1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kỷ yếu hội thảo giáo dục Việt Nam và việc gia nhập WTO

321 528 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 321
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Giáo dục việt nam và việc gia nhập wto” Ngày 17/11/2005 1 Bà Nguyễn Thị Bình Nguyên PCT nước CHXNCN Việt Nam Giáo dục Việt Nam với việc gia nhập WTO 1 2 Ông Lê Văn Giạng Nguyên TT

Trang 1

ViÖn Khoa häc Gi¸o dôc ViÖt Nam

-

kØ yÕu héi th¶o

gi¸o dôc viÖt nam

vµ viÖc gia nhËp wto

Hµ Néi - 2008

Trang 2

“Giáo dục việt nam và việc gia nhập wto”

Ngày 17/11/2005

1 Bà Nguyễn Thị Bình Nguyên PCT nước

CHXNCN Việt Nam Giáo dục Việt Nam với việc gia nhập WTO 1

2 Ông Lê Văn Giạng Nguyên TT Bộ Đại học Những việc cần làm ngay của ngành GD để

chuẩn bị cho việc gia nhập WTO 6

3 Ông Vũ Ngọc Hải Viện Khoa học Giáo dục

Việt Nam

Giáo dục Việt Nam và những tác động của

4 Ông Đỗ Minh Cương Tổng cục dạy nghề Phát triển Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề đáp

ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế 24

56

9 Ông Nguyễn Như ất Văn phòng chủ tịch nước Các thách thức về vấn đề quản lý các sân chơi

dịch vụ giáo dục khi Việt Nam vào WTO 59

12 Bà Nguyễn Hồng Bắc Vụ HTQT đa phương – Bộ

Ngoại giao Vờn đề giáo dục trong WTO/GATS 95

Trang 3

14

15 Ông Trần Khánh Đức Đại học Quốc gia Hà Nội

Những thách thức và cơ hội của giáo dục đại học Việt Nam trong tiến trình họi nhập quốc tế

và gia nhập WTO

123

16 Bà Nguyễn Hương

Trà Bộ Ngoại Giao

Toàn cầu hoá và các tác động của toàn cầu hoá

tới ngành giáo dục 131

17 Bà Thái Xuân Đào Viện Khoa học Giáo dục

Việt Nam

Hội nhập kinh tế quốc tế: Những cơ hội và thách thức đối với phát triển giáo dục không chính quy

Hội nhập WTO và những thách thức đối với

Cải cách giáo dục quốc gia nhằm thích ứng

điều kiện toàn cầu hoá 225

231

26 Bà Lê Thị Ngọc Thuý Viện Khoa học Giáo dục

Việt Nam

Vài nét về hệ thống giáo dục của Singapore

27 Bà Mai Kim Oanh Viện Khoa học Giáo dục

Việt Nam

Một số cơ hội và thách thức đối với giáo dục Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội 250

Trang 5

Đề cương tham luận về

“Giáo dục với việc Việt Nam gia nhập WTO”

Nguyễn Thị Bình Nguyên Phó Chủ tịch nước

Cần hiểu rõ một số vấn đề chung về WTO:

1 Cần hiểu rõ quá trình hình thành và bản chất của Tổ chức thương mại thế

giới (WTO) và tìm hiểu kinh nghiệm của các nước đã tham gia WTO, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam

Phải hiểu rằng Tổ chức thương mại thế giới không chỉ làm việc trao đổi, mua bán hàng hoá mà Hiệp định WTO đề cập đến tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội – từ kinh tế, dịch vụ đến sở hữu trí tuệ – và giáo dục được đặt trong lĩnh vực

“dịch vụ”

Những quy định chung có tính pháp lý ràng buộc các thành viên gia nhập WTO hết sức cụ thể và chặt chẽ Các ngành, các địa phương và nhân dân cần phải hiểu nó liên quan đến chúng ta như thế nào

Nguyên tắc chung là tự do, bình đẳng nhưng trong thực tế làm sao có bình

Nhưng cần nhận thức rõ đây là một cuộc chiến tranh rất phức tạp và quyết liệt Có cơ hội và nhiều thách thức Nhưng nếu vững vàng và khôn ngoan, ta có thể tận dụng cơ hội, tránh bớt thua thiệt Nếu không sẽ bị đẩy lù ra sau và bị các nước khác, trước hết là các nước đế quốc, tư bản sẽ nô dịch chúng ta dưới một hình thức khác – chủ nghĩa Tự do mới

Nói cách khác, trong cuộc đấu tranh này, ta phải giữ được quyền độc lập tự chủ về kinh tế – văn hoá, phải giữ được quyền độc lập về chính trị đã giành được qua cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc trước đây, trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, và có được như vậy thì mới có điều kiện để phát triển bền vững

và tiến lên xây dựng CNXH được

Phải khẳng định lập trường này trước hết

Trang 6

2 Từ lập trường nói trên, đối với giáo dục là một lĩnh vực cực kì quan trọng,

không chỉ mang tính chất xã hội mà cả chính trị và văn hoá Vấn đề chủ quyền

giáo dục là hết sức quyết định đối với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước

Trong xu thế toàn cầu hoá, chúng ta cần mở cửa ra thế giới, hợp tác, giao lưu để tranh thủ những cái hay, cái tiến bộ của các nước khác nhưng phải giữ vững được lợi ích quốc gia, bản sắc dân tộc cũng như là giữ được định hướng XHCN

Trong tình hình hiện nay, với những yếu kém, bất cập của nền giáo dục nước ta, quả là cuộc đấu tranh cho chủ quyền giáo dục không phả dễ dàng Nhưng có nhìn thẳng vào sự thật, xác định rõ yêu cầu phải phấn đấu thì mới có phương hướng đúng đắn cho sự nghiệp giáo dục đào tạo của chúng ta

Để giải quyết vấn đề đang đặt ra, phải giải quyết một số vấn đề có tính lý luận và thực tiễn để thống nhất nhận thức, quan điểm Ví dụ, như thế nào là chủ quyền giáo dục? Như thế nào là xâm nhập về văn hoá, tư tưởng của nước ngoài thông qua giáo dục

3 Nhìn vào hoạt động dịch vụ giáo dục của một số nước phát triển, để hiểu

cơ hội và thách thức của việc gia nhập WTO đối với giáo dục nước ta

Đối với các nước phát triển Mỹ, Anh, Đức, úc, Pháp đứng đầu là Mỹ, nhân

tố thị trường trong giáo dục ngày càng mạnh Trong năm 1996, Mỹ đã thu được

từ dịch vụ này 7 tỷ đô la, chủ yếu là từ các nước đang phát triển, đã giúp Mỹ bớt khó khăn trong giải quyết cân bằng kim ngạch trong trao đổi hàng hoá

Các phương thức mà các nước này áp dụng có thể như sau:

Thông qua trao đổi xuyên quốc gia để thay đổi phạm vi và không gian như giáo dục bằng mạng viễn thông, giáo dục hàm thụ

Thông qua phương thức tiêu dùng ngoài biên giới để cung cấp dịch vụ cho người tiêu dùng dịch vụ của cái khác, như hình thức du học Trong thời gian qua phương thức giáo dục này chủ yếu ở bậc đại học, cao đẳng, gần đây đang có xu hướng hạ thấp tuổi, tức là từ cấp 2, cấp 3 phổ thông Hậu quả của phương thức này còn ở chỗ bị mất chất xám, mất nhân tài

Thông qua phương thức dịch vụ tổ chức các cơ cấu giáo dục như cho phép nước ngoài xây dựng trường ở tại nước mình Mặt tích cực của phương thức này

là thực hiện du học tại chỗ, đất nước đỡ mất một số ngoại tệ chạy ra bên ngoài Nhưng phải tính đến sự cạnh tranh trên nhiều phương diện ta yếu thế hơn các

Trang 7

nước phát triển và xâu xa hơn nữa phải tính đến ảnh hưởng về văn hoá tư tưởng không lợi cho sự nghiệp của chúng ta

Thông qua sự trao đổi về nhân lực – qua phương thức này có thể mời giáo viên nước ngoài sang giảng dạy ở nước ta Cách này cũng có những ưu điểm là ta lựa chọn được những cán bộ giảng dạy và các môn khoa học ta cần – có thể tranh thủ được anh em trí thức Việt kiều các nước nhưng theo quy định về sự lưu

động tự nhiên của dân số (các nước trong WTO có thể tự do cư trú ở nước này, nước kia) thì phải có quy định nghiêm ngặt về tư cách của giáo viên như thế nào

để có những hạn chế cần thiết đối với người nước ngoài trong cung cấp dịch vụ giáo dục?

Một vấn đề nữa cần xem xét: quyền mở trường, chất lượng giáo dục, văn bằng, học hàm, học vị được xem là chủ quyền giáo dục của một quốc gia, nay trong bối cảnh WTO, cần xem xét lại từ xu thế quốc tế hoá giáo dục Cái gì nhất thiết và nên theo quy định chung của quốc té (thực tế chuẩn mực đều căn cứ của các nước phát triển) và cái gì là cái phải bảo vệ, coi đó là chủ quyền quốc gia cần phải giữ gìn?

Theo nhiều nguồn tin quốc tế, WTO đang có nhiều cố gắng để “dỡ” bớt những rào cản nhằm thúc đẩy tự do hoá hơn trong dịch vụ giáo dục Cũng do đó một phong trào chống thương mại hoá giáo dục đang hình thành ở các nước Liên hiệp Công đoàn giáo dục quốc tế đã tuyên bố: sự phụ thuộc của giáo dục vào quy luật thị trường chỉ càng làm tăng thêm sự bất công xã hội và họ cũng cảnh báo: “việc nhập khẩu giáo dục đại học ồ ạt ở Đông Nam á có thể dẫn đến

sự mở cửa vội vã và làm gia tăng sự lệ thuộc vào bên ngoài về nguồn lực giáo dục, du nhập văn hoá mới ” Chúng ta nên suy nghĩ về những ý kiến trên

4 Từ những tình hình trình bầy trên đây, giáo dục Việt Nam nên có những

chủ trương đối sách như thế nào?

Tôi nghĩ chúng ta cần thống nhất về mục đích và vị trí giáo dục ở đất nước

ta Quan điểm của Đảng ta, Nhà nước ta trước đây và ngày nay, cho mục đích giáo dục trước hết là xây dựng con người “Nếu muốn xây dựng CNXH, phải xây dựng con người XHCN”

Đứng về góc độ nhân dân, giáo dục (được học hành, phát triển toàn diện) là một trong quyền cơ bản của con người Do đó Nhà nước phải có trách nhiệm

đảm bảo quyền lợi đó một cách công bằng trong xã hội của chúng ta Tuỳ điều kiện cụ thể Nhà nước có những chủ trương cụ thể: như đầu tư cho giáo dục, huy

Trang 8

động sức dân cùng tham gia xây dựng trường, trường công lập, dân lập, Nhưng quản lý của nhà nước là thống nhất và phải làm cho sự nghiệp giáo dục đào tạo không ngừng phát triển và nội dung đào tạo phải theo đường lối quan điểm chính sách về giáo dục của Đảng Chủ trương xã hội hoá giáo dục của ta là đúng, nhưng xã hội hoá không nên hiểu là giảm phần trách nhiệm của Nhà nước

Một mục đích quan trọng khác là tạo nguồn nhân lực để phục vụ cho sự phát triển kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng ở đây bên cạnh đào tạo con người có lý tưởng, đạo đức, phải đào tạo con người có trình độ về khoa học kỹ thuật, nghề nghiệp, năng động sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có sức cạnh tranh quốc tế Hai mục đích đó phải gắn chặt nhau, nhưng cần nhấn mạnh đến chất lượng con người về phẩm chất

đạo đức, về lòng yêu nước, ý chí vươn lên – không khuất phục cường quyền, bất công, không chịu cảnh nghèo đói, lạc hậu Từ sức mạnh về tình thần đó thì chúng ta có thể vươn tới những kiến thức về khoa học, công nghệ, quản lý như bất cứ người dân của nước nào khác Đó phải chăng là quan điểm cần được nhấn mnạh trong sự nghiệp trồng người của Đảng ta? Ngay UNESCO cũng đã nêu 4 mục đích của giáo dục: “dạy chữ, dạy nghề, dạy người và dạy biết sống chung với nhau”

Nền giáo dục quốc dân là một hệ thống từ mẫu giáo, phổ thông, dạy nghề

đến cao đẳng và đại học Mỗi ngành học có nhiệm vụ và vị trí của nó Nhưng trước mắt khu vực nhạy cảm trong hội nhập quốc tế là khu vực đại học mà đó cũng chính là chỗ khá yếu của chúng ta

Tóm lại theo ý kiến của tôi không thể coi giáo dục đào tạo như các lĩnh vực khác Càng không thể xem giáo dục đơn thuần là một dịch vụ, có cung có cầu,

có mua bán trao đổi

Trước nhiệm vụ to lớn nặng nề của đất nước, lại trong bối cảnh của xu thế toàn cầu hoá mạnh mẽ, nhiệm vụ của giáo dục đào tạo đang đứng trước những

đòi hỏi hết sức khó khăn và phức tạp Đảng, Chính phủ cần phải thấy rõ đây là

khâu mấu chốt nhất trong cuộc đấu tranh hiện nay để xây dựng một nước Việt

Nam vững mạnh, phồn vinh, một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Chúng

ta thực sự đi quá chậm

Đề nghị phải tập trung đầu tư nhiều hơn nữa, trước hết vì chiến lược, phương hướng phát triển của giáo dục đào tạo và có những giải pháp thực tế và quyết liệt hơn

Trang 9

Mục tiêu trước mắt là phải chấn hưng nền giáo dục nước ta, đang có những yếu kém và bất cập lớn, phát huy và giữ vững nền giáo dục quốc dân tiến bộ của

ta, và có những đối sách để tranh thủ mặt tích cực của hội nhập quốc tế, đồng thời có những đối sách ngăn chặn sự xâm nhập của văn hoá - chính trị, tư tưởng xấu của chủ nghĩa tư bản bất lợi cho lợi ích quốc gia./

Trang 10

Những việc cần làm của ngành giáo dục

để chuẩn bị gia nhập wto

Lê Văn Giạng Nguyên Thứ trưởng Bộ Đại học

(Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Tôi nhận được thư của Viện Chiến lược và chương trình giáo dục mời viết bài cho hội thảo nói trên Đây là một vấn đề mà tôi còn ít hiểu biết và chưa có kinh nghiệm gì Tuy nhiên, theo tôi hiểu, đây là một hội thảo rất đúng lúc, mở

đầu cho việc Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức nghiên cứu một cách tập trung, có

kế hoạch về một loại vấn đề rất mới đối với ngành ta nhưng cũng sẽ có ảnh hưởng rất to lớn và sâu rộng tới tương lai nền giáo dục nước ta cả về hai mặt lợi

và hại Biết chủ động ứng phó thì sẽ tăng lợi, giảm hại Nếu bị động, lúng túng thì lợi sẽ rất ít, thậm chí không có gì mà hại thì chắc chắn và có khi khôn lường

cho đất nước (không nói đến lợi cho một số cá nhân nào đó) Vì nhận thức về

cuộc hội thảo này như vậy nên tôi cũng xin đóng góp một số ý kiến chung chung dưới đây

Tiến sĩ Nguyễn Như ất có cho tôi đọc dự thảo đề cương tham luận của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình về “Giáo dục với việc Việt Nam gia nhập WTO” Tôi hoàn toàn nhất trí với đề cương tham luận đó

Tôi xin nói thêm mấy điểm, dựa vào các chủ đề chính của Hội thảo mà Viện Chiến lược gửi cho tôi Tôi xếp các điểm góp ý của tôi vào hai mục lớn là:

I Cần tìm hiểu kĩ càng các lợi và hại khi ta gia nhập WTO

1) Mối quan hệ giữa Toàn cầu hoá (TCH) và WTO

a) TCH (globalisation) còn gọi là thế giới hoá (mondialisation), hoặc quốc

Trang 11

- Mặt tất yếu, không thể và cũng không nên cưỡng lại, phải ủng hộ: đó là

xu thế trong lịch sử loài người hợp tác, đoàn kết với nhau để giải quyết những vấn đề chung trên phạm vi cả trái đất, tạo ra một trật tự mới, tốt hơn cho loài người

- Mặt không tất yếu, cần và có thể cưỡng lại, theo phương châm của Việt

Nam ta là: hạn chế từng bước, tiến tới hạn chế hoàn toàn Đó là mặt trật tự tư bản chủ nghĩa; trật tự kẻ mạnh hiếp kẻ yếu, trật tự chỉ do một vài nước, thậm chí chỉ

do một siêu cường đặt ra cho toàn thế giới, lợi nhiều cho kẻ mạnh, lợi ít và hại nhiều cho kẻ yếu (như nước ta hiện nay)

Cả hai mặt nói trên chỉ dựa vào sự phát triển của khoa học công nghệ (đặc biệt là cuộc cách mạng thông tin) mà về bản chất của nó là có lợi cho nhân loại, nhưng khi đem ứng dụng thì nó sẽ có hại hay có lợi tuỳ theo nó được ứng dụng vào việc gì

Khi nói cưỡng lại mặt trái của TCH, không phải chỉ là đòi hỏi duy ý chí

của Việt Nam Cần lưu ý là phong trào có tính thế giới chống lại TCH đang diễn

ra ngay trong nội bộ các nước phát triển: các cuộc biểu tình liên tiếp tại các nước

đó khi có các hội nghị quốc tế liên quan đến TCH; gần đây phong trào chống mặt trái của TCH ở Châu Mỹ la tinh âm ỉ từ lâu đã sôi nổi lên (điển hình là ở Vénézuéla dám công khai đương đầu với siêu cường Mỹ) Việt Nam ta vì lợi ích

của mình và của chung thế giới cũng phải có cách tham gia tích cực vào phong trào thế giới cưỡng lại mặt trái của TCH

Cũng cần lưu ý đến ngọn cờ lý luận ủng hộ mặt trái của TCH là “chủ

nghĩa tự do mới” (néolibéralisme), một thứ lý luận tư bản chủ nghĩa nguy hiểm

mà ở ta lâu nay ít người biết đến, hoặc có nghe nói nhưng mơ hồ về nó

Từ những điều nói trên, chúng ta cần có một quan niệm động chứ không tĩnh về TCH Tuy theo sự phát triển của phong trào đấu tranh chống mặt trái của TCH , tính chất của TCH sẽ thay đổi Nhưng hiện nay (và trong vài thập niên sắp tới), mặt trái của TCH nổi trội hơn mặt phải

Trên đây là một vài suy nghĩ về TCH mà chúng ta cần xem xét để có cơ sở cho việc nghiên cứu đối sách của chúng ta khi tham gia vào WTO

b) WTO là một tổ chức quốc tế để thể chế hoá, luật pháp hoá TCH

TCH là một xu thế khách quan lịch sử WTO là một tổ chức quốc tế để

biến xu thế khách quan đó thành ý chí chủ quan, thành luật lệ, ràng buộc chặt

chẽ các thành viên tham gia và qua đó gián tiếp ảnh hưởng đến các nước chưa

Trang 12

tham gia, làm cho các nước này, dù muốn, dù không, cũng phải tìm cách tham gia

Như thế TCH và WTO vừa là một, vừa là hai Đây là một điều chúng ta cần lưu ý khi nghiên cứu TCH và WTO (bên cạnh WTO còn có một số tổ chức

quốc tế khác cũng nhằm thể chế hoá TCH, như IMF và WB nhưng không ràng

buộc chặt chẽ như WTO) Cần lưu ý là diễn đàn WTO cũng là nơi đang có đấu tranh chống mặt trái của TCH

Khi ta vào WTO, ta cần nắm và biết rất rõ, rất cụ thể về các luật lệ của

WTO, chứ không thể dừng lại ở việc nghiên cứu các đặc điểm, các tính chất, các quy luật như khi nghiên cứu TCH

Đặc biệt ngành giáo dục thì phải tìm hiểu rất cụ thể, rất đầy đủ các luật lệ của WTO có liên quan gián tiếp hay trực tiếp đến giáo dục Chúng ta đã biết 4

phương thức TCH giáo dục là trao đổi xuyên quốc gia, tiêu dùng ngoài biên giới,

hiện diện tổ chức và vào ra của nhân lực Vào WTO, chúng ta phải biết cụ thể luật lệ ràng buộc của WTO về từng phương thức nói trên như thế nào? Thí dụ về

phương thức “hiện diện tổ chức”, các tổ chức giáo dục của các thành viên WTO

có những quyền gì được vào nước ta mở trường hoạt động và nước ta có những quyền gì đối với các trường đó? Có quyền được đặt ra những điều kiện gì thì mới cho vào hay nhất thiết phải cho vào? Cho vào rồi thì nước ta có những quyền gì

trong việc kiểm soát những trường đó? về chất lượng? về tuyển sinh, về tốt nghiệp? nước ta phải có nghĩa vụ gì giúp đỡ các trường đó? (về thuế, về trường

sở v.v.)

Theo tôi, có lẽ trước mắt đây là vấn đề thiết thực nhất và quan trọng nhất

mà Bộ Giáo dục và đào tạo ta cần nắm rõ để thực thi nghĩa vụ và quyền hạn của mình và để nghiên cứu cách “tăng lợi, giảm hại” khi vào WTO

Về vấn đề công nhận tương đương bằng cấp, học vị trên quốc tế, ngành giáo dục ta đã có một số kinh nghiệm và hiểu biết qua hoạt động của ta ở

UNESCO; nay cần hệ thống hoá và cập nhật hoá khi vào WTO Nhân đây tôi

cũng lưu ý là hai tổ chức UNESCO và WTO có những xu thế ý thức và chính trị khác nhau; WTO thì bị ảnh hưởng chi phối của “chủ nghĩa tự do mới” còn UNESCO lại có xu hướng chống lại đến mức độ nào đó “chủ nghĩa tự do mới” Vì thế ta có thể khai thác chỗ khác nhau này trong cách ứng phó của chúng ta

Việc sáp lại gần nhau để đi tới có hệ thống giáo dục và qua đó có hệ thống bằng cấp giống nhau là một xu thế lành mạnh có lợi cho việc hợp tác quốc tế

Trang 13

trên nhiều mặt, miễn là không có sự áp đặt mà phải do bàn bạc và tự nguyện và

có quá trình chuẩn bị để hội nhập

II ngành giáo dục, bộ giáo dục và đào tạo của ta cần làm những gì để chuẩn bị cho việc ta vào wto và sau khi đ∙ vào wto

1) Cần thành lập một tổ chức trong Viện Chiến lược:

a) Chuyên nghiên cứu về luật lệ của WTO có liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới giáo dục Kết hợp với việc chính đó, cũng cần nghiên cứu kinh nghiệm

của các nước thành viên của WTO trong cách “tăng lợi, giảm hại” để hiểu rõ hơn các luật lệ của WTO, lưu ý rằng hầu hết các nước thành viên WTO đều là nước tư bản chủ nghĩa cho nên “lợi, hại” đối với họ nói chung không giống “lợi, hại” của nước ta Về mặt này ta nên chú ý nghiên cứu các nước Mỹ la tinh, họ đang chống mặt trái của TCH; có thể qua thực tiễn của các nước đó ta thấy rõ hơn

“lợi, hại” của ta về giáo dục khi gia nhập WTO ?

Trung Quốc mới vào WTO (2001) nên lợi hại cũng chủ yếu là ở mức dự

đoán

b) Có những khuyến cáo, kiến nghị đối với lãnh đạo Bộ Giáo dục và đào tạo về những lợi, hại trong quá trình nước ta tham gia vào WTO và đề xuất những vấn đề mà Bộ Giáo dục và đào tạo cần giao cho các cơ quan của Bộ nghiên cứu

2) Bộ Giáo dục và đào tạo cần đề nghị với Bộ Chính trị và Thủ tướng

Chính phủ cho Bộ Giáo dục và đào tạo biết kịp thời từng bước những dự định và kết quả những điều khoản cụ thể ta sẽ hay đã ký kết với WTO có liên quan tới

giáo dục, để Bộ Giáo dục và đào tạo kịp thời chủ động ứng phó và nếu có thể

được tham gia ý kiến vào việc ký kết các điều khoản đó

3) Đề nghị Bộ Giáo dục và đào tạo cần tăng cường việc quản lý du học sinh của ta ra học nước ngoài:

a) Đối với số du học sinh có học bổng do Chính phủ ta đài thọ

b) Đối với số du học sinh không do Chính phủ ta đài thọ:

- loại được học bổng của nước ngoài

- loại hoàn toàn tự túc Bộ ta nên có trách nhiệm tư vấn miễn phí đối với loại này

4) Theo tôi nghe nói, không biết có chính xác không, một tư duy cơ bản chỉ đạo các mối quan hệ trong WTO là: “không được phân biệt đối xử trong nước với ngoài nước”, tức là dễ hay khó với trong nước như thế nào thì cũng đối

Trang 14

xử dễ hay khó như vậy đối với ngoài nước, cũng tức là không được có “rào, cản”

riêng đối với ngoài nước

Nếu đúng như vậy, thì một phương pháp hữu hiệu để ứng xử sau khi vào

WTO là ngay từ bây giờ quản lý giáo dục trong nước cho nghiêm, nâng cao chất lượng, thắt chặt kỷ cương đối với khu vực trường tư và chăm lo xây dựng khu vực

trường công cho thật tốt Đó là “rào, cản” tốt nhất sau khi ta vào WTO để “tăng lợi, giảm hại” Điều này cũng phù hợp với nguyên lý “thực lực hay nội lực là yếu

tố quan trọng nhất để hợp tác và cạnh tranh một cách bình đẳng”

5) Tôi đề nghị sau cuộc hội thảo này, nên có kế hoạch tổ chức các hội thảo

tiếp theo để đi sâu hơn, cụ thể hơn vào các vấn đề ngành giáo dục ta cần quan

tâm sau khi vào WTO

Trang 15

Giáo dục việt nam và nhũng tác động của wto

GS.TSKH Vũ Ngọc Hải

Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục

Ngày 22 tháng 10 năm 1990 nước ta thiết lập quan hệ ngoại giao, quan hệ kinh tế, thương mại chính thức với EU và từ đấy đến nay ngày càng được củng

cố, phát triển, (thông qua hiệp định khung hợp tác kinh tế, thương mại giữa nước

ta và EU được ký vào ngày 17-7-1995) EU cũng đã công nhận chính thức nước

ta có nền kinh tế thị trường và nhờ đó đã tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác toàn diện Từ năm 1993 nước ta đã từng bước mở rộng quan hệ hoạt động với các

tổ chức tài chính, ngân hàng khu vực và trên thế giới như ADB, IMF, WB…Tiếp

đến ngày 28-7-1995, nước ta chính thức trở thành thành viên ASEAN và từ đấy

đến nay đã có nhiều ảnh hưởng và đóng góp quan trọng về tất cả các lĩnh vực: chính trị, ngoại giao, kinh tế, xã hội, y tế, giáo dục…đồng thời cũng đã tham gia

có kết quả các diễn đàn, đối thoại hợp tác ASEAN-EU và á-âu (ASEM) Ngày

1 tháng 1 năm 1996 nước ta tham gia các cam kết trong chương trình ưu đãi thuế quan chung (CEPT) của AFTA Tháng 3-1996 nước ta tham gia ASEM với tư cách là một trong những nước thành viên sáng lập Ngày 18 tháng 11 năm1998, Việt Nam là thành viên chính thức của APEC và đã tiến hành thực hiện chương trình hành động quốc gia (IAP) để thực hiện các mục tiêu tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại đầu tư của APEC

Tháng 12 năm 1994, nước ta chính thức gửi đơn gia nhập WTO Nhiều dự báo cuối năm 2005 nước ta sẽ trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO) Nguyên tắc hoạt động cơ bản của tổ chức này là dựa trên nền kinh tế thị trường Nền giáo dục nước ta chắc chắn phải đối mặt với những thách thức mới, thách thức quan trọng hơn cả là việc cam kết với thương mại dịch vụ giáo dục và nhu cầu mới của việc thực hiện những quy định của WTO có liên quan đến đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài Các thành viên là các nước phát triển của tổ chức này luôn có yêu cầu cao với các quốc gia khác cũng mở rộng thị trường dịch vụ, trong đó có dịch vụ giáo dục Dịch vụ giáo dục cũng sẽ là một nội dung

trong Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) WTO đã phân chia dịch

vụ và thương mại dịch vụ trên thế giới ra 12 nhóm lớn với 143 hạng mục dịch vụ Các nhóm dịch vụ này là:

Trang 16

1 Dịch vụ kinh doanh gồm: dịch vụ nghề nghiệp, dịch vụ máy tính và các lĩnh vực liên quan, dịch vụ nghiên cứu và triển khai, dịch vụ cho thuê bất

động sản, dịch vụ kinh doanh khác

2 Dịch vụ thông tin gồm: dịch vụ bưu điện, dịch vụ chuyển phát nhanh, dịch vụ viễn thông, dịch vụ nghe nhìn, dịch vụ khác

3 Dịch vụ xây dựng và kỹ thuật gồm: dịch vụ xây dựng nhà cửa, dịch

vụ xây dựng dân dụng, dịch vụ lắp đặt máy móc, dịch vụ hoàn thiện các công trình, dịch vụ khác

4 Dịch vụ kinh tiêu gồm: dịch vụ đại lý hoa hồng, dịch vụ bán buôn, dịch vụ bán lẻ, dịch vụ đại lý độc quyền, dịch vụ khác

5 Dịch vụ giáo dục gồm: dịch vụ giáo dục tiểu học, dịch vụ giáo dục trung học, dịch vụ đào tạo đại học, dịch vụ đào tạo trung học cho người lớn, dịch

vụ đào tạo trung học khác

6 Dịch vụ môi trường gồm: dịch vụ thoát nước, dịch vụ xử lý chất thải, dịch vụ vệ sinh và các hoạt động tương tự, dịch vụ khác

7 Dịch vụ tài chính gồm: dịch vụ bảo hiểm và các lĩnh vực liên quan tới bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ tài chính khác, dịch vụ khác

8 Dịch vụ liên quan đến sức khoẻ và xã hội gồm: dịch vụ chữa bệnh, dịch vụ bệnh viện, dịch vụ xã hội, dịch vụ sức khoẻ và xã hội khác

9 Dịch vụ du lịch và liên quan gồm: dịch vụ khách sạn và nhà hàng, dịch vụ dại lý và điều hành du lịch, dịch vụ hướng đẫnu lịch, dịch vụ khác

10 Dịch vụ giải trí, văn hoá và thể thao gồm: dịch vụ giải trí (nhà hát,

ca nhạc, xiếc…), dịch vụ báo chí, tin tức, dịch vụ thư viện, kiến trúc, bảo tàng, dịch vụ thể thao và các dịch vụ giải trí khác

11 Dịch vụ vận tải gồm: dịch vụ vận tải đường biển, dịch vụ vận tải nội thuỷ, dịch vụ vận tải vũ trụ, dịch vụ vận tải đường sắt, ô tô, dịch vụ vận tải đường ống dịch vụ vận tải liên quan tới tất cả các phương thức vận tải, dịch vụ vận tải khác

12 Các dịch vụ khâc

Riêng về giáo dục thì tại khoản 3, điều 10 Hiệp định chung về thương mại dịch

vụ của WTO có nói về giáo dục : trừ hoạt động giáo dục có nguồn tài trợ triệt để của Quốc gia; còn lại tất cả các hoạt động giáo dục có thu học phí, hoặc mang tính thương mại đều thuộc phạm trù thương mại giáo dục Trong 12 nhóm thương mại dịch vụ, thì dịch vụ giáo dục thuộc nhóm thứ năm Dịch vụ nhóm

Trang 17

này bao gồm: dịch vụ giáo dục tiểu học; dịch vụ giáo dục trung học; dịch vụ giáo dục đại học và cao đẳng; dịch vụ giáo dục cho người lớn và các dịch vụ giáo dục khác GATS là phần quan trọng trong hiệp định WTO và nó gồm 3 bộ phận: Hiệp định chung; các văn bản phụ lục; bảng giảm nhượng của các nước Tuỳ theo điều kiện phát triển giáo dục và luật pháp của nước ta, mà có thể đề xuất những lĩnh vực tham gia, giảm nhượng và mở cửa Thương mại dịch vụ khác với

thương mại hàng hoá chủ yếu ở chỗ: dịch vụ là hàng hoá vô hình, thương mại

dịch vụ giữa các nước là trao đổi hàng hoá vô hình giữa các nước Quản lý dịch

vụ này nhờ thuế quan, giấy phép, phối ngạch…

Bốn phương thức cung cấp dịch vụ của WTO

1 Cung ứng xuyên quốc gia (Cross border): tức là một thành viên có thể cung ứng dịch vụ từ nước mình đến bất cứ quốc gia nào trong WTO Với giáo dục chủ yếu là cung ứng dịch vụ đào tạo, chương trình, giáo trình và giáo dục từ xa

2 Tiêu thụ ngoài nước (Consumption abroad): quốc gia thành viên có thể cung cấp dịch vụ từ nước mình cho người tiêu thụ ở bất cứ quốc gia nào trong WTO Với giáo dục chủ yếu là dịch vụ du học…

3 Hiện diện thương mại (Commercial presence): chỉ việc cung cấp dịch vụ của một quốc gia thành viên có thể cung cấp dịch vụ tới các quốc gia

khác thông qua hiện diện thương mại Với giáo dục thể hiện ở chỗ một tổ chức

giáo dục của một quốc gia thành viên có thể mở hoạt động giáo dục, đào tạo của mình tại các quốc gia thành viên khác

4 Sự lưu chuyển công dân tự do (Presence of natural persons): chỉ việc cung cấp dịch vụ của nước thành viên có thể cung cấp dịch vụ thông qua sự lưu chuyển công dân tự do đến bất cứ nước thành viên khác nào Với giáo dục,

chủ yếu sẽ được thực hiện thông qua di chuyển hoạt động giảng dạy, đào tạo, nghiên cứu giữa các trường, viện, học viện, các cơ sở giáo dục và đào tạo, các

công ty giáo dục khác trong tất cả các nước thành viên

Trang 18

Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS)

Ngày 1 tháng 1 năm 1995 trên cơ sở hiệp định chung về thương mại thế giới, WTO đã xác lập với phạm vi gồm:

1 Hiệp thương đa biên có liên quan đến thương mại hàng hoá như hiệp định chung về thương mại, nông nghiệp…

2 Hiệp định chung về thương mại dịch vụ và các vấn đề kèm theo

3 Hiệp định chung về quyền sở hữu tri thức có liên quan đến thương mại

4 Cơ chế xem xét, bàn bạc, cải cách thương mại mậu dịch, tức thẩm

định xem văn bản pháp quy về chính sách thương mại của các nước thành viên

đúng hay sai so với hiệp nghị có liên quan của WTO, quyền lợi quy định trong các điều khoản phải thống nhất với nhau

5 Về các hiệp nghị có liên quan và trình tự giải quyết tranh chấp thương mại

Những thoả thuận có liên quan đến dịch vụ giáo dục Việt Nam

Các nước gia nhập WTO cần có các cam kết về những vấn đề liên quan đến thương mại dịch vụ Cam kết về mở cửa thị trường được quy định trong điều 16 của GATS: “ Đối với việc tiếp cận thị trường theo bốn phương thức cung cấp dịch

vụ, mỗi thành viên phải dành cho dịch vụ, hoặc người cung cấp dịch vụ của các thành viên khác sự đãi ngộ không kém phần thuận lợi hơn sự đãi ngộ theo những

điều kiện, điều khoản hạn chế đã được thoả thuận và quy định tại danh mục cam kết cụ thể “ Tuy nhiên yêu cầu về mở cửa thị trường dịch vụ không phải là bắt buộc với các nước thành viên Mỗi nước đều có thể đặt ra những giới hạn nhất

định đối với việc thâm nhập thị trường Khoản 2, điều 16 đề cập tới một danh sách ngắn gọn các biện pháp như vậy và mọi hạn chế cần phải nằm trong phạm

vi của các biện pháp đó Các biện pháp ấy bao gồm:

- Hạn chế số lượng người cung cấp dịch vụ

- Hạn chế về tổng trị giá giao dịch về dịch vụ

- Hạn chế số lượng các hoạt động dịch vụ

- Hạn chế về tổng số thể nhân cung cấp dịch vụ

Trang 19

- Các biện pháp hạn chế về hình thức đầu tư và thị trường dịch vụ

- Hạn chế về phần tham gia của vốn đầu tư nước ngoài

Khi một thành viên không áp dụng bất cứ một biện pháp hạn chế nào thì thành viên ấy được coi là mở cửa toàn phần Cho đến nay không có một thành viên nào của GATS cam kết mở cửa toàn phần thị trường dịch vụ Riêng với nước ta, thiết tưởng có thể thực hiện như sau:

1 Dịch vụ giáo dục hợp tác với nước ngoài có thể chủ yếu thông qua

các văn bản hợp đồng ngắn và dài hạn dựa vào luật pháp và các văn bản pháp

quy của Việt Nam và các cam kết trong hiệp định với WTO

2 Cho phép các tổ chức thương mại dịch vụ giáo dục các nước thành viên được lập văn phòng đại diện tại nước ta

3 Thời hạn sử dụng đất với mục đích cho giáo dục là 30- 50 năm

4 Quy định xung quanh vấn đề nhập cư của các công dân nước ngoài

đến làm dịch vụ giáo dục tại Việt Nam

Đặc điểm những cam kết về dịch vụ giáo dục của nước ta với WTO

1 Giáo dục phổ cập, giáo dục quốc phòng, an ninh, Đảng, đoàn thể, một số tổ chức xã hội không nằm trong dịch vụ giáo dục Còn lại mở dịch vụ mua, bán tri thức cho người học Tạo điều kiện để hệ thống giáo dục quốc dân nước ta ứng phó và thích nghi chủ động, tự tin trước sự tác động mạnh mẽ của dịch vụ giáo dục của các nước thành viên, đồng thời mở ra những cơ hội mới, nguồn đầu tư mới trong hợp tác phát triển giáo dục với nước ngoài

2 Dịch vụ cung ứng giáo dục xuyên quốc gia Chỉ nên cam kết về các lĩnh vực khoa học kỹ thuật, công nghệ, kinh tế, nông, lâm, ngư nghiệp…Một số lĩnh vực khác trong giáo dục mà về nội dung giáo dục và quản lý giáo dục khó

có thể khống chế, kiểm soát được những gì có hại đến an ninh quốc gia, đến con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa thì nhất định không cam kết

3 Cam kết mở rộng và đẩy mạnh tiêu thụ ngoài nước để có thể tăng số lượng công dân Việt Nam đi du học ngoài nước, đồng thời có chiến lược thu hút học sinh, sinh viên nước ngoài đến Việt Nam học tập

4 Phương thức hiện diện thương mại của dịch vụ giáo dục: Hạn chế việc cho phép đơn phương tổ chức giáo dục nước ngoài được mở trường hoặc cơ

sở giáo dục tại Việt Nam Mở rộng và tăng cường tổ chức hợp tác gíao dục giữa

Trang 20

ta và các nước thành viên và có thể để các nước thành viên hưởng đa số quyền lợi Tuy nhiên để làm được việc này cần lập được danh mục những lĩnh vực, ngành nghề nào ta cần phát triển, còn thiếu nhân lực, thiếu những người tài giỏi,

để có chính sách khuyến khích Mặt khác cần nhanh chóng hoàn thành và hoàn thiện các văn bản pháp quy phù hợp được với tình hình nước ta và những quy tắc, quy định của WTO

5 Sự lưu chuyển công dân tự do: Tất cả công dân các nước thành viên muốn đến cung ứng dịch vụ giáo dục tại Việt Nam, cần được các trường, các tổ chức giáo dục khác ở nước ta mời, hoặc thuê…Người đến cung ứng dịch vụ giáo dục phải có bằng đại học trở lên, có đủ bằng cấp, chức danh nghề nghiệp tương ứng và đã ít nhất có 2 năm kinh nghiệm sau khi ra trường

Những quyền lợi có được sau khi nước ta gia nhập WTO

Việc nước ta gia nhập tổ chức WTO là tất yếu lịch sử, thể hiện chủ trương,

đường lối đúng đắn của Đảng và Chính phủ trên con đường Đổi mới, mở cửa,

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với mục tiêu: xây dựng một xã hội dân giầu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh Một xã hội do dân làm chủ, có nền kinh tế phát triển cao, bền vững với một hệ thống quan hệ sản xuất tiên tiến phù hợp; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, mọi người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; được phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng nước ta đoàn kết, bình đẳng giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ, có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh

đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước khu vực và trên thế giới Với mục tiêu này sau khi gia nhập WTO, nước

ta có thêm điều kiện để hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo trình độ và tốc độ phát triển kinh tế của nước ta Những quyền lợi cơ bản có được sau khi nước ta gia nhập WTO có thể là:

1 Được hưởng đầy đủ đãi ngộ tối huệ quốc và đãi ngộ quốc dân đa biên vô điều kiện (tức đãi ngộ không kỳ thị)

2 Tham gia toàn diện thể chế thương mại mậu dịch đa biên

3 Được hưởng quyền lợi của các quốc gia đang phát triển

4 Hoàn thiện quá trình mở cửa thị trường và hoàn thiện pháp quy

5 Bảo lưu thể chế mậu dịch Nhà nước

Trang 21

6 Có điều kiện cho những bước tiến vựơt bậc trong lĩnh vực mở cửa thương mại dịch vụ

7 Cung cấp các khoản tiền phụ cấp cho phép theo quy định của WTO

đối với sản nghiệp trong nước

8 Bảo lưu quyền định giá quốc gia và chỉ đạo giá cả của Chính phủ

9 Bảo lưu quyền trưng thu thuế xuất khẩu

10 Bảo lưu quyền kiểm tra đối với sản phẩm xuất khẩu

Thách thức đối với giáo dục nước ta, khi Việt Nam gia nhập WTO

Thách thức đối với giáo dục khi nước ta gia nhập WTO, đồng thời cũng là cơ hội cho phát triển giáo dục Mặc dù sức cạnh tranh quốc tế của giáo dục nước

ta hiện nay với giáo dục các nước thành viên WTO còn nhiều yéu kém Nhưng

đây cũng chính là cơ hội buộc các cơ sở giáo dục ở nước ta, mà trước hết là các trường đại học, các học viện, các trường giáo dục chuyên nghiệp phải nỗ lực, nâng cao hiệu quả hoạt động đào tạo, nâng cao vị thế của mình sớm tạo lập được thương hiệu riêng qua năng lực cạnh tranh quốc tế Nhìn chung những thách thức

đối với giáo dục có thể là:

1 Đảm bảo thắng lợi đường lối giáo dục của Đảng để xây dựng thành công nền giáo dục Việt Nam theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa Trong mọi trường hợp phải kiên quyết đảm bảo chủ quyền giáo dục Chủ quyền giáo dục bao giờ cũng liên quan mật thiết đến văn hoá, kinh tế, chính trị Mỗi nhà trường Việt Nam phải là cái nôi của Đảng, Nhà nước, của dân, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đào tạo ra những con người Việt Nam kế tục xây dựng nước Việt Nam giầu đẹp, tự do, dân chủ, công bằng, văn minh, xã hội chủ nghĩa

2 Dù muốn hay không thì thị trường dịch vụ giáo dục cũng đã và đang hình thành ở nước ta Việt Nam sau khi trở thành thành viên của WTO, thì chính

là cơ hội giúp cho thị trường này phát triển Trước tình hình này, ngành giáo dục

mà trước hết là các nhà quản lý giáo dục có chịu “ chấp nhận” để hướng dẫn, để quản lý và đưa thị trường này phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hay vẫn giữ tư duy cũ: mặc cảm, khó chịu, phê phán, bài xích và kết quả chắc chắn

sẽ dẫn đến một thị trường tự do dịch vụ giáo dục phát triển không lành mạnh với nhiều tiêu cực vì thiếu bàn tay của người quản lý

Trang 22

3 Những kinh nghiệm về quản lý và tạo điều kiện cho một thị trường dịch vụ giáo dục phát triển đúng hướng ở nước ta còn thiếu và yếu, do vậy cần tiến hành xem xét, bổ sung các văn bản pháp quy hiện hành, kể cả Luật Giáo dục sửa đổi , đồng thời ban hành những văn bản pháp quy mới để hướng dẫn, điều chỉnh kịp thời giúp cho thị trường dịch vụ giáo dục ở nước ta thích hợp với những

điều khoản trong khuôn khổ của WTO-GATS mà lại phát triển lành mạnh được theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa

4 Giáo dục dù là công ích, phi lợi nhuận hay có lợi nhuận cần được quy định rõ trong luật pháp để đảm bảo giáo dục trên phương diện chủ thể luôn phải là sự nghiệp công ích xã hội Bản chất của giáo dục là nâng cao tố chất và

đào tạo kỹ năng nghề nghiệp cho người học

5 Những thách thức của WTO với nền giáo dục nước ta sẽ thể hiện ở tính cạnh tranh thị trường, làm gia tăng tính không công bằng trong giáo dục, không loại trừ xuất hiện hiện tượng “ chảy máu chất xám”…những điều này cần

được đặt ra cho các quyết sách giáo dục ở tầm vĩ mô

Cơ hội đối với giáo dục nước ta, khi Việt Nam gia nhập WTO

1 Tạo điều kiện hoàn thiện và phát triển bền vững hệ thống giáo dục quốc dân với mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài nhằm đáp ứng cho nhu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Trang 23

5 Tiếp thu có chọn lọc các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới về các phương diện: nội dung đào tạo, phương pháp giáo dục, phương tiện giáo dục, quản lý giáo dục, xây dựng đội ngũ giáo viên, đội ngũ những người quản lý giáo dục…hướng tới xây dựng hệ thống giáo dục học tập suốt đời trong một xã hội học tập

6 Đổi mới quản lý giáo dục theo hướng quản lý bằng pháp luật, bằng các văn bản pháp quy và tăng quyền tự chủ và tính trách nhiệm xã hội cho các cơ

sở giáo dục Gia tăng tính cạnh tranh lành mạnh đối với tất cả các cơ sở giáo dục, làm cho nền giáo dục nước ta ngày càng thích ứng được với xã hội, với nhu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập được với trào lưu phát triển giáo dục của thế giới

7 Tranh thủ cơ hội để mở cửa giáo dục nước ta với khu vực và thế giới Có chiến lược và kế hoạch khai thác thị trường giáo dục của ta ra nước ngoài Lợi dụng sự thừa nhận của nước ngoài đối với những ngành nghề đào tạo

có chất lượng ở nước ta và những ngành học nổi trội hoặc chỉ có ở nước ta mới

có, đồng thời với môi trường ổn định an ninh chính trị, quốc phòng và với học phí rẻ để thu hút lưu học sinh các nước đến nước ta học tập

Những việc cần làm của giáo dục nước ta trước tác động của WTO

1 Cần phân định rõ 3 loại hình giáo dục ở nước ta:

- Dịch vụ giáo dục công ích xã hội

- Dịch vụ giáo dục phi lợi nhuận

- Dịch vụ giáo dục có lợi nhuận

a) Dịch vụ giáo dục công ích x∙ hội: loại dịch vụ này chủ thể là giáo dục công

lập, là giáo dục mang tính công ích xã hội Dịch vụ này do tài chính công của nhà nước đảm nhận, được hưởng các chính sách ưu tiên toàn diện của Nhà nước Trong đó, trước hết là giáo dục phổ cập, các giáo dục đặc thù như chính trị, an ninh, quốc phòng, giáo dục trong các trường Đảng, thanh thiếu niên, giáo dục cải tạo… một số lĩnh vực giáo dục đặc thù khác không nằm trọn trong trao đổi dịch

vụ Trong trường hợp này hệ thống giáo dục nước ta cần thể hiện sự tương tác, ứng phó tự tin, bản lĩnh trước tác động mạnh mẽ của thương mại dịch vụ nước ngoài, nhưng đồng thời lại tìm cách có được nhiều nguồn đầu tư mới trong hợp

tác phát triển giáo dục công ích xã hội với nước ngoài

Trang 24

b) Dịch vụ giáo dục phi lợi nhuận: các trường học, các cơ sở giáo dục không

nhằm mục đích kinh doanh ở nước ta cần được hưởng những chế độ, chính sách

ưu đãi của Nhà nước ví dụ như chính sách sử dụng đất đai, xây dựng cơ bản, miễn giảm thuế…Trong trường hợp này nhất thiết cần lưu ý tới tính chất và sự cần thiết của các ngành nghề mà có đối sách cư xử sao cho có lợi nhất cho sự phát triển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội Hàng năm có thể thiết lập mục lục khoa học các ngành nghề hợp tác với nước ngoài, những ngành nghề mà bản thân nước ta chưa đào tạo được, những ngành nghề hiện ta còn thiếu người giỏi, thiếu nhân tài thực sự Nhìn chung cần có nhiều

chính sách khuyến khích để phát triển loại hình dịch vụ phi lợi nhuận

c) Dịch vụ giáo dục có lợi nhuận: đây là loại dịch vụ mang tính doanh lợi dưới

tiền đề nộp thuế theo đúng quy định của pháp luật Dịch vụ này thực chất là dịch

vụ mua bán tri thức, tay nghề, kỹ năng, kỹ xảo cho người học Trong điều kiện hiện nay, thiết tưởng nước ta cũng cần xác định rõ các lĩnh vực ngành nghề ở tất cả các cấp bậc học theo thứ tự cần thiết, trong đó ưu tiên hàng đầu đối với công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đối với một vài ngành nghề rất cần, nhưng nay vì một lý do gì đấy đã bị thui chột hoặc kém phát triển để đáp ứng yêu cầu dịch vụ giáo dục có lợi nhuận Dịch vụ giáo dục có lợi nhuận có thể được thực

hiện theo mấy cách dưới đây:

- Gia nhập thị trường dịch vụ giáo dục xuyên quốc gia: trong những năm gần đây khoa học công nghệ thông tin và mạng lưới thông tin viễn thông đã phát triển nhanh và có những bước tiến nhảy vọt ở các nước phát triển và cả một vài nước

đang phát triển Các con đường thông tin siêu tốc đang ngày một mở rộng Thành tựu này trên thực tế đã ảnh hưởng và làm biến đổi mạnh mẽ đến cách dạy

và học Như vậy người học hoàn toàn có thể chủ động tự lựa chọn thời gian thích hợp cho mình, lựa chọn nội dung cần học…thông qua mạng lưới giáo dục từ xa,

đại học ảo…Tuy nhiên cần lưu ý trong quản lý giáo dục, vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể giám sát, kiểm soát và quản lý được nội dung học tập để loại bỏ đi

được những gì có thể làm hại đến an ninh nước ta

- Gia nhập thị trường tiêu thụ ngoài nước: hiện nay hàng năm có khoảng trên 2 triệu học sinh, sinh viên lưu học ở các nước trên thế giới Trong đó có tới 3/4 số lượng người học từ các nước đang phát triển đổ đến các nước phát triển để học Lợi nhuận của các nước có người đến học đang ngày thu về những khoản rất lớn

Ví dụ tại Mỹ theo một số đánh giá thì năm 2005, giá trị dịch vụ giáo dục trên thị

Trang 25

trường này không dưới 90 tỷ USD Theo dự báo của Mỹ thì vào năm 2020 sẽ có tới 30% số trường công lập sẽ do các công ty thương mại quản lý, (xem”Người giám định16-10-2000, tr.15” Trong 5 năm cuối của thế kỷ XX doanh thu của công ty Edison Schools Ins Quản lý 79 trường phổ thông đã tăng từ 12 triệu USD và sẽ đạt 1,8 tỷ USD vào năm 2005 ở phương Tây trong dịch vụ giáo dục

đã hình thành nhiều tập đoàn xuyên quốc gia, trong đó có những tập đoàn rất lớn

về thông tin và viễn thông đang khai thác rất có hiệu quả dịch vụ giáo dục Các tập đoàn này thường có hệ thống đào tạo lại, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nguồn nhân lực Hàng năm chi phí cho giáo dục chuyên nghiệp và nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên chiếm không dưới 80-

100 tỷ USD Tập đoàn IBM trong những năm 1998-2000, tỷ trọng giảng dạy trên các phương tiện thông tin đại chúng đã tăng từ 10% đến 37% (Financial Times Surveys, 26-3-2001, p.1) Trong 15 năm cuối thế kỷ XX các tập đoàn xuyên quốc gia đã lập các trường đại học trong tập đoàn của mình và số lượng các trường này đã tăng từ 400 lên 2500 và dự kiến đến năm 2020 sẽ lên tới 3700 trường

- Nhu cầu đi học ngoài nước hiện nay ở nước ta ngày một cao Trong những năm gần đây bình quân mỗi năm có tới một vài nghìn người đến các nước trong khu vực và trên thế giới học tập Hiện có khoảng 40-50 nghìn lưu học sinh Việt Nam

đang học tập, nghiên cứu ở ngoài nước Theo hướng này chắc những năm sắp

đến số lượng người du học còn tiếp tục tăng hơn nữa Do vậy Nhà nước cần có thêm chính sách thu hút và sử dụng để nguồn nhân lực này có thêm điều kiện trở

về phục vụ Tổ quốc và xây dựng đất nước Đồng thời cần tạo nhiều điều kiện để các trường đại học, cao đẳng của nứơc ta có thể thu hút thêm được lưu học sinh các nước láng giềng, khu vực và trên thế giới đến Việt Nam nghiên cứu và học tập Số lượng lưu học sinh nước ngoài hiện nay học ở nước ta rất nhỏ, chỉ khoảng một vài trăm, một con số thật khiêm tốn Muốn vậy cần mở rộng quyền tự chủ và tính trách nhiệm xã hội cho các trường và cơ sở giáo dục Cần hình thành một cơ chế cạnh tranh lành mạnh giúp các trường sáng tạo, chủ động trong việc quảng bá và thu hút được nhiều người nước ngoài đến học

- Hình thành các trường và cơ sở giáo dục tư thục ở hầu hết tất cả các cấp, bậc, trình độ học và ngành nghề ở tất cả vùng, miền trong cả nước để đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng cao của mọi người dân ở nước ta Nhà nước cần có chính sách đảm bảo tính công bằng, dân chủ, tính chủ động, sáng tạo giúp cho các

Trang 26

trường và cơ sở này phát triển Loại hình này hiện nay rất phát triển trong các nước thành viên WTO và ở không ít nước, chính loại hình này đã tạo ra chất lượng cao cho một nền giáo dục có thương hiệu

2 Trên cơ sở hiến pháp, luật giáo dục sửa đổi, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đảm bảo quyền học tập của dân, đảm bảo chủ quyền giáo dục quốc gia, đảm bảo an ninh chính trị, quốc phòng…cần có các quy định cụ thể để khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài vào làm giáo dục ở nước ta, song không được lấy danh nghĩa hợp tác quốc tế, giao lưu giáo dục, dịch vụ giáo dục để tiến hành những hoạt động bị nghiêm cấm theo luật pháp Việt Nam hiện hành Tất cả những hoạt động về giáo dục của các cá nhân,

tổ chức nước ngoài chỉ được triển khai sau khi đã được các cơ quan có thẩm quyền ở nước ta phê chuẩn

3 Trong hợp tác quốc tế về giáo dục, Ngành giáo dục có kế hoạch chủ

động đề xuất và cho phép mở các ngành nghề có liên quan đến thương mại dịch

vụ giáo dục theo từng địa phương và trong cả nước, đồng thời đảm bảo quyền quản lý nhà nước về giáo dục ở các lĩnh vực này Trên cơ sở luật pháp nước ta, cho phép và tạo điều kiện cho nước ngoài và các tổ chức quốc tế đến mở trường,

mở ngành nghề theo hướng hiện đại, chất lượng cao, công nhận văn bằng, chứng chỉ lẫn nhau và tiệm cận tới Việt Nam hoá

4 Cần làm mới tất cả các văn bản về hợp tác giáo dục với nước ngoài sao cho phù hợp với tình hình nước ta và những yêu cầu của WTO để sớm trình

Đảng và Chính phủ ban hành

5 Quy định chính thức những ngôn ngữ được dùng trong dịch vụ giáo dục của nước ngoài tại nước ta

6 Có kế hoạch rút ngắn khoảng cách quy mô và chất lượng giáo

dục-đào tạo giữa miền núi, vùng khó khăn, xa xôi hẻo lánh với giáo dục tại các thành thị ở nước ta

7 Xây dựng chuẩn giáo dục Việt Nam theo hướng chất lượng, dân tộc, hiện đại đáp ứng thị trường lao động, việc làm và chủ động hội nhập được với khu vực và quốc tế

8 Cần có kế hoạch cụ thể rà soát, bổ sung, điều chỉnh và ban hành mới các văn bản pháp quy về giáo dục và liên quan đến giáo dục để tương thích với yêu cầu của WTO và tạo ra một môi trường lành mạnh cho giáo dục phát triển

Trang 27

9 Tiếp tục tăng cường đầu tư cho giáo dục, tạo cơ chế có nhiều nguồn lực cho giáo dục, đặc biệt các nguồn vốn từ ngoài nước Thực sự coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Coi giáo dục cũng thuộc lĩnh vực sản xuất- Lĩnh vực sản xuất tri thức Tạo cơ hội cho giáo dục phát triển và chiếm lĩnh thị trường, trước hết là thị trường trong nước và có kế hoạch từng bước vươn ra khu vực và quốc tế Thế giới nói: Việt Nam hiện đang là một thị trường giáo dục lớn

10 Tăng cường quản lý Nhà nước về giáo dục, giám sát mọi hoạt động trong giáo dục

TàI LIệU THAM KHảO

1 ảnh hưởng của WTO đối với nền giáo dục Trung Quốc, phân tích các đối sánh Bản trích dịch từ nguyên bản tiếng Trung (sách xanh về giáo dục Trung Quốc) của Nguyễn Thị Hường

2 Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của WTO Thế Hà giới thiệu Tạp chí Thông tin khoa học xã hội số 1 năm 2004

3 Bùi Anh Tuấn, Phạm Thái Hưng Những giải pháp vượt qua thách thức khi Việt Nam gia nhập WTO Báo Nhân Dân số 18216 ngày 20-6-2005, tr.2

4 Gia nhập WTO – Tiếng nói bạn bè: Việt Nam kiên định con đường đã chọn NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004

Trang 28

Phát triển Giáo dục kỹ thuật và dạy nghề

đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

PGS TS Đỗ Minh Cương

1 Nguồn nhân lực cạnh tranh

Gần 20 năm đổi mới và phát triển, kinh tế Việt nam đã có những bước phát triển vượt bậc và không ngừng khẳng định vị thế trên trường quốc tế và trong khu vực Những lợi thế của nền kinh tế trong những ngày đầu đổi mới giờ

đây không còn nhiều và những khó khăn, thách thức đang xuất hiện Thời kỳ

đầu đổi mới, những thay đổi về chính sách vĩ mô và môi trường kinh tế trong nước đã khơi dậy nguồn lực và đóng góp cho tăng trưởng, phát triển Đến nay, các nguồn lực vốn, tài nguyên, công nghệ đang dần được sử dụng hiệu quả hơn

và cạnh tranh hơn trong một nền kinh tế mở Các quốc gia dần nhận ra và đi theo hướng đầu tư cạnh tranh bằng nguồn ‘vốn nhân lực’

Những thay đổi về sản xuất, công nghệ, xu thế toàn cầu hoá, hội nhập và phân công lao động quốc tế đã tác động vào nền kinh tế, ảnh hưởng đến việc làm

và cuộc sống của người lao động Kinh nghiệm của một số nền kinh tế ‘con hổ’ như Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan đã được đúc kết là thành công trong xây dựng kinh tế là nhờ phát huy hiệu quả nguồn nhân lực Để xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cho đất nước trong giai đoạn hiện nay, cái mà chúng ta cần là xây dựng một đội ngũ lao động có tri thức, kiến thức, nghề nghiệp và thái độ lao

động tích cực Trong bài viết này, chúng tôi xin trao đổi về phát triển giáo dục

kỹ thuật và dạy nghề để xây dựng được một nguồn nhân lực cạnh tranh đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

2 Hội nhập kinh tế quốc tế - cơ hội và thách thức đối với phát triển nhân lực lao động kỹ thuật của Việt nam

Hội nhập kinh tế quốc tế bao hàm nhiều nội dung phức tạp, quan hệ chặt chẽ với nhau Các hoạt động cơ bản là thúc đẩy hoạt động xuất khẩu và tạo môi trường thu hút đầu tư nước ngoài và tựu chung lại là tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế

Phân công lao động quốc tế đã và đang tạo ra nhiều cơ hội và cũng nhiều thách thức đối với nền kinh tế Theo nhiều nghiên cứu đã chứng minh những

điểm lợi ích rõ ràng về công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động, nhưng

Trang 29

đồng thời cũng tạo ra sự phân hoá và tổn thương nhiều nhóm lao động trong đó

đặc biệt là sự phân hoá theo thái cực các nước giàu sản xuất các chế phẩm có hàm lượng chất xám cao đồng nghĩa với giá trị gia tăng cao, còn các nước nghèo sản xuất các sản phẩm dựa vào lao động và nguyên liệu thô

Trong quá trình cạnh tranh lao động quốc tế, ở các quốc gia đang phát triển có nguồn nhân lực nhiều về số lượng nhưng nghèo về chất lượng sẽ bị thua thiệt nhiều và dần dần sẽ bị dồn vào những lĩnh vực sản xuất đòi hỏi nhiều lao

động và thấp về công nghệ, kỹ thuật và vốn Một số biểu hiện của quá trình phân công lao động gần đây thông qua một số sản phẩm xuất khẩu Hàng hoá xuất khẩu ở các nước đó chủ yếu là hàng nông lâm sản như gạo, thuỷ sản, chè, cà phê, dầu thô và các sản phẩm gia công (dệt may, giày da) Tại Việt nam, tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2004 đạt khoảng 26 tỷ USD trong đó những sản phẩm có tốc độ tăng trưởng mạnh trong xuất khẩu lại chủ yếu là các sản phẩm thô (dầu khí, than đá ) và những mặt hàng gia công cho nước ngoài (giày dép, may mặc ), tăng trưởng xuất khẩu chủ yếu vẫn dựa trên cơ ở phát triển bề rộng, khai thác tài nguyên và sức lao động.1

Việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng đã có nhiều tiến bộ, vỗn đầu tư trực tiếp năm 2004 đạt 2,85 tỷ USD và tạo ra được khoảng 74 vạn chỗ việc làm Sau 15 năm mở cửa, chúng ta đã thu hút được hơn 40 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp qua gần 5000 dự án đầu tư, tương đương với 100% GDP, đây là khối lượng vốn FDI khá cao Tuy nhiên có xu hướng các công ty lớn đầu tư chủ yếu để khai thác thị trường trong nước mà không phải là đầu tư để làm cơ sở sản xuất để tái xuất khẩu ra thế giới (ngoại trừ dệt may và giày da).2 Xu hướng sử dụng lao động rẻ

và thị trường nội địa của các nhà đầu tư đang dần tác động vào lực lượng lao

động của Việt nam Đội ngũ lao động đang trở thành lực lượng làm thuê gia công hoặc sản xuất theo công nghệ không cao đáp ứng nhu cầu của thị trường nội địa thay vì công nghệ sản xuất tiên tiến phục vụ xuất khẩu hàng hoá ra thị trường thế giới

Những lợi thế cạnh tranh về nguồn tài nguyên và thu hút đầu tư nước ngoài trong quá trình hội nhập đang dần thu hẹp Mức cạnh tranh càng ngày càng lớn trong môi trường quốc tế, giữa các nước trong khu vực, và đặc biệt với Trung quốc là nước có nhiều đặc điểm lợi thế tương đồng với Việt nam như nguồn nhân lực dồi dào, chi phí nhân công rẻ và một thị trường nội địa lớn

1 Nguyễn Văn Thường, 2005, trang 80, 87

2 Trần Quốc Hùng, 7/2004, www.vneconomy.com.vn

Trang 30

Việt nam có một lực lượng lao động dồi dào về số lượng Lực lượng lao

động chiếm 71,4% dân số trong độ tuổi lao động, tỷ lệ lao động trẻ và tỷ lệ tham gia lao động chiếm 50% trong lực lượng lao động3 Tuy vậy, lực lượng lao động của Việt nam lại có tỷ lệ lao động được đào tạo thấp Tổng số lao động đã qua

đào tạo trong lực lượng lao động chiếm 22,6%.4 Tính trên 10.000 dân, số sinh viên của Việt nam chỉ là 118 người (năm 2001), trong khi của Thái lan là 2166 người, Malaysia là 884 người và Trung quốc là 377 người (năm 1999) Hơn thế nữa cơ cấu đào tạo lực lượng lao động còn nhiều bất hợp lý, số lao động có trình

độ công nhân kỹ thuật bậc cao còn quá thiếu so với yêu cầu và tập trung nhiều ở các đô thị lớn.5 Thiếu lao động chất xám cả về số lượng và chất lượng là một tình trạng hiển hiện trong nền kinh tế và trong cạnh tranh thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài Ngoài những yếu tố cơ bản về tri thức và tay nghề, thể lực người lao

động Việt nam cũng có nhiều hạn chế, tác phong và kỷ luật lao động công nghiệp chưa cao

Thị trường lao động kém linh hoạt là một thực tế ở Việt nam, hàng năm có 1,55 triệu việc làm mới và có gần 1,3 triệu người thay đổi chỗ làm việc (kể cả thay đổi chỗ làm việc trong cùng một doanh nghiệp) Như vậy tổng số sẽ có khoảng 2,8 triệu người có việc làm mới hoặc thay đổi chỗ làm việc (chiếm khoảng 15%) tổng lực lượng lao động Trong khi ở các nước có thị trường lao

động linh hoạt và phát triển, việc làm mới và chuyển đổi việc làm thường chiếm

đến 50% lực lượng lao động.6

Như vậy còn lại gần như duy nhất một lợi thế của lao động Việt nam mà cũng đang ngày một giảm dần nhất là giá nhân công Giá cả sức lao động thấp nhưng đang có chiều hướng tăng lên nhanh, qua số liệu điều tra mức sống dân cư, mức tiền công trung bình 1992-2002 đã tăng khoảng 2 lần và tiền lương bình quân theo giờ của lao động Việt nam ở mức 0,64USD một giờ và mức giá tiền công này tương đối rẻ so với nhiều nước nhưng không thấp hơn nhiều so với chi phí nhân công của lao động Trung quốc (0,84USD/giờ) và cao hơn giá nhân công của ấn độ (0,16USD/giờ) và Pakistan (0,29USD/giờ), (số liệu năm 2000)7

Về chất lượng nguồn nhân lực của Việt nam trong quá trình hội nhập, bên cạnh những tiến bộ đạt được, theo một nghiên cứu gần đây đánh giá chất lượng

3 Điều tra lao động-việc làm 2003, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

4 Điều tra lao động-việc làm 2004, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

5 Dự án VIE 01/025, trang 199

6 Dự án VIE 01/025, trang 200

7 Trần Quốc Hùng, thời báo KTSG, 7/2004

Trang 31

lao động của lao động Việt nam đạt 32 điểm (32/100) và theo nhận định chung nếu dưới 35 điểm lực lượng lao động đang có nguy cơ mất thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế Tay nghề và trình độ đào tạo của lao động lạc hậu đang là nguyên nhân góp phần làm hạn chế tiếp nhận công nghệ hiện đại vào sản xuất trong nước, hạn chế chất lượng sản phẩm sản xuất và xuất khẩu cũng như hạn chế thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Cạnh tranh công nghệ, sản xuất xuất khẩu và công nghệ đang dần ngầm định một cuộc cạnh tranh về ‘vốn nhân lực’

Nếu chất lượng đội ngũ lao động không tốt, không ứng dụng và sản xuất trên nền công nghệ tiên tiến, sẽ dẫn đến sản xuất ra những hàng hoá chất lượng không cao, không giảm được chi phí sản xuất, khó khăn trong cạnh tranh với hàng nhập khẩu Hàng hoá nhập khẩu ‘xâm lấn’ chiếm chỗ sản xuất trong nước, dẫn đến thua thiệt và mất công ăn việc làm ngay trong nền kinh tế nội địa

Trong một thị trường lao động cạnh tranh trực tiếp, nếu lực lượng lao động Việt nam không đảm nhiệm được các công nghệ sản xuất hiện đại, kỹ thuật cao, buộc Nhà nước phải cho phép thuê nhân công nước ngoài (kỹ thuật cao, quản lý) vào làm việc ngay trên thị trường lao động trong nước Trong trường hợp ngược lại, chất lượng lao động chúng ta cao, dồi dào lao động kỹ thuật cao, chúng ta sẽ xuất khẩu những lao động này ra thị trường lao động quốc tế Còn trên thực tế, chúng ta đang xuất khẩu chủ yếu là lao động phổ thông không có tay nghề cho các nước có nhu cầu Hiện chúng ta đang có trên 350.000 lao động làm việc trên hơn 40 nước Hàng năm số lao động đưa đi xuất khẩu lên đến 70 ngàn người trong đó chỉ có khoảng 27,5% lao động có tay nghề hoặc đã được qua đào tạo.8Xuất khẩu lao động đã và đang mang lại những nguồn lợi lớn cho đất nước, trong

đó có cả lợi ích về kiến thức và nghề nghiệp thu được qua thời gian làm việc ở nước ngoài của người lao động Tuy nhiên, nhìn chung lao động đi làm việc ở nước ngoài không có tay nghề, mức thu nhập thấp và sức cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế yếu

Những thành công hay thất bại trong cạnh tranh giành dật được việc làm trên thị trường lao động trong nước và quốc tế phụ thuộc chính vào chất lượng lực lượng lao động của chúng ta Như vậy, cần phải sớm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và hội nhập, trong đó lao động

kỹ thuật chiếm đến 90% lực lượng lao động này

8 Đề án đào tạo nghề cho lao động xuất khẩu, Tổng cục Dạy nghề, 2004, trang 2

Trang 32

3 Thực trạng giáo dục kỹ thuật và dạy nghề

Theo báo cáo của Tổng cục Dạy nghề, đến nay chúng ta có 1688 cơ sở dạy nghề trong đó có 233 trường (tăng gấp đôi so với năm 1999, 129 trường) Qui mô tuyển sinh đào tạo hàng năm khoảng 1,18 triệu người trong đó đào tạo dài hạn khoảng 228.000 người Qui mô dạy nghề trình độ cao trong một số ngành nghề sử dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến còn nhỏ bé (chiếm khoảng 15%).9 Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề nâng dần qua các năm và đạt khoảng 19,2% vào năm 2005 (kế hoạch và dự kiến thực hiện) Tỷ lệ này là sự nỗ lực vượt bậc của hoạt động dạy nghề trong thời gian vừa qua, tuy nhiên còn rất thấp so với nhiều nước trong khu vực

Trong những năm qua đội ngũ giáo viên dạy nghề đã tăng nhanh về số lượng từ 5200 giáo viên năm 1998 đến nay đã có khoảng 8000 người Trong đó 70% số giáo viên có trình độ cao đẳng trở lên Hệ thống các cơ sở đào tạo giáo viên dạy nghề đang được tăng dần về số lượng và nâng cao về chất lượng

Đầu tư cho dạy nghề hàng năm đều đã tăng theo chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án quốc tế đầu tư cho 50 trường dạy nghề và gần 100 trung tâm dạy nghề Ngoài ra các địa phương và các doanh nghiệp nhà nước cũng tham gia đàu tư cho dạy nghề Trong cơ cấu đầu tư chung của giáo dục đào tạo, chi phí đầu tư cho dạy nghề tăng từ 4,7% năm 2000 lên 6.5% trong năm 2004 đã là một cố gắng tuy còn hạn chế vì tốc độ tăng đào tạo nghề hàng năm ở ta là 20% Theo kinh nghiệm của nhiều quốc gia khác, mức đầu tư chung cho đào tạo nghề thường lên đến khoảng 9-10% trong ngân sách giành cho giáo dục và đào tạo.10

Các nguồn lực trong dân và từ các tổ chức quốc tế thông qua các dự án (khoảng

160 triệu USD) đã đóng góp vào mức đầu tư chung của xã hội cho dạy nghề trong thời gian qua Những đầu tư về cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ giáo viên,

đổi mới chương trình đào tạo đã giúp cho đào tạo nghề Việt nam dần khắc phục

được các nhược điểm cố hữu là dạy và học ‘chay’, nặng lý thuyết và thiếu kỹ năng thực hành

Vấn đề xã hội hoá dạy nghề theo chủ trương của Đảng và Nhà nước đã có những biểu hiện tích cực với số lượng các cơ sở dạy nghề ngoài công lập chiếm

đến 40% (năm 2004) Cơ cấu đầu tư cho dạy nghề, ngoài phần đầu tư chính từ nhà nước, các thành phần khác tham gia nguồn lực đầu tư như từ các doanh nghiệp (13%), người dân (18%) và quốc tế (9%)

9 Báo cáo của Tổng cục Dạy nghề, trang 4

10 GS Jie Tae Hong, 2001, trang 15

Trang 33

Các mô hình dạy nghề đã được mở rộng về tổ chức, phương thức và đối tượng thực hiện như dạy nghề cho nông dân, cho bộ đội xuất ngũ, cho thanh niên dân tộc nội trú cho lao động để cung cấp cho các khu công nghiệp và khu chế xuất Những mô hình dạy nghề này đã chứng minh tính hiệu quả về mặt xã hội rất lớn, hàng trăm ngàn lượt người được đào tạo để nhanh chóng lấp vào chỗ thiếu hụt, nhanh chóng tăng nhanh về số lượng lao động được đào tạo nghề hàng năm Tuy nhiên, những thiếu hụt về lao động đào tạo dài hạn, chính qui lành nghề đang là điều bức xúc đáp ứng yêu cầu của sản xuất kinh doanh, của nền kinh tế và hội nhập thu hút đầu tư nước ngoài

Một bước tiến trong cải cách hệ thống dạy nghề là đổi mới các mục tiêu, định hướng đào tạo nghề theo nhu cầu thị trường, nhưng mức độ dự báo thị trường và tiếp cận thị trường dựa trên nhu cầu phát triển kinh tế xã hội trong tương lai còn nhiều hạn chế không chỉ đối với các cơ sở đào tạo mà cả ở cấp vĩ mô

Đánh giá chất lượng đào tạo và cấp văn bằng chứng chỉ còn nhiều hạn chế

và chưa đáp ứng hội nhập thị trường lao động Hệ thống hiện tại đang thừa nhận

và dựa trên những hệ thống tiêu chuẩn nghề nghiệp quốc gia cũ (VD: hệ thống 7 bậc nghề nghiệp của công nhân) Hệ thống tiêu chuẩn quốc gia về nghề nghiệp chưa có sự thay đổi làm cho hệ thống đánh giá và cấp văn bằng chứng chỉ gặp nhiều bất cập và đặc biệt chưa tiệm cận với tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia và khu vực Một số trường dạy nghề thuộc doanh nghiệp đang áp dụng tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và đánh giá theo hệ thống ISO 9002 (VD: Trường đào tạo của công ty May 10) để làm cơ sở đánh giá kỹ năng nghề của người lao động

và đào tạo dựa trên yêu cầu công việc Hiện tại, Dự án Giáo dục kỹ thuật và Dạy nghề, Tổng cục dạy nghề đang tiến hành xây dựng hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề cho 48 nghề cơ bản, phổ biến, và hệ thống đánh giá cấp văn bằng chứng chỉ Hai hệ thống này hình thành và gắn bó, phản ảnh yêu cầu năng lực mỗi nghề vào trong hệ thống đào tạo, giúp cho đào tạo gắn với việc làm và nhu cầu của thị trường lao động

Chương trình giảng dạy trong thời gian qua đã có những đổi mới tiếp cận theo phương pháp mô đun, đào tạo dựa trên năng lực thực hiện trong dạy nghề phần nào đã đáp ứng được yêu cầu của những thay đổi về công nghệ và cho phép người lao động cập nhật kiến thức và học tập liên tục Hiện tại, những đổi mới

đang được thực hiện biên soạn với 76 chương trình dạy nghề bậc trung cấp nghề

và cao đẳng nghề và 42 chương trình dạy nghề sơ cấp

Trang 34

Với mục tiêu đến năm 2010 nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo trong toàn bộ lực lượng lao động lên 40%, trong đó đào tạo nghề lên 26%, qui mô đào tạo hàng năm từ 2005-2010 khoảng 1,5 triệu người trong đó trình độ đào tạo trung cấp nghề và cao đẳng nghề khoảng 30% cần thiết phải có sự tập trung đầu tư nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, mọi đối tác xã hội tham gia vào dạy nghề

4 Một số gợi mở phương hướng phát triển dạy nghề đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

Những nỗ lực về chính sách sử dụng lao động và đầu tư cho đào tạo nghề cần phải được sự hậu thuẫn về nhiều mặt để thay đổi nhận thức và quan điểm của xã hội, các bậc phụ huynh và bản thân người lao động Một xã hội học tập phải

được bắt nguồn từ một xã hội lao động Những giá trị đích thực từ việc làm cần phải được khuyến khích để tạo nên một xã hội hăng say lao động, tiến tới một xã hội học tập Trong đó mọi người dân đều chăm chỉ làm việc và từ đó nảy sinh nhu cầu học tập đáp ứng yêu cầu công việc và một xã hội mà mọi người dân mong muốn học tập suốt đời

Theo kinh nghiệm và đánh giá của các chuyên gia quốc tế, trong giai đoạn

đầu của xây dựng nguồn nhân lực kỹ thuật này, Nhà nước nên là chủ thể chính cải cách và phát triển nhân lực thì vai trò của nhà nước như là sự lãnh đạo, đầu tư mạnh mẽ vào xây dựng nguồn nhân lực ‘kích cung’, đáp ứng những đòi hỏi và nhu cầu nhân lực có trình độ tay nghề cao phục vụ công nghiệp hoá, cạnh tranh

và thu hút đầu tư nước ngoài.11 Nhà nước cần đầu tư xây dựng hoặc củng cố nâng cấp thêm nhiều trường dạy nghề chính qui từ bậc trung cấp nghề, cao đẳng nghề, chú trọng đào tạo đội ngũ nhân lực trình độ cao cho phát triển công nghiệp Nguồn nhân lực kỹ thuật lành nghề là yếu tố then chốt cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Vì vậy, đầu tư của Nhà nước cho dạy nghề cần thiết phải nâng lên trong ngân sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo lên mức bình quân 8%/năm và 10-12% vào năm 2010

Các chính sách (đặc biệt Luật Dạy nghề sắp ban hành) rất cần phải khuyến khích những người sử dụng lao động và các thành phần kinh tế tư nhân, tập thể, các tổ chức chính trị xã hội, các hiệp hội, đoàn thể tham gia xây dựng thêm nhiều trường dạy nghề Các chính sách vĩ mô về qui hoạch, kế hoạch đào tạo, phát triển và đổi mới quản lý dạy nghề cần xuất phát từ nhu cầu của thị trường lao động

11 GS Jie Tae Hong, 2001, trang 14

Trang 35

Đa dạng hoá các loại hình cơ sở dạy nghề, phương thức đào tạo, tổ chức quá trình đào tạo nhằm tạo điều kiện thuận lợi để người lao động được thụ hưởng các dịch vụ dạy nghề trong suốt cuộc đời lao động (lựa chọn nghề học, chương trình học, phương thức học, thời gian và địa điểm học v.v ) Đổi mới phương pháp dạy và học, phát huy tính chủ động, sáng tạo, khả năng tự học, tự đánh giá

và năng lực tìm và tạo việc làm của học sinh học nghề

Đổi mới chương trình, giáo trình đào tạo theo hướng ‘hướng đích’ việc làm cho người học và phục vụ đáp ứng yêu cầu của người sử dụng lao động Vì thế các chương trình đào tạo phải linh hoạt, cập nhật và phải có sự tham gia đặt hàng từ phía người sử dụng lao động Cùng với cơ sở vật chất, chương trình giáo trình là đội ngũ quản lý và giáo viên dạy nghề phải không ngừng đào tạo, bồi dưỡng tăng về số lượng, chuẩn hoá theo tiêu chuẩn quốc gia và tiệm cận với chuẩn quốc tế và khu vực

Ngoài việc tăng năng lực cung của hệ thống bằng việc huy động mọi nguồn lực của xã hội tham gia dạy nghề thì việc quốc tế hoá hoạt động dạy nghề

là định hướng quan trọng nhằm xây dựng đội ngũ lao động đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế Trong đó càn nhanh chóng xây dựng được một hệ thống các tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp quốc gia với yêu cầu tiệm cận với quốc tế và khu vực làm cơ sở cho đào tạo sát với yêu cầu thị trường lao động trong nước và quốc tế Xây dựng một hệ thống kiểm định chất lượng để đánh giá chất lượng và quá trình đào tạo đáp ứng các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế

Sớm xây dựng hệ thống đánh giá và cấp văn bằng chứng chỉ quốc gia theo sát với yêu cầu của thị trường lao động trong nước, đạt các chuẩn của khu vực và quốc tế và tiến tới hoà nhập và ngang bằng/chuyển đổi linh hoạt trong khu vực Tăng cường các hoạt động giao lưu đào tạo nghề quốc tế bằng cách tích cực tham gia các triển lãm kỹ thuật, các hội thi tay nghề quốc tế và khu vực và đào tạo nghề ở ngoài nước thông qua gửi lao động đi đào tạo nghề ở nước ngoài và xuất khẩu lao động

Trang 36

cách hệ thống đào tạo và cung ứng lao động kỹ thuật cho nền kinh tế là để tạo dựng một hệ thống cung đúng hướng, dẫn dắt định hướng cho sự phát triển của nguồn nhân lực quốc gia Đối với yêu cầu nhân lực cho hội nhập kinh tế quốc tế thì yêu cầu quan trọng của hệ thống tiến hành cải cách hệ thống quản lý, xây dựng các chuẩn và tăng cường trao đổi, học tập, quốc tế hoá dạy nghề và đưa bản thân hoạt động dạy nghề hội nhập vào khu vực và thế giới

Tài liệu tham khảo

1 Xây dựng nguồn nhân lực Hàn Quốc: Những bài học kinh nghiệm, GS Jie Tae Hong, Đại học Bách Khoa Hàn Quốc, 2001

2 Báo cáo thực trạng và yêu cầu đổi mới công tác dạy nghề, Tổng cục Dạy nghề - 2005

3 Kinh tế Việt nam năm 2004 - Những vấn đề nổi bật, GS.TS Nguyễn Văn Thường, GS TS Nguyễn Kế Tuấn, NXB Lý luận chính trị, HN 2005

4 Toàn cầu hoá: Cơ hội và thách thức đối với lao động Việt nam, TS Nguyễn Bá Ngọc & KS Trần Văn Hoan, NXB LĐ-XH 2002

5 Toàn cầu hoá kinh tế, GS.TS Dương Phú Hiệp, NXB KHXH 2001

6 Đổi mới giáo dục đại học và hội nhập quốc tế, Hội đồng Quốc gia giáo dục Việt nam, NXB Giáo dục 2005

7 Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Dự án VIE 01/025, NXB GTVT

2004

8 Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt nam – Lý luận và Thực tiễn, PGS.TS

Đỗ Minh Cương & TS Mạc Văn Tiến, NXB LĐ_XH 2004

9 Chính sách xã hội và quá trình toàn cầu hoá, Bruno Palier, Diễn đàn kinh

tế – tài chính Việt Pháp, NXB Chính trị quốc gia, 2003

10 Kinh tế xã hội Việt nam trước thềm hội nhập, TS Đinh Quý Xuân, NXB Thống kê, 2005

Trang 37

Hội nhập quốc tế

và những vấn đề đặt ra đối với giáo dục Việt Nam

TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến

Bộ Giáo dục và Đào tạo

1 Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế

Toàn cầu hoá là dòng chảy xuyên biên giới của vốn, công nghệ, hàng hoá, dịch vụ, con người, thông tin, tri thức, ý tưởng … Dòng chảy này thực hiện được trước hết vì sự phát triển nhanh chóng của khoa học-công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin liên lạc (ICT) và tiếp nữa vì quá trình tự do hoá thương mại như một làn sóng mới trong cải cách kinh tế ở các quốc gia

Nguồn gốc và bản chất, lợi ích và rủi ro của toàn cầu hoá đã và đang được tranh cãi rộng rãi, đặc biệt là tác động và hệ luỵ của nó đối với trật tự kinh tế, xã hội và chính trị thế giới Có một điều có lẽ không còn tranh cãi nữa Đó là toàn

cầu hoá là một quá trình không thể đảo ngược và hội nhập là điều kiện cần thiết

để các nước đang phát triển không bị bỏ rơi trong cuộc chơi toàn cầu

Hội nhập kinh tế quốc tế là biểu hiện đầu tiên và trước hết của toàn cầu hoá Về bản chất đó là sự hợp tác và cạnh tranh về kinh tế trên thị trường toàn cầu thông qua tự do hoá thương mại Trong nửa cuối của thế kỷ XX, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) là công cụ chính để giám sát và điều chỉnh thương mại quốc tế Nó cũng đồng thời là cơ sở gắn kết các nước thành viên của GATT thành một diễn đàn thường trực về các đàm phán thương mại với

ba mục tiêu chính: khuyến khích tự do hoá thương mại càng nhiều càng tốt, tuần

tự tự do hoá thương mại thông qua đàm phán, thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp

Diễn đàn đó là tiền thân của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ra đời vào năm 1995 và thay thế GATT Đó là tổ chức quốc tế duy nhất có nhiệm vụ thiết lập các nguyên tắc và quy định về thương mại giữa các nước

Trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay, WTO ngày càng có quyền lực và

ảnh hưởng lớn tới các quốc gia Về lý thuyết, đó là một cơ chế dân chủ tuyệt vời trong đó mỗi nước thành viên đều có tiếng nói với trọng lượng như nhau Tuy nhiên, không hẳn là như vậy Nếu trong cuộc chơi toàn cầu hoá, các nước lớn hiện vẫn dành quyền đề ra luật chơi thì WTO không phải là một ngoại lệ Tại

Trang 38

vòng đàm phán Uruguay, cách đây mười năm, dù các nước thành viên là các nước đang phát triển chiếm đa số và không tán thành, nhưng Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) vẫn được thông qua Điều đó mở đường cho một

tiến trình mới trong toàn cầu hoá Đó là hội nhập giáo dục bên cạnh hai tiến

trình hội nhập đã thành hiện thực là hội nhập kinh tế và hội nhập văn hoá

2 GATS và hội nhập giáo dục

Dịch vụ chiếm khoảng 75% hoạt động kinh tế trong các nước phát triển Còn trong thương mại thế giới ngày nay, thương mại dịch vụ mới chỉ chiếm 25% tổng giá trị Vì vậy bước đi tất yếu của WTO là mở rộng tự do hoá thương mại từ thương mại hàng hoá (GATT) sang thương mại dịch vụ (GATS)

Theo phân loại của GATS, hiện có 12 ngành dịch vụ với khoảng 160 phân ngành Trong đó dịch vụ giáo dục gồm 5 phân ngành là: dịch vụ giáo dục tiểu hoc, dịch vụ giáo dục trung học, dịch vụ giáo dục đại học, giáo dục người lớn và các dịch vụ giáo dục khác Ngay trong Điều 1 của GATS đã quy định 4 phương

thức thương mại dịch vụ nói chung, dịch vụ giáo dục nói riêng Đó là cung ứng xuyên quốc gia (nghĩa là sự dịch chuyển của dịch vụ giáo dục từ nước thành viên

này sang nước thành viên khác, chẳng hạn triển khai giáo dục từ xa, e-giáo dục),

tiêu thụ ngoài nước (nghĩa là sự dịch chuyển của học sinh, sinh viên, những người tiêu dùng dịch vụ giáo dục, thực chất là du học), hiện diện thương mại

(nghĩa là sự dịch chuyển của các nhà cung cấp dịch vụ giáo dục từ nước này sang

nước khác để mở trường), hiện diện cá nhân (nghĩa là sự dịch chuyển của những

người thực hiện dịch vụ giáo dục, chẳng hạn các nhà giáo)

Như vậy khác với cách nhìn chung của những người trong ngành giáo dục vốn coi giáo dục là một phúc lợi xã hội, hoạt động theo nguyên tắc phi thương mại thì WTO có cách nhìn khác: giáo dục là một dịch vụ trong hoạt động thương mại và thương mại dịch vụ giáo dục cần được tự do hoá Giải thích cho cách nhìn

này, WTO cho rằng thị trường giáo dục vốn đã hình thành tại nhiều nước với

việc coi giáo dục không hẳn chỉ là một hạng mục tiêu dùng công cộng mà còn là

hạng mục tiêu dùng tư nhân, thị trường này đang phát triển do nhu cầu học tập

ngày càng nhiều và đa dạng, do các nhà cung ứng giáo dục ngày càng thâm nhập thị trường, do các “hội chợ giáo dục” ngày càng tạo nên dòng di chuyển của học sinh, sinh viên và do các nhà hoạch định chính sách ngày càng hướng tới việc sử dụng cách tiếp cận thị trường để nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục

Trang 39

Với GATS, thị trường giáo dục đã chuyển từ thị trường nội địa thành thị trường toàn cầu Dưới con mắt các nhà đầu tư, đây thực sự là một thị trường lý

tưởng với sức tiêu thụ khoảng 1000 tỷ đô la Mỹ một năm, cùng hàng trăm nghìn cơ sở giáo dục, 50 triệu giáo viên, 1 tỷ khách hàng tiềm năng là những học sinh, sinh viên

Hội nhập giáo dục chính là quá trình hợp tác và cạnh tranh về giáo dục trong thị trường giáo dục toàn cầu trên cơ sở tự do hoá thương mại dịch vụ giáo dục Cũng như hội nhập văn hoá, đây là một quá trình chứa nhiều cơ hội và thách

thức, lợi ích và rủi ro, trong đó bên cạnh việc tiếp thu các giá trị tiên tiến của giáo dục thế giới, mỗi nền giáo dục quốc gia cần có bản lĩnh và năng lực để giữ vững bản sắc riêng, vị trí riêng trong nền giáo dục toàn cầu đang thay đổi nhanh chóng dưới áp lực của việc xây dựng nền kinh tế tri thức

3 Việt Nam và một số bài học trong hội nhập quốc tế

Mặc dù chưa phải là thành viên của WTO nhưng với quá trình đổi mới của

đất nước, Việt Nam đã chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam đã là thành viên của AFTA, của APEC, đã ký hiệp định thương mại với EU, với Mỹ…

Vụ cá ba sa là một trong những bài học quan trọng mà nước ta đã học

được trong quá trình hội nhập Đó là bài học về chuẩn kép và tính vị kỷ thương mại của các nước phát triển Về lý thuyết, hội nhập quốc tế là cơ hội để các

nước đang phát triển rút bớt khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển Nhưng trong thực tế thương mại, các nước phát triển một mặt luôn gây áp lực buộc các nước đang phát triển phải dỡ bỏ các rào cản theo yêu cầu tự do hoá thương mại, mặt khác tìm mọi cách củng cố các hàng rào bảo hộ kinh tế nước mình Đến nay, hội nhập quốc tế về cơ bản vẫn là một cuộc chơi bất bình đẳng Lấy ví dụ, để xuất khẩu 4,7 tỷ USD hàng hoá vào Mỹ, Việt Nam đã phải trả 470 triệu USD tiền thuế; cũng với tiền thuế như thế, Anh xuất được sang Mỹ 50 tỷ USD hàng hoá

Vì vậy, toàn cầu hoá được nhìn nhận chủ yếu như một quá trình tiếp tục

đưa “nước chẩy chỗ trũng” Chỉ có một số ít nước đang phát triển đã vượt được lên thách thức, biến cơ hội thành hiện thực Việt Nam nằm trong số những nước

đó Và bài học thành công là ở chỗ: nếu trong toàn cầu hoá chủ động hội nhập là

điều kiện cần để phát triển và rút bớt khoảng cách tụt hậu thì điều kiện đủ là phải

có hệ thống chính sách chủ động và linh hoạt, phải có tư duy mới và năng lực

Trang 40

quản lý phù hợp và phải có sự chuẩn bị chu đáo nhằm tối đa hoá lợi ích và giảm thiểu rủi ro

Bài học thành công cũng như thất bại trong hội nhập kinh tế quốc tế cần

được vận dụng một cách sáng tạo trong hội nhập giáo dục Tuy rằng đây là một quá trình chủ yếu sẽ diễn ra sau này khi nước ta gia nhập WTO, nhưng Việt Nam cũng đã có những bước đi chủ động thông qua hợp tác quốc tế về giáo dục Trong bốn phương thức cung ứng dịch vụ giáo dục theo quy định của GATS, giáo dục nước ta hiện đã mở cửa cho ba phương thức: tiêu thụ ngoài nước, hiện diện thương mại và hiện diện cá nhân Chúng ta cũng đã xây dựng được về cơ bản khung pháp lý cho các phương thức cung ứng này Bên cạnh một số vấn đề nẩy sinh liên quan chủ yếu đến công tác quản lý các cơ sở giáo dục nước ngoài tại Việt Nam và quản lý lưu học sinh, thành công nổi bật là tạo được sự đóng góp

đáng kể của các phương thức cung ứng đó cho sự phát triển của giáo dục Việt Nam Tuy nhiên tất cả mới chỉ diễn ra trong khung cảnh truyền thống của giáo

dục khi các hoạt động giáo dục được thực hiện chủ yếu theo lô-gic phi thương mại Vấn đề gì sẽ nẩy sinh khi nước ta gia nhập WTO, tham gia GATS và mở cửa để giáo dục được thực hiện theo lô-gic thương mại?

4 Những thách thức đối với giáo dục Việt Nam trong hội nhập quốc tế

Thứ nhất là thách thức về năng lực cạnh tranh Trong hội nhập kinh tế là

năng lực cạnh tranh về kinh tế, trong hội nhập giáo dục là năng lực cạnh tranh về giáo dục Năng lực này hiện được cụ thể hoá qua các tiêu chí cụ thể về môi trường kinh tế (giáo dục) vĩ mô, chất lượng thể chế và mức độ sẵn sàng trong

đổi mới công nghệ Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu cho thấy trong nhiều năm qua, Việt Nam xếp hạng thấp và tụt hạng về năng lực cạnh tranh, trong khi các nước trong khu vực như Trung Quốc, ấn Độ, Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan không ngừng nâng cao vị trí xếp hạng của mình

Thứ hai là thách thức về khả năng ứng đáp trước những biến đổi nhanh chóng của quá trình toàn cầu hoá Quá trình này đang hướng sự vận động của

các quốc gia tới một giai đoạn phát triển mới, giai đoạn kinh tế tri thức Các nước phát triển đều đặt mục tiêu chiến lược đến năm 2010 trở thành nền kinh tế tri thức12 Trong ph m vi các nước ASEAN, các nước như Malayxia, Thái Lan

12 i Chẳng hạn, chiến lược của EU đến năm 2010 là trở thành nền kinh tế tri thức cạnh tranh và năng động nhất thế giới, bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững với việc tạo ra ngày càng nhiều việc làm tốt hơn và đem lại sự gắn kết xó hội mạnh hơn

Ngày đăng: 25/03/2016, 17:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lý Quang Diệu. Đãi ngộ xứng đáng đối với trí thức. Sđd, tr.203-204 Khác
2. Lý Quang Diệu.Tập hợp thật nhiều những nhân tài lỗi lạc.Sdd, tr.185-196 Khác
3. Lý Quang Diệu. Nhân tài từ bên ngoài tới có đóng góp rất lớn. Sdd,tr.162 Khác
4. Lê Thanh Hương. Tính cộng đồng, tính cá nhân và thành công phát triển đất n−ớc Xingapo. Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số4/2004 Khác
5. Trần Khánh. Vị thế của Xingapo trong hợp tác nội bộ Asean. Tạp chí nghiên cứu Đông Nam á, số 4/2003 Khác
6. Turnbull C.M. History of Singapore 1819- 1988 Khác
7.Trade policy reviews: ensuring transparency Khác
8. Singapore 2004- Goverment Report Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 - Tình hình chung của Việt Nam hiện nay - Kỷ yếu hội thảo giáo dục Việt Nam và việc gia nhập WTO
Bảng 1 Tình hình chung của Việt Nam hiện nay (Trang 56)
Bảng 2 - Các chỉ tiêu phát triển con ng−ời ở 12 n−ớc (Theo HDR của UNDP năm 2005, số liệu tính cho 2003) - Kỷ yếu hội thảo giáo dục Việt Nam và việc gia nhập WTO
Bảng 2 Các chỉ tiêu phát triển con ng−ời ở 12 n−ớc (Theo HDR của UNDP năm 2005, số liệu tính cho 2003) (Trang 57)
Bảng 4 - Việt nam trong so sánh với thế giới về hai th−ớc đo cơ bản - Kỷ yếu hội thảo giáo dục Việt Nam và việc gia nhập WTO
Bảng 4 Việt nam trong so sánh với thế giới về hai th−ớc đo cơ bản (Trang 58)
Bảng 4 - M−ời nền kinh tế mạnh nhất thế giới - Kỷ yếu hội thảo giáo dục Việt Nam và việc gia nhập WTO
Bảng 4 M−ời nền kinh tế mạnh nhất thế giới (Trang 59)
Hình 1: Tỷ lệ khóa đào tạo dài hạn và ngắn hạn đ−ợc tổ chức - Kỷ yếu hội thảo giáo dục Việt Nam và việc gia nhập WTO
Hình 1 Tỷ lệ khóa đào tạo dài hạn và ngắn hạn đ−ợc tổ chức (Trang 112)
Bảng 1: Nội dung chủ yếu của khóa đào tạo ngắn hạn - Kỷ yếu hội thảo giáo dục Việt Nam và việc gia nhập WTO
Bảng 1 Nội dung chủ yếu của khóa đào tạo ngắn hạn (Trang 113)
Hình 2: Tỷ lệ ý kiến đánh giá mức độ phù hợp của - Kỷ yếu hội thảo giáo dục Việt Nam và việc gia nhập WTO
Hình 2 Tỷ lệ ý kiến đánh giá mức độ phù hợp của (Trang 114)
Bảng 2: Tồn tại nổi cộm nhất trong chương trình đào tạo hiện nay - Kỷ yếu hội thảo giáo dục Việt Nam và việc gia nhập WTO
Bảng 2 Tồn tại nổi cộm nhất trong chương trình đào tạo hiện nay (Trang 114)
Bảng 3: Tác dụng của việc xây dựng một chương trình đào tạo chính sách công chuẩn - Kỷ yếu hội thảo giáo dục Việt Nam và việc gia nhập WTO
Bảng 3 Tác dụng của việc xây dựng một chương trình đào tạo chính sách công chuẩn (Trang 115)
Bảng 2: Số HV theo học các ch−ơng tình của GDTX/GDKCQ từ 2000 - Kỷ yếu hội thảo giáo dục Việt Nam và việc gia nhập WTO
Bảng 2 Số HV theo học các ch−ơng tình của GDTX/GDKCQ từ 2000 (Trang 153)
Sơ đồ về sự hình thành các chuẩn mới mang tính quốc tế trong lĩnh vực đào  tạo phục vụ cho quá trình gia nhập và hoạt động theo các hiệp định của tổ chức  th−ơng mại thế giới - Kỷ yếu hội thảo giáo dục Việt Nam và việc gia nhập WTO
Sơ đồ v ề sự hình thành các chuẩn mới mang tính quốc tế trong lĩnh vực đào tạo phục vụ cho quá trình gia nhập và hoạt động theo các hiệp định của tổ chức th−ơng mại thế giới (Trang 193)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w