào giữa tình yêuđậm chất thế tục của Thị Màu và sự xa lánh bụi hồng, muốn tìm nương nơicủa Phật của Thị Kính; nơi thâm trầm tôn kính lại xảy ra việc vô tiền khoáng
hậu, gái giả trai đi ở chùa…và lại bị cuốn vào hệ luỵ của sự cảm tình đến
mức mù quáng của người thiếu nữ nông thôn táo tợn với tên gọi Thị Màu
Cảnh IV với tên gọi Việc làng
“…cảnh đình làng đã đẩy ra vụ tra hỏi Thị Mầu để làng ngả vạ.Các đình làng nào ở đồng bằng Bắc bộ cũng đều có bức hoành
“Thánh cung vạn tuế” cũng án gian bàn thờ, có lộ bộ, có ngựa chầu,
có biển “tĩnh túc hồi tỵ” Nếu đưa tất cả những cái đó lên sân khấu
là không thể được Chúng tôi vận dụng những suy nghĩ về yêu cầucủa tích trò và chọn cái gì là điển hình nhất của đình làng Cuốicùng đã chọn lọc lấy hai con ngựa, một bạch một hồng, có bánh xe,
có tán thêu để chầu hai bên, giữa treo bức mành có vẽ rồng và thủy
ba, để ngăn đôi đình với hậu cung Chính giữa sân khấu kê một bụcviệc làng có trải chiếu hoa Chúng tôi đã miêu tả được cảnh uy lựcthần thánh và uy lực của bọn trùm làng có mắt không trông, có taikhông nghe, có miệng không nói Toàn bộ bối cảnh bày đối xứng
Trang 35một cách hài hòa để phục vụ cho một cuộc họp làng lộn xộn vô lý
và bất công, tạo nên một đối tỷ về cảm xúc thẩm mỹ Cảnh nàychúng tôi đặt tên là “Việc làng” [25, tr17]
“Cảnh V, Thị Kính ra ở Tam quan mái ngoài, sống đơn độc,chết cũng đơn độc Mang một nỗi oan khuất bồng con Thị Mầuquyên sữa Ở đây chúng tôi đã để lại cột đồng trụ của Tam quan nứt
lở từng mảng trơ gạch, sau là mượn cảnh cây đại màn III gây ấntượng Tam quan chùa và tạo điều kiện cho Thị Mầu ra bỏ con ở gốcđại.” [25, tr 17 -18]
“ Cảnh VI, do cảm hứng từ lối trình bầy Phật bằng người thậtxưa kia của Chèo cổ, chúng tôi đã sáng tạo hình tượng Phật “Quan
Âm tống tử” và lấy tài liệu tượng Quan Âm Thị Kính ở chùa KíaSơn Tây Cốt ý ca ngợi tấm lòng hỉ sả của Phật và của Thị Kính, lạivừa để tiếp nối truyền thống trình bày của các nghệ nhân xưa khicảnh chạy đàn” [25 tr 18]
Các ý đồ thiết kế của Hoạ sĩ Nguyên Đình Hàm qua từng cảnh diễn đãcho thấy sự nghiên cứu có định hướng quán xuyến trong khuynh hướng thiết
kế trang trí vở Quan Âm Thị Kính - lấy các nguyên mẫu trong đời sống làng
cảnh miền quê Bắc bộ, tô vẽ vờn nét và phối mầu hài hoà trang nhã theophong cách tranh dân gian Cạnh đó là ý tứ gửi gắm trong từng cảnh trí tạo
nên những đối tỷ về cảm xúc thẩm mỹ giữ cảnh và người, giữa cảnh và tình
Thiết kế mỹ thuật của Chèo đã bám sát, tuân thủ đặc trưng ước lê, cáchđiệu của nghệ thuật Chèo Bản thân nó còn toát lên mầu sắc hội hoạ phươngĐông “ý tại ngôn ngoại” Cộng đó là sự ảnh hưởng của màu sắc Phật giáo –
vạn vật hữu tình – những cây lá, cảnh trí đã hiễn lên trên sân khấu Chèo Quan
Âm Thị Kính với sự sinh động bởi các Hoạ sỹ đã thổi hồn vào cảnh vật, khiến
chúng cũng “hữu tình” – đầy tâm tư, nguyện vọng như người vậy!
Trang 36Về phục trang của vở diễn, chúng ta thấy hoạ sĩ đã sử dụng các kiểutrang phục truyền thống của người xưa,
“từ cái áo cánh tràng vạt của anh Tuần Đinh, cái tứ thân thắt vạt rasau lưng của mẹ Đốp, cặp mớ ba của Thị Kính áo gồm 5 tà, sa đen phùngoài áo đều toát ra một mầu rực rỡ rất quý phái và kín đáo Cái áo lamsẫm của thư sinh cho vai Thiện Sĩ Ông Mãng thì mặc cái áo trung mầumận chín với chiếc quấn đầu khăn tím Tam giang rõ ra ông lão lạcquan và đẹp như trong tranh Trái lại bọn phản diện họ nhà Sùng, bọntrùm làng toàn mầu đen, mầu nâu tối màu hạt cau, để khi biểu diễnnhững mầu sắc ấy tương phản với nhau Khi thì hài hòa như màn I, khithì âm u như màn II, khi lại rực rỡ như màn III ” [25, tr 18]
Trong vở này nổi bật những hình tượng vật đẹp như Mãng ông, Thiện Sĩ
và Thị Kính, Thị Màu, Mẹ Đốp…
Mãng ông phong thái khoan thai, lạc quan trong cảnh Ngõ Mận vườn
đào - vẻ đẹp “giả lão an chi”; Thiện sỹ với tác phong thư thái của bậc tài tử
văn nhân nho nhã; Thị Kính đẹp đoan trang nhẫn nhịn, kín đáo và trữ tình;Thị Mầu đẹp “táo tợn” - lẳng lơ; Mẹ Đốp lại có vẻ đẹp sắc sảo khôn ngoancủa người phụ nữ nông thông về thể chất thì mộc mạc khỏe mạnh …Gópphần làm nên những vẻ đẹp trong tạo hình các nhân vật chính là những bộtrang phục, mà bản thân nó đã gợi cho người xem cảm nhận về những đứctính, tính chất của nhân vật Như vậy – quần áo không chỉ dừng lại ở quần áo,bên cạnh việc tuân thủ tính hợp lý nội tại với nhân vật, phục trang khác với áoxống thông thường bởi nó được các hoạ sỹ gửi gắm ý đồ rõ ràng khi thiết kế
và khoác lên nhân vật những bộ phục trang của nghệ thuật sân khấu nóichung, nghệ thuật sân khấu Chèo nói riêng
Ta còn gặp lại khuynh hướng sáng tác hiện thực tả ý đã thành công và
gắn với tên tuổi hoạ sĩ, NSND Nguyễn Đình Hàm ở vở chèo Xúy Vân (tác giả
Trang 37Trần Huyền Trân cải biên từ vở cổ Kim Nham, đạo diễn Trần Bảng, họa sĩ
Nguyễn Đình Hàm)
Xuý Vân được cải biên trên cơ sở kế thừa thủ pháp Chèo truyền thống
Những lớp trò truyền thống đặc sắc như lớp: Trần Phương – Mụ Quán, Xúy
Vân giả dại, Phù thủy sợ ma, Mụ quán – thằng khoèo… là những lớp diễn
mang đậm đà chất nghệ thuật Chèo truyền thống bởi nó chứa đựng những tâm
tư, thái độ của người xưa, của nghệ sỹ hôm nay trong mỗi lớp trò, người diễn
viên kể cho khán giả bằng những mà múa, hát, diễn xuất độc đáo có giá trị
nghệ thuật biểu diễn là những chuẩn mực của diễn Chèo, hát Chèo và múachèo
Với tinh thần Chèo truyền thống thấm đẫm trong tác phẩm, hoạ sĩ
Nguyễn Đình Hàm hoà vào tác phẩm bằng các thiết kế trang trí hiện thực tả ý
– vốn đã rất phù hợp với nghệ thuật Chèo truyền thống
Cảnh 1: Nhà của Kim Nham, giữa phông hậu là bức tranh dân gian “Lýngư vọng nguyệt” được khuyếch đại lên gấp nhiều lần (theo hoạ sĩ Hà QuangSơn, nó được phóng lên gấp 60, 70 lần: Chiều ngang 1m60, chiều rộng là4m20 [30, tr 154]) Bức tranh dân gian Hàng Trống vẽ con cá nghiêng mình
nhìn ngắm ánh trăng lung linh in hình trên mặt nước Người nghệ sĩ dân gian
xưa tạo ra sự đối lập giữa động – tĩnh, hình – thanh, chỉ cần một tiếng cá quẫy
thì ánh trăng đẹp sẽ tan ra theo sóng nước Người nghệ sỹ với con mắt đa tình
đã nhân cách hoá ước vọng hướng về cái đẹp (bóng trăng) của loài vật trong
tự nhiên Một lần nữa chúng ta lại gặp triết lý – vạn vật hữu tình.
Ý nghĩa của bức tranh dân gian được phóng to lên đó cũng chính là hoàncảnh của nàng Xuý Vân, ngồi trong đêm khuya quay tơ vò võ đợi chồng Xuý Vân cô đơn trong đêm khuy, mong chờ một hạnh phúc vợ chồng ái
ân hương lửa, nhưng càng chờ càng mất, đợi người mãi chẳng về…không
Trang 38khác nào hình ảnh con cá nghiêng mình nhìn ngắm ánh trăng với khát vọng
về một cái đẹp, một hạnh phúc vô vọng
Cảnh 2: Xúy Vân bơ vơ, thất vọng vì chồng phụ bạc, tìm đến cửa chùa
để tìm lại sự tĩnh tâm Trong hoàn cảnh nhân vật, hoạ sĩ đã dựng mô hình bứctượng Phật Bà Quan Âm thiên thủ thiên nhãn - nghìn mắt nghìn tay Đức phật
Bà ngồi trên tòa sen, nghìn mắt nghìn tay để nhìn thấu nỗi khổ của chúngsinh, để giang tay cứu vớt trầm luân cõi tục Xuý Vân đến cửa Phật cùng nỗiđau vì bị phụ bạc vì bị chia sẻ hạnh phúc vợ chồng, nàng những mong ĐứcPhật từ bi soi thấu, cứu giúp nàng ra khỏi sự khổ đau, dằn vặt Không giốngThị Kính tìm đến cửa chùa với quyết tâm thoát tục, xa lánh cõi hồng trần,Xuý Vân đến chùa đơn giản là đi tìm sự chở che của đấng siêu nhiên, tìm lờichỉ bảo để nàng sớm thoát cảnh tình đau khổ đang vò xé tâm can nàng Hìnhảnh Đức Phật uy nghi toả bóng tượng đài chứng kiến cảnh Xuý Vân vật vãbấn loạn xin quẻ thẻ - để mong tìm lời chỉ bảo – Nàng nóng vội đã làm rơiống đựng, quẻ thẻ bị rơi vãi tung toé trên mặt đất, nàng lần tìm trong nỗi tuyệt
vọng…lại chính là sự đối tỷ cảm xúc thẩm mỹ trong ý đồ thiết kế trang trí theo
khuynh hướng tả hiện thực tả ý của hoạ sĩ Nguyễn Đình Hàm
Cảnh 3: Nhà mụ Quán, nơi chuyên nghề đưa người cửa trước, rước
người cửa sau Một tấm mành màu xanh được buông xuống Trên mành có vẽ
hình một con bướm đại đậu trên bông hoa phù dung
Cảnh vừa mang ý nghĩ chỉ địa điểm phường ong bướm, vừa ví nhan sắc
của người con gái đẹp như cánh hoa phù du, sớm nở tối tàn, đi liền với nguy
cơ đên bạc ong bướm tỏ tường rồi ong bướm bay đi Cánh bướm được vẽcách điệu, khoa trương to đại trên bong hoa phù dung với gam mày đen bạcphếch tạo sự “rờn rợn” về một bi kịch sắp xảy ra
Trang 39Hoạ sĩ Hà Quang Sơn cảm nhận về trang trí này bằng một lời cảm thán:
“Họa sĩ đã vẽ một con bướm đen bạc phếch đậu vào cánh hoa phù dung nomrất lạ ” [30, tr 156]
Cảnh 4: Cảnh có lớp diễn độc đáo Xuý Vân giả dại
Hoạ sĩ Nguyễn Đình Hàm đã có một sáng tạo độc đáo – trở thành mộttrong những thiết kế mỹ thuật “kinh điển” của nghệ thuật Chèo truyền thống.Một trang trí đã gắn liền với tên tuổi của ông và những thành công trong thiết
kế mỹ thuật sân khấu Chèo
“Ông đã che hết nền trời bằng một tấm phông mầu bã trầu làmcho sân khấu dù thoáng rộng nhưng vẫn bị bưng bít tối tăm Một cáimạng nhện được cách điệu to lớn, trong cái mạng nhện ấy có conchuồn chuồn (ớt) bị sa bẫy, và một con nhện xanh đen đang đếnchiếm đoạt con chuồn chuồn Xúy Vân như điên như dại, vùng vẫynhưng vô vọng chẳng khác gì con chuồn chuồn kia.” [30, tr 156]
“Chuồn chuồn mắc phải lưới nhện” – một đúc kết về triết lý sống dân gian
để chỉ việc sa bẫy, không có đường thoát thân Hoạ sĩ đã mượn hình tượngcủa dân gian để thể hiện ý tứ của lớp trò – và nó đã tạo hiệu quả nghệ thuậtcộng hưởng với màn múa hát giả điên tung hoành của Xuý Vân trên sân khấuChèo truyền thống
Ở cảnh cuối, kết thúc vở diễn, Con người đã từ chối, quay lưng hết lạivới cô, không còn đường nào khác, Xuý Vân tìm đến chẫm mình xuống dòngnước để kết thúc cuộc đời bi kịch đau khổ Họa sĩ đã đưa cảm xúc của khángiả đến với ánh sáng sân khấu sậm xuống của chiều hoàng hôn, những khómlau sậy xơ xác bên sông; Một tháp chùa nghiêng liêu xiêu – cảnh không buồnsao được trước bi kịch bất hạnh của người phụ nữ trong xã hội cũ
Nói đến thành công của vở chèo cải biên Xuý Vân, không thể không nóiđến thành công trong thiết kế mỹ thuật của hoạ sĩ Nguyễn Đình Hàm, bên
Trang 40cạnh là một bộ phận của khối thống nhất vở diễn, thì trang trí mỹ thuật XuyVân là một tác phẩm thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo – ghi dấu ấn tài năngcủa người hoạ sỹ Đó là sự thành công mà những người về sau đã nhìn đó đểnoi theo học tập.
Bám sát đặc trưng nghệ thuật Chèo truyền thống, cùng với tìm tòi chấtliệu, ý tứ trong sáng tác mỹ thuật dân gian, trong những kinh nghiệm sốngdân gian, cộng với tài và tâm của người nghệ sĩ, hoạ sĩ Nguyễn Đình Hàm vớicác thiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo đã định hình khuynh hướng sáng tạo hiệnthực tả ý Khuynh hướng sáng tạo có ảnh hưởng rất lớn đến các sáng tác trongthiết kế mỹ thuật sân khấu Chèo của các hoạ sĩ sau này
2.1.2 Khuynh hướng hiện thực tả chân
Tả chân – tả thực là:
“việc miêu tả lại cái thật trên sân khấu gần giống với cái thật mà tathường thấy ở ngoài đời: Một cánh đồng xa xa với những dãy thônxóm, khóm tre, những thửa ruộng, những con đường làng và có thểcòn có một cây đa cổ thụ ngay cận cảnh Và ở phía trước sân khấu cóbầy thêm một số trang trí đồ giữa như một tấm phên, một góc nhàtranh, một cái chõng tre, một hàng rào…”[30, tr 149]
Có thể nói Lưu Bình Dương Lễ thành công lớn một phần cũng nhờ trang
trí sân khấu hết sức phù hợp Ở thiết kế mỹ thuật năm1958 – của hoạ sĩNguyễn Đình Hàm; hay thiết kế mỹ thuật của hoạ sĩ Dân Quốc khán giả đều
có cảm nhận về sự thân thuộc của cảnh trí vì dường như đã gặp, đã thấy đãthấy những cảnh ấy ở đâu rồi
Lưu Bình Dương Lễ là Chèo trữ tình có kết hợp hài hòa với các yếu tố
kịch tính Hiện thực tâm lý của nhân vật đòi hỏi một phong cách trang trí phùhợp – phong cách tả chân Cũng là để toát nên sự dung dị, chân thật của bàihọc, của cảnh, của tình đang được kể lại trên sân khấu