Thực tế nhiều năm qua cho thấy, bên cạnh những doanh nghiệp làm ăn phát đạt còn không ít những doanh nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ, phá sản. Mặc dù hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố chứ không phải chỉ do quản trị vốn lưu động tồi. Nhưng thực tế thì sự bất lực của một số công ty trong việc hoạch định và kiểm soát chặt chẽ các loại tài sản ngắn hạn và các khoản nợ ngắn hạn hầu như là nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng của họ.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, để có thể đứng vững trên thị trường cạnhtranh ngày càng gay gắt, đáp ứng nhu cầu ngày một tăng của khách hàng, cáccông ty luôn phải chú trọng tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm, giá cả phùhợp Quá trình đổi mới cơ chế quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam cũng chothấy, doanh nghiệp nào xây dựng và thực thi tốt chính sách quản lý và sử dụngtài sản ngắn hạn thì doanh nghiệp đó sẽ có lợi nhuận cao, sản phẩm mới có tínhcạnh tranh Do vậy việc sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả luôn là vấn
đề đặt ra mà các nhà quản lý phải quan tâm
Thực tế nhiều năm qua cho thấy, bên cạnh những doanh nghiệp làm ănphát đạt còn không ít những doanh nghiệp rơi vào tình trạng thua lỗ, phá sản.Mặc dù hầu hết các vụ phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố chứkhông phải chỉ do quản trị vốn lưu động tồi Nhưng thực tế thì sự bất lực củamột số công ty trong việc hoạch định và kiểm soát chặt chẽ các loại tài sản ngắnhạn và các khoản nợ ngắn hạn hầu như là nguyên nhân dẫn đến thất bại cuốicùng của họ
Trong thời gian qua, mặc dù công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Dulịch Việt Nam (VITRATO) đã có nhiều cố gắng trong việc quản lý và sử dụngtài sản ngắn hạn một cách hiệu quả hơn, công ty có lợi nhuận tăng Nhưng kếtquả cho thấy việc sử dụng tài sản ngắn hạn còn có nhiều điểm chưa hợp lý dẫnđến hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn còn chưa cao Mặc dù mục tiêu hiệu quảđạt được của các doanh nghiệp là khác nhau nhưng tất cả đều hướng tới đạtđược lợi nhuận cao nhất, đứng trước tình hình như hiện nay công ty phải tìmcách để khắc phục tình trạng đó, đẩy nhanh công tác hoạt động nhằm nâng caohiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty mình trong thời gian tới
Do tầm quan trọng của vấn đề và quá trình tìm hiểu tình hình thực tế tạicông ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Việt Nam, được sự giúp đỡnhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn cùng các cán bộ công nhân viên trong công
Trang 2ty, đặc biệt là các cán bộ ban tài chính em đã chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả
sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Việt Nam (VITRATO)” Kết cấu gồm 3 chương:
Chương I: Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Chương II: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty
cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Việt Nam (VITRATO).
Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Việt Nam (VITRATO).
Do điều kiện về trình độ và thời gian có hạn nên trong bài viết không
tránh khỏi những khiếm khuyết Em rất mong sự chỉ bảo của thầy PGS.TS.
Trần Đăng Khâm, người đã hướng dẫn em trong thời gian qua Em xin chân
thành cảm ơn !
Trang 3CHƯƠNG I: HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA
DOANH NGHIỆP1.1 Khái quát về doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, phân loại Doanh nghiệp
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt độngkinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu Doanh nghiệp
là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá nhân Có nhiều hoạtđộng kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh nghiệp chứ không phải cánhân
Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tênriêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quyđịnh của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh tức làthực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuấtđến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đíchsinh lời
Như vậy thuật ngữ doanh nghiệp dùng để chỉ một chủ thể kinh doanhđộc lập có đủ những đặc trưng pháp lý và thoả mãn những điều kiện do phápluật quy định.Trong thực tế doanh nghiệp được thành lập và hoạt động dướinhiều mô hình cụ thể với nhiều tên gọi khác nhau
Có nhiều cách phân loại doanh nghiệp theo các tiêu chí khác nhau
a/ Phân loại theo nguồn gốc tài sản đầu từ vào doanh nghiệp( hình thức sở hữu tài sản) Theo tiêu chí này doanh nghiệp nước ta được chia thành :
- Doanh nghiệp tổ chức theo mô hình công ty bao gồm: công ty cổ phần,công ty TNHH, công ty hợp danh
- Doanh nghiệp tư nhân
- Doanh nghiệp nhà nước: Bao gồm:
+ Công ty nhà nước : Công ty nhà nước độc lập và Tồng công ty nhà nước + Công ty cổ phần : công ty cổ phần Nhà nước (100% vốn nhà nước) và
Trang 4+ Công ty TNHH: công ty TNHH nhà nước một thành viên và công ty TNHH
từ hai thành viên trở lên và doanh nghiệp có vốn góp chi phối của Nhà nước
- Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài : hình thức thành lập và hoạtđộng là doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài
- Doanh nghiệp của các tổ chức chính trị- xã hội(doanh nghiệp đoàn thể):Những doanh nghiệp đoàn thể ra đời từ nhưng năm bắt đầu chuyển đổi giữa hai
cơ chế kinh tế nước ta đến nay đều sử dụng quy chế pháp lý của doanh nghiệpnhà nước, đây là sự bất cập và tất yếu phải chuyển các doanh nghiệp này sanghoạt động theo hình thức công ty TNHH một thành viên
- Hợp tác xã: Là tổ chức kinh tế tập thể ngoài mục tiêu kinh tế còn cónhững mục tiêu xã hội thiết thực trong điều kiện nền kinh tế nước nhà nên nó cóđặc điểm riêng trong việc thành lập, quản lý hoạt động và chế độ tổ chức Tuyvậy, trong hoạt động nó hoạt động như một loại hình doanh nghiệp
b/ Phân loại theo giới hạn trách nhiệm
- Doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân: Các doanh nghiệp loại nàybao gồm: các công ty hợp danh, các loại doanh nghiệp tư nhân, trong kinh doanhcác doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm vô hạn, đặc biệt trong trường hợp doanhnghiệp tuyên bố phá sản
- Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân: Là các loài hình doanh nghiệp cònlại trừ công ty hợp danh và các doanh nghiệp tư nhân Các doanh nghiệp này cótrách nhiệm hữu hạn
c/ Phân loại theo hình thức pháp lý của các tổ chức kinh doanh
Nếu xem xét doanh nghiệp từ ý nghĩa là một chủ thể pháp lý và từ thựctiễn Việt nam khái quát lại có các mô hình cơ bản là:
Trang 5Các công ty Nhà nước, trước hết là công ty Nhà nước độc lập thực chất làmột loại hình công ty TNHH một thành viên
1.1.2 Các hoạt động cơ bản của Doanh nghiệp
Để đạt được mức doanh lợi mong muốn, Doanh nghiệp cần phải cónhững quyết định về tổ chức hoạt động sản xuất và vận hành quá trình traođổi Mọi quyết định đều phải gắn kết với môi trường xung quanh Bao quanhDoanh nghiệp là một môi trường kinh tế- xã hội phức tạp và luôn biến động.Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, vốn là điều kiện không thể thiếu được
để thành lập một doanh nghiệp và tiến hành sản xuất kinh doanh Vốn cònphản ánh nguồn lực tài chính của doanh nghiệp để đầu tư vào một loại hìnhsản xuất, kinh doanh Mọi doanh nghiệp đều có nhu cầu vốn để vận hành vàphát triển Tuy nhiên, nguồn vốn tự có không đủ để đảm bảo nhu cầu pháttriển sản xuất kinh doanh Doanh nghiệp phải tìm kiếm nguồn cung ứng vốn
để đảm bảo vốn ổn định và đủ mạnh Với ý nghĩa quan trọng của vốn nhưvậy, việc nghiên cứu bắt đầu làm rõ khái niệm cơ bản vốn là gì và vai trò củavốn đối với doanh nghiệp thể hiện như thế nào
Trong nền kinh tế trị trượng hiện nay,vốn được quan niệm là toàn bộnhững gía trị ứng ra ban đầu và quá trình sản xuất tiếp theo của doanhnghiệp Khái niệm này không những chỉ ra vốn là đầu vào của sản xuất màcòn đề cập tới sự tham gia của vốn không chỉ bó hẹp trong một quá trình sảnxuất riêng biệt , chia cắt mà toàn bộ trong mọi quá trình sản xuất và tái sảnxuất liên tục trong suốt thời gian tồn tại của doanh nghiệp
Như vậy, vốn là yếu tố số một của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh,
nó đòi hỏi các doanh nghiệp phải quản lý và sử dụng có hiệu quả để bảo toàn
và phát triển vốn, đảm bảo cho doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh Vì vậy,các doanh nghiệp cần thiết phải nhận thức đầy đủ hơn về vốn cũng nhưnhững đặc trưng của vốn Điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với các doanhnghiệp vì chỉ khi nào các doanh nghiệp hiểu rõ được tầm quan trọng và giátrị của đồng vốn thì doanh nghiệp mới có thể sử dụng nó một cách có hiệuquả được
Trang 6Các đặc trưng cơ bản của vốn:
- Vốn phải đại diện cho một lượng tài sản nhất định: có nghĩa là vốnđược biều hiện của giá trị tài sản hữu hình và tài sản vô hình của doanhnghiệp
- Vốn phải vận động sinh lời, đạt được mục tiêu kinh doanh của doanhnghiệp
- Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thểphát huy tác dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh
- Vốn có giá trị về mặt thời gian; điều này rất có ý nghĩa khi bỏ vốn đầu
tư và tính hiệu quả của đồng vốn
Qua đó ta thấy các Doanh nghiệp có thể huy động vốn bằng cách:
Phát hành cổ phiếu: Cổ phiếu là giấy xác nhận sự tham gia góp vốn
của một chủ thể ( gọi là cổ đông ) vào một công ty, tức là xác định cổ đông
có quyền sở hữu một phần vốn đối với công ty đó theo tỷ lệ phần trăm cổphiếu của cổ đông đó Cổ phiếu có thể được phát hành thành hai loại: cổphiếu thường, cổ phiếu ưu tiên
Cổ phiếu thường: Cổ phiếu thường (còn gọi là cổ phiếu thôngthường),
nó thuộc loại cổ phiếu không kỳ hạn, nó tồn tại cùng với sự tồn tại của công
ty phát hành ra nó, không có mức lãi suất cố định Tuy nhiên, thị giá cổ phiếulại rất nhạy cảm trên thị trường, không chỉ phụ thuộc vào lợi nhuận của công
ty mà còn rất nhiều nhân tố khác như: môi trường kinh tế, thay đổi lãi suất,hay nói cách khác tuân theo quy luật cung cầu Cụ thể hơn nữa, thị giá cổphiếu thông thường phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế nói chung và biếnđộng theo chiêù nghịch với biến động lãi suất trái phiếu chính phủ, các công
cụ vay nợi dài hạn lãi suất cố định và lãi suất huy động tiền gửi của ngânhàng Cổ phiếu thường có những ưu thế trong việc phát hành ra công chúng
và trong quá trình lưu hành trên thị trường chứng khoán Cổ phiếu thường là
Trang 7chứng khoán quan trọng nhất, mua bán trên thị trường chứng khoán, điều đócũng đủ để minh chứng tầm quan trọng của nó so với các công cụ tài chínhkhác.
Mặc dù việc phát hành cổ phiếu có nhiều ưu thế so với các phương thứchuy động vốn khác nhưng cũng có những hạn chế và các ràng buộc cần đượcdoanh nghiệp cân nhắc kỹ lưỡng Giới hạn phát hành là một quy định ràngbuộc có tính pháp lý Lượng cổ phiếu tối đa mà công ty được quyền pháthành gọi là vốn cổ phiếu được cấp phép đay là một trong những quy địnhcủa Uỷ ban chứng khoán Nhà nước nhằm quanrn lý và kiểm soát chặt chẽcác hoạt động phát hành và giao dịch chứng khoán Tại nhiều nước, số cổphiếu được phép phát hành được ighi trong điều lệ của công ty; tuy nhiênmột số nước khác không quy định ghi số lượng có trong điều lệ công ty.Nhưvậy vốn cổ phần thì trước hết cần phải được đại hội cổ đông cho phép, sau đóphải hoàn tất những thủ tục quy định khác
Hầu hết các nước đều sử dụng giới hạn phát hành như một công cụ quantrọng để kiểm soát và hạn chế các rủi ro cho công chúng Thông thường, mộtcông ty có thể phát hành một lần hoặc một số lần trong giới hạn số cổ phiếu
đã được cấp phép phát hành Tuy nhiên, trên thực tế, việc quản lý và kiểmsoát quá trình phát hành chứng khoán tuỳ thuộc vào chính sách cụ thể củanhà nước và Uỷ ban chứng khoán Nhà nước ở Việt Nam hiện nay, hệ thốngvăn bản pháp quy về chứng khóan mới được xây dựng và đangtrong quátrình hoàn thiện để tạo điều kiện tốt hơn cho hoat động huy động vốn củadoanh nghiệp và lưu chuyển vốn trong nề kinh tế
Ngoài ra Doanh nghiệp có thể huy động bằng cách phá hành trái phiếucông ty
Trái phiếu là một tên chung của các giấy vay nợ dài hạn và trung hạn,
bao gồm: Trái phiếu Chính phủ ( corporate bond ) Trái phiếu còn được gọi
là trái khoán Trong phần này, chúng ta chỉ xem xét trái phiếu công ty trên
Trang 8một khía cạnh cơ bản.
Một trong những vấn đề cần xem xét trước khi phát hành là lựa
chọn loại trái phiếu nào phù hợp nhất với điều kiện cụ thể của doanhnghiệp và tình hình trên thị trường tài chính
Việc lựa chọn trái phiếu thích hợp là rất quan trọng vì có liên quan đếnchi phí trả lãi, cách thức trả lãi, khả năng lưu hành và tính hấp dẫn của tráiphiếu Trước khi quyết định phát hành, cần hiểu rõ đặc điểm và ưu nhượcđiểm của mỗi loại trái phiếu Trên thị trường tài chính ở nhiều nước, hiện naythường lưu hành những loại trái phiếu doanh nghiệp như sau:
Trái phiếu có lãi suất cố định
Loại trái phiếu này thườn được sử dụng nhiều nhất, tức là phổ biến nhấttrong các loại trái phiếu doanh nghiệp Lãi suất được ghi ngay trên mặt tráiphiếu và không thay đổi trong suốt lỳ hạn của nó Như vậy cả doanh nghiệp (người đi vay ) và người giữ trái phiếu ( người cho vay) đều biết mức lãi suấtcủa khoản nợ trong suốt thời gian tồn tại ( kỳ hạn ) của tráĩ phiếu Việc thanhtoán lãi suất trái phiếu cũng thường được quy định rõ, ví dụ trả hai lần trongnăm vào ngày 30/06 và ngày 31/12
Để huy đông vốn trên thị trường trái phiếu, phải tính đến mức độ hấpdẫn của trái phiếu Tính hấp dẫn phụ thuộc vào những yếu tố sau:
- Lãi suất của trái phiếu: Đương nhiên người đầu tư muốn được hưởng
mức lãi suất cao nhưng doanh nghiệp phát hành phải cân nhắc lãi suất có thểchấp nhận được đối với trái phiếu của họ, chứ không thể trả thật cao cho nhà đầutư
Lãi suất của trái phiếu phải được đặt trong tương quan so sánh với lãisuất trên thị trường vốn, đặc biệt là phỉa tính đên sự cạnh tranh với trái phiếucủa các công ty khác và trái phiếu Chính phủ Giả sử trái phiếu kho bạc Nhànước kỳ hạn 5 năm có lãi suất 7,0%/năm, trái phiếu trung bình của một sốcông ty khác cùng kỳ hạn: 8,0%/năm; khi đó để phát hành thành công trái
Trang 9phiếu, cần quy định lãi suất trái phiếu sao cho có thể cạnh tranh được vớimức lãi suất đó Tuy nhiên một ràng buộc khác là chi phí lãi vay mà công typhải trả cho các trái chủ Nếu đưa thêm các yếu tố khuyến khích vào tráiphiếu thì có thể không cần nâng cao mức lãi suất.
- Kỳ hạn của trái phiếu: Đây là yếu tố rất quan trọng không những đối
với công ty phát hành mà cả đối với nhà đầu tư Khi phát hành, doanh nghiệpphải căn cứ vào tình hình thị trương vốn và tâm lý dân cư mới có thể xácđịnh kỳ hạn hợp lý Ví d, trong tháng 09/2001, Ngân hàng Đầu tư và pháttriển Việt Nam phát hành các loại trái phiees vô danh và gi danh với kỳ hạn 5năm và 7 năm Loại trái phiếu 5 năm bán được với số lượng rất lớn nhưngloại trái phiếu 7 năm thì không hấp dẫn công chúng
- Uy tín của doanh nghiệp: Không phải doanh nghiệp nào cũng có thể
thu hút được công chúng mua trái phiếu vì nhà đầu tư phải đánh giá uy tíncủa doanh nghiệp thì mới quyết định mua hay không mua Các doanh nghiệp
có uy tín và vững mạnh thì dễ dàng hơn trong việc phát hành trái phiếu racông chúng để huy đông vốn
Trong việc phát hành trái phiếu, cũng cần chú ý đến mệnh giá vì nó cóthể liên quan đến sức mua của dân chúng Đặc biệt, ở Việt Nam khi pháthành trái phiếu, doanh nghiệp cần xác đinh một mức mệnh giá vừa phải để cóthể nhiều người mua được, tạo sự lưu thông dễ dàng chotriarais phiếu trên thịtrường
Trái phiếu có lãi suất thay đổi
Tuy gọi là lãi suất thay đổi nhưng thực ra loại này cólãi suất phụ thuộcvào một số nguồn lãi suất quan trọng khác
1.2 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
1.2.1 Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp
* Khái niệm và đặc điểm tài sản ngắn hạn.
Trang 10Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quátrình kinh doanh Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạnđược thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, phảithu và dự trữ tồn kho.
Đối với doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thì giá trị các loại tài sản ngắnhạn chiếm tỷ trọng lớn, thường chiếm từ 25% đến 50% tổng giá trị tài sản củachúng
Việc quản lý và sử dụng hợp lý các loại tài sản ngắn hạn có ảnh hưởng rấtquan trọng đối với việc hoàn thành các nhiệm vụ chung của doanh nghiệp.Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp phải biết rõ số lượng, giá trị mỗi loại tàisản ngắn hạn là bao nhiêu cho hợp lý và đạt hiệu quả sử dụng cao
Tài sản ngắn hạn được phân bố đủ trong tất cả các khâu, các công đoạnnhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn địnhtránh lãng phí và tổn thất vốn do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khảnăng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản Do đó, tài sản ngắnhạn trong doanh nghiệp có các đặc điểm sau:
+ Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao nên đáp ứng khả năng thanhtoán của doanh nghiệp
+ Tài sản ngắn hạn là một bộ phận của vốn sản xuất nên nó vận động vàluân chuyển không ngừng trong mọi giai đoạn của quá trình sản xuất kinhdoanh
+ Tài sản ngắn hạn có thể dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền
tệ nên cũng vận động rất phức tạp và khó quản lý
* Phân loại tài sản ngắn hạn.
Trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpnói chung và quản lý tài chính nói riêng, tuỳ theo yêu cầu quản lý và dựa trêntính chất vận động của tài sản ngắn hạn, người ta có thể phân loại tài sản ngắnhạn như sau:
- Phân loại theo quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn
Trang 11Căn cứ vào quá trình tuần hoàn và chu chuyển vốn, tài sản ngắn hạn đượcchia thành:
Tài sản ngắn hạn dự trữ : là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu
dự trữ của doanh nghiệp mà không tính đến hình thái biểu hiện của chúng, baogồm: tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, hàng mua đang điđường, nguyên nhiên vật liệu tồn kho, công cụ dụng cụ trong kho, hàng gửi gia
công, trả trước cho người bán
Tài sản ngắn hạn sản xuất: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong khâu
sản xuất của doanh nghiệp, bao gồm: giá trị bán thành phẩm, các chi phí sảnxuất kinh doanh dở dang, chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoảnchi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất…
Tài sản ngắn hạn lưu thông: là toàn bộ tài sản ngắn hạn tồn tại trong
khâu lưu thông của doanh nghiệp, bao gồm: thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán,các khoản nợ phải thu của khách hàng
Theo cách phân loại này giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp xác địnhđược các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình luân chuyển của tài sản ngắn hạn đểđưa ra biện pháp quản lý thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng mộtcách cao nhất
- Phân loại theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán
Căn cứ vào các khoản mục trong bảng cân đối kế toán tài sản ngắn hạnbao gồm: tiền, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho vàtài sản ngắn hạn khác
Trang 12Các khoản đầu tư ngắn hạn.
Mục tiêu của các doanh nghiệp là việc sử dụng các loại tài sản sao chohiệu quả nhất Các loại chứng khoán gần như tiền mặt giữ vai trò như một “bướcđệm” cho tiền mặt vì nếu số dư tiền mặt nhiều doanh nghiệp có thể đầu tư vàochứng khoán có khả năng thanh khoản cao, nhưng khi cần thiết cũng có thểchuyển đổi chúng sang tiền mặt một cách dễ dàng và ít tốn kém chi phí Do đótrong quản trị tài chính người ta sử dụng chứng khoán có khả năng thanh khoảncao để duy trì tiền mặt ở mức độ mong muốn Ta có thể thấy điều này qua sơ đồluân chuyển sau:
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ luân chuyển
để có lượng tiền như ban đầu
Các khoản phải thu
Dòng thu tiền
mặt
mặt
Trang 13Trong nền kinh tế thị trường việc mua bán chịu là một việc không thểthiếu Các doanh nghiệp bán hàng song có thể không nhận được ngay tiền hànglúc bán mà nhận sau một thời gian xác định mà hai bên thoả thuận hình thànhnên các khoản phải thu của doanh nghiệp.
Việc cho các doanh nghiệp khác nợ như vậy chính là hình thức tín dụngthương mại Với hình thức này có thể làm cho doanh nghiệp đứng vững trên thịtrường và trở nên giàu có nhưng cũng không tránh khỏi những rủi ro trong hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp
Khoản phải thu giữ một vai trò quan trọng bởi nếu các nhà quản lý khôngcân đối giữa các khoản phải thu thì doanh nghiệp sẽ gặp phải những khó khănthâm chí dễ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán
Hàng tồn kho
Trong quá trình luân chuyển của vốn lưu động phục vụ cho sản xuất, kinhdoanh thì việc tồn tại vật tư hàng hoá dự trữ, tồn kho là những bước đệm cầnthiết cho quá trình hoạt động bình thường của doanh nghiệp
Hàng hoá tồn kho có ba loại: nguyên vật liệu thô phục vụ cho quá trìnhsản xuất, kinh doanh; sản phẩm dở dang và thành phẩm Các doanh nghiệpkhông thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần phải có nguyênvật liệu dự trữ
Nguyên vật liệu dự trữ không trực tiếp tạo ra lợi nhuận nhưng nó có vai tròrất lớn để cho quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành được bình thường Tuy nhiênnếu doanh nghiệp dự trữ quá nhiều sẽ tốn kém chi phí, ứ đọng vốn thậm chí nếusản phẩm khó bảo quản có thể bị hư hỏng, ngược lại nếu dự trữ quá ít sẽ làm choquá trình sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, các khâu tiếp theo sẽ không thể tiếp tụcđược nữa đồng thời với việc không hoàn thành được kế hoạch sản xuất
Tồn kho trong quá trình sản xuất là các loại nguyên liệu nằm tại từngcông đoạn của dây truyền sản xuất Thông thường quá trình sản xuất của cácdoanh nghiệp được chia thành nhiều công đoạn, giữa những công đoạn này baogiờ cũng tồn tại những bán thành phẩm
Trang 14Đây là những bước đệm nhỏ để quá trình sản xuất được liên tục Nếu dâytruyền sản xuất càng dài và càng có nhiều công đoạn thì tồn kho trong quá trìnhsản xuất sẽ càng lớn.
Khi tiến hành sản xuất xong hầu hết các doanh nghiệp chưa thể tiêu thụhết sản phẩm Phần thì do có “độ trễ” nhất định giữa các sản xuất và tiêu dùng,phần phải có đủ lô hàng mới xuất được Những doanh nghiệp mà sản xuấtmang tính thời vụ và có quy trình chế tạo tốn nhiều thời gian thì dự trữ, tồn khosản phẩm sẽ lớn
Do đó để đảm bảo cho sự ổn định sản xuất, doanh nghiệp phải duy trì mộtlượng hàng tồn kho dự trữ an toàn và tuỳ thuộc vào loại hình doanh nghiệp màmức dự trữ an toàn khác nhau
Mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả - Mô hình EOQ
Mô hình EOQ là một mô hình quản lý hang tồn kho mang tính định lượngđược sử dụng để xác định mức tồn kho tối ưu cho doanh nghiệp, dựa trên cơ sởgiữa chi phí tồn trữ hàng tồn kho và chi phí đặt hàng có mối quan hệ tương quan
tỷ lệ nghịch Cụ thể, nếu số lượng sản phẩm cho mỗi lần đặt hàng tăng lên thì sốlần đặt hàng trong kỳ giảm xuống và dẫn đến chi phí đặt hàng trong kì giảmtrong khi chi phí tồn trữ hàng hóa tăng lên Do đó mục đích của quản lý hàngtồn kho là cân bằng hai loại chi phí: chi phí tồn trữ và chi phí đặt hàng sao chotổng chi phí tồn kho là thấp nhất
Gọi Q là lượng hàng tồn kho cho mỗi lần đặt hàng, khi hết hang doanh nghiệp lại tiếp tục đặt mua Q đơn vị hàng mới, Tại thời điểm đầu kỳ, lượng hàng tồn kho là Q và ở thời điểm cuối kỳ là 0 nên số lượng tồn kho bình quân trong
kỳ là: Q20 Q2
Hình 1.2 Biến động hàng tồn kho trong một chu kỳ, hàng tồn kho bình quân
Trang 15Gọi C là chi phí tồn trữ cho mỗi đơn vị hàng tồn kho thì tổng chi phí tồn trữ
Q
2
1.2.2 Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Doanh nghiệp
* Khái niệm:
Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là vấn đề mà các doanh nghiệpquan tâm, quản trị kinh doanh sản xuất có hiệu quả thì doanh nghiệp mới có thểtồn tại trên thị trường Để đạt được hiệu quả đó đòi hỏi doanh nghiệp phải cónhiều cố gắng và có những chiến lược sách lược hợp lý từ khâu sản xuất chođến khi sản phẩm được đến tay người tiêu dùng
Mục đích cuối cùng của họ bao giờ cũng là đạt được những mục tiêu mà
họ đề ra Chính vì vậy quan niệm hiệu quả của mỗi doanh nghiệp là khác nhau.Tuy nhiên để đi đến mục đích cuối cùng thì vấn đề chung mà các doanh nghiệpđều phải quan tâm chú trọng đến đó chính là hiệu quả sử dụng vốn và tài sảntrong doanh nghiệp
Trang 16Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phảnánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích và tối thiểu hoá chiphí.
Với mỗi doanh nghiệp có một sự cân đối về tài sản riêng mỗi loại tài sảncũng phải khác nhau, nếu như các doanh nghiệp về lĩnh vực chế biến hay côngnghiệp nặng thì (tỷ lệ) tài sản cố định chiếm một tỷ lệ rất cao trong tổng giá trịtài sản, ngược lại với các doanh nghiệp lĩnh vực thương mại thì tài sản ngắn hạnlại chiếm đa số
Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì tài sản ngắn hạn đóng mộtvai trò hết sức quan trọng, các nhà quản lý luôn phải cân nhắc làm sao sử dụngcác loại tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả
Hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phảnánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp vào hoạtđộng sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi ích và tối thiểu hoá chiphí
Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu thì tài sản ngắn hạn đóng mộtvai trò hết sức quan trọng, các nhà quản lý luôn phải cân nhắc làm sao sử dụngcác loại tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả
Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là kết quả đạt được cao nhất với mụctiêu mà doanh nghiệp đã đặt ra Nghĩa là phải làm sao có được nhiều lợi nhuận
từ việc khai thác và sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp vào hoạt độngsản xuất kinh doanh nhằm tối đa hoa lợi ích và tối thiểu hóa chi phí
* Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn:
- Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Do đặc điểm của tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, cho nên việc
sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn là sự lựa chọn đánh đổi giữa khả năng sinh lời
Trang 17với tính thanh khoản Do đó, khi phân tích khả năng thanh toán của doanhnghiệp thì người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
+ Hệ số thanh toán hiện hành
Đây là một trong những thước đo khả năng thanh toán của một doanh
nghiệp, được sử dụng rộng rãi nhất là hệ số thanh toán hiện hành
Tài sản ngắn hạn
Hệ số thanh toán hiện hành =
Nợ ngắn hạn
Hệ số thanh toán hiện hành cho thấy doanh nghiệp có bao nhiêu tài sản
có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo thanh toán các khoản nợ ngắn hạn
Hệ số này đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp
Nếu hệ số thanh toán hiện hành giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm,
đó là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra Nếu hệ số nàycao, điều đó có nghĩa là doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ.Tuy nhiên, nếu hệ số này cao quá sẽ giảm hiệu quả hoạt động vì doanh nghiệpđầu tư quá nhiều vào tài sản ngắn hạn
+ Hệ số thanh toán nhanh
Trang 18- Nhóm các chỉ tiêu hoạt động
Là các hệ số đo lường khả năng hoạt động của doanh nghiệp Để nâng cao hệ
số hoạt động, các nhà quản trị phải biết những tài sản nào chưa sử dụng, không sửdụng hoặc không tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp Vì thế doanh nghiệp cần phảibiết cách sử dụng chúng sao cho có hiệu quả hoặc loại bỏ chúng đi Hệ số hoạt độngđôi khi còn gọi là hệ số hiệu quả hoặc hệ số luân chuyển Do đó, khi phân tích cácchỉ tiêu hoạt động thì người ta thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây:
+ Vòng quay các khoản phải thu
Các khoản phải thu là các khoản bán chịu mà doanh nghiệp chưa thu tiền
do thực hiện chính sách bán chịu và các khoản tạm ứng chưa thanh toán cáckhoản trả trước cho người bán…
Doanh thu thuần
Vòng quay các khoản phải thu =
Các khoản phải thu bình quân
Vòng quay các khoản phải thu được sử dụng để xem xét cẩn thận việc kháchhàng thanh toán các khoản nợ cho doanh nghiệp Khi khách hàng thanh toán cáckhoản nợ đã đến hạn thì lúc đó các khoản phải thu đã quay được một vòng
+ Kì thu tiền bình quân
Kì thu tiền bình quân cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách bán chịu củadoanh nghiệp Nếu vòng quay các khoản phải thu cao quá thì sẽ làm giảm sứccạnh tranh, làm giảm doanh thu
Các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân =
Doanh thu bình quân 1 ngày
Khi phân tích hệ số này, ngoài việc so sánh các năm, so sánh với cácdoanh nghiệp cùng ngành, doanh nghiệp cần xem xét kỹ lưỡng tong khoản phảithu để phát hiện những khoản nợ đã quá hạn để có biện pháp xử lý kịp thời
+ Chu kỳ thu tiền
360
Trang 19Chu kỳ thu tiền =
Vòng quay các khoản phải thu
Chỉ tiêu này cho ta biết tốc độ chuyển đổi nợ phải thu từ khách hàngthành tiền trong quỹ của doanh nghiệp là bao lâu Chỉ tiêu này càng nho thì tìnhhình kinh doanh của doanh nghiệp càng tốt và ngược lại
+ Vòng quay hàng tồn kho
Vòng quay hàng tồn kho là một tiêu chuẩn để đánh giá doanhnghiệp sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào
Doanh thu thuần
Vòng quay của hàng tồn kho =
Vòng quay dự trữ, tồn kho cao thể hiện được khả năng sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp tốt, có như vậy mới đạt được mục tiêu mà doanhnghiệp đặt ra Chỉ tiêu này cao phản ánh được lượng vật tư, hàng hóa được đưavào sử dụng cũng như được bán ra nhiều, như vậy là doanh thu sẽ tăng và đồngthời lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được cũng tăng lên.Vòng quay hàng tồn khocao hay thấp phụ thuộc vào đặc điểm của tong ngành nghề kinh doanh, phụthuộc vào mặt hàng kinh doanh
Trang 20+ Chu kỳ lưu kho
+ Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đơn vị tài sản ngắn hạn trong kỳ đem lại baonhiêu đơn vị doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụngtài sản ngắn hạn càng cao
+ Hệ số khả năng thanh toán lãi vay
Lợi nhuận trước thuế + lãi vay
Hệ số khả năng thanh toán lãi vay =
Lãi vay
Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời
+ Hệ số sinh lời của tài sản ngắn hạn
- Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tài sản ngắn hạn Nó cho biết mỗi đơn
vị tài sản ngắn hạn có trong kỳ đem lại bao nhiêu đơn vị lợi nhuận sau thuế
Trang 21Lợi nhuận sau thuế
Hệ số sinh lời của TSNH =
TSNH bình quân trong kỳ
Tài sản ngắn hạn bình quân trong kỳ là bình quân số học của tài sản ngắnhạn có ở đầu và cuối kỳ Chỉ tiêu này cao phản ánh lợi nhuận sau thuế của doanhnghiệp cao, các doanh nghiệp đều mong muốn chỉ số này càng cao càng tốt vìnhư vậy đã sử dụng được hết giá trị của tài sản ngắn hạn Hiệu quả của việc sửdụng tài sản ngắn hạn thể hiện ở lợi nhuận của doanh nghiệp, đây chính là kếtquả cuối cùng mà doanh nghiệp đạt được Kết quả này phản ánh hiệu quả hoạtđộng sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn nóiriêng Với công thưc trên ta thấy, nếu tài sản ngắn hạn sử dụng bình quân trong
kỳ thấp mà lợi nhuận sau thuế cao thì hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn cao
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.
Có 2 nhân tố chính ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn củaDoanh nghiệp đó là nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan
1.3.1 Nhân tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan là những nhân tố xuất phát từ nội bộ doanh nghiệp
Với mục đích sản xuất kinh doanh của mình doanh nghiệp sẽ quyết địnhtrong việc phân phối tài sản, đặc biệt là chu kỳ sản xuất kinh doanh Sản phẩmcủa mỗi doanh nghiệp là khác nhau do vậy mà có những doanh nghiệp chu kỳsản xuất dài nhưng doanh nghiệp khác chu kỳ sản xuất lại ngắn, điều đó có ảnhhưởng đến việc ra quyết định của doanh nghiệp trong việc sử dụng tài sản ngắnhạn Để đi vào sản xuất thì lượng tài sản ngắn hạn cần đưa vào là bao nhiêu,mức dự trữ dành cho các chu kỳ tiếp theo như thế nào, lượng tiền mặt doanhnghiệp cần giữ cũng như kỳ thu tiền dài hay ngắn tuỳ thuộc vào từng doanhnghiệp Đối với doanh nghiệp có chu kỳ sản xuất kinh doanh dài thì thời gianthu hồi vốn càng lâu, nên các doanh nghiệp luôn tìm cách làm cho chu kỳ kinhdoanh ngắn hơn như vậy vòng quay tài sản ngắn hạn nhanh hơn Vòng quay tài
Trang 22sản ngắn hạn tăng tức là việc tiêu thụ hàng hóa cũng tăng lên và như vậy doanhthu tăng lên, làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp cũng tăng Điều đó thể hiệnhiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tăng.
Về cơ sở vật chất của doanh nghiệp: Đây là nhân tố hết sức quan trọng,bởi ngoài việc nguyên vật liệu tốt thì để có được những sản phẩm tốt thì điềuquan trọng là doanh nghiệp phải có những thiết bị máy móc tốt Một doanhnghiệp có được những trang thiết bị tốt sẽ làm cho các khâu sản xuất trở nên dễdàng hơn Cùng chất lượng nguyên vật liệu nhưng nếu doanh nghiệp nào trang bịtốt, máy móc đưa vào dây truyền sản xuất những thiết bị công nghệ cao sẽ tạo ranhững sản phẩm có chất lượng, đồng thời làm cho các công đoạn của quá trìnhsản xuất diễn ra nhanh chóng hơn, ngược lại với máy móc không tốt sẽ không tậndụng được hết giá trị của nguyên vật liệu thậm chí còn sản xuất ra những sảnphẩm kém chất lượng, như vậy hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn không cao.Ngoài ra còn nhân tố nữa ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn củaDoanh nghiệp đó là trình độ cán bộ công nhân viên Để việc sử dụng tài sảnngắn hạn đạt hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp phải có những cán bộ quản lýgiỏi, công nhân viên có trình độ tay nghề cao Người quản lý phải nắm bắt rõtình hình hoạt động của doanh nghiệp, sau mỗi chu kỳ hoạt động phải phân tích
để đánh giá xem hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn ra sao, từ đó đưa ra các kếhoạch trong những chu kỳ tiếp theo Trong quá trình sản xuất để tận dụng hếtnguyên vật liệu thì người công nhân phải có chuyên môn giỏi, đặc biệt việc sửdụng máy móc thiết bị hết sức quan trọng, máy móc thiết bị ngày càng hiện đạiđòi hỏi đội ngũ sử dụng những loại máy móc thiết bị đó cũng phải được đào tạo
có chuyên môn, có kỹ thuật
1.3.2 Nhân tố khách quan
Các nhân tố khách quan tác động tới doanh nghiệp, có những lúc thúc đẩydoanh nghiệp phát triển nhưng có lúc kìm hãm sự phát triển của nó Các nhân tốkhách quan bao gồm:
Trang 23* Sự quản lý của Nhà nước
Trong nền kinh tế tồn tại nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, mỗiloại hình doanh nghiệp mang một đặc thù riêng nó, Nhà nước có trách nhiệmquản lý các doanh nghiệp đó để nó đi vào hoạt động theo một khuôn khổ màNhà nước quy định.Tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệpđều phải tuân theo pháp luật mà Nhà nước đưa ra, từ khi bắt đầu thành lập đếnkhi hoạt động và ngay cả giải thể hay phá sản doanh nghiệp đều phải tuân theochế độ hiện hành
Đảng và Nhà nước ban hành các luật lệ, chính sách nhằm mục đích tránh
sự gian lận, đảm bảo sự công bằng và an toàn trong xã hội Sự thắt chặt hay lớilỏng chính sách quản lý kinh tế đều có ảnh hưởng nhất định đến doanh nghiệp
* Sự phát triển của thị trường
Thị trường tài chính là thị trường quan trọng nhất trong hệ thống kinh tế,chi phối toàn bộ hoạt động của nền kinh tế hang hóa Thị trường tài chính pháttriển góp phần thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia.Tất cả các hoạt động huy động vốn nhằm các mục đích thành lập doanh nghiệp,
mở rộng quy mô hoặc phát triển sản xuất kinh doanh đều giao dịch trên thịtrường tài chính Thị trường tài chính phát triển thúc đẩy sự phát triển doanhnghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung
* Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
Để tồn tại được thì các doanh nghiệp luôn có sự cạnh tranh lẫn nhau.Cùng là các doanh nghiệp sản xuất ra một loại sản phẩm nhưng doanh nghiệpnào có sản phẩm chất lượng cao, mẫu mã đẹp thì sẽ thu hút được nhiều ngườimua Như vậy vấn đề của các doanh nghiệp là thu hút được khách hàng và tấtnhiên phần thắng sẽ thuộc về kẻ mạnh Hiện nay các doanh nghiệp luôn hướngtới việc trọng cầu, việc đưa ra các phương thức về giá cả, mẫu mã, chất lượngđáp ứng nhu cầu người tiêu dùng luôn là vấn đề mà mọi doanh nghiệp phải quantâm
Trang 24* Nhu cầu của khách hàng
Nhu cầu khách hàng là nhân tố ảnh hưởng lớn tới việc ra quyết định củadoanh nghiệp trong việc sản xuất ra loại sản phẩm gì, chất lượng ra sao, mẫu mãnhư thế nào
Nhu cầu của con người ngày càng cao, để đáp ứng nhu cầu đó thì doanhnghiệp luôn phải tìm cách nâng cao chất lượng sản phẩm Những doanh nghiệp
mà đội ngũ nhân viên khéo léo, tận tình cộng với công tác xúc tiến thương mạiquảng bá sản phẩm của mình để thâm nhập vào thị trường mới sẽ giúp doanhnghiệp bán được nhiều sản phẩm làm doanh thu của doanh nghiệp tăng nhanh
Trên đây là các nhân tố chính tác động tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắnhạn nhưng bên cạnh đó doanh nghiệp cần quan tâm tới các nhân tố khác như:các vấn đề về tỷ giá, lạm phát, thiên tai, dịch bệnh… cũng ít nhiều ảnh hưởngđến hoạt động của doanh nghiệp
Trang 25CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN XÚC TIẾN THƯƠNG
MẠI VÀ DU LỊCH VIỆT NAM (VITRATO)2.1 Khái quát về công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Việt Nam (VITRATO)
2.2.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Giới thiệu chung về công ty
Tên công ty:
Tên tiếng Việt: Công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịchViệt Nam
Tên viết tắt: VITRATO JSC
Tên giao dịch: VITRATO
Địa chỉ: Số 14 Trần Bình Trọng, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
Điện thoại: 04.39362643/44/42 Fax: 04.39362645
Email: vitrato006@fpt.vn; vitrato@netnam.vn
Người địa diện pháp luật của công ty: Ông Đặng Ngọc Vẻ, Chủ tịchHĐQT kiêm Tổng giám đốc công ty
Cơ sở pháp lý của công ty
Trang 26- Công ty cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Việt Nam thànhlập năm 1991 là Doanh nghiệp nhà nước trực thuộc Bộ Công thương.Tháng 12/2005 Công ty chuyển thành Công ty cổ phần với tên gọi làCông ty Cổ phần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Việt Nam Giấy phépđăng ký kinh doanh số: 0101840580 Công ty VITRATO là thành viênchính thức của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và là Hộiviên Hiệp hội Du lịch Việt Nam.
Vốn điều lệ ban đầu:: 1.100.000.000 đồng, trong đó:
- Vốn bằng tiền là 1.100.000.000 đồng
- Vốn bằng giá trị sử dụng đất :0
- Vốn khác : 0
Cơ cấu vốn: Vốn chủ sở hữu: 1.100.000.000 đồng
Ngành nghề kinh doanh: Xúc tiến Thương mại, kinh doanh Du lịch, môigiới Thương mại, đại lý bán hàng hóa cho doanh nghiệp nước ngoài tại thịtrường Việt Nam, Tư vấn đầu tư, Sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu đồ gỗ thủcông mỹ nghệ, đồ gỗ nội thất, trang thiết bị máy móc văn phòng, hàng nông -lâm - thủy sản
Phạm vi hoạt động của công ty: Ngoài trụ sở chính đặt tại Hà Nội, Công
ty còn có các chi nhanh tại Cửa Lò (Nhà khách Bông Sen), chi nhánh tại LaoBảo - Quảng Trị (Khách sạn Bảo Sơn) và chi nhánh tại Thành phố Hồ ChíMinh \
Số lượng và trình độ nhân viên: chủ yếu là tốt nghiệp cao đẳng trở lên và
có gần 50 nhân viên (không kể nhân viên làm khoán thời vụ) Thu nhập bìnhquân người/tháng năm 2011 là:
Các mốc quan trọng trong quá trình phát triển
Hiện nay, Công ty VITRATO có 3 chi nhánh hạch toán độc lập đã được cổphần hóa là các công ty con Quá trình hình thành và phát triển của Công ty cổphần Xúc tiến Thương mại và Du lịch Việt cũng trải qua nhiều thăng trầm, biến
Trang 27động Kể từ khi thành lập đến nay, Công ty VITRATO luôn hoạt động ổn định,sản xuất kinh doanh có lãi Các chỉ tiêu chính về doanh thu, lợi nhuận, nộp ngânsách nhà nước, thu nhập bình quân của người lao động đều có sự tăng trưởng
ổn định, vững chắc qua từng năm; tình hình tài chính của công ty lành mạnh,không có nợ đọng, nợ xấu
Bên cạnh đó, thực hiện chủ trương xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vữngcủa Đảng, Chính phủ; nhiều năm qua Công ty VITRATO đã có những đóng gópthiết thực và góp phần phát triển Đất nước bằng việc có các chương trình Xúctiến Thương mại trọng điểm Quốc Gian Việc sắp xếp, củng cố, kiện toàn tổchức; bố trí lại đội ngũ cán bộ lãnh đạo - quản lý để nâng cao hiệu quả hoạtđộng của Doanh nghiệp theo các Nghị quyết của Đảng, được quán triệt và thựchiện nghiêm túc ở Công ty VITRATO và các Công ty con Trong những nămgần đây, Công ty VITRATO đã tích cực và chủ động chuyển đổi tổ chức theohướng đa dạng hóa hình thức sở hữu và quản lý; công tác quy hoạch, bồi dưỡng,tuyển dụng, bố trí sử dụng cán bộ được coi trọng; do đó theo thời gian các thế hệlãnh đạo - quản lý công ty và các đơn vị cơ sở lần lượt được thay thế, song sựchuyển giao không có sự xáo trộn, nội bộ giữ được ổn định, đoàn kết, thống nhấtcao từ trên xuống dưới
Công ty VITRATO không thỏa mãn, bằng lòng với những gì đã đạt được,yêu cầu nhiệm vụ đặt ra với Công ty những năm tháng tới là rất nặng nề Tiềmnăng, lợi thế của Công ty còn nhiều khía cạnh có thể khai thác, phát triển ở mứccao hơn Nhận thức rõ thuận lợi, khó khăn; biết mình, biết người, với tâm huyếtgắn bó của đội ngũ CBCNV - lao động đối với sự phát triển của tổ chức, chặngđường 5 năm, 10 năm, 15 năm tới chắc chắn sẽ tiếp tục được ghi dấu về sự lớnmạnh và thành công của Công ty VITRATO
Chức năng nhiệm vụ của công ty
Chức năng, nhiệm vụ theo giấy phép kinh doanh: Công ty VITRATO hoạtđộng theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0101840580 ngày 01/8/2005
Trang 28do Phòng đăng ký kinh doanh số 01 của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố HàNội cấp.
- Chức năng: Kinh doanh dịch vụ Xúc tiến Thương mại, kinh doanh dịch
vụ trung gian thương mại, Dịch vụ vận chuyển hành khách, Tư vấn đầu tư…
- Nhiệm vụ: Ổn định việc làm cho người lao động, tạo điều kiện để cổ đông
và người lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp, tăng lợi nhuận, cổ tức, hoànthành nghĩa vụ đóng góp cho ngân sách nhà nước Thực hiện tốt chính sách laođộng tiền lương, áp dụng tốt hình thức trả lương thích hợp để khuyến khích sảnxuất, tận dụng chất xám nội bộ, thu hút nhân tài từ bên ngoài làm đòn bẩy nângcao chất lượng sản phẩm và dịch vụ Bảo toàn và phát triển nguồn vốn tự có,quản lý sản xuất kinh doanh tốt, có lãi để tái sản xuất kinh doanh, mở rộng sảnxuất, đổi mới trang thiết bị và làm tròn nghĩa vụ ngân sách với Nhà nước Đảmbảo lợi ích cho người lao động trên cơ sở đảm bảo tất cả những yêu cầu đề ra vềđiều kiện an toàn kỹ thuật, an toàn lao động Mọi hoạt động sản xuất kinh doanhcủa công ty thực hiện đúng theo chính sách và pháp luật của Nhà nước
Lĩnh vực kinh doanh:
Kinh doanh dich vụ Xúc tiến Thương mại bao gồm: tổ chức khuyến mại,quảng cái Thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và hội chợ, triểnlãm Thương mại;
- Kinh doanh dịch vụ trung gian thương mại gồm: đại diện cho thươngnhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại;
- Dịch vụ vận chuyển hành khách;
- Sản xuất, mua bán, xuất nhập khẩu đồ thủ công mỹ nghệ; đồ gỗ nội thất,trang thiết bị, máy móc văn phòng; hàng nông, lâm, thủy sản (trừ loại Nhà nướccấm);
- Đại lý mua, đại lý bán, ký gửi hàng hóa;
- Tư vấn đầu tư (không bao gồm tư vấn pháp luật);
Trang 29- Tổ chức: biểu diễn nghệ thuật, hội thảo, hội nghị, giao lưu văn hóa, giớithiệu sản phẩm cho các Doanh nghiệp có nhu cầu;
- Buôn bán, in sang, nhân bản và phát hành phim ảnh, phim nhựa, phimvideo…;
- Mua bán vật tư, thiết bị sân khấu điện ảnh;
- Mua bán bản quyền các chương trình truyền hình;
- Xuất nhập khẩu những mặt hàng Công ty kinh doanh;
- Kinh doanh dịch vụ nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, Lữ hànhnội địa, Lữ hành Quốc tế và các dịch vụ phục vụ khách du lịch;
- Kinh doanh vận tải bằng ô tô theo các loại hình sau: vận tải hành kháchbằng ô tô theo tuyến cố định và theo hợp đồng; vận tải khách du lịch; vận tảihàng hóa;
- Dịch vụ tắm hơi, massage và các dịch vụ tăng cường sức khỏe tương tự;
- Giặt là, làm sạch các sản phẩm dệt và lông thú;
- Cắt tóc, làm đầu, gội đầu
2.1.2 Cơ cấu tổ chức - nhân sự
Trang 30Sơ đồ 2.1:bộ máy tổ chức quản lý của Công ty
(Nguồn phòng tổ chức hành chính)
* Chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban
- Ban giám đốc: gồm Giám đốc và các Phó giám đốc
Giám đốc Công ty: do HĐQT bổ nhiệm, là người đại diện theo pháp luậtcủa Công ty, điều hành hoạt động hằng ngày của Công ty và chịu trách nhiệmtrước HĐQT về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao
Phó giám đốc Công ty: Công ty có các Phó giám đốc, do Giám đốc công ty
đề nghị HĐQT bổ nhiệm hoặc ký hợp đồng, miễn nhiệm, chấm dứt hợp đồng và
PHÒNG TRIỂN LÃM HỘI CHỢ
PHÒNG KINH DOANH
Chi nhánh TP
Hồ Chí Minh
Trang 31quyết định mức lương cũng như những lợi ích khác của Phó giám đốc Phó giámđốc là người giúp việc cho Giám đốc Công ty.
Giúp việc cho Giám đốc có 2 Phó Giám đốc phụ trách các lĩnh vực công tácđược Giám đốc giao phó
+ Một Phó giám đốc phụ trách khối mảng Xúc tiến Thương mại kinh doanhcho đơn vị của mình
+ Một Phó giám đốc phụ trách khối kinh doanh du lịch, chịu trách nhiệm vềhoạt động của lĩnh vực mình phụ trách
- Bộ máy quản lý: Gồm các phòng ban:
kỹ thuật theo mục tiêu Công ty đã đề ra
* Các phòng chuyên môn có nhiệm vụ sau:
- Phòng hành chính tổng hợp: có trách nhiệm giải quyết các vấn đề về lao
động, tiền lương, BHXH,BHYT, điểu hành các công việc về văn phòng hànhchính Cụ thể hơn, phòng có nhiệm vụ lập kế hoạch tuyển dụng, phân công đàotạo và bổ nhiệm cán bộ công nhân viên, xây dựng nội quy, các văn bản về tổchức nhân sự, tiền lương theo đúng quy định của luật lao động Trong đó
+ Kế toán trưởng: là người giúp việc cho Giám đốc trong việc hạch toán
và xác định kết quả kinh doanh của Công ty Đảm nhiệm việc lập, cân đối các kếhoạch tài chính
+ Nhiệm vụ chung của kế toán trưởng là kiểm tra thường kỳ hoặc đột suấtcác hoạt động sản xuất kinh doanh ở các chi nhánh trực thuộc Đặc biệt quantâm tới việc sử dụng tiền vốn, hàng hóa, vật tư, các chi phí phát sinh nhằm đưahoạt động của đơn vị theo đúng hướng, đồng thời ngăn ngừa các hoạt động trái