1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

sách bí tàng đại lục nhâm độn đại toàn tập 2

979 983 1
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 979
Dung lượng 31,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thí dụ: Dần gặp mùa Xuân thì Dần được vượng, bởi mùa xuân thuộc Mộc mà Dần cũng thuộc Mộc ấy là Dần tỷ hoà với mùa Xuân Vậy thì: - - Trong mùa Xuân Mộc tất loại Mộc như Giáp Ất Dần Mão đ

Trang 1

Bùi Ngọc Quảng (Sưu tâm và biên soạn)

Tập I Trọn bộ 2 tập

NHÀ XUẤT BẢN THANH HÓA

Trang 2

BÙI NGỌC QUẢNG

(Sưu tầm và biên soạn)

Bi TANG Da@l LUC

NHÂM ĐỘN Đại TOAN

TẬP I (Trọn bộ hai fap)

NHÀ XUẤT BẢN THANH HÓA

Trang 3

Bi TANG DI LUC

NHAM DON Dé4I TOAN

TAP |

Trang 4

MỤC LỤC

LOI GIGI THIEU - Trang 7

TIEU DAN - Trang 8

Chương |: YEU KIEN TAP - Trang 13

Chương 2: TRƯƠNG QUÁI TẬP

A KHỞI DUNG THỜI TIẾT - 7r 112

C ANH TU BAN -Tr 1/6

F AN THIEN TUGNG -7r 126

H PHÉP ĐỔI CAN - Tr 133

B THẬP CAN -Tr [&

D THẬP NHI THIÊN THÂN - Tr 23

F LUC TUAN GIAP - Tr 88

G NHAT THO! DA CHIEM PHAP-Tr/3/

| PHEP DOL CHI -Tr 134

Chương 3 : KHÓA KINH TẬP - Trang 151

1 NGUYÊN THỦ KHOÁ (KIỂN) - 7r /53

3 TRI NHẤT KHÓA (TỶ) ~ Tr 167

5_ DAO KHẮC KHOÁ (KHUÊ) - Tr /94

7 BIẾT TRÁCH KHÓA (ĐỒNG NHÀN)- Tr 207

2 TRÙNG THAM KHOA (KHON)-Tr 162

4 THIỆP HAI KHÓA (KHẢM) - Tr /7/

6 MAO TINH KHOA (LY) - Tr 20/

8 BAT CHUYEN KHOA (VO VONG) - Tr 2/2

Trang 5

9 PHỤC NGẬM KHÓA (CAN) - Tr 219

11 TAM QUANG KHOA (BI) - Tr 236

13 TAM KY KHOA (DW) - Tr 241

15 THO! THA! KHOA (THAI) ~ 77 247

17 QUAN TUOC KHOA (TUY) - Tr 257

19, HIEN CAI KHOA (THANG) ~ Tr 257

21 TRÁC LUẬN KHÓA (DI) ~ Tr 26/

23 HANH THONG KHOA (TIEM) ~ Tr 269

25 VINH HOA KHOA (S) ~ Tr 280

27, HOP HOAN KHOA (TINH) - Tr 284

29 TRAM QUAN KHOA (DON) - Tr 290

31 DU TU KHOA (QUAN) - Tr 300

33 TAM GIAO KHOA (LAM) - Tr 306

35 XUNG PHÁ KHÓA (QUYẾT) - Tr 3/2

37 VU DÂM KHÓA (TIỂU SÚC) - Tr 32/

39 CÔ QUÁ QUAI - Tr 329

41 VO LOC TUYET TU KHOA (BI - Tr 336

43 XÂM HAI KHOA (TON) = Tr 342

45 NHI PHIEN KHOA (MINH DI) - Tr 350

47 THIEN NGUC KHOA (PHE HAP) - Tr 36!

49 THIEN VONG KHOA (MONG) - Tr 367

51 TAM AM KHOA (TRUNG PHU) - Tr 377

53 TỬ KỲ KHOA (VI TE) - Tr 383

55 ƯƠNG CỮU KHÓA (GIẢI - Tr 390

57 QUY MO KHOA (KHON) - Tr 397

59 BAN CHAN KHÓA (ĐẠI TRANG) - Tr 409

61 HUYEN THAI KHOA (GIA NHAN) - Tr 426

63 GIAN TRUYEN KHOA (TON) - Tr 438

65 VAT LOA! KHOA (TIET) ~ Tr 454

10 PHAN NGAM KHOA - Tr 230

12 TAM DUGNG KHOA (TAN) - Tr 239

14 LUC NGHI KHOA (DOAN) - Tr 244

16 LONG DUC KHOA (ICH) = Tr 249

18 PHU QUY KHOA (DAI HUU) - Tr 254

20 CHU AN KHOA (BINH) - Tr 259

22 DAN TONG KHOA (HOAN) ~ Tr 264

24 PHIEN XUONG KHOA (HAM) - Tr 276

26 DUC KHANH KHOA (NHU) - Tr 282

28 HOA MY KHOA (PHONG) - Tr 287

30 BẾ KHẨU KHOA (KHIEM) - Ty 293

32 LOẠI THỦ QUÁI (CẤU) - 7r 303

46 THIEN HOA KHÓA (ĐẠI QUÁI - 7+ ‡5á

48 THIEN KHAU KHOA (KIEN) ~ Tr 364

50 PHÁCH HÓA KHOA (CO) - Tr 37/

52 LONG CHIEN KHOA (LY) - Tr 380

54 TẠI ÁCH KHÓA (QUY MUÔI) - 7r 386

56 CUU XU KHOA (TIEU QUA) - Tr 394

58 LE DUC KHOA (TUY) - Tr 402

60 TOAN CUC KHOA (DAI SUC) - Tr 413

62 LIEN CHAU KHOA (PHUC) - Tr 430

64 LUC THUAN KHOA (CACH) ~ Tr 448

Trang 6

Chương 4: TẤT PHÁP TẬP (gồm 100 câu) - Trang 485

Trang 7

CAU 82 CAU 83 CAU 84 CAU 85

CAU 86

CAU 87 CAU 88 CAU 89 CAU 90

CAU 91

CAU 92

CAU 93 CAU 94

CAU 95 CAU 96 CAU 97 CAU 98 CAU 99 CAU 100

Trang 8

LỜI NHÀ XUẤT BẢN

Theo quan niệm cua người Phương Đông xưa, cuộc đời của mỗi con

người đều phụ thuộc vào một số quy luật nhất định của vũ trụ không ai có thể cưỡng nổi, vì vậy người xưa đã tìm hiểu số mệnh con người theo cách tính số

Tử vị, theo Kinh Dịch Thực ra phép bói theo bài bản cũng đã có từ hàng vài

nghìn năm nay trong cuộc sống của cư đân nông nghiệp Phương Đông nhưng

cho đến ngày nay việc đúng sat thế nào cũng chưa có thể piải mã được Để có thêm tư liệu cho những người cân nghiên cứu về văn hóa truyền thống Phương

Đông, Nhà Xuât Ban Thánh Hóa xịn giới thiệu với bạn đọc cuốn "Bí tàng Đại lục Nhâm độn Đại Toàn"

"Bí tàng Đại lục Nhâm độn Đại Toàn” là một kỳ thư ra đời sau cuốn Kinh

Dịch được biên soạn rất công phụ tỉ mỉ đê hiểu đễ thực hành, chủ yếu dựa vào

64 que nhưng khác Kinh Dịch là không đi sâu vào lời kinh và thoán từ

Lục Nhâm là 6 chữ Nhâm trong lục thập hoa giáp, đó là Nhâm Ty, Nham Dan, Nham Thin, Nham Ngọ, Nhâm Thân và Nhâm Tuất Sích được trình bày một cách khoa học từ thấp đến cao, những bí ẩn của khoa Lục Nhâm về âm

đương ngũ hành và vấn để co ban cua kỹ thuật bối, phép bối theo phép Nhâm Độn Những vấn đề này đan xen vào nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất

Trong sách này, mỗi bài đều có nhiều quẻ kiểu mẫu để thực hành như kiêu sách giáo khoa, chứ không đi tất đón đầu nên để nhớ, để nghiên cứu Sách

duoc chia lam 2 tap, kh6 16 x 24cm để bạn đọc dễ tra cứu

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn doc

NHÀ XUẤT BẢN THANH IIÓA

Trang 9

TIỂU DẪN

- Phép Bói có từ bao giờ? Có một số người đã thay chữ Bói bằng một thứ

từ mỹ miều “Dự đoán học” vì sợ dùng chữ Bói thì mọi người cho là mình lạc hậu, là mê tín dị đoan Vậy Phép Bói có từ bao giờ, phép bói có từ đời nhà Thương (1766-1121 TCN), khi đó con người còn mông muội, mọi hiện tượng

biến đổi của thiên nhiên, các việc xảy ra trong xã hội, việc lớn, việc nhỏ đều

bói hỏi thần linh, thậm chí nhà vua đau răng cũng bói hỏi xem vị tổ tiên nào làm mình đau răng Qua gần 1000 năm đến đời nhà Chu (112-225 TƠN) phép bói đã được cải tiến và có bài bản hơn rất nhiều, từ chỗ bói bằng những mảnh

xương thú, bằng mai rùa, đến đời nhà Chu thì bói bằng cỏ thị Ngày nay trải

qua hơn 2000 năm các phép bói này đã bị thất truyền, có chăng cũng chỉ được nhắc đến trên sách vở, bởi việc bói bằng cỏ thị quá phức tạp rườm rà, nếu thực hiện đúng nghỉ thức thì phải mất một tiếng đồng hồ, duy chỉ còn tồn tại việc

pieo quẻ bằng 3 đồng xu Phép bói bằng 3 đồng xu không biết có từ bao giờ,

nhưng vẫn được mọi người áp dụng đến ngày nay

Cuốn Kinh Dịch đầu tiên xuất hiện từ thời nhà Chu (221-207 TCN) có đề cập tới thuật bói xoay quanh 8 nguyên nhân để đoán trước việc lành đữ Các nguyên đo đó là:

- Hỏi xem việc chính phạt

- Hỏi xem về hiện tượng thiên nhiên

- Hỏi xem việc cho và nhận đồ vật tốt hay xấu

- Hỏi xem dự định công việc tốt hay xấu

- Hỏi xem kết quả thành bại của việc làm

- Hỏi xem quốc khách có đến không

- Hỏi xem có mưa không, nhiều hay ít

- Hỏi xem bệnh tật có qua khỏi không

Như vậy là phép bói đã có từ hơn 3000 năm nay Quan mệm người xưa cho ông Trời là một tuyệt đối thể bất khả xâm phạm, người xưa hay dùng từ

Thượng đế và Thiên (ông Trời) cũng vậy Người Trung Quốc cổ đại không chỉ thờ thần linh, họ còn thờ cúng tổ tiên ông, bà, cha, mẹ và những người đã

khuất, khuynh hướng này xuất hiện trong xã hội định cư nông nghiệp từ cuối

đời nhà Thương, các biến cố xui xẻo được gán cho tổ tiên đã chết gây ra, nay

được gấn cho con cháu đang còn sống khuynh hướng duy lý hóa, trong giải

Trang 10

vm * Bi TANG DAILUC NHAM DON DAITOAN * “

thích các biến cố ngày càng rõ nét, đây là một giai đoạn chuyển tiếp, từ một

hình thức xã hội mà thuật sang giai đoạn tôn giáo Theo quan điểm này các vua

cuối đời nhà Thương ngày càng trông cậy vào các thủ pháp tôn giáo hơn là các phương tiện ma thuật, các hình thức này dần dần cũng du nhập vào nước ta, người ta tin vào sự độ trì của gia tiên, vì tin rang con người có linh hồn bất từ mặc dù thân xác không còn

Tuy đã khuất nhưng gia tiên luôn có thể phù hộ độ trì cho con cháu, sự hướng về cội nguồn gia tộc, về đối tượng thiêng liêng trong gia tộc, đó là sợi đây liên kết những người trong gia tộc với nhau, và điều này dẫn đến tỉnh thần gia tộc, huyết thống mãnh liệt trong việc tu dưỡng đạo đức của người đang sống

Khi người ta chết đi rồi thì người sống thường hay nói “Bác ấy đã về với

ông bà tổ tiên” khi con người bám víu vào một niềm tin nào đó họ sẽ cảm

thông và an tâm trong cuộc sống

Những đánh giá khác nhau về Bói dịch

- Phép Bói bắt đầu có bài bản từ khi có Kinh Dịch Cuốn Kinh Dịch sớm

nhất là từ thời Tây Chu (221-207 TCN) rồi về sau mỗi thời lại cố nhiều cuốn

Kinh Dịch do nhiều người viết Đến các thời Đông ]Ián, Tây Hán, Tam Quốc, v.V càng về sau càng nhiều, phép bói cũng càng về sau càng được hoàn thiện hơn Người ta dùng 64 quẻ và 6 hào trong môi quẻ, dùng lời kinh và thoán từ

để đoán quẻ, trong các cuốn Kinh Dịch, cuốn nào cũng có câu “Cát, hung, hối,

lận” đấy là những bằng chứng để bói, nhưng Kinh Dịch cũng là cuốn sách dạy

đạo lý làm người, dạy thuật trị quốc, dạy con người chính trực tức là đạy con người có Đức, Đức là từ nguyén sơ của chữ chính trực tức là biết khiêm nhường kính trên, nhường dưới, nhân từ bác ái và biết khoan dung độ lượng

Kinh Dịch là một kỳ thư có nhiều giá trị tiềm ấn, chúng ta sẽ nhận ra sự

chính xác cực kỳ của lời chiêm đoán Có một số người cho rằng việc dùng

Kinh Dịch để làm sách bói là làm lệch hướng nghiên cứu Kinh Dịch, tức là biến nó thành một thứ thần học mê tín, hoặc một thứ bói toán vu thuật của bon giang hồ thuật sĩ, cách lập luận này có vẻ khiên cưỡng, là cát chân theo giày

Thoạt kỳ thủy Kinh Dịch là sách bói, đã sống và tồn tại gần 2000 nam nay trong dan gian, nó đi vào lòng người và được nhiều người tin cậy Chẳng lẽ các vị tiên thánh tiên hiền như Phục Hy, Văn Vương, Chu

Công, Khổng Tử, Trương Lương, Không Minh Gia Cát Lượng lại là

những thuật sĩ bói toán trong dân gian đội lốt nghiên cứu, tuy nhiên cũng

có một số kẻ sằng bậy lừa bịp nhân dân đã làm ảnh hưởng đến những người nghiên cứu chân chính, không phải vì thế mà họ vơ đũa cả nắm để ảnh hưởng đến giá trị đích thực của những người nghiên cứu nó

Trang 11

————*_ BÙINGỌC QUẢNG *#——————

Những phép Chiêm đoán theo âm dương ngũ hành thường thấy ở Việt Nam: Những phép chiêm đoán dùng theo am đương ngũ hành thường thấy ở Việt Nam trong 1 thế kỷ qua có nhiều loại ở đây chỉ nêu một số loại thường gặp

Tử vi: Môn tử vi có ở Việt Nam đã lâu nhưng ở miền Bắc rộ lén và được nhiều người biết đến từ sau năm 1975 khi miền Nam hoàn toàn giải phóng Đây là một mòn khoa học nói vẻ con người về đời người nếu đương số có đủ 4 thông số ngày, giờ, tháng, năm sinh thì có thể lập L lá số Nếu người có trí nhớ

tốt, nghiên cứu tỉ mỉ cẩn thận thì có thể nói những diễn biến của con người về

những điều họa phúc, may rủi của đời người độ chính xác tới 80% nhung phai nói ngày giờ tháng năm chính xác, nếu nói sai thì làm lá số sai hoặc không

hớ 4 thông số thì không lập được dù có lá số đúng nhưng muốn hỏi một số việc như "Tôi muốn bán ngôi nhà đến khi nào bán được, “Tôi muốn hùn vốn làm ăn với người ta liệu có thành công không”, '"Tôi có sở nợ muốn đòi, có đòi được không” những câu hỏi này dù người làm tử vi có giỏi cũng không thể trả lời quyết đoán, đấy là mặt hạn chế của môn tử vi

Mai hoa dịch số: Cũng sử dụng 64 quẻ trong Kinh Dịch, tính theo hậu

thiên Bát quái, cách lập que là tính giờ, khi những hiện tượng xảy ra nhu chim

bay gà gáy, chó sủa, sắc mặt người chợt gặp ngoài đường v.v những hiện tương, những cảnh quan, đều là yếu tố bèn ngoài lại còn tuỳ thuộc vào tâm trang và sự năm bắt của người lập quẻ, nhưng thường chưa có độ chính xác cao

Kỳ môn độn giáp: Môn này chủ vếu dùng cho quân sự, như an dinh hạ trại, hành quân nếu tiến công thì lợi chủ hay lợi khách, v.v nên không áp

dụng øì nhiều cho cuộc sống đời thường

Bói dịch: Chủ yếu dựa vào 64 quẻ trong Kinh Dịch vào âm dương ngũ

hành, vào 6 hào lục thân, lục thần để làm ra quẻ, phép gieo quẻ bằng 3 đồng

xu hiện nay là thông dụng nhất nhưng phải tuân thủ 3 yếu tố quan trọng là;

[ Người gieo quẻ phải tập trung suy nghĩ vào việc mình cần hỏi (không, nghĩ lan man sang việc khác) ˆ

2 Người đến hỏi quẻ phải tập trung suy nghĩ về điều mình cần hỏi

3 Cách lập quẻ thích đáng, và phải hiểu thuần thục phương pháp đoán quẻ, nếu làm đúng 3 yếu tố trên thì quẻ rất chính xác và lnh nghiệm lạ thường

Có những công việc phải đi xa, hoặc các việc hệ trọng của gia đình, như xây lại

mộ, khai trương cửa hàng, v.v hay đại loại là những công việc chính đáng thì kết quả rất mỹ mãn, chuẩn xác và linh nghiệm lạ thường nhưng mỗi lần gieo guẻ chỉ hỏi được một việc, nếu muốn hỏi sang việc khác thì phải gieo quẻ lại chẳng những vậy 3 đồng xu dày mỏng nặng nhẹ khác nhau, nhất là tâm trạng của người hỏi quẻ và người gieo quẻ đều ảnh hưởng đến kết quả của quẻ bói

10

Trang 12

* BÍ TÀNG ĐẠI LỤC NHÂM ĐỘN ĐẠI TOÀN *

Người đến hỏi quẻ, lại hỏi những việc không đúng đắn như: “Tôi đi đánh bạc

có được không", “Tôi đi buôn trốn thuế có thoát không” “Tôi muốn bỏ anh này để lấy anh kia có được không” nếu bói hỏi như vậy là báng bổ thần linh

và chính bản thân người gieo quẻ đã tự đánh mất đi cái đạo mà tiên thánh tiên hiển đã ban cho, nói chung là đem sử dụng Kinh Dịch vào những việc bất

chính thì Kinh Dịch không còn linh nghiệm nữa

Môn Đại lục nhàm: Môn Đại lục nhâm không biết có từ khi nào va do

vị tiên thánh tiền hiển nào biên soạn, trong sách thường nêu những ví dụ về tên người, tên đất của thời Tam quốc và sách chủ yếu dựa vào 64 que của Kính Dịch, cách soạn thảo cũng khoa học hơn, cặn kẽ hơn các cuốn khác Rất có thể môn Đại lục nhâm có từ thời Tam quốc (220 - 280) Đây là một kỳ thư được biên soạn rất công phu ty mỹ, giảng giải cặn kế từng chỉ tiết Lục nhâm là 6 chữ Nhâm ở trong lục thập hoa giáp đó là: Nhâm Dần, Nhâm Tý, Nhảm Thìn, Nhâm Ngọ Nhâm Thân, Nhâm Tuất Đại lục Nhâm kết hợp âm dương, ngũ hành, thập can thập nhị chí, 24 tiết khí trong năm để tìm ra Nguyệt tướng, lấy

giờ chiêm quẻ để lập thiên bàn, địa bàn, (2 thiên thần, I2 thiên tướng, sử dụng

sir chế hóa sinh khắc của âm đương ngũ hành, vượng tướng hưu tù, sinh vượng,

mộ tuyết, hình, xung, phá, bại, tam hợp, lục hợp, Tất ca những cái đó đêt nên

một tấm lưới của tạo hóa không gì có thể ra ngoài tấm lưới đó được Về chiều rộng thì vô cùng rộng lớn, về chiều sâu thì vỏ cùng sâu sắc, đo vậy khi lập

xong một quẻ (độ 5 phút) thì có thể chiêm đoán được nhiều việc cho một người những việc quan trọng người đó đang mưu vọng, sẽ xảy ra lúc đầu, lúc giữa và lúc cuối, vận han trong nam, nha cua, cha me, vo con, anh em, vv Qué duoc trải ra 12 cung và trưn truyền, việc chiêm đoán không bị bó hẹp nhưng cũng rất cặn kẽ ở những vấn đề người đến hỏi đang quan tâm Đây là một kỳ thư được biên soạn công phu ty my theo trình tự từ để đến khó có giải

thích kỹ càng có quẻ kiểu mẫu để dé tham khao, hệt như một cuốn sách giáo

khoa Một ví dụ nhỏ: Can Giáp thuộc mộc với Can Mậu thuộc thổ là Can phá,

vì sao lại phá Can Giáp thuộc mộc với Can Kỷ thuộc thổ là Can hap, vì sao lại hợp Các điều khác nữa tương tự đều có giải thích cân thận rõ ràng chứ khòng

mơ hồ để ai muốn hiểu đến đâu thì hiểu

Luc nham rat dé doc, dé tiếp thu chỉ cần người có tâm, có đức, có lòng

yêu nghề và có “duyên” với môn khơa học này thì sẽ thành công Mỗi quẻ Lục

nhâm chiêm đoán được nhiều vấn đề của một người, không bị hạn chế như các môn vừa nêu ở phần trước chính xác và linh diệu lạ thường

Các vị tiên thánh đã thấy rõ sự khắc ứng, sự hòa hợp âm đương trời đất

ding {2 Chi va 10 Can để làm ra quẻ, nhằm giải bày sự việc của con người, chúng ta nhờ cái lý mà biết sự thể để thấu hiểu sự huyền bí của tạo hóa chứ đâu

]I

Trang 13

—————* BÙỪINGỌC QUẢNG ®#———————

chi để chiêm đoán vận mệnh con người mà thôi Dịch học, Nhâm học rất thiêng liêng chuẩn xác, cần được sử dụng vào những mục đích chính đáng giúp cho con người làm chủ bản thân, bớt đi những sai lầm trong cuộc đời bớt đi những

phiền não khổ đau, đấy cũng là điều rất nên làm

Các bậc tiên thánh tiên hiển đã viết ra cuốn kỳ thư này công phu như

vậy, không biết hết bao lâu, một đời người hay nhiều đời người mới hoàn thành công trình trí tuệ này, chúng ta trân trọng và biết ơn các bậc tiền nhân nên

chúng ta cần nghiên cứu cuốn sách cần thận, không nóng vot tim tòi sự thành công nhanh, không đi tất đón đầu, như người mới học cửu chương đã đồi làm

toán đại số học, như vậy chẳng khác gì nước đồ đầu vịt chúng ta đang đứng

trước cửa một kho báu, có thu lượm được vàng bạc châu báu, hay chi thu được

toàn sỏi đá là còn tuỳ thuộc vào sự thành công của mối con người chúng ta

12

Trang 14

Vì vậy, nên cũng gọi tập này là Trúc cơ thiên, nghĩa là thiên cách đắp xây nền móng

Tóm lại nếu chưa nắm vững yếu kiện này không khỏi gặp lắm trở ngại,

chậm trễ và khiến cho người hoc nan chi

Yếu kiện tập có tất cả là 12 mục từ mục A đến mục M Trong mỗi mục gồm nhiều bài dùng những số I, 2, 3 4, 5, 6 v.v để đánh thứ tự cho các bài trong cùng mục, 12 mục sau đây:

Trang 15

MUC A: NGU HANH Ngũ hành là 5 loại (thể chất) trong trời đất vận hành theo cùng thời gian, theo mọi sự việc muôn loài vạn vật đều phải hệ thuộc vào ngũ hành, tiền nhân

đã thấy rõ như vậy nên xét theo sự thật của thiên cơ mà làm ra quẻ, mà cũng

do theo tính chất mà phân ra từng loại trong ngũ hành, cho những Can Chị,

Thần tướng để tìm ra sự việc sinh khắc một khí loại này gặp khí loại kia, tương

đối với nhau, lại do sinh khắc hay tỷ hoà nào đó mà biết được ảnh hưởng tốt

xấu của vạn hữu Bởi thế nên phải thông thuộc ngũ hành của các loại Can Chi

Thần tướng và các bài trong mục ngũ hành này, mới có thể luận đoán sâu xa

và dích xác, khi chiêm một quẻ có tất cả 8 bài

1- Ngũ hành vát thể

Ngũ hành là 5 loại kim, mộc, thuỷ, hoả, thỏ có thể phân biệt:

- Loại kim như: Vàng, bạc, sắt, đá, chì, kẽm than, thiếc

- Loại mộc như; Có, cây, rừng, bụi

- Loại thuỷ như: nước mưa, sương, đầu, mỡ, hơi lạnh

- Loại hoa như; Lửa, hơi nóng

- Loại thổ như: Đất, tro, bùn, bụi bạm

3- Chia loại thuộc ngũ hành

Trong quẻ lúc nào cũng dùng đến 1Ô can, 12 chỉ và 12 Thiên tướng, vậy phải rõ ngũ hành của 3 loại ấy mà phải học nhớ cho thuộc lòng

- Giáp Ất Dân Mão Thanh long Thiên hợp đều thuộc mộc

- Bính Định Ty Ngọ Đăng xà, Châu tước đều thuộc hoá

- Canh Tần Thân Dâu Bạch hổ, Thái âm đều thuộc kim

- Mậu Ký, Thìn Tuất Sửu Mùi Quý nhân, Câu trận Thái thường và Thiên

không đều thuộc thổ

- Nhâm Quý Hợi Tý Huyền võ Thiên hậu đều thuộc thuỷ

3- Tu thoi thuóc ngũ hành

- Mỗi năm phân chia làm 4 mùa gọi là tứ thời và có lần 4 quí gọi là tứ quí

tứ thời là Xuân Hạ Thư Đông còn tứ quí là 4 khoảng !§ ngày sau chót của mỗi mùa Mùa nào cũng có một quí ở chót Vì quí là rốt, đừng lầm tứ qui nay thuộc Thổ với can Quí thuộc Thuỷ

- Mùa Xuân là tháng piêng, hai, ba thuộc Mộc nhưng 18 ngày sau rốt của tháng 3 gọi là Quí xuân (cuối mùa xuân)

- Mùa Hạ là tháng 4-5-6 thuộc Hoá nhưng I8 ngày sau rốt của tháng 6 gọi là Quý hạ (cuối mùa hạ) thuộc Thổ

- Mùa Thu là tháng 7+8+9 thuộc Kim, nhưng 18 ngày sau rốt của tháng 9 gọi là Quí thu (cuối mùa thu) thuộc thổ

14

Trang 16

* BÍ TÀNG ĐẠI LỤC NHÂM ĐỘN ĐẠI TOÀN *

- Mùa Đông là tháng 10-11-12 thuộc Thuỷ nhưng 18 ngày sau rốt của tháng 12 (chạp) gọi là Quý Đông (cuối mùa đông) thuộc thổ

Theo âm lịch thì một năm có 360 ngày phân đồng cho ngũ hành môi hành được 72 ngày phân đều như sau:

- Mùa Xuân 72 ngày thuộc Mộc (tháng [+2 và 12 ngày đầu của tháng 3)

- Mùa Hạ 72 ngày thuộc loa (tháng 4+5 và 12 ngày đầu của tháng 6)

- Mùa Thu 72 ngày thuộc Hoả (tháng 7+§ và 12 ngày đầu của tháng 9),

- Mùa Đông 72 ngày thuộc Thuy (thang 10+11 va 12 ngay dau của tháng

chạp)

- Tứ Quí 72 ngày thuộc Thổ (4 lần 18 ngày sau rốt của bốn mùa tức là

của các tháng 3,6, 9, L2)

4 Bát Quái thuộc ngũ hành

Bát Quái nghĩa là 8 quẻ chỉ vào 8 phương hướng:

Chấn là phương chính Đông thuộc Dương mộc Tốn là phương Đông

Nam thuộc Âm mộc Ly là phương chính Nam thuộc Âm hoả Khôn là phương Tây Nam, thuộc Am thổ Đoài là phương chính Tây thuộc Am kim

Can là phương Tây Bác, thuộc Dương kim Khám là phương chính Bắc, thuộc

Dương thuỷ Cấn là phương Đóng Bắc, thuộc Dương thổ

5Š Nựn hành tương sinh

- Kim sinh Thuỷ (loại kim khí vẫn sinh ra hơi lạnh và khi hị đốt nó chảy lỏng thành nước)

- Thuỷ sinh Mộc (nước nuôi đưỡng cây và sinh cây có)

- Mộc sinh Hoá (cây củi đốt ra lửa)

- Hoá sinh Thổ (lửa đốt các vật thành ra tro đất)

- Thé sinh Kim (trong đất sinh ra mỏ vàng, sắt, đồng, chì)

6 Ngũ hành tương khốc

- Kim khắc Mộc (vì đao kiếm chặt đếo được cây)

- Mộc khác Thô (vì cây xới được đất)

- Thổ khác Thuỷ (vì đất thu hút được nước)

- Thuỷ khac Hoa (vi nude lam tất được lửa)

- Hoả khắc Kim (vì lửa đốt cháy được kim loại)

Trang 17

——————* BÙINGỌC QUẢNG ®————————

Lấy ngũ hành mà so tứ thời và tứ quí, rồi do sự sinh khắc hay tỷ hoà để

biết được cái khí của nó mà luận tốt xấu, ngũ khí nghĩa là ở vượng khí, hưu khí,

tù khí, tử khí nói tắt là vượng tướng, hưu, tù , từ, bài tính ngũ biến có 5 câu như sau:

a-TJi thời vi vượng b- Thời sinh vị tướng

c- Sinh thời vĩ bưu d- Khác thời vi tù

đ- Thời khắc vị tử

Thời tức là mùa, kể cả tứ thời và tứ quí (xem bài 3) Bất cứ là can hay chi hoặc thiên tướng cứ đem so sánh với mùa mà tính ra sinh khắc hay tỷ hoà, đã biết 5 khí giải nghĩa từng câu sau:

a- Ty thời vi vượng

Cùng thuộc một loại với mùa thì được vượng khí Thí dụ: Dần gặp mùa Xuân thì Dần được vượng, bởi mùa xuân thuộc Mộc mà Dần cũng thuộc Mộc (ấy là Dần tỷ hoà với mùa Xuân) Vậy thì: -

- Trong mùa Xuân (Mộc) tất loại Mộc như Giáp Ất Dần Mão được vượng

- Trong mùa Hạ (Hoà), tất loại Hoả như Bính Định Ty Ngọ được vượng

- Trong mùa Thư (Km) tất loạt Kim Canh Tân Thân Dậu được vượng

- Trong mùa Đông (Thuỷ) tất loại Thuỷ như Nhâm Quý Hợi Tý được vượng

- Trong tứ Quý (Thổ) tất loại thổ như Mậu Kỷ Thìn Tuất Sửu Mùi được vượng

b - Thời sinh vị tướng (được sinh)

Pham mùa sinh loại nào thì loại ấy được tướng khí thí dụ: Sửu gặp mùa

Hạ thì sửu được tướng bởi mùa Hạ thuộc Hoa tat sinh Situ thuộc Thổ (Hoa sinh Thổ) vậy thì:

- Trong mùa Xuân (Mộc) tất loại Hoả được tướng (Mộc sinh Hoa)

- Trong mùa Hạ (Hoả) tất loại Thổ được tướng (Hoả sinh Thổ)

- Trong mùa Thu (Kim) tất loại Thuỷ được tướng (Kim sinh Thuỷ)

- Trong mùa Đông (Thuỷ) tất loại Mộc được tướng (Thuỷ sinh Mộc)

- Trong tứ Quý (Thổ) tất loại Kim được tướng (Thổ sinh Kim)

c- Sinh thời vi hưu (bị tiết khí)

Phàm loại nào sinh mùa thì loại ấy bị hưu khí Thí dụ: Thìn gặp mùa Thu

thì Thìn bị hưu, bởi Thìn thuộc Thổ sinh mùa Thu thuộc Kim (Thổ sinh Kim)

vậy thì:

- Trong mùa Xuân (Mộc) tất loại Thuỷ bị hưu (Thuy sinh Mộc)

- Trong mùa Hạ (Hoả) tất loại Mộc bị hưu (Mộc sinh Hoả)

- Trong mùa Thu (Kim) tất loại Thổ bị hưu (Thổ sinh Kim)

- Trong mùa Đông (Thuỷ) tất loại Kim bị hưm (Kim sinh Thuỷ)

- Trong tứ Quý (Thổ) tất loại Hoả bị hưu (Hoả sinh Thổ)

d- Khắc thời vi tù

16

Trang 18

* BÍ TÀNG ĐẠI LỤC NHÂM ĐỘN ĐẠI TỒN *~

Phàm loại nào khác mùa thì loại ấy bị tù khí Thí dụ: Tuất gặp mùa

Đơng thì Tuất vì tù bởi Tuất thuộc Thổ khắc mùa Đơng thuộc Thuỷ (Thổ khác

Thuy) vay thi:

- Trong mùa Xuân (Mộc) tất loại Kim bị tù (Kim khắc Mộc)

- Trong mùa Hạ (Hoả) tất loại Thuy bị tù (Thuỷ khac Hoa)

- Tronp mùa Thu (Kim) tất loại Hố bị tù (Hố khắc Kim)

- Trong mùa Đơng (Thuỷ) tất loại Thổ bị tù (Thổ khắc Thuỷ)

- Tronp tứ Quý (Thổ) tất loại Mộc bị tù (Mộc khắc Thổ)

đ- Thời khắc vi tử

Phàm mùa khác loại nào thì loại ấy bị tử khí Thí đụ: mùa Hạ Hoả tất Dậu Kim bị khắc và bị tử vậy thì:

- Trong mùa Xuân (Mộc) tất loại Thố bị tử (Mộc khắc Thổ)

- Trong mùa La (Hộ) tất loại Kim bị tử (Hố khác Kim)

- Trong mùa Thu (Kim) tất loại Mộc bị tử (Kim khắc Mộc)

- Trong mùa Đơng (Thuỷ) tất loại Hoả bị tử (Thuỷ khắc hoa)

- Trong tứ Quý (Thổ) tất loại Thuỷ bị tử (Thổ khắc thuỷ)

e- Ngũ khí hung cát

Đây là bài luận đại khái vẻ sự ứng điểm tốt xấu của 5 khí:

Vượne: là thình vượng, tiến phát lên, rất hợp với quan chức và là điểm

tiến quan lộc, đồng loại với mùa, nên mùa làm cho vượng

Tướng: Tướng là mạnh mẽ, hùng cường như vị tướng điểm tiến phát, làm

ãn phát đạt, được tài lộc cùng bảo vật, được mùa sinh tức là được mùa nuơi đưỡng, cho nên được tướng khí hùng cường

Hine: ưu nghĩa là thơi, bị ngưng nghỉ, như người làm quan đến tuổi già, yếu đau tất phải nghỉ về hưu, Hưu khí ứng điềm bệnh hoạn suy vị, bị hưu khỉ cũng gọi là bị thốt khí, tức là bị hao mất khí lực, bởi sinh mùa cho nên phải bị

hưu khí tức là bị thốt khí, ví như người sản phụ đẻ con tất phải hao tổn khí

huyết cùng tỉnh thần hoặc cĩ thể bị ốm đau

Tủ; Tức là bị giam hãm, gong cùm, mùa ví như ơng quan, vậy khác mùa,

tức như hơn xược với quan trên tất thế nào cũng bị tù tội, phàm bị tù khí thí ứng

điểm cĩ chuyện tù ngục, bị tù túng, khơng cĩ lối thốt

Tư: Từ nghĩa là chết, tàn lụi, khơ héo, phầm bị mùa khác, tức như tội

nhân bị quan trên khắc ky tất sau cũng bị xử tử, điểm xấu nhất

Tĩm lại: Hai khí Vương, Tướng đều ứng điềm tốt cho nên gọi là Cái khí con 3 khi Huu, Tu, Tu đều ứng sự hung cho nên gọi là Jung khí

17

Trang 19

———* BUT NGOC QUANG | #7

MUC B: THAP CAN Thập can là 10 can Sắp có thứ tự sau:

1- Thập can sở thuộc

- Giáp thuộc Dương mộc - Ất thuộc Âm mộc

- Bính thuộc Dương hoa - Đinh thuộc Am hoa

- Mậu thuộc Dương thổ - Kỷ thuộc Âm thổ

- Canh thuộc Dương kim - Tân thuộc Ẩm kim

- Nhâm thuộc Dương thuỷ - Quí thuộc Âm thuỷ

Nén dé y chit Oui nay 1a can Qui thuéc thuỷ còn ở mục A bài 3 có chữ Quí

là tứ Quí tính theo mùa thì thuộc thô

2- Tháp can sở ký

Mỗi can đều có một chỗ ở gửi (sở ký) nhất định, nhưng không bao giờ ở

những cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu địa bàn Mười can đều ký theo các cung địa bàn

lại Bính với Mậu cùng ký một nơi và Định với Kỷ cùng ký một nơi (Sở ký là chỗ

ký thác, chỗ gửi thân vào mà thân tức là can vậy

- Giáp ký tại Dần địa bàn _ Ất ký tại Thìn địa bàn

- Bính ký tại Ty địa bàn - Định ký tại Mùi địa bàn

- Mau ky tai Ty địa bàn - Ky ky tai Mii dia ban

- Canh ky tai Than dia ban - Tân ky tại Tuất địa bàn

- Nhâm ký tại Hợi địa bàn - Quý ký tại Sửu địa bàn

3- Can phá

- Bính phá Canh - Dinh pha Tan

- Canh phá Giáp - Tan pha At

- Nham pha Binh - Quy pha Binh

Pham Duong can khác Dương can, hoặc Ám can khắc Âm can thì gọi là

can phá Như trên nói Giáp phá Mậu vì Giáp là Dương mộc khắc Mậu là

Đương thổ, can phá vốn ứng điểm xấu

4- Can hợp

- Giáp với Kỷ là can hợp

- Bính với Tân là can hợp

- Mậu với Quý là can hợp

- Ất với Canh là can hợp

18

Trang 20

* BÍ TÀNG ĐẠI LỤC NHÂM ĐỘN ĐẠI TOÀN *

- Định với Nhâm là can hợp

- Phàm Dương can khắc Âm can thì gọi là can hợp như trên nói Giáp với

Ký là Âm thổ tuy khắc (khác loại) nhưng có đủ âm dương thì lại hợp nhau Can hợp vốn ứng điềm tốt

3- Can loại

Khi khảo cứu tới các tập tới, thường gặp các thuật ngữ thuộc về can loại

như sau đây:

- Cạn địa bàn Xem can của ngày hiện tại ký ở cung địa bàn nào thì gọi cung ấy là Can địa bàn Lập thành như sau:

+ Ngày Giáp thì can địa bàn là cung Dần địa bàn (bởi Giáp ký tai Dan) + Ngày Ất thì can địa bàn là cung Thìn địa bàn (bởi Ất ký tại Thìn)

+ Ngày Bính thì can địa bàn là cung Ty địa bàn (bởi Bính ký tại Ty) + Ngày Đính thì can địa bàn là cung Mùi địa bàn (bởi Dinh ky tai Mii) + Ngày Mậu thì can địa bàn là cung Ty địa ban (boi Mau ky tai Ty) + Ngày Kỷ thì can địa bàn là cung Mùi địa bàn (bởi Kỷ ký tại Mùi) + Ngày Canh thì can địa bàn là cung Thân địa bàn (bởi Canh ký tại Thân) + Ngày Tân thì can địa bàn là cùng Tuất địa bàn (bởi Tân ký tại Tuất) + Ngày Nhâm thì can địa bàn là cung Hợi địa bàn (bởi Nhâm ký tại Hợi) + Ngày Quý thì can địa bàn là cung Sửu địa bàn (bởi Quý ký tại Sửu)

- Can than

Là chữ thiên bàn đồng một tên với can địa bàn, như ngày Giáp thì can địa bàn là Dần địa bàn vậy can thần cũng là Dần nhưng là can thiên bàn, lập thành

như sau;

+ Ngày Giáp thì gọi Dần thiên bàn là can thần

+ Ngày ẤI thì gọi Thìn thiên bàn là can thần

+ Ngày Bính thì gọi Ty thiên bàn là can thân

+ Ngày Đình thì gọi Mùi thiên bàn là can thần

+ Ngày Mậu thì gọi Ty thiên bàn là can thần

+ Ngày Kỷ thì gọi Mùi thiên bàn là can thần

+ Ngày Canh thì gọi Thân thiên bàn là can thân

+ Ngày Tân thì gọi Tuất thiên bàn là can thần

+ Ngày Nhâm thì gọi Hợi thiên bàn là can thần

+ Ngày Quý thì gọi Sửu thiên bàn là can thần

- Cạn thương thân

Là chữ thiên bàn có an (ký) can của ngày chiêm quẻ hiện tại như ngày Canh chiêm quẻ, thì án can tại Thân địa bàn này Vậy gọi chữ thiên bàn đó là thiên thần (xem tới Trương quái tập sẽ chỉ dẫn cách an que)

19

Trang 21

——————* BÙINGỌC QUẢNG *# -~ 7

MỤC C: THẬP NHỊ CHI Thập nhị Chi là 12 chữ Chi gồm thứ tự sau đây:

1- Tháp nhị chỉ sở thuộc

- Tý là loại chuột thuộc đương thuỷ phương chính Bắc cung Khảm

- Sửu là loại trâu thuộc âm thổ phương Đông Bắc cung Cấn

- Dần là con hổ thuộc dương thổ phương Đóng Nam cưng Cấn

- Mão là con mèo thuộc âm mộc phương chính Đông cung Cấn

- Thìn là con rồng thuộc dương thố phương Đông Nam cung Tốn

- Ty là loại rắn thuộc âm hoả phương Đông Nam cung Tốn

- Ngọ là loại ngựa thuộc dương hoả phương chinh Nam cung Ly

- Mùi là loại đê thuộc âm thổ phương Tây Nam cung Khôn

- Thân là loại khỉ, vượn thuộc dương kim phương Tây Nam cung Khôn

- Dâu là loại gà thuộc âm kim phương chính Tây cung Đoài

- Tuất là loại chó thuộc đương thổ phương Tây Bắc cung Can

- Hợi là loại lợn thuộc âm thuy phương Tây Bắc cung Cần

2- Mạnh trong quí

Lấy trong 12 chi mà phản ra tứ mạnh tứ trong tứ quí

Từ mạnh là Dân Thân Ty Hợi, tứ mạnh cũng gọi là rứ sj¡/ vì theo trường

sinh cục thì trường sinh ở tại 4 chữ này

Tứ trọng là Tý Ngọ Mão Dậu, tứ trọng cũng gọi là /ứ tượng vì theo trường sinh cục thì Đế vượng ở tại 4 chữ này

Tứ quí là Thìn Tuất Sửu Mùi, tứ quí cũna gọi là ø pó vì theo trường sinh cục thì sao Mộ ở tại 4 chữ này Mạnh trọng quí liền nhau họp thành một mùa

như sau đây:

Mùa xuân: Tháng Dân còn gọi là mạnh xuân tháng 2 tên Mão gọi là Trọng xuân tháng 3 tên Thìn gọi là Quý xuân

Mùa Hạ: Tháng 4 tén Ty gọi là Mạnh hạ tháng 5 tên Ngo gọi là Trọng

hạ, tháng 6 tèn Mùi gọi là Quý hạ

Mùa Thu: Tháng 7 tên Thân gọi là Mạnh thu, tháng 8 tèn Dậu gọi là Trọng thu, tháng 9 tên Tuất gọi là Quý thu :

Mua Dong: Thang 10 tên Hợi gọi là Mạnh đông, tháng LI tên Tý gọi là Trọng đông tháng 12 tên Sửu gọi là Quý đông

3- Chỉ loại

Khi khảo cứu đến những tập sau, thường gặp các tên chị, địa bàn, chi

thần, chi thượng thần vậy cần hiểu biết trước cho khỏi lúng túng

- Chi dia ban

20

Trang 22

* Bi TANG DAI LUC NHAM DON DAI TOAN *

La cung dia bàn có ghi tên chỉ của ngày hiện tại (khi đã trang quẻ xong) như ngày chiếm quẻ là ngày Thìn thì khi trang que phải ghi hai ch Chi Thin khít bên ngoài cung Thìn địa bàn vậy gọi cung Thìn đĩa bần này là Chỉ địa bàn

- Chị thâu

Là chữ Thiên bàn đồng một tên với Chỉ của ngày chiêm quẻ, như ngày chiêm qué là ngày Thân thì chỉ thần cũng tức là Thân nhưng là Thân Thiên ban Chi dia ban với Chị thần cùng đồng một tên, nhưng Chi địa bàn là cùng địa bàn còn Chị thân là chữ Thiên bàn

- Chị Thương thần

Là chữ Thiên bàn ở cung có an Chỉ, như ngày Dần chiêm quẻ thì phải ghì

(an) 2 chữ chi Dần ở khít bên ngoài cung Dần địa bàn, khi trang quẻ xong tất

có một chữ Thiên bàn trên cung Dần địa bàn này Vậy gọi chữ Thiên bàn ấy là chi Thượng thần

- Tee hinh: Ya mình hình lấy mình Thìn hình Thìn, Ngọ hình Ngọ, Dậu hình Dậu, Hợi hình Hợi đều gọi là Tự hình Đại khái Tự hình ứng về những

việc thương tàn tốn hại

3- Lục xung

Tý với Ngọ xung nhau Dần với Thân xung nhau Thìn với Tuất xung nhau Sửu với Mùi xung nhau Mão với Dậu xung nhau

Ty với Hợi xung nhau

Lay 12 chi phan làm 6 đời xung nhau cho nên gọi là lục xung, đại khái

cũng không ngoài cái nghĩa đóng cách như đời đi, phản phúc, chẳng yên ốn

6- Lục phá

Tỷ vớt Dâu phá nhau Thân với Ty phá nhau Thìn với Sửu phá nhan

2)

Trang 23

————* BUINGOC QUANG #——————

Tuất với Mùi phá nhau Ngọ với Mão phá nhau Dan với Hợi phá nhau Lay 12 chi phan lam 6 đôi phá nhau cho nên gọi là lục phá, đại khái ứng không ngoài cái ý nghĩa fấn đi tức như làm cho tiêu tán, tản lạc lui hoại,

không hợp lại

7- Luc hai

Ty voi Min hai nhau

Dan với Ty hại nhau

Thân với Hợi hại nhau

Sửu với Ngọ hai nhau Mão với Thìn hai nhan Dậu với Tuất hại nhau Lấy 12 chi phân làm 6 đôi hại nhau cho nên gọi là lục hại ứng không ngoài cái ý nghĩa ngấn trở, chướng ngại làm cho trì trệ, bị thiệt hại không có su hoà thuận

Ngọ với Mùi hợp nhau

Lấy 12 chỉ phân làm 6 đôi hợp nhau cho nên gọi là lục hợp, đại khái ứng không ngoài cái ý thudn hod than cận cộng hợp, làm cho thanh hợp nhưng có

tính cách lưu trì (chậm)

9- Tam hợp

Thân Tý Thìn là tạm hợp Dần Ngợ Tuất là tam hợp Hợi Mão Mùi là tam hợp

Ty Dậu Sửu là tam hợp Lấy 12 chi phân làm 4 cục, nhưng mỗi cục thì cục nào cũng gồm có 3 chi hợp nhau cho nên gọi là tam hợp Đại khái cũng ứng như lục hợp, có ý nghĩa

liên kết và bên lâu Tam hợp phải có đủ 3 chỉ vì tam là 3, nhưng nếu trong qué

chỉ có 2 chị gặp nhau như Thân với Tý, Dần với Ngọ v.v cũng tạm gọi là tam hợp, miên là trong 2 chị đó phải có trọng thần tức tứ trọng (Tý Ngọ Mão Dậu)

22

Trang 24

* BÍ TÀNG ĐẠI LỤC NHÂM ĐỘN ĐẠI TOÀN *

MỤC D: THẬP NHỊ THIÊN THẤN

- Thập nhị thiên thần là 12 vị thiên thần tức là 12 chỉ của Thiên bàn (xem tới mục an Thiên bàn ở Trương quái tập) Trong 12 vị thiên thần tức là chị

Thiên ban rat quan hệ vì phải dùng đến để tính ra tứ khoa tam truyền hào

tượng, hình, xung phá hại, hợp, vượng khí tướng khí hưu khí, tù khí, tử khí

và an L2 thiên tướng

- Phàm chữ Thiên bàn nào có 'Thìn cát thần như sinh khí, phúc tính thành

hop, can đức, thiên đức, v.v , (xem tớt mục L) hoặc chữ Thiên bàn nào được

vượng khí, tướng khí thì ứng điểm tốt bằng chữ Thiên bàn nào có thừa hung

thần như tử khí sát, dương nhậm, nguyệt yếm tuế hồ, chi hình chị hại hoặc

chữ Thiên bàn nào bị hưu khí, tù khí, tử khí

- Mỗi chữ Thiên bàn (thiên thần) có một tên riêng như sau đây:

+ Tý thiên bàn có tên nêng là Thân hậu

+ Sim thiên bàn có tên riêng là Đại cát

+ Dần thiên bàn có tên riêng là Công tào

+ Mão thiên bàn có tên riêng là Thái xung

+ Thìn thiên bàn có tên riêng là Thiên cương

+ Ty thiên bàn có tên riêng là Thái ất

+ Ngọ thiên bàn có tên riêng là Thắng quang

+ Mùi thiên bàn có tên riêng là Tiểu cát

+ Thân thiên bàn có tên riềng là Truyền tông

+ Dậu thiên bàn có tên riêng là Tòng khôi

+ Tuất thiên bàn có tên riêng là Thiên khôi (Hà khôi cũng thế)

+ Hợi thiên bàn có tên riêng là Đăng mình

1- Hợi Thiên bàn hay Đăng Minh

- Luận: Hợi là chỗ bắt đầu sinh một hào dương (nhất đương sinh ra Hợi) tức là chỗ ánh sáng phát lèn và vì thế nên gọi là Đăng minh (sáng lên) cũng gọi

Hợi là Thiên môn (cửa trời)

- Hành tiết: Hợi tức Đăng Minh là thuỷ thần (Âm thuỷ) Bản gia của Hợi

tại Hợi địa bàn, tương tỷ (đồng một loại) với can Quý và sao Huyền vũ là Nguyệt tướng thứ nhất, được dùng trone khoảng khí Vũ thuỷ và tiết Kinh trập vào lối tháng giéng ta

- Tướng sắc: Hợi là người thợ, mặt đài, tóc vàng, da đen

- Cung vị: Hợi là cung Song ngư chữ Pháp pgọi là Poissone dùng để làm

ký hiệu có 2 con cá làm tượng trưng, ngôi ở Tây bắc, ngôi ở gần bên Bắc hơn là

bên Tây Trên có ký can nhâm, dưới là chế sinh ra loại mộc (loại mộc khởi

23

Trang 25

—————* BÙINGỌC QUẢNG *#'— ———

tràng sinh tại Hợi (xem tới mục tràng sinh cục) Hợi tượng sao Huyền vũ số 4,

vị mặn, màu đen, về ngũ àm là tiếng đốc, vẻ tỉnh tú là sao Thất (Thất hoả trú)

và sao Bích (Bích thuỷ) về cầm thú là loài heo, gấu Lại nói Hơi là ngôi tại cửa trời, nơi mà khí âm đã cùng tận và khí âm bắt đầu hưng khởi

- Sở chủ: Hợi vốn ứng điểm lành, thường là được mời thỉnh, có việc âm

thầm, tư riêng, việc chẳng trong sạch, như Hợi thừa hung tướng là có điểm tranh kiện bị ngục tù, bị đắm đuối, nếu là ngày Ty Dậu, Sửu thì ứng điểm trốn

mất, có sự tìm kiếm

- Chư loại thuộc: Trên trời thì IIợi là Vũ sư (vị thần làm mưa) là loại quỷ

thần Cũng gọi là Thiên mã (ngựa trời) Thiên nhĩ (tai trời)

+ Là con trẻ, vị tướng quân, người đàn bà, là thương khách kẻ đi xin Hợi gia Dau địa bàn là người say rượu

+ Hợi cũng là cá, lá gan, quả thận Hợi lâm Can là cái đầu tóc ngày dương mà Hợi gia Thân hoặc ngày âm mà Hợi gia Mùi là cát chân (chân để đi) + Hợi cũng là mắt lé, Hợi gia Thìn là bệnh khốc sia Thìn, Tuất, Sửu, Mùi

là bệnh tả, Hợi gia Ty hay Ty gia Hợi gọi là cái đầu cái mặt

+ Hợi thừa Huyền vũ là trộm cắp, thừa Thiên hậu là bọn cướp sát hại,

bọn gian thần

+ Hợi thừa Quý nhân gia Dần là điềm vua chúa ở thừa, Thanh long là cao lâu, gia Dân là lầu gác thừa, Thiên hợp là cái gác, gia Mão là cái đài, nơi lên đài

+ Hợi cũng là cái đình, cung viện , vườn tược, hang lô, nền vách tường Hợi gia Tuất hoặc ngày Giáp ất mà Hợi gia Thiên không, gia Ty là nhà ngục hoặc chỗ chó heo đi tiện

+ Hợi cũng là cái bức địa đồ, sách vở, mực viết,, tần lọng, nón lá vòng tron, Hoi gia Ty là ông sao

+ Hợi cũng là kho lầm, cung dién, pho tượng, Dậu gia Hợi là lúa gao, Châu tước gia Hợi là muối

Hợi thừa thiên tướng:

Điểm ứng của Hợi thiên bàn là thừa thiền tướng -

- Hoi thừa Quý nhán: gọi là Quý nhân lên cửa trời, vì Hợi là cái cửa thiên cung, điểm được bề trên mời thính, nếu có thừa sao dịch mã càng ứng

chác Quý nhân lâm Hợi địa bàn cũng ứng thế

- Hợi thừa Đằng xà: Châu tước là thần thối gió (phong thân) còn Hợi là thần thổi ống tiêu, cho nên Hợi thừa Châu tước thì ứng việc thối tiêu sáo, ấy là điểm được giải phóng những điểm hung hại, thứ nhất là ở việc thưa kiện, ất sẽ

giải hoà, tù tội được phóng thích

24

Trang 26

"® BÍ TÀNG ĐẠI LỤC NHÂM ĐỘN ĐẠI TOÀN *

- Hợi thừa Thanh long: Thừa Thanh long pia Hợi địa bàn thì ứng về việc

có quan hệ đến lâu dài

- Hợi thừa Thiên hợp: Lợi thuy sinh Thiên hợp Mộc mà Mộc thì cũng

Tràng sinh tại lợi nên ứng về việc con cái mới sinh, tiểu nhỉ, ấu tử

- Hợi thừa Cảu trận: Câu trận chủ tung sự, nay Câu trận khắc Hợt tất ứng việc tù ngục, ngày Giáp Nhâm Quý thì ứng việc chiến đấu là điểm người di

xa giận hờn ngày Mậu Canh thì chẳng hại vì Câu trận với Mậu tỷ hoà với Canh tương sinh

- Họi thừa Thiên không: Hợi thuộc heo, Thiên không là chô bỏ không,

hang lỗ Vậy Hợi thừa Thiên không là chỗ heo tiểu tiện đơ bẩn

- Hợi thừa Bạch hổ: Hợi là chỗ sinh ra Mộc, Bạch hố thuộc Kim khắc

Mộc nên ứng điểm bị hoạn thương (Mộc trường sinh ở Hợi)

- Hợi thừa Thái thường: Thái thường là thân lúa nếp, bổn gia tại Mùi,

mà Mùi với Hợi là tam hợp cho nên ứng về kho lâm lương lộc

- Hợi thừa Huyền vũ: Hợi là bốn gia của Huyền vũ, mà Huyền vũ là sao chủ về đạo tặc, thế nên gọi là đạo tặc về nhà

- Hơi thừa Thái âm: lợi là tượng của Huyện vũ chủ sự gian tà còn Thái

âm chủ sự ám muội thường ứng về các việc âm thầm ấn khuất,

- Hợi thừa Thiên hảu: Hợi và Thiên hậu đều thuộc Thuy mà Thuỷ nhiều quá nên bị đắm đuối, bị lôi cuốn, bị chết chìm

2- Tuát thiên bàn hay Hà Khôi

- Luán: Hà Khôi cũng gọi là Thiên Khôi, là sao đấu thứ nhất ngôi ở cung

Tuất nên gọi Tuất là Hà Khỏi, Hà Khôi ứng động trong thấng 2 giữa mùa Xuân, tháng hai vạn vật đều sạch gọn gẽ và thu hút sinh khí thế nên gọi là khôi, vì khôi có nghía là tụ lại

- Hành riếf: Tuất là thỏ thần, thuộc Dương thổ, bốn gia tại Tuất địa bàn

tương tỷ với Can Mậu và sao Thiên không là Nguyệt tướng thứ hai được dùng trong khoảng khí xuân phân và tiết thanh minh, vào khoảng tháng 2 âm lịch

- Tướng sắc: Ngày xưa Tuất là kẻ giữ ngục, canh nhà giam

- Cung ví: Tuất là cung Bạch dương Dùng con chím đực làm tượng trưng ngôi ở Tây Bắc, nhưng gần bên Tây hơn, trên có ký can tân, đưới là hoả

mộ (loại hoả thiên tại Tuất xem tới bài Trường sinh cục) Tuất là tượng sao Thiên không, vị ngọt, màu vàng ngũ âm là tiếng thương, vẻ tính tú là sao Khuẻ

và sao Lâu (Khuê mộc Jang, Lau kim cau) Vé cảm thú là loại chó chó sói

- Sở chủ: Tuất chủ sự về các việc có liên hệ đến ấn thọ (huân huy chương) việc đối trá, tiêu thoát, hư hao, mất tài vật, việc nô tỳ, sự fụ tập đông người Như Tuất dụng làm Sở truyền thì ứng việc cũ trở lại mới

25

Trang 27

——————* BÙINGỌC QUẢNG *~='— —~:

- Chư loạt thuộc: Trên trời thì Tuất là sao Đầu, là thiên la (lưới trời)

Tuất cũng là địa hộ (cửa đất) như Tuất thừa Huyền vũ thì gọi là ép thần (dãn ép) hay cũng gọt là yên thần (êm) Tư cũng là chức Tư trực, là người hiển, thầy

tu, trưởng giả, thợ sãn bán, sát hại người hung ác, tiểu đồng, nô bộc Tuất thừa Bạch hồ mà khắc Can là kẻ cướp mạnh mẽ Tuất gia Nguyệt kiến (cung tháng

địa bàn) là Quan ty (ban tra xét), Tuất gia Thái tuế (cung năm địa bàn) là Quan

đô hạt (quản một khu vực lớn), Tuất thừa Châu tước gia Can hay gia Chi la Quan trưởng, Tuất thừa Huyền vũ là kẻ đi xin ăn Tuất gia Thân hay Tuất giá Dậu là bình sĩ,

+ Tuất cũng là người cậu, ông hay em gái

+ Tuất cũng là mệnh môn (chõ giữa hai quả thận), là bọng đái, chân đi,

như gia bản mệnh là cái chân đái

+ Tuất cũng là thành quách, chùa chiên, nhà hư, tôi tớ những vật sinh

trong đất Ngày Giáp mà Tuất gia Dần là vách tường hư hỏng, thừa Bạch hô và được dùng làm sơ truyền là mô mà Tuất vốn là nhà ngục Thừa Câu trận càng

ứng, chắc lao ngục Tuất thừa Đằng xà lại gia Ty, Ngọ là lò vôi gạch, lò sứ hoặc

lò đúc kim khí

+ Tuất cũng là sắc phục của công nhân, giầy dép khí giới của b¡nh lính Tuất thừa Châu tước là huân huy chương, như thừa Huyền vũ lâm hình (lâm Sửu Mùi) là cái gông cùm như thừa Cầu trận gia Thân là đá

+ Tuất cũng là ruộng, là ngũ cốc vừng đậu lúa ngô

+ Tuất thuộc về hợ Nguy vương theo chữ [án thì những gì họ viết có chữ

thổ + huy chữ túc

Tuát thừa Thiên tướng

Điểm ứng của Tuất thiên bàn khi thừa mỏi Thiên tướng

- Tuát thừa Quý nhán: không bao giờ có Tuất thiên bàn có thừa sao Quý nhân Vậy đoán cũng như Quý nhân làm Tuất địa bàn

- Tuát thừa Đằng xà: ứng về loại chó chó sói yêu quái quấy nhiều, như mùa xuân, chiêm nhằm những ngày Thìn, Tuất, Sửu, Mùi thì gọi là Tiên cẩn tất do loại khuyến đang làm ma quái bằng nhằm ngày Mậu thì gọi là Vàng vé

sat (mg viéc nguy hại, băng ngày Giáp ất Dần Mão thì gọi là Thị tất ứng sự

vui mừng Lại nói chiếm nhằm ngày Mậu, Ký, Thìn, Tuất, Sửu Mùi mà Tuất

thuộc Đảng xà thì ứng việc ma quái còn ngày Giáp, Ất, Dần, Mão, Tuất thừa cát tướng thì ứng các việc tốt như hôn nhân, that sản

- Tuát thừa Chaảu tước: Ấy là Châu tước gặp Mộ vì Châu tước thuộc Hoá

thì Mộ tại Tuất Trong việc kiện tụng ất có hệ thuộc vào người nha lại như thư

ký tuỳ phát

26

Trang 28

* BÍ TÀNG ĐẠI LỤC NHÂM ĐỘN ĐẠI TOÀN #

- Tuất thừa Thiên hợp: Thiên hợp bổn gia tại Mão, mà Mão với Tuất vốn

lục hợp lại Mão đứng trước Tuất Š cung nên gọi Mão là Đức thần của Tuất (theo cách an chí Đức) như thế Tuất thừa Thiên hợp gọi là Đức hợp, chiếm việc

gì cũng ứng điềm tốt lành

_—" Tuái thừa Cáu trán: Tuất là sao Thiên khôi chủ sự tụ tập đông người, Câu trận cũng chủ sự nhóm góp, thế nên Tuất thừa Câu trận, tất ứng những cuộc hội họp đông người như hội nghị, ăn liên hoan, xem văn nghệ

- Tuát thừa Thanh long: Tuất là vị thần tập chứng, Thanh long là nơi đô hội luận về quan vị là người có quyền cai trị một địa hạt,

- Tuảát thừa Thiên khóng: Tuất với Thiên không tươnp tỷ đồnp một

ngôi, ứng về các việc có liên quan đến nô tỳ, sự trốn mất, sai lạc, điểm tôi !ớ

bất lương, chẳng trốn mất cũng trộm cắp của mình

- Tuát thừa Bạch hồ: Tuất là địa hộ (hang đất) Bạch hồ là táng môn (cửa

chôn cất) có nghĩa là chôn người xuống huyệt như hỏi bệnh mà chiếm ngày Nhâm Quý thì Tuất là hào quan quỷ thừa Bạch hồ gọi là Fu§ thổ xát bệnh nhân

ắt chết

- Tuất thưa Thái thường: Tuất là cái ấn Thái thường là huy chương Vậy tất ứng điềm được thưởng tặng huân, huy chương

- Tudt thừa Huyền vũ: Huyền vũ chủ sự đạo tặc Tuất chủ sự đào vong,

cả hai gặp nhau tất vì sự trộm cắp mà trốn tránh (cũne ứng như Tuất thừa Thiên

3- Dạu thién ban hay Tong khỏi

- Luan: Khoi 1a sao Dau, Tong khôi là sao Đầu thứ nhì (Tòng là theo sao

Đầu thứ nhất là Hà khôi) vị trí ở tại Dâu nên gọi Dậu là Tòng khôi Tong khôi

ứng đóng trong tháng 3, lúc ấy các loài thảo mộc đều tòng theo, ý sự sống phát triển cây lá nay nở thế nên goi 1A tong Hanh nét Dau tức Tòng khôi là kim thần (âm kim) bổn gia tại Dậu địa bàn tương tỷ (đồng một loại) với can tân và sao Thái âm là Nguyệt tướng thứ 3, được đùng trong khoảng khí Cốc vũ và tiết lập ha vào quãng tháng 3 âm lịch

- Tướng sác: Tòng khôi thần hình đoan chính, khí sắc vàng trắng xưa là

cô đồng bà bóng

2?

Trang 29

Luận về tính tú là sao Vị và sao Hào (Vị thổ tr1, Hào nhật kê)

- Sớchủ: Dậu chuyên ứng về các việc gian dấu, giải tán, thưởng tặng tìn tức, đao kiếm, nô tỳ, phụ nữ

Sở thuộc: Trên trời thì Dậu là Văn tình, ứng về văn học, Dậu là cung Đoài mà Đoài là cái đảm nước vì thế Dậu gia Tý là mưa dâm, gia Tuất là sương, gia Sửu là tuyết, gia Hợi là sông, gia Dậu lại thừa Thiên hậu hay Huyền

vũ là sông Cửu giang,

+ Dâu là Tử môn (cửa riêng cua kẻ làm việc gian tà, ám muội),

Dậu cũng là người đàn bà quý trọng tớ gái, người thợ người bán rượu Như lâm vượng khí, vượng địa là thiếu nữ,bị hưu, suy, thừa Thiên không là a đào, đào hát, gái mãi dâm, như thừa Thanh long Thiên bợp là tỳ thiếp, hay vợ

nhỏ ở riêng, như thừa Thái âm lại gia can chì là vợ nhỏ thành vợ lớn, như thừa

Thiên không là tớ nhỏ tuổi, như gia Tý, Sửu là tớ già, như gia Thiên hợp gia Dan, Than là cô vãi thừa Thái thường là gái dan ca Dan cũng là lộc quan, là cái thây của người bị xử tử, thừa Bạch Hồ là tang chế, ngày Ất thì chắc áo tàng

sẽ đến, thừa Bạch hổ gia Dần, Thân, Ty, Hợi là bình sỹ ở biên thuỳ

+ Dần cũng là lông, đa, lỗ miệng, lỗ tại, mắt móng xương, tính huyết, gia Thìn Tuất, Sửu, Mùi là tính mệnh là tiểu trường (một non)

+ Dần cũng là cái tháp trắng, đường đi, đường mồn, miếu, nhà thờ, lắm trếp nhỏ hột, Dậu cũng là tấm bia, vàng bạc, vật trang sức, trần châu, gương sot,

đồng chì, sắt, đá cỏ, cành sợi

+ Dậu cũng là rượu, nước tương, rau cải, gừng tÒI

+ Dậu thuộc về các họ Triệu, Kim, Lạc Thạch, theo chữ Hưu thì Dâu thuộc về những họ có viết chữ (A) hay

DAU THUA THIEN TUGNG

Điểm ứng của Dậu thiên ban khi thừa môi Thiền tướng

Dáu thừa Quý nhàn: Như gặp mùa Thu thì Dậu được vượng khí hay tứ

Tứ quý thì được tướng khí tốt ứng với điểm được thưởng tặng Băng gặp mùa Xuân thì Dậu lại tù khí và gặp mùa hạ thì Dậu tử khí, tất ứng điềm bị quý nhân

quở trách, chiếm tụng Ất bị gông cùm

Déu thừa Đằng xà: Ứng điểm mã quái, nhưng buổi sớm là điềm chim

chóc làm ma quái, ngày khỷ chiếm nhằm thấy ứng đích xác như vậy vì tháng 2

thì Dậu là Nguyệt yểm, là vị thần hay sinh ra việc quái gở

28

Trang 30

* BÍ TÀNG ĐẠI LỤC NHÂM ĐỘN ĐẠI TOÀN *

Dậu thừa Chảu tước: Ứng vẻ loài chim gà Ngày Giáp ất là điểm ngục

tung van thư thường làm ra việc nhiều hại (vì Dậu khắc can)

Dáu thừa Thión hợp: Thiên hợp tức là Mão (vì đồng thuộc âm mộc) Mão

với Dậu đều thuộc tư môn (của riêng) cho nên ứng cả trong lẫn ngoài, bên phải hay bên trái đồng tính việc âm thầm ám muội

Dâu thừa Cán trận: Câu trận là sao chiến đấu, hoạt động đấu chiến tất phải có giải tán như ngày Giáp chiếm thì Giáp khắc Câu trận (Câu trận thổ sinh Dậu) khắc lại giáp thế nên hai bên đều có thế lực đánh nhau, như chiếm nhằm ngày Mậu ngày Canh thì Mậu Canh đối Câu trận và Dậu tương sinh tương tỷ cho nên chăng, đánh mà giải tán Như ngày Nhâm quý chiếm thì Câu

trận khác nhâm quý cho nên được, và cũng giải tán mà không có ân nghĩa chì

Cả

Déu thia Thanh long: Như Dau được vượng khí hay tướng khí thì sự việc về tiền bạc, nếu Dậu được dùng làm Sơ truyền at su việc có thuỷ chung Như Dậu bị tù khí hay tử khí thì là con đạo nhỏ

Dau thừa Thiên không: Thiên không là tở trai Dâu là tớ gái ở với nhau

tất có trao đối lời lẽ, tư thông cùng nhau

Dáu thừa Bạch hố: Dậu và Bạch hồ đều thuộc kim, nhưng nếu Dậu

vượng khí thì kim ấy là vàng bạc, ngọc ngà châu báu, bằng Dậu hưu tù , tử khí thì kim ấy là con đao,

Dậu thừa Thái thường: Là loại nếp nhỏ, ngày Nhâm Quý thì lúa nếp hạt

to, chắc, vì Dậu cùng Nhâm Quý tương sinh, còn ngày Giáp bị Dâu khắc nên lúa nếp đã chín, mà thu hoạch có tổn hao ngày Mậu sinh Dậu hạt to, chắc, ngày Canh thì hạt quá già, bởi Canh và Dậu đều thuộc kim là loại cứng rắn Dáu thừa Huyền vũ: Dậu kim sinh Huyền vũ, thuỷ nên gọi là bờ nước nhưng nếu là ngày Kỷ chiếm thì khô cạn vì Kỷ thổ khắc Huyền vũ thuỷ

Dậu thừa Thái ám: Ngày Tân chiếm thì Tân với Thái âm cùng loại (đều

là Âm kim) nếu Dau duoc Vượng tướng thì ứng vàng ngọc bằng hưu tù, tử khí

thì là con dao hoặc có sự chém giết, ngày Bính ngày Đính ứng vẻ tiền tài vì Dậu là kim khí nhờ Bính Đính mà đúc thành tiền chiếm nhằm ngày Giáp và mùa xuân thì Dậu và Thái âm bi ti at img việc tôi tớ trai cùng vợ lẽ tính đẻu gian giáo, ngày Mậu thổ sinh Dậu và Thái ám tất có sự hôn nhân ngày Canh cùng Dậu và Thái âm thuộc kim tức rý hoà cùng Lâm vượng khí lân cho nhau

và kim là loại thuộc màu trắng cho nên chủ sự về bạc

Dậu thừa Thiên hóu: Dậu thuộc cùng Đoài, là cái Đầm gặp Thiên hậu thuỷ vậy nên nói là cái đầm nước hoặc nguồn nước dồi dào, quẻ ứng các việc liên hệ những chỗ nói trên, lại là điều bên trong và bên ngoài tư thông nhau; vì

29

Trang 31

ween ee ễ——_ —è BÙI NG Ọ C QUÁ NG 1

Thiên hậu là phụ nữ gặp Dậu là cái cửa riêng, mà đã nói cửa riêng tất làm chuyện thầm lén

4- Thán thiên bàn hay Truyền tông

Luận: Thân hay Truyền tông là một nguyệt tướng trong tiết tháng 4 lúc

ấy vạn vật được đến lúc cùng tột, ấy là lúc truyền âm mà tông dương (rước âm

mà đưa dương cho nên gọi Thân là truyền tông

Hành tiết: Thân là Kim thản (Dương kim) bổn gia tại Thân địa bàn,

tương tý với Can Canh và thiên tướng Bạch hổ là Nguyệt tướng thứ tr, được

dùng trong khoảng thời gian của khí Tiểu mãn và tiết Mang chủng vào quãng tháng 4 âm lịch

Tướng sắc: thần truyền tông hình dáng thấp ngắn mặt tròn tai nhỏ, để râu tóc, thân hình to, ngày xưa là người đi đường (hành nhàn)

Cung vị: Thân là cung nam nữ hay âm dương, hay cung song tử (cặp sinh

đôn) chữ Pháp gọi là Cémeeux dùng dấu làm ký hiệu, dùng cặp con sinh

đôi làm tượng trưng, ngôi tại tay nam nhưng gần bên tây hơn bên nam, trên có

ký Can Canh và dưới là nguồn sinh ra loại thuỷ thổ, vì 2 loại thuỷ thô trường

sinh tại thân tượng của sao Bạch hồ số 7, vị cay màu trắng, luận về ngũ âm là

tiếng chủng luận về cảm thú là loại khi, vượn, luận về tính tú là sao chủng (chủng hoa hầu)

Sở chủ: Thân chuyền ứng về việc đưa truyền (truyền tông) việc đi đường, đưa tin tức, tật bệnh

Chư loại thuộc trên trời thì Thân là thiên tiền tỉnh (sao ứng tiền bạc) cũng gọi là sao Thiên quý, lại cũng gọi là Thiên y (chủ về thuốc men) Thân cũng là người đi đường, người dân, người làm việc công, thợ bạc, người có tang chế người đi đánh giặc, binh sĩ dùng cơm chiều, người buôn bán, cái thây bị giết Thân gia ty ngo địa bàn là quân đào ngũ (trốn lính) Thân thừa Thiên hop

là thầy thuốc chính danh, thừa Bạch ho là người đi sản bắn, thừa Thanh long gia Dần Thân Tị Hợi là người cậu hoặc thầy tu Phàm ngày T¡ Đậu Stru ma Thân gia t¡ hoặc ngày Hợi Mão Mùi mà Thân gia Hợi, hoặc ngày Dan ngo tuất

mà Thàn Dần hoặc ngày Thân Tý Thìn mà Thân gia Thân là quan Đình úy hay

quan tổng tư lệnh (nguyên soái)

- Thân cũng là cái phối, ruột dài, xương, thịt, tiếng nói,

- Thân cũng ứng về tật bệnh, tang chế, thây người chết

- Thân cũng là cái vú cho con bú, tiền đưa, biểu tặng

Thân gia Hợi khắc Can là Thuỷ nạn, thừa Câu trận là Cừu thù cướp bóc, thừa Huyền vũ gia Hợi, Tý là sai lời, thất hứa ngày Nhâm Quý thì ứng việc

dâm ô tồi tệ

30

Trang 32

* BÍ TÀNG ĐẠI LỤC NHÂM ĐỘN ĐẠI TOÀN ¢

- Thân cũng là nơi chiêu an chỗ thờ phụng thành trì mái nhà đường xá

ao hồ, lăng tấm linh cữu

- Thân cũng là gấm vóc lụa là, sợi, dây, kinh sách đây nhạc cụ, nếp lớn

hột, thân gia hinh (gia Ti gia Dan) 14 dao binh

- Than thudc vé ho Vién, Quach, Than, Tấn Hầu, Hàn Đặng chữ Hán tự

là những chữ viết có chữ kim ( ) làm bằng

THÂN THỪA THIÊN TƯỚNG

Điểm ứng của Thân thiên bàn khi thừa mỗi thiên tướng

Thân thừa Quý nhân: Quý nhân thuộc Âm thổ, chủ sự về ruộng đất còn Than la cho sinh ra thuy (thuỷ trường sinh tại Thân) vậy Quý nhân duo khắc thuỷ nên nói về việc đi thu thuế ruộng đất

Thân thừa Đăng Xà: Đăng Xà tức TỊ (vì xà tị đồng thuộc âm hoả) ma Ti

là cái xe tang, còn thân tức Bạch hồ (vì Thân, Hồ đồng thuộc dương kim) chủ

sự chết, chón toàn ứng điểm tang ma Nhưng ngày giáp thì ứng đấm tang của hạng quan quý, vì giáp đồng ty với thanh long là tượng của quan nhân Ngày Mậu là đám tang của hạng tôi tớ vì Mậu đồng tỷ với thiên không là tượng nô tỳ (cũng có khi ứng cho đám tang của quan nhân bị tử trận) Ngày Canh là đám tang của người không bệnh nhưng vì cuồng loạn huỷ phế thân mình mà chết ngày Bính Định thuộc hóa là đám hỏa táng, hay lò thiêu

Thân thừa Châu tước: Chủ sự sản bắn ở đồng ruộng

Thân thừa Thiên hợp: Chủ về sự trao đối, mua bán Ngày Nhâm Quý thì

ứng người nữ mua bán, hoặc đem lễ lộc mai mối Ngày Binh Dinh thì người

nam raua bán, có sự trao đối với quan lại

Thân thừa Câu trận: Câu trận chủ sự tranh đấn nhưng ngày Ky thì do oan cừu mà tranh đấu, bởi ngày Ky thì Can đức tại Dần mà Dân Mộc tất phải bị

thân kim khắc, mà đã khắc tất phải có sự oán cừu vậy

Thân thừa Thanh long: Thân ứng vào việc đi đường còn Thanh long là con ngựa ngàn dặm Cả hai đều ứng việc đi đường, nhưng ngày Giáp thì do việc tiền bạc mà ra đi hoặc được tiền bạc, tin tức nơi xa ngày Mậu vì có việc liên quan đến giấy tờ mà bọn nô tỳ ra đi, ngày Canh do bệnh tạt hay do cha mẹ ốm đau mà ra đi, hoặc vì cha me chết mà ra đi Ngày Nhâm mà thấy tam truyền là thuy Cục (có đủ 3 chữ Thân Tý Thìn) mà sơ truyển có gian thần là người đàn

bà dâm loạn bị bại lộ mà lên đường

Gian thần: Mùa xuân tai Dan, ha tai Hoi, thu tai Than dong tai Ti Ngay Quý rất ky xuất hành vì sẽ có sự bỏ sót, hao mất

Thân thừa Thiên không: Ứng vẻ sự mài giã, hao mất, tiêu mòn

31

Trang 33

————— —* BUINGOC QUANG *#—————

Than thiva Bach hé: Than va Bạch hổ đồng ngôi (đồng thuộc Dương kim) đều ứng việc tang thương, sát hại đao bình Ngày Giáp thì Thanh long chủ

sự cho nên do việc tiền tài mà sinh ra thương tốn, nhưng vì kim với thố tương

sinh nên chăng xảy ra chiến đấu ngày Canh Bạch hồ chủ sự át có động việc đao

binh, song chẳng bị thương tàn Vì ngày Canh tất Can đức tại Thân có lợi vẻ

việc gặp Đại nhân song cũng có ẩn điều bất nghĩa Ngày Nhâm thì Thiên hậu

chủ sự do sự gian dâm, do phụ nữ mà thương tàn lần nhau Ngày Quý thì Huyền võ chủ sự, ứng điểm đạo tặc làm hại lẫn nhau, nhưng khong hung ton

- Thân thừa Thái thường: Có việc đánh cướp

- Thân thừa Huyền võ: Có việc cướp giật đánh phá

- Thân thừa Thái âm: Chiếm nhằm ngày Tân mà Thân được vượng tướng khí thì ứng lúa mì bằng tù tử khí là việc giữ thành

- Thân thừa Thiên hậu: Thiên hậu thuộc Thuỷ mà Thuy thì gốc trường sinh tại Thân, thế nên ứng về việc hồ ao, ngày Giáp ứng vào ngày Mậu ứng hồ,

ngày Bính Định không gọi là ao hồ mà gọi là bị mây che sự việc rất Ấm muội,

để phòng bị mưu kế mà bị tổn hao vì Thân kim sinh thiên hậu thuỷ và thiên hậu lại khác Bính Đỉnh không khác nào Thân xúi giục Thiên hậu khác Bính Định

Vay

5- Mui Thién ban hay tiéu cat

Luận: Mùi là một nguyệt tướng luân chuyển ở quãng tháng 5 trong khí

hạ chí và tiết tiểu thử lúc ấy vạn vật biến trở: lớn quá nhỏ lại, cái lớn đang tiêu tàng mà cái nhỏ đang nảy nở, muôn sự việc đều được tiểu thành (thành việc

nhỏ) thể nên gọi mùi là tiểu cát, tiểu cát nghĩa là tốt nhỏ, thành nhỏ

- Hành tiết: Mùi là Thổ thần (âm thổ) bồn gia tại Mùi địa bàn tương tỷ

với Can kỷ và sao Thái thường là Nguyệt tướng thứ 5 được dùng trong khoảng

khí Hạ chí và tiết tiểu thử vào hồi tháng 5 âm lịch

- Tướng sắc: Mùi là Thần làm gió (phong bá) xưa là quan coi âm nhạc

- Cung vị: Mùi thuộc cung Cự giai Tay ngữ gọi là Caocer, dùng dấu 69

để làm ký hiệu dùng con cua làm tượng trưng ngôi tại Tây Nam, mà gần bên Nam hơn Trên có ký Can Đỉnh và Can Ký, dưới là Mộc mộ, loại mộc thì mộ tại Mùi Mùi là tượng của sao Thái thường số 8 màu vàng, về ngũ âm là tiếng chủng, về cầm thú là loài đẻ, cừu chím ứng, về tính tú là sao Quỹ và sao tỉnh (Quy kim dương Tỉnh mộc Can) vị ngọt

- Sở chủ: Mùi chuyên ứng về các việc lễ tạ, cúng vất ân uống rượu tiệc

hôn nhân

32

Trang 34

*® - BÍ TẢNG ĐẠI LỤC NHÂM ĐỘN ĐẠI TOÀN ¢

- Sở thuộc: Trên trời thì Mùi là thiên tửu tính (sao chuyên ứng về rượu) lại tà than làm gió quỷ thần quỷ trong nhà, như gia Tỉ Ngọ thì gọi là thiên nhĩ

(tai cua than)

- Mùi cũng là người bảo vệ lễ nhạc, cúng tế, là cha mẹ người già cả, cô

đì chị đâu, em gái, người làm mối, người đàn bà nghèo khó, thợ nấu rượu, thợ

làm nón như gia Hợi là kế phụ (cha sau) gia mậu là kế mẫu (me sau)

~ Mùi cũng là là người bảo vệ lê nhạc, tiệc lễ, hội hè ăn mìmg Ngày Mậu

Kỷ mà Mùi thừa Thanh long thì được mời thính, mùi pia Ilành niên lại thừa ly thần là điều ly biệt

- Mùi cũng là trời nóng hạn, thừa Cháu tước gia Hợi Tý là Hoàng trung

(loại sâu căn lúa)

- Mùi cũng là lá gan, xương sống

- Mùi cũng là đình viên, vách tường, thổ sản, giếng nước suối nước, lò gồm, phòng trà, quán rượu, nơi tiếp đón khách, ngày Giáp Ất là phân địa (Đất

để chôn người) như gia Thìn là vườn hoa, gia Mão là rừng cày

- Mùi cũng là cá biển, chén, mâm, áo mũ ấn tín thuốc chữa bệnh, ma,

lúa, bức rèm, cây dâu, chai, chén, thừa Thanh long hay Thiên hậu lại gia Dần

- Mùi thừa Đàng xà: Mùi là cúng vai còn Đằng Xà tức Ti 14 cai xe tang,

đó là việc cúng lễ người chết, nếu thêm thừa Tang xa, Táng phách (xem tới khóa Kính tập bài 47) là điềm có đội khăn tang

- Mùi thừa Châu tước: Ứng việc giấy tờ, kiện hụìng tới cửa công

- Mùi thừa Thiên hợp: Không bao giờ có Mùi thừa Thiên hợp

- Mùi thừa Câu tràn: Ngày Nhâm Quý ứng việc tranh nhau, vì Mùi và Câu trận cùng thuộc thổ, đối với Nhâm Quý thuỷ tương khắc

- Mùi thừa Thiên không: Là suối nước, giếng nước, nếu có thừa ác sát nhì Kim thần, Đại sát, Chị hình, Chỉ hại (xem chú thích YKT bài khóa 3) là piếng bị hư hại Tháng 4 chiếm thì Mùi thừa Thiên nhĩ, mà Thiên nhí gặp Thiên không là cái tai thông suốt, nhĩ đi tìm bất kẻ gian có tin đích xác

Trang 35

về nếp hay rượu tiệc (vì nếp đùng để nấu rượu) lại khắc Can (Nhâm Quý) tức

là làm hại bản thân, ý nói người say sưa rượu chè Ngày Bính Định mà thấy Thái thường ở Mùi thiện bàn và Quý nhân ở Hợi tất ứng điểm dùng lợn để tế thần

- Mùi thừa Huyền vũ: Không bao giờ có Mùi thiên bàn thừa Huyền vũ

- Mùi thira Thái âm: Có việc liên hệ đến cô dì

- Mùi thừa Thiên hậu: Có việc Hiên hệ đến me đến bà

6- Ngọ Thiên bàn hay Thắng Quang

Ngọ thuộc hỏa ở chính cưng Ly là nơi chiếu sáng 4 phương ánh sáng

không ngừng cho nên gọi Ngọ là Thắng quang vì Thắng là có sức lực mạnh

hơn lên, còn Quang là sáng rõ giờ Ngọ cũng là giờ mặt trời chiếu sáng bốn phương và rực rỡ hơn hết nên mới gọi Ngọ là Thắng quang

- Hành tiết: Ngọ là Hoá thần (Dương hỏa) ban gia tai Ngo địa bàn tương

ty với Can Bính và sao Châu tước là Nguyệt tướng thứ 6, được dùng trong

khoảng khí Đại thử và tiết lập thu vào quãng tháng 6 âm lịch

- Tướng sắc: Thắng quang là vị thần mặt tròn và đỏ thân thể to lớn, xưa làm chức giữ ngựa cho vua

- Cung vị: Ngọ là cung âu tử tiếng Pháp gọi là Lion dùng dấu 2 làm ký

hiệu dùng son sư tử làm tượng trưng, ngồi tại chính nam tức là Cung I.y không

có Can ký, tượng sao Châu tước, số 9 vị đắng màu đỏ luận về ngũ âm là tiếng Cung và cầm thú là con ngựa con hoảng con nai về tỉnh tú là sao tính và sao trương (tinh nhật mã và trương nguyệt lộc),

- Sở chủ: Ngọ chuyên ứng về các điều quái lạ, sáng nhoáng văn minh tơ vải, văn thư, việc quan,

- Chư loại thuộc: Trên trời thì Ngọ là sao Thiên vương lưỡng tính cũng gọi là tả thiên mục (mất trái của trời) là hình tượng của lửa

- Ngọ cũng là cung phi, là kẻ đi sứ cho vua chúa là người đàn bà ca hát

Đình trường, người hiền, thầy tu, người cưỡi ngựa, người con gái nuôi tằm

- Ngọ cũng là việc kinh sợ, thưa kiện, tin tức, màu mè, sáng láng, như gia Thân là điều nghí hoặc, gây gỗ trù rủa, như thừa Châu tước gra Dần là văn thư, như gia Hợi là thai nghén (Hoá lâm tuyệt hương)

34

Trang 36

_———* _ BÍ TÀNG ĐẠI LỤC NHÂM ĐỘN ĐẠI TOÀN *

- Ngọ cũng là trái tim chính giữa, con mắt, miệng Ngọ gia Hoi là đau

- Ngọ là con ngựa, tơ tầm ð qua, chìm trĩ, đậu nhỏ hột

- Ngọ thuộc về các ho, Tiéu.Truong, Hứa Lý, Châu mã, Chu, thừa thiên hợp là họ Liễu thừa Câu trận gia Hợi là bọ địch thừa Đằng xà gia Tý là họ

Bang

NGO THUA THIEN TUGNG Điểm ứng của Ngọ Thiên bàn khi thừa mỗi Thiên tướng

- Ngọ thừa Quý nhân: Là người hiển lành Ngày Tân tuy Ngọ khắc Tân

(tác Quỷ) nhưng cũng là điềm xấu hóa ra tối

- Ngọ thừa Đằng xà: Điểm có kinh sợ Ngày Tân Mùi thì sự kinh sợ mau đến các ngày khác chậm hơn

- Ngọ thừa Châu tước: Điểm có tin tức chân thật, vì Ngọ thuộc hỏa có tính cách lễ nghĩa, còn Châu tước chủ về văn thu hay Tin ttc

- Ngọ thừa Thiên hợp: Chữ nghĩa thông đạt, ngày Bính Định ứng sự Hội họp đông người ở nha môn Ngày Nhâm Quý là người đàn bà làm mai mốt

- Ngọ thừa Câu tràn: Câu trận là tượng quan võ, hương kỳ, quan bản thố Còn Ngọ là chỗ cao nhất (mặt trời giờ Ngọ) nay Ngo sinh Câu trận tất phải

là người lớn nhất trong làng ấy là Đình trưởng

- Ngọ thừa Thanh long: Thanh long là tượng quan van nay thừa Ngọ tức

là rồng bay lên trời, ám chỉ vào người đi xứ, hoặc làm đại sứ nước ngoài

- Ngọ thừa Thiên không: Thiên không thuộc thé duoc Ngọ sinh, nên gọi

là thổ công thợ đắp đất, đắp nền nhà,

- Ngọ thừa Bạch hổ: Ứng vẻ đường ngõ, các lối đi, vì Bạch hổ là sao đạo

lộ lại cũng ứng vẻ đao kiếm, binh khí, các vật cầm tay để sát phạt, hoặc để cưa cắt, vì Bạch hố được Ngọ hỏa hun đúc thành binh khí

- Ngọ thừa Thái thường: Ứng về ruộng nương, nhà cửa, ngũ cốc

- Ngọ thừa Huyền vũ: Gọi là tả mục tướng quân, lại nói là mặt trời đã

mở ấy là điểm của kẻ trộm cướp bị bại, hại vì Ngọ là thời Sở (chỗ và lúc) mật

trời chiếu sáng nhất, còn Huyền vũ là kẻ trộm cắp bị ánh sáng chiếu rọi nên bị

bai 16, nguy nan.

Trang 37

vàng, mập và xấu Ngày Canh là người nữ gày gò ốm hay bệnh mà có lễ nghĩa

Ngày Nhâm Quý là người nữ có sắc đẹp mà tính dâm Ngày Nhâm thì đâm đạt ngày Quý thì loạn luân

7- TL Thiên ban hay Thai at

- Luận: TỊ là một Nguyệt tướng dùng vào quãng tháng 7 trong tháng này tram thir hot déu thanh thục, cứng cáp nên gọi Tị là Thái ất vì Thái là đều cho sức lên cua nó

- Hành tiết: Tị tức Thái ất là hỏa thần (Âm hòa) tương tỷ với Can Bính và sao Đằng Xà là Nguyệt tướng thứ 7 được dùng trong khoảng khí xử thử và tiết Đạch lộ vào quãng tháng 7 âm lịch

- Tướng sắc: Thái ất là vị thần hình mạo cao trán đô, miệng rộng tóc vàng, mắt lớn mắt nhỏ xưa là người thợ rèn thợ đúc

- Cnng vị: TỊ là cung thất nữ, cũng gọi là cung song nữ hay Trinh nữ, tiếng Pháp gọi là Vierge, dùng dau để làm ký hiệu, dùng hình hai người nữ làm tượng trưng ngôi tại Đông Nam (Cung tiến) mà gần bên Nam hơn bên tông Trên có ký Can Mậu, dưới là chỗ sinh ra loại kim (loại kim tràng sinh tại Ti) Ti 14 tugng sao Đăng Xà số 4 vị đáng màu đỏ sâm lấm chấm, luận về ngũ

âm là tiếng đốc, về cầm thú là con ve, con giun, rắn, về tĩnh tú là sao Dực và sao Chan (Duc hoa xà chân thủy dan)

- So chu: Chuyén tmg về các việc tranh đấu, gây cãi lo sợ quái lạ, lại cũng ứng về tai họa bất ngờ, và sự ban thưởng ]_Lai nói răngTị gặp Thìn goi là

tâm phục tốt Bằng Thìn gia Tị gọt là thoái phục, xấu

Chủ loại thuộc: Trên trời thì Tị là sao Thái ất khoảng sau khí đông chí thì ứng về tuyết,

- TỊ cũng là ke đánh xe ngựa, là cô gái, là người đàn bà kẻ có huyền thuật, họa sĩ, người thợ mộc, người đầu bếp, người bán hàng hóa người đi xin

ăn, kẻ đi điếu tang (T¡ thừa Bạch hổ là Ngoại tang) là ca nhĩ (11 thừa Thái âm là

người đàn bà làm nghề ca vũ),

- T¡ cũng ứng về thai sản (như thừa Đăng xà gia Thìn là song thai) buồn

lo, văn học rìm kiếm, khinh rẻ cuồng vọng Như Tị khác can Chị là điều bị lang ma, mang chửi Tị gia Dậu hay Dậu gia Tị là bị lưu đầy

- TỊ cũng là trái tìm, là tam tiêu, yết hầu, răng chấm đỏ, nốt ruồi nhỏ, tần

nhang

36

Trang 38

* Bi TANG DAILUC NHAM DON DAI TOAN *

- TỊ cũng là chiếc xe, xe tang, văng, sát, châu ngọc cái khuôn, cái hộp tơ lụa, khí cụ âm nhạc ống tiêu, ống sso, đồ pốm gạch ngói, cung tên, hoa quả cái búa, cái rìu lò bếp TỊ gia Mùi hay Mùi gia Tị là giếng nước và cái bếp liền nhau Ngày Tị Hợi mà thấy Tuất gia TỊ thì bếp và cầu xí liền nhau

- TỊ cũng thuộc về lửa ánh sáng

- Tị cũng thuộc về loại côn trùng biết bay chim bay thần lăn hay con lươn rắn như nguyệt yếm gia T¡ là ứng điểm năm mộng thấy rắn (xem cách tính Nguyệt yếm ở bài 35 khóa Kinh tập)

- TỊ cũng thuộc họ Trần, Thạch Triệu Điển Trương Kính Xa, Chu, Sở như Sửu gia Tị là họ Ky thiên hợp gia Tị là họ So Dan gia Ti Ja ho Dich Ty gia

TỊ là họ Lũng

TỊ THỪA THIÊN TƯỚNG

(Điểm ứng của Tị thiên bàn khi thừa môi thiên tướng)

Tị thừa Quý nhân: Điểm được biếu tạng, bạn thường

Tị thừa Đằng xà: Ngày Tân ngày Đậu có tai họa bất ngờ, tháng 6 Tí thừa Nguyệt vếm tất có tai họa liên miên gặp thấy điểm quái lạ, nếu chiếm bệnh thi gọi là điểu khách, chết Chiếm ngày Tân ngày Dậu càng ứng chắc

Tị thừa Châu tước: Điểm bị mắng chửi, nhục mạ, ngày Giáp thì do tiền tài mà gây ra tranh cãi, ngày Mậu do quan nhân, văn tự, tranh ruộng đất mà

gây tranh cãi, ngày Canh tuy không hung nhưng cũng tối tam bế lắc

T¡ thừa Thiên hợp: Gọi là thiên minh sát, chủ sự ve kêu TỊ thừa Câu

trân: gọi là thối tiêu, thôi sáo, điểm giải thoát kiện tung tù được tha

Tí thừa Thanh long: Là có khách có chiêu đãi ăn uống trone lẽ tiệc (nữ

chiêu đãi viên)

Tị thừa Thiên không: Là loại thuỷ trùng,

Ti thừa Bạch hồ: Tị là cái xe, Bạch hổ chủ tang ấy là cái xe tang, mà cũng là mũi tên để bắn, vật quanh co

Tí thừa Thái thường: Là lò bếp ngày Bính đính mà thấy Thái thường

gia TỊ địa bàn thì càng ứng chắc việc bếp táo

Tí thừa Huyền vũ: Gọi là phá loại sát tức là mưu sự bị phá bại, bị giải tán, chủ sự bất thành

Tị thừa Thái âm: Ứng việc lò táo

Tị thừa Thiên hậu: Phụ nữ bất chính, điểm bất lợi cho phụ nữ

37

Trang 39

—————* BÙINGỌC QUẢNG *#——————

8- Thin thién bàn hay Thiên cương Luận: Thìn là một Nguyệt tướng luân chuyển trong khoảng tháng 3 là

lúc sinh khí, sự sống, và sự cứng chắc (kiên cường) của loài thảo rnộc, được

thâm nhập vào bên trong cây, cành thiên cương là có nghĩa như vậy

- Hành tiết: Thìn tức thiên cương, là thổ thần (Dương thổ) bản gia tại

Thìn địa bàn tương tỷ với Can Mậu và sao Cầu trận, là Nguyệt tướng thứ 3,

được dùng trong khoảng thời gian của khí thu phân và tiết hàn lộ vào quãng thang 8 4m lich

- Tướng sắc: Thiên cương là vị thần đa sắc vàng mặt tròn đầy có tâu, thời

xưa làm người giữ ngục

- Cung vị: Thìn thuộc cung Thiên xứng, tiếng Pháp gọi là Ezicace dùng dấu để làm ký biệu, dùng cái cân làm tượng trmg ngôi tại Đông Nam (Cung tốn) nhưng gần bên Đông hơn bên Nam trên có ký Can ất, đưới là thuỷ

mò và thổ mộ (thuỷ và thổ cùng mộ tại Thìn) tượng sao Câu trận, số 7 miu

vàng, vị ngọt, luận về ngũ âm là tiếng Thương về cầm thú là loài cá, rồng, và tính tú là sao giác, cang (giác mộc giao, cang kim long)

Sở chủ: Thìn chuyền ứng về các vụ đánh đập, kiện tụng, chết chóc, ruộng

đất, nhà cửa, việc cũ trở lại mới, lại nói Thìn là thiên lao, Tuất là địa ngục đều chuyên ứng về tù ngục và các chỗ cửa quan

- Chư loại thuộc Trên trời thì Thìn là ngôi sao Đâu (một trong chòm sao

Bac Dau) lại cũng gọi là sao Thiên khốc Ngục thần, Thiên la, tả Thiên mục

- Thìn cũng là chức Tể công, đại tướng quân quản gia cháu, đánh cá Thìn gia Nguyêt kiến là quan giám tu

- Thìn thừa Bạch hồ gia tử địa (Mão địa) hay gia kim (Canh Tân, Thàn

Dậu) là người làm nghề giết súc vật,

- Thin cũng là sác thờ, việc ngang ác, ngang ngạnh hung dữ, khinh bị, tranh đấu động dao mác, như thừa Châu tước hay Câu trận lại khác Can (ngày

Nhâm Quý) thì ứng có quan sự Như Thìn được làm sơ truyền khắc can (tác

quan quỷ) là điểm có tranh đấu giết chóc, Thìn thừa Bạch hổ tất có sự bị ai, khóc kể Thìn gia Can chi là điểm có kinh sợ Thìn được làm Sơ truyền, hay làm mạt truyền hoặc sơ truyền hay mạt truyền gia Thìn địa bàn là điểm có sự lo

buỏn Thìn thừa Thiên hậu ứng thai nghén thừa Đằng xà lại tác sơ truyền và lâm hành niên thì nằm mộng thấy tà ma Thìn thừa Đăng Xà bay Bạch hô lại khác Can thì ứng chuyện tự vẫn

- Thìn cũng là cái Ngục, ruột, thây người chết, chột mắt, dòm ngó

Trang 40

mm * BÍ TÀNG ĐẠI LỤC NHÂM DON DAITOAN *

- Thĩn cũng là cái mái nhà, chùa chiền, lan can ngòi rãnh, mồ mả, ruộng vườn mạch đất như thừa Thiên hậu gia Hợi là nước biển thừa Huyền vũ gia tị

là giếng nước, thừa Thiên không là đốc núi

- Thìn cũng là áo mũ bằng sắt, nước lọc, pông cùm cái vò đựng nước

dung rượu, tiền đồng, vật liệu Thìn gia hỏa (Tị ngọ Bính Đình là Chài lưới)

THÌN THỪA THIÊN TƯỚNG Điểm ứng của Thìn Thiên bàn khi thừa mỗi Thiên tướng

- Thìn thừa Quý nhân (Thìn Thiên bàn không hề thừa Quý nhân)

- Thìn thừa Đảng xà: Là điểm bị trói buộc, quán buộc Ngày Nhâm mà ở

hào Phụ mẫu cũng là điểm trai gái ràng buộc nhau

- Thìn thừa Châu tước: Ứng điều dối trá

- Thìn thừa Thiên hợp: Là tế sát (người làm thịt thú vật)

- Thìn thừa Câu tràn: Tất có sự chiến đấu

- Thìn thừa Thanh long: Mùa xuân hạ là con Công, mùa thu đông là con

Cá hoặc có khi thì ứng loài Công

- Thìn thừa Thiên không: Thìn khóng hề thừa Thiên không

- Thìn thừa Bạch hỏ: Bạch hồ là ác thần, Thìn là hung thần gặp nhân tất

ứng cho hạng người hung ác, đữ tợn

- Thìn thừa Thái thường: Hưởng lộc vưa ban (nhị Thiên thạch)

- Thìn thừa Huyền vũ: Là tả tướng quân, trong chòm sao Bác đấu là vị Thiên cương trấn bọn yêu tà, trộm cướp

- Thìn thừa Thái âm: Lầ bọn người đứng 2 bên chầu quan

- Thìn thừa Thiên hậu: Là đất lỏi lõm, ao hề lởm chom

9- Mao thién ban hay Thái xung

Luân: Mão và Dậu là hai cái cửa lãng ngọc của nhật Nguyệt và ngũ tình,

lại tương xung, và Mão là chỗ xung, chiếu nên gọi Mão là Thái Xung, loại luân

xung có 12 nguyệt tướng luân chuyển trong tháng, là lúc hai khí âm dương bị xung động, triệt xé, huỷ hoại ly tán, xung tán, nên gọi Mão là Thái xung

Hành tiết: Mão thiên bàn tức Thái xung là mộc thần (Âm mộc) bản sia

của nó ở Mão địa bàn, tương tỷ với Can ất và sao Thiên hợp, là Nguyệt tướng thứ tư, được dùng trong khí sương giáng và tiết lập đông vào quãng tháng 1Ô

Ngày đăng: 25/03/2016, 07:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w