1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng một số tỉnh khu vực miền đảo phía bắc năm 2013 2014

101 342 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên ngành Điều dưỡng đang đứng trước nhiều thách thức của sự phát triển: Thiếu đội ngũ giáo viên và thiếu chuyên gia đầu ngành về điều dưỡng nên phải sử dụng tới gần 70% đội ngũ gi

Trang 1

Tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới:

GS.TS Phạm Văn Thức – Hiệu Trưởng trường Đại Học Y Dược Hải

Phòng, người thầy đã giúp đỡ, tạo điều kiện về mọi mặt giúp em hoàn thành

luận văn tốt nghiệp

Em xin bày tỏ lòng kính trọng và cảm ơn đặc biệt đối với Thầy hướng dẫn

TS Phạm Minh Khuê và TS Đinh Thị Diệu Hằng đã tận tụy và nhiệt tình

hướng dẫn em trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Em cũng tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô trong Ban giám hiệu,

phòng Đào tạo sau đại học, khoa Y tế công cộng trường Đại Học Y Dược Hải

Phòng, những người đã truyền đạt cho em những kiến thức chuyên ngành,

phương pháp nghiên cứu khoa học, tạo điều kiện cho em được học tập, nghiên

cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Sở y tế và các bệnh viện thành

phố Hải Phòng, tỉnh Quảng Ninh, tỉnh Nam Định, tỉnh Thanh Hóa, tỉnh Nghệ

An đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập số liệu nghiên cứu

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban lãnh đạo, cùng toàn thể giảng

viên, kỹ thuật viên khoa Điều Dưỡng trường Đại học Y Dược Hải Phòng,

những người luôn theo sát và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình,

bạn bè, và tập thể lớp YTCC K8 đã luôn quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình

hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Hải phòng, ngày 26 tháng 11 năm 2014

Đỗ Thị Tuyết Mai

Formatted: Centered Formatted: Font: Bold Formatted: Font: Not Bold Formatted: Font: Not Bold

Formatted: Font: Not Bold

Formatted: Font: Bold

Formatted: Font: Not Bold

Formatted: Font: Not Bold Formatted: Font: Bold

Trang 2

Formatted: Centered

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đã thực hiện luận văn một cách khoa học, chính xác và

trung thực Các số liệu, kết quả trong luận văn đều có thật và chưa được đăng tải

trên tài liệu khoa học nào khác

Hải phòng, ngày 26 tháng 11 năm 2014

Tác giả

Đỗ Thị Tuyết Mai

Formatted: Font: 14 pt, Bold Formatted: Font: 14 pt Formatted: Font: Not Bold

Formatted: Line spacing: 1.5 lines

Formatted: Font: Bold Formatted: Centered, Indent: Left: 7.21 cm, First line: 0.8 cm, Line spacing: 1.5 lines

Formatted: Font: 14 pt

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

2.2.1 Thời gian: tháng 6 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014 19

3.1 Thực trạng và nhu cầu nguồn nhân lực cử nhân điều dưỡng 5 tỉnh BĐPB 25

Trang 6

3.1.1 Thực trạng và nhu cầu chung về nhân lực cử nhân điều dưỡng 5 tỉnh BĐPB 25 3.1.2 Đặc điểm thực trạng và nhu cầu nhân lực cử nhân điều dưỡng tại Hải Phòng 29 3.1.3 Đặc điểm thực trạng và nhu cầu nhân lực cử nhân điều dưỡng tại Quảng Ninh 31 3.1.4 Đặc điểm thực trạng và nhu cầu nhân lực cử nhân điều dưỡng tại Nam Định 34 3.1.5 Đặc điểm thực trạng và nhu cầu nhân lực cử nhân điều dưỡng tại Thanh Hoá 36 3.1.6 Đặc điểm thực trạng và nhu cầu nhân lực cử nhân điều dưỡng tại Nghệ An 37 3.2 Sự hài lòng của người sử dụng nguồn nhân lực cử nhân điều dưỡng một số

4.1 Thực trạng và nhu cầu nhân lực CNĐD một số tỉnh khu vực BĐPB 53 4.1.1 Thực trạng và nhu cầu chung nhân lực CNĐD một số tỉnh khu vực BĐPB 53 4.1.2 Đặc điểm thực trạng và nhu cầu nhân lực CNĐD tại Hải Phòng 56 4.1.3 Đặc điểm thực trạng và nhu cầu nhân lực CNĐD tại Quảng Ninh 58 4.1.4 Đặc điểm thực trạng và nhu cầu nhân lực CNĐD tại Nam Định 60 4.1.5 Đặc điểm thực trạng và nhu cầu nhân lực CNĐD tại Thanh Hóa 62 4.1.6 Đặc điểm thực trạng và nhu cầu nhân lực CNĐD tại Nghệ An 63 4.2 Khảo sát sự hài lòng của người sử dụng nguồn nhân lực CNĐD 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.2: Thực trạng chung nguồn nhân lực CNĐD tại 5 tỉnh khu vực BĐPB 26 Bảng 3.3: Tỷ lệ ĐD/BS một số bệnh viện tại Hải Phòng 29 Bảng 3.4: Thực trạng nhân lực CNĐD một số bệnh viện tại Hải Phòng 30 Bảng 3.5: Tỷ lệ ĐD/BS một số bệnh viện tỉnh Quảng Ninh 31 Bảng 3.6: Thực trạng nhân lực CNĐD một số bệnh viện tỉnh Quảng Ninh 32 Bảng 3.7: Tỷ lệ ĐD/BS một số bệnh viện tỉnh Nam Định 34 Bảng 3.8: Thực trạng nhân lực CNĐD một số bệnh viện tỉnh Nam Định 34 Bảng 3.9: Tỷ lệ ĐD/BS một số bệnh viện tỉnh Thanh Hóa 36 Bảng 3.10: Thực trạng nhân lực CNĐD một số Bệnh viện tỉnh Thanh Hóa 36 Bảng 3.11: Tỷ lệ ĐD/BS một số bệnh viện tỉnh Nghệ An 37 Bảng 3.12: Thực trạng nhân lực CNĐD một số Bệnh viện tỉnh Nghệ An 38 Bảng 3.13: Mức độ quan trọng và hài lòng về năng lực nghiệp vụ của CNĐD 44 Bảng 3.14: Mức độ quan trọng và hài lòng về phẩm chất cá nhân của CNĐD 47 Bảng 3.15: Mức độ quan trọng và hài lòng về năng lực tổ chức điều hành của CNĐD 50 Bảng 3.16: Ý kiến đóng góp để đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp 52

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1: Vị trí CNĐD mới tốt nghiệp được bố trí khi được tuyển dụng 39 Hình 3.2: Thời gian làm việc tại cơ quan công tác của CNĐD 40 Hình 3.3 : Đánh giá về mức độ quan trọng của năng lực giao tiếp 40 Hình 3.4: Đánh giá về mức độ hài lòng của năng lực giao tiếp 40 Hình 3.5: Mức độ quan trọng của năng lực ứng dụng chuyên môn và kiến thức

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Sức khỏe là vốn quý nhất của con người và đó là thể hiện sự thoải mái về

thể chất, tinh thần và xã hội Trong xã hội ngày nay, khi điều kiện kinh tế - xã

hội ngày càng cao thì con người càng chú ý đến sức khỏe Trong đó vai trò của

người điều dưỡng không ngừng được nâng cao, đòi hỏi phải đủ về số lượng và

đảm bảo chất lượng nhằm phục vụ công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho nhân dân

Chuyên ngành Điều dưỡng đã và đang phát triển thành một ngành khoa

học đa khoa, có nhiều chuyên khoa sau đại học và song hành phát triển với các

chuyên ngành Y, Dược, Y tế Công cộng trong ngành Y tế Chăm sóc điều dưỡng

là một hoạt động nghề nghiệp đòi hỏi có tri thức và kỹ thuật thành thạo Điều

dưỡng viên cần phải làm việc chủ động, sáng tạo, phải có kiến thức lẫn kỹ năng,

là người cộng sự không thể thiếu được của bác sỹ[51]

Theo báo cáo của tổ chức y tế thế giới năm 2006 tỷ lệ bác sỹ, điều dưỡng,

dược sỹ trên 1.000 dân của Việt Nam (không tính số nhân lực hoạt động dân số)

còn rất thấp so với số liệu chung của khu vực và một số nước châu Á, đặc biệt là

số điều dưỡng theo dân số còn quá thấp[77,78,79] Trong đó điều dưỡng viên đa

số ở trình độ trung cấp, các cử nhân điều dưỡng chiếm số lượng rất ít

Các vùng biển đảo và ven biển nước ta có dân cư tập trung đông, với dân

số vào khoảng 30 triệu người chiếm 34,6% dân số cả nước[23] Mật độ dân số

vùng ven biển hải đảo là 373 người/km2, gấp 1,5 lần toàn quốc[23] Tuy nhiên

chưa có đánh giá nào cụ thể về việc phân bố và phát triển nguồn lực nhân lực y

tế tại các khu vực các tỉnh ven biển và hải đảo tương xứng với quy mô dân số

phục vụ

Hiện nay chưa có nghiên cứu nào tiến hành đánh giá một cách có hệ thống và

khách quan (cả về lượng và chất) nhu cầu cử nhân điều dưỡng tại các địa phương,

cũng như mức độ hài lòng của người sử dụng nhân lực về cử nhân điều dưỡng Các

kết quả này giúp các cơ sở đào tạo điều dưỡng có thể đề xuất ra các giải pháp can

thiệp vào quá trình từ lập kế hoạch tuyển sinh, điều chỉnh chương trình đào tạo, kiện

toàn nội dung giảng dạy và cơ chế quản lý sinh viên, giúp nhà trường đào tạo được

đội ngũ cử nhân điều dưỡng đáp ứng được cả về chất và lượng

Formatted: Line spacing: 1.5 lines

Trang 11

Câu hỏi đặt ra là thực trạng nhu cầu nguồn nhân lực cử nhân điều dưỡng

của khu vực biển đảo miền Bắc hiện nay như thế nào và sự hài lòng của người

sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng ở mức độ nào?

Để trả lời câu hỏi trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng, nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng một số

tỉnh khu vực Biển đảo phía Bắc năm 2013 - 2014” với mục tiêu cụ thể sau:

1 Mô tả thực trạng và nhu cầu nguồn nhân lực cử nhân Điều dưỡng một số tỉnh khu vực Biển đảo phía Bắc

2 Khảo sát về sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân Điều dưỡng một số tỉnh khu vực Biển đảo phía Bắc

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Mối liên quan giữa nhân lực và các thành phần của hệ thống y tế

1.1.1 Khái niệm:

Có nhiều định nghĩa khác nhau về “nguồn nhân lực”

Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồn nhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sức mạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức [41] [66]

Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu của tổ chức [41] [72]

Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cả những người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ ”

Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch

vụ y tế Nó bao gồm CBYT chính thức và cán bộ không chính thức (như tình nguyện viên xã hội, những người CSSK gia đình, lang y ); kể cả những người làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (như quân đội, trường học hay các doanh nghiệp)[77]

Theo định nghĩa nhân lực y tế của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là “Nhân lực y tế” sẽ bao gồm các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ CSSK nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các cộng tác viên y tế, lang y và bà đỡ/mụ vườn)

Có hai khái niệm thường được sử dụng khi bàn luận về nguồn nhân lực y tế:

Trang 13

- Khái niệm Phát triển nguồn nhân lực liên quan đến cơ chế nhằm phát triển

kỹ năng, kiến thức và năng lực chuyên môn của cá nhân và về mặt tổ chức công việc[41]

- Khái niệm Quản lý nguồn nhân lực: Theo WPRO, “quản lý nguồn nhân lực là

một quá trình tạo ra môi trường tổ chức thuận lợi và đảm bảo rằng nhân lực hoàn thành tốt công việc của mình bằng việc sử dụng các chiến lược nhằm xác định và đạt được sự tối ưu về số lượng, cơ cấu và sự phân bố nguồn nhân lực với chi phí hiệu quả nhất Mục đích chung là để có số nhân lực cần thiết, làm việc tại từng vị trí phù hợp, đúng thời điểm, thực hiện đúng công việc, và được

hỗ trợ chuyên môn phù hợp với mức chi phí hợp lý”[79]

1.1.2 Mối liên quan giữa nguồn nhân lực và các thành phần khác của hệ thống y tế

Theo WHO, hệ thống y tế có 6 thành phần cơ bản[77]:

a Nguồn nhân lực y tế được coi là một trong những thành phần cơ bản và quan trọng nhất của hệ thống Nguồn nhân lực có mối liên hệ rất chặt chẽ và không thể thiếu đối với các thành phần khác của hệ thống y tế

b Phát triển nguồn nhân lực không chỉ thông qua đào tạo, mà còn phải sử dụng, quản lý một cách phù hợp để cung cấp hiệu quả các dịch vụ y tế đến người dân

c Cần có một mô hình tổ chức và chức năng của các thành phần của hệ thống cung ứng dịch vụ để biết được nhu cầu về quy mô và cơ cấu nhân lực y tế như thế nào, ngược lại, hệ thống cung ứng dịch vụ y tế phụ thuộc mật thiết vào mô hình tổ chức và cơ cấu nhân lực y tế

d Hệ thống thông tin y tế cũng phải cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết, tin cậy cho việc lập kế hoạch và sử dụng nhân lực đáp ứng nhu cầu CSSK của nhân dân, đồng thời giúp phát hiện những vấn đề của nguồn nhân lực như phân bổ không hợp lý, năng lực không phù hợp để đáp ứng yêu cầu CSSK từ phía người dân và cộng đồng, hoặc phát hiện và phân tích tần suất sai sót chuyên môn để khắc phục

e Cung cấp tài chính cho nhân lực y tế cũng phải đảm bảo cho công tác đào tạo

Trang 14

mới và đào tạo liên tục CBYT, đủ để trả lương và chính sách khuyến khích ở

mức đảm bảo được cuộc sống cho CBYT, tạo ra động lực khuyến khích CBYT

làm việc có chất lượng và sẵn sàng làm việc ở các miền núi, vùng sâu, vùng xa,

hoặc trong các môi trường, chuyên ngành độc hại, nguy hiểm

f Các sản phẩm y tế, vaccin, dược phẩm

Nhân lực y tế là một trong những nguồn lực, thành phần quan trọng nhất

của hệ thống y tế, bởi vì nhân lực vừa là một trong những nguồn lực quan trọng

và đồng thời quản lí các nguồn lực khác Nhân lực y tế liên quan trực tiếp đến

sức khỏe, tính mạng của người bệnh, sức khỏe của nhân dân, ảnh hưởng đến

chất lượng cuộc sống và chất lượng nguồn nhân lực để phục vụ công cuộc bảo

vệ và phát triển đất nước Nếu không quan tâm đúng mức đến phát triển nguồn

nhân lực sẽ dẫn đến lãng phí tất cả các nguồn lực khác và ảnh hưởng đến chất

lượng, hiệu quả hoạt động của ngành y tế [5] Nghị Quyết 46-NQ/TW ngày

23/2/2005 của Bộ chính trị về “Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ

nhân dân trong tình hình mới” đã nêu rõ quan điểm chỉ đạo “nghề y là một nghề

đặc biệt,cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt”[1]

- Năm 2006, các nhà lãnh đạo y tế toàn cầu đã có báo cáo y tế phân tích thực

trạng và xây dựng chiến lược toàn cầu về phát triển nhân lực y tế Tổ chức y tế

Thế giới khu vực Đông Nam Á và khu vực Tây Thái bình dương cũng đã xây

dựng chiến lược phát triển nhân lực y tế cho khu vực [5][79]

- Cũng như nhiều nước[78][79] trên thế giới, Việt Nam hiện nay đang phải đối

mặt với các thách thức về nhân lực y tế như thiếu hụt, mất cân đối về cơ cấu và

phân bố vùng miền [5] Để phát triển nguồn nhân lực y tế một cách bền vững

trong bối cảnh nền kinh tế, xã hội, và khoa học kỹ thuật phát triển, mô hình bệnh

tật thay đổi, già hóa dân số, y tế tư nhân phát triển, hội nhập quốc tế thì cần phải

có kế hoạch và đầu tư cho nhân lực y tế[5]

Vị trí, vai trò của người Điều dưỡng, hộ sinh từ lâu đã được khẳng định

trong hệ thống nhân lực y tế nước ta Điều dưỡng đã trở thành một bộ phận

không thể tách rời trong ngành y tế, một chuyên ngành vừa có đông số lượng

Commented [Khue1]: Cần trích dẫn TLTK

Commented [Khue2]: Cần trích dẫn tài liệu tham khảo

Trang 15

cán bộ, vừa đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc và BVSK nhân dân cùng đội ngũ Y, Bác sỹ

Hiện nay cả nước có 75891 điều dưỡng, chiếm 45% nhân lực chuyên môn của ngành y tế[20,23] Dịch vụ chăm sóc do điều dưỡng cung cấp là một trong những trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế, đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế

Chuyên ngành Điều dưỡng đã và đang phát triển thành một ngành khoa học đa khoa, có nhiều chuyên khoa sau đại học và song hành phát triển với các chuyên ngành Y, Dược, Y tế Công cộng trong ngành Y tế Nghề Điều dưỡng đã phát triển thành một ngành dịch vụ công cộng thiết yếu, cần cho mọi người, mọi gia đình Nhu cầu về dịch vụ chăm sóc có chất lượng ngày càng gia tăng ở mọi quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phát triển, do sự tăng dân số già làm tăng nhu cầu chăm sóc điều dưỡng tại nhà và tại các cơ sở y tế[29]

Chăm sóc điều dưỡng là một hoạt động nghề nghiệp đòi hỏi có tri thức và

kỹ thuật thành thạo Điều dưỡng viên cần phải làm việc chủ động, sáng tạo, phải

có kiến thức lẫn kỹ năng, là người cộng sự không thể thiếu được của bác sỹ Ngành Điều dưỡng đã tận tụy và sáng tạo trong cấp cứu chiến thương, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe đồng bào, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay[29]

1.2 Vai trò, chức năng và nhiệm vụ của người điều dưỡng

1.2.1 Vai trò của người điều dưỡng

Người chăm sóc:

Chăm sóc là mối quan hệ giữa người với người Mục tiêu cơ bản của người điều dưỡng là thúc đẩy sự giao tiếp, hỗ trợ người bệnh bằng hành động và bằng thái độ biểu thị sự quan tâm đến lợi ích của người bệnh và chấp nhận người bệnh

là một con người.[10] [26]

 Benner & Wrubel: “ Chăm sóc là yếu tố cơ bản để thực hành điều dưỡng hiệu quả” Mọi máy móc và kỹ thuật hiện đại không thể thay thế được sự

Trang 16

chăm sóc của người điều dưỡng Chăm sóc là nền tảng của mọi can thiệp điều dưỡng và là thuộc tính cơ bản của người điều dưỡng

 Leiningern: Chăm sóc là yếu tố thiết yếu của điều dưỡng, là một nét đặc biệt và là đắc tính duy nhất của người điều dưỡng: “ Không có sự chữa bệnh nào mà không có sự chăm sóc những sự chăm sóc có thể diễn ra mà không có điều trị”

 Jen Watson: “ Thực hành chăm sóc là hạt nhân của nghề điều dưỡng”,

“chăm sóc và tình cảm tạo ra những năng lượng cơ bản về thể chất và tinh thần”, “chăm sóc và tình cảm thiết yếu cho sự tồn tại và nuôi dưỡng con

người” (10 giả thuyết về sự chăm sóc)

Người truyền đạt thông tin:

Thông tin có hiệu quả là yếu tố thiết yếu của mọi nghề phục vụ trong đó

có nghề điều dưỡng Giao tiếp quy định mối quan hệ giữa người bệnh và người điều dưỡng, giữa người điều dưỡng và đồng nghiệp cũng như các nhân viên y tế khác [10] [9] [26]

Giao tiếp hỗ trợ cho mọi can thiệp điều dưỡng Người điều dưỡng thông tin với đồng nghiệp và các thành viên khác trong nhóm chăm sóc về kế hoạch và việc thực hiện kế hoạch chăm sóc cho mỗi người bệnh Mỗi khi thực hiện một can thiệp về chăm sóc, người điều dưỡng ghi chép vào hồ sơ những nhận xét, những thủ thuật đã thực hiện cũng như mọi đáp ứng của người bệnh Người điều dưỡng thường xuyên giao tiếp cả bằng lời và bằng ngôn ngữ viết mỗi khi bàn giao ca, chuyển người bệnh tới khoa khác hoặc khi người bệnh ra viện hay chuyển tới một cơ sở y tế khác Loại giao tiếp này đòi hỏi phải chính xác và phù hợp[10] [9] [26]

Người giáo viên:

Nhu cầu giáo dục sức khỏe của người bệnh đối với người điều dưỡng ngày càng tăng Ngày nay người ta chú trọng nhiều tới việc nâng cao và duy trì sức khỏe hơn là chỉ chữa bệnh thuần túy Người bệnh cần có thêm kiến thức để

tự theo dõi và chăm sóc nhằm rút ngắn ngày nằm viện Sự gia tăng của các bệnh

Trang 17

mạn tính và tật nguyền đòi hỏi người bệnh và gia đình phải có thêm kiến thức và

kỹ năng để tự chăm sóc tại nhà[9]

Quy trình giảng dạy cũng như quy trình điều dưỡng

Người tư vấn:

Tư vấn là quá trình giúp đỡ người bệnh để nhận biết và đương đầu với những stress về tâm lý hoặc những vấn đề xã hội, để cải thiện các mối quan hệ giữa người với người và để thúc đẩy sự phát triển của mỗi người Tư vấn liên quan đến sự hỗ trợ về tình cảm, tri thức và tâm lý, giúp người bệnh phát triển những thái độ, tình cảm và các hành vi mới hơn là thúc đẩy sự phát triển về trí tuệ, khuyến khích người bệnh tìm kiếm những hành vi thay thế, nhận ra sự lựa chọn và xây dựng ý thức tự kiểm soát[9] [12] [28]

Tư vấn có thể thực hiện với một cá thể hoặc một nhóm người

Tư vấn đòi hỏi kỹ năng giao tiếp chữa bệnh

Người biện hộ cho người bệnh:

Biện hộ nghĩa là hành động thay mặt hoặc bảo vệ quyền lợi cho người khác, làm thúc đẩy những hành động tốt đẹp nhất cho người bệnh, bảo đảm cho những nhu cầu của người bệnh được đáp ứng[9]

1.2.2 Chức năng người điều dưỡng

a Đáp ứng các nhu cầu về hô hấp

b Giúp đỡ người bệnh về ăn uống, dinh dưỡng

c Giúp đỡ người bệnh trong sự bài tiết

d Giúp đỡ người bệnh về tư thế, vận động và tập luyện

e Đáp ứng nhu cầu ngủ và nghỉ ngơi

Trang 18

f Giúp người bệnh mặc và thay quần áo

g Giúp người bệnh duy trì thân nhiệt

h Giúp người bệnh vệ sinh cá nhân hàng ngày

i Giúp người bệnh tránh được các nguy hiểm trong khi nằm viện

j Giúp người bệnh trong sự giao tiếp

k Giúp người bệnh thoải mái về tinh thần, tự do tín ngưỡng

l Giúp người bệnh lao động, làm một việc gì đó để tránh mặc cảm là người vô dụng

m Giúp người bệnh trong các hoạt động vui chơi, giải trí

n Giúp người bệnh có kiến thức về y học

- Chính chức năng chủ động đã làm thay đổi chất lượng chăm sóc của người Điều dưỡng, và đòi hỏi nhà trường phải thay đổi cả phương pháp dạy học cho Điều dưỡng

1.2.3 Nhiệm vụ của người điều dưỡng

Thực hành chăm sóc giáo dục sức khoẻ: [10] [26]

- Đón tiếp, giáo dục và tư vấn cho người bệnh, nhân dân đến cơ sở y tế để khám, chữa bệnh hoặc yêu cầu tư vấn về sức khoẻ

- Xây dựng và tổ chức thực hiện quy trình điều dưỡng

- Theo dõi và phát hiện những diễn biến của bệnh, ghi chép đầy đủ vào phiếu theo dõi và trao đổi với bác sĩ điều trị

- Thực hiện cấp cứu ban đầu và tham gia cấp cứu người bệnh

Trang 19

- Thực hiện và tổ chức thực hiện y lệnh của thày thuốc, hỗ trợ bác sĩ tiến hành các thủ thuật điều trị

- Chăm sóc người bệnh giai đoạn cuối, thực hiện tốt chế độ tử vong

- Tham gia chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho cộng đồng trong phạm vi được phân công

Quản lý điều dưỡng: [10] [26]

- Quản lý buồng bệnh, bệnh nhân, phòng khám nơi làm việc

- Quản lý trang thiết bị, thuốc, hồ sơ, bệnh án và các tài sản khác

- Quản lý công tác hành chính tại khoa, phòng, bệnh viện

- Quản lý, điều hành, và sử dụng nhân lực để chăm sóc, phục vụ người bệnh

- Điều hành, giám sát các hoạt động điều dưỡng và thực hiện các chế độ của đơn vị

Thực hiện công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học: [10] [26]

- Giúp đỡ đồng nghiệp, tham gia đào tạo, huấn luyện cán bộ, nhân viên y tế: hướng dẫn nhân viên mới, học sinh lập và thực hiện kế hoạch chăm sóc toàn diện và các kỹ thuật chăm sóc người bệnh; phổ biến kiến thức về phòng và chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho học sinh, ngưòi bệnh và gia đình người bệnh

- Tham gia nghiên cứu về điều dưỡng và các nghiên cứu khoa học khác

- Tham dự các lớp đào tạo liên tục, nâng cao trình độ chuyên môn để nâng cao nghiệp vụ

1.2.4 Yêu cầu phẩm chất của người điều dưỡng

Các phẩm chất đạo đức [7] [11] [27]

- Ý thức trách nhiệm cao: đối tượng phục vụ của người điều dưỡng là người bệnh Mọi sự sơ suất, cẩu thả đều có thể gây hậu quả làm tổn hại tới cuộc sống của con người

- Lòng trung thực vô hạn: càng trung thực càng có nhiều lòng tin của người bệnh, của đồng nghiệp

- Sự ân cần và cảm thông sâu sắc: sự ân cần không chỉ lầ sự dồng cảm mà còn là khả năng cảm thụ nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình Sự ân

Trang 20

cần và lòng tốt không được biến thành tình cảm làm trở ngại đến công việc của người thầy thuốc

- Tính mềm mỏng và có nguyên tắc: người điều dưỡng cần có tính cách dễ gần, chan hoà nhưng đồng thời biết yêu cầu cao và có nguyên tắc Sự khô khan quá

độ, sự thiếu cởi mở, tính cau có hoặc sự đùa cợt không đúng chỗ, hay tiếp xúc xuồng xã sẽ làm cho người điều dưỡng dễ bị mất uy tín trước người bệnh

- Tính khẩn trương và tự tin: điều dưỡng có nhiệm vụ đấu tranh cho sự sống của con người Trong nhiều trường hợp, khoảng cách giữa cái sống và cái chết của người bệnh rất gần, sự chậm trễ có thể đưa đến mất cơ hội cứu sống người bệnh

Vì vậy tính khẩn trương là một yêu cầu về phẩm chất nghề nghiệp của người điều dưỡng Tuy nhiên sự khẩn trương không được tỏ ra vội vàng, hấp tấp mà phải tự tin và bình tĩnh

- Lòng say mê nghề nghiệp: là yếu tố thúc đẩy người điều dưỡng vượt qua mọi khó khăn để làm tốt trách nhiệm của mình, giúp người điều dưỡng vươn lên trong lao động, học tập, nghiên cứu

- Có kỹ năng thành thạo trong chăm sóc người bệnh

- Có khả năng nghiên cứu và cải tiến

- Khôn ngoan trong công tác

Trang 21

1.3 Hiện trạng nhân lực Điều dưỡng ở Việt Nam

1.3.1 Hiện trạng nhân lực Điều dưỡng

Năm 2003, có 241,498 cán bộ y tế trong toàn bộ hệ thống y tế, đến năm

2009 tăng lên 301,980 người [14]

Theo Niên giám Thống kê 2009 do Bộ Y tế xuất bản (trang 49) [23], số lượng Bác sĩ (Bác sĩ, Tiến sĩ, Phó Tiến sĩ, Thạc sĩ) của cả nước là 56.661 người

và số lượng điều dưỡng là 75.891 người [gồm điều dưỡng Đại học: 2.736 người (chiếm 3,6%), điều dưỡng Trung học: 64.901 người (chiếm 85%) và điều dưỡng

sơ học: 8.254 người (chiếm 10,8%)] Tính ra, tỷ lệ Bác sĩ/ điều dưỡng năm 2009

là 1/ 1,33[23] Theo Niên giám Thống kê Y tế năm 2010 do Bộ Y tế xuất bản (trang 51), số lượng Bác sĩ (Bác sĩ, Tiến sĩ, Phó Tiến sĩ, Thạc sĩ) của cả nước là 62.555 người (tăng hơn năm 2009 là 5.894 người); và số lượng điều dưỡng là 81.248 người (tăng hơn 2009 là 5.357 người Tính ra, tỷ lệ Bác sĩ/ điều dưỡng năm 2010 là 1/ 1,29 [25] Như vậy, năm 2010 so với năm 2009 về số lượng điều dưỡng của nước ta thì tăng nhưng về tỉ lệ Bác sĩ/ Điều dưỡng thì giảm

Tuy số nhân lực y tế tăng hàng năm là khá rõ ràng nhưng so với mức tăng dân số vẫn không theo kịp, làm cho tỷ số nhân lực y tế/10.000 dân vào năm

2009 vẫn thấp hơn so với cách đây hơn 20 năm.[6]

Hình 1.1: So sánh nhân lực y tế Việt Nam với chỉ số chung trong Khu vực (Tính

theo 10000 dân; Báo cáo của Tổ chức y tế thế giới năm 2006)

Trang 22

Tỷ lệ bác sỹ, điều dưỡng, dược sỹ trên 10.000 dân của Việt Nam (không tính số nhân lực hoạt động dân số) còn rất thấp so với số liệu chung của khu vực

và một số nước châu Á, đặc biệt là số điều dưỡng theo dân số còn quá thấp[77] Nhìn chung nhân lực y tế được bao phủ khắp mọi nơi, kể cả miền núi, vùng sâu, vùng xa , biên giới, hải đảo Hệ thống y tế được tổ chức rộng rãi từ tuyến trung ương đến tỉnh, huyện, xã và thôn bản Tuy nhiên số lượng, cơ cấu nhân lực phân bố ở các tuyến, vùng miền có sự khác nhau[4]

Phân bổ nhân lực y tế theo tuyến y tế: Số lượng cán bộ y tế ở tuyến trung ương chiếm khoảng 4%, tuyến tỉnh chiếm tỉ lệ cao nhất là 40%, tuyến huyện chiếm 32% và tuyến xã là 24%[14]

Các đơn vị KCB tuyến tỉnh, thành phố: Cho tới ngày 31 tháng 12 năm 2008,

tổng số giường bệnh ở tuyến tỉnh, thành phố là 91.652 với tổng số nhân lực là 85.489 Trong đó, tổng số bác sĩ là 17.397, số dược sĩ đại học là 769 và điều dưỡng là 29.875 (Chi tiết xin xem bảng dưới đây) Tỷ lệ bác sĩ trên một giường

bệnh đạt 0,19; tỷ lệ dược sĩ/bác sĩ là 0,04; tỷ lệ điều dưỡng/bác sĩ: 1,72.[20]

Các đơn vị KCB tuyến huyện: Theo số liệu đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2008,

tổng số cả nước có 682 huyện, quận Trong đó, có 540 bệnh viện huyện, 142

Trang 23

trung tâm y tế huyện Tổng số giường bệnh là 59.010 với tổng số nhân lực 45.401 người Tỷ lệ bác sĩ/giường bệnh là 0,18; tỷ lệ dược sĩ đại học/bác sĩ: 0,05

và tỷ lệ điều dưỡng/bác sĩ: 1,47[20]

Bảng 1.2: Nhân lực KCB tuyến huyện

Bác sĩ Dược sĩ Điều dưỡng

- Thiết lập hệ thống quản lý điều dưỡng từ Bộ y tế đến các Sở Y tế và các bệnh viện và hệ thống tổ chức Hội Điều dưỡng ở các cấp đã phối hợp song hành, hỗ trợ lẫn nhau và cùng phát huy hiệu quả Hệ thống Điều dưỡng trưởng đã phát huy được vai trò quản lý chăm sóc và tham gia xây dựng các chính sách liên quan đến công tác điều dưỡng trong chăm sóc người bệnh Vị trí và vai trò của Điều dưỡng trưởng được khẳng định [56]

- Điều dưỡng đã trở thành một ngành học với nhiều cấp trình độ, từ trung cấp lên cao đẳng, đại học điều dưỡng và thạc sỹ điều dưỡng Hệ thống đào tạo điều dưỡng đến nay đã có nhiều cơ sở đào tạo, trong đó có các cơ sở đào tạo cao đẳng, đại học và sau đại học[5]

Trang 24

- Các chính sách về điều dưỡng viên và các chuẩn mực hành nghề điều dưỡng đang được bổ sung, hoàn thiện: Bộ Y tế đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, hướng dẫn quốc gia về thực hành chăm sóc Điều dưỡng, Nhà nước đã có quyết định công nhận danh hiệu Thầy thuốc ưu tú, Thầy thuốc nhân dân cho Điều dưỡng, Hộ sinh Với chính sách hiện hành đã mở ra tương lai cho ngành Điều dưỡng phát triển và người Điều dưỡng có thể yên tâm phấn đấu và tiến bộ trong nghề nghiệp[51]

- Chất lượng chăm sóc người bệnh đã có nhiều chuyển biến rõ rệt thông qua việc đổi mới các mô hình phân công chăm sóc, tổ chức chăm sóc người bệnh toàn diện, chuẩn hóa các kỹ thuật điều dưỡng Vai trò và vị thế nghề nghiệp của điều dưỡng viên đã có những thay đổi cơ bản[29, 31]

Tuy nhiên ngành Điều dưỡng đang đứng trước nhiều thách thức của sự phát triển: Thiếu đội ngũ giáo viên và thiếu chuyên gia đầu ngành về điều dưỡng nên phải sử dụng tới gần 70% đội ngũ giáo viên giảng dạy Điều dưỡng là Bác sỹ, khoa học Điều dưỡng chưa phát triển kịp với những tiến bộ của Điều dưỡng thế giới trong đào tạo Điều dưỡng, người Điều dưỡng chưa được đào tạo để thực hiện thiên chức chăm sóc mang tính chủ động và chuyên nghiệp, nguồn nhân lực điều dưỡng mất cân đối về cơ cấu dẫn đến sử dụng chưa phân biệt rõ trình độ đào tạo, kỹ năng, kỹ xảo; vị thế và hình ảnh người điều dưỡng trong xã hội tuy

đã có những thay đổi nhưng chưa được định hình rõ ràng[56]

1.3.2 Đào tạo nhân lực Điều dưỡng tại Việt Nam

Xuất phát từ nhu cầu chăm sóc người bệnh, Bộ Y tế đã quy định các cơ sở y

tế, các Viện có giường bệnh, các bệnh viện, các Trung tâm y tế có từ 150 giường bệnh trở lên thì có trưởng phòng Điều dưỡng, Điều dưỡng trưởng bệnh viện và Điều dưỡng trưởng khoa phải có trình độ đại học[51]

Hiện tại nước ta có 64 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với 960 bệnh viện thuộc hệ thống nhà nước và tư nhân cấp huyện trở lên Nếu mỗi sở y tế bình quân cần 3 điều dưỡng viên trình độ đại học và mỗi bệnh viện cần bình quân 12 điều dưỡng viên có trình độ đại học để bố trí giữ các chức vụ Điều dưỡng trưỡng của Sở, Bệnh viện và Khoa thì cần phải có 15000 Điều dưỡng đại

Trang 25

học mới đáp ứng được nhu cầu, đó là chưa kể nhu cầu phải đào tạo nâng cao trình độ đội ngũ Điều dưỡng viên để đáp ứng yêu cầu chăm sóc người bệnh và

sử dụng trang thiết bị khám chữa bệnh hiện đại [56]

Ngoài ra nước ta cần chuẩn bị đội ngũ giảng viên là điều dưỡng để giảng dạy trong các trường điều dưỡng hiện nay và tương lai Như vậy nguồn nhân lực điều dưỡng của nước ta vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng mặc dù trong những năm vừa qua các trường đào tạo Y Dược có rất nhiều cố gắng hoàn thành nhiệm vụ đào tạo của mình[56]

Công tác đào tạo bồi dưỡng Điều dưỡng của nước ta đang đứng trước những yêu cầu và đòi hỏi phải được đổi mới, mà thực chất là cần có sự đột phá

để có thể đáp ứng được nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân ngày càng tốt hơn, hoàn hảo hơn Đồng thời chỉ có thể thông qua công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ mới tạo nên động lực thúc đẩy ngành Điều dưỡng nước nhà đuổi kịp và hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới[56]

Yêu cầu đòi hỏi tăng tính chuyên nghiệp và chuyên khoa của Điều dưỡng viên, tăng cường số lượng điều dưỡng viên có trình độ cao đẳng trở thành một lực lượng chính trong cơ cấu nguồn nhân lực Điều dưỡng, Điều dưỡng viên có trình độ đại học và sau đại học sẽ có mặt một cách phổ cập ở các tuyến y tế trung ương, tuyến tỉnh, thành phố là một tất yếu khách quan[21][29]

Chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và tuyển dụng: Quy mô đào tạo tăng

lên, số lượng sinh viên ra trường tăng lên, nhưng chỉ tiêu biên chế để tuyển dụng vào một số đơn vị y tế công lập lại hạn chế Một số đơn vị y tế ở các vùng và lĩnh vực khó khăn hiện rất thiếu cán bộ và còn nhiều biên chế nhưng không

tuyển được nhân lực[5]

Các vùng biển đảo và ven biển nước ta có dân cư tập trung đông, với dân số vào khoảng 30 triệu người chiếm 34,6% dân số cả nước[23] Mật độ dân số vùng ven biển hải đảo là 373 người/km2, gấp 1,5 lần toàn quốc[23] Tuy nhiên chưa có đánh giá nào cụ thể về việc phân bố và phát triển nguồn lực nhân lực y

tế tại các khu vực các tỉnh ven biển và hải đảo tương xứng với quy mô dân số phục vụ Hơn thế, đặc trưng điều kiện kinh tế - văn hoá - xã hội, hành vi chăm

Trang 26

sóc sức khoẻ và sử dụng dịch vụ y tế của người dân là khác nhau giữa các khu vực miền Bắc, miền Trung và miền Nam Trong khi hệ thống tổ chức y tế của các địa phương ven biển, hiện được tổ chức tương tự như mô hình y tế trên đất liền, mới chỉ đáp ứng chủ yếu cho hoạt động chăm sóc sức khoẻ nhân dân trên

bờ, còn việc chăm sóc sức khoẻ cho cư dân biển, hải đảo còn nhiều bất cập Việc sử dụng trang thiết bị y tế được đầu tư tại các hải đảo hiện nay cho thấy

là lãng phí, theo một số nghiên cứu, do năng lực cán bộ y tế chưa được đào tạo

sử dụng phù hợp trong khi chất lượng chăm sóc sức khoẻ nhân dân và lao động trên biển hiệu quả chưa cao Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu, sơ cấp cứu ngư dân, y tế xa bờ của các cán bộ y tế khu vực ven biển hải đảo cần những kỹ năng cơ bản đặc trưng nhưng hiện vẫn chưa được phổ cập đến các cán bộ y tế khu vực ven biển hải đảo

Các tỉnh khu vực ven biển phía Bắc nước ta là Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An là khu vực có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, an ninh, chính trị của phía bắc và của cả nước Khu vực bao gồm một cực của tam giác phát triển kinh tế trọng điểm phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh), ngoài diện tích đất liền với đặc thù kinh tế ven biển và hải đảo, giáp nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Việc đào tạo nguồn nhân lực y tế cho khu vực này đóng vai trò quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân các tỉnh ven biển - hải đảo phía Bắc, đặc biệt nhân dân vùng biển đảo các tỉnh phía Bắc

Nguồn cử nhân Điều dưỡng của các tỉnh khu vực ven biển và hải đảo phía Bắc đến từ nhiều cơ sở đào tạo Đại học ở miền Bắc trong đó có số lượng lớn được đào tạo từ trường Đại học Y Hải Phòng Năm 2005 mã ngành điều dưỡng của trường được mở với quy mô từ 60 – 100 sinh viên mỗi năm với hệ cử nhân điều dưỡng chính quy (học 4 năm) và 150 – 250 sinh viên mỗi năm với hệ cử nhân điều dưỡng đại học vừa học vừa làm (học 4 năm) Đến nay trường đã đào tạo được 5 khóa và hàng trăm cử nhân điều dưỡng đã tốt nghiệp và công tác tại

Trang 27

các địa phương trong đó 1 số lượng rất lớn đang công tác tại khu vực biển đảo miền Bắc

Hiện nay chưa có nghiên cứu nào tiến hành đánh giá một cách có hệ thống

và khách quan (cả về lượng và chất) nhu cầu cử nhân điều dưỡng tại các địa phương, cũng như việc đáp ứng của bất kỳ trường đại học Y – Dược nào đối với nhu cầu của các địa phương này Việc đánh giá này là hết sức cần thiết để giúp các trường Y – Dược có kế hoạch cụ thể ngắn hạn và dài hạn đáp ứng với nhu cầu này

Các kết quả này giúp các cơ sở đào tạo có thể đề xuất ra các giải pháp can thiệp vào quá trình từ lập kế hoạch tuyển sinh, điều chỉnh chương trình đào tạo, kiện toàn nội dung giảng dạy và cơ chế quản lý sinh viên, giúp nhà trường đào tạo được đội ngũ cử nhân điều dưỡng đáp ứng được cả về chất và lượng Việc có kế hoạch tối ưu sẽ tránh lãng phí nguồn lực đầu tư vào đào tạo cử nhân điều dưỡng khi xác định được cụ thể cân bằng số lượng cử nhân điều dưỡng tại các địa phương Điều chỉnh quá trình đào tạo sẽ giúp cử nhân điều dưỡng có kiến thức và kỹ năng phù hợp nhất với nhu cầu thực tế của từng đại phương hay vùng miền mà cử nhân điều dưỡng làm việc

Để đánh giá thực trạng nguồn nhân lực cử nhân Điều dưỡng tại khu vực Biển đảo miền Bắc, để đáp ứng được nhu cầu về nhân lực điều dưỡng trong thời gian tới cần thiết phải có những nghiên cứu khoa học đánh giá chính xác nguồn nhân lực cử nhân Điều dưỡng từ đó xây dựng kế hoạch phát triển nguồn nhân lực này

Trang 28

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Lãnh đạo Sở y tế và phòng Tổ chức cán bộ các Sở Y tế

- Ban giám đốc/lãnh đạo các Bệnh viện đa khoa tỉnh và một số Bệnh viện tuyến huyện

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian: tháng 6 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

- Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính

2.3.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu

a- Cỡ mẫu

Thu thập số liệu về thực trạng và nhu cầu số lượng, đào tạo nhân lực Điều dưỡng các trình độ và ngành nghề tại toàn bộ 5 Sở y tế (Phòng tổ chức cán bộ và lãnh đạo Sở y tế) của 5 tỉnh khu vực biển đảo phía Bắc (Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An)

Thu thập các thông tin định lượng và định tính về sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng và sự hài lòng về chất lượng nhân lực Điều dưỡng với toàn bộ đại diện lãnh đạo của 5 Sở Y tế các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An và đại diện lãnh đạo của các Bệnh viện đa khoa tỉnh Tại mỗi tỉnh chọn 2-3 bệnh viện đại diện cho các khu vực bao gồm :

Trang 29

- khu vực đô thị (quận/thành phố) của các tỉnh: tổng số 5 bệnh viện quận/thành phố đô thị,

- khu vực nông thôn/ven biển cho mỗi tỉnh : tổng số 5 bệnh viện huyện,

- khu vực huyện đảo : 2 bệnh viện huyện đảo trong khu vực địa bàn nghiên cứu

b- Chọn mẫu : Cụ thể chúng tôi đã chọn mẫu chủ đích các cơ quan tại 5 tỉnh như sau : Lãnh đạo và phòng tổ chức cán bộ Sở y tế 5 tỉnh khu vực biển đảo phía Bắc :

-Bệnh viện Việt Tiệp (bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh)

-Bệnh viện quận Ngô Quyền (bệnh viện tuyến huyện – nội thành)

-Bệnh viện huyện Thủy Nguyên (bệnh viện tuyến huyện – ven biển)

-Bệnh viện huyện Cát Hải (bệnh viện tuyến huyện – huyện đảo)

Tỉnh Quảng Ninh :

-Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ninh (bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh)

-Bệnh viện thành phố Cẩm Phả (bệnh viện tuyến huyện – nội thành)

-Bệnh viện huyện Đông Triều (bệnh viện tuyến huyện – nông thôn)

-Bệnh viện huyện Vân Đồn (bệnh viện tuyến huyện – huyện đảo)

Tỉnh Nam Định :

-Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định (bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh)

-Bệnh viện thành phố Nam Định (bệnh viện tuyến huyện – đô thị)

-Bệnh viện huyện Hải Hậu (bệnh viện tuyến huyện – ven biển)

Tỉnh Thanh Hóa :

-Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa (bệnh viện tuyến tỉnh)

-Bệnh viện thành phố Thanh Hóa (bệnh viện tuyến huyện – đô thị)

Trang 30

-Bệnh viện huyện Hoằng Hóa (bệnh viện tuyến huyện – ven biển)

Tỉnh Nghệ An :

-Bệnh viện đa khoa tỉnh Nghệ An (bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh)

-Bệnh viện thị xã Cửa Lò (bệnh viện tuyến huyện – ven biển)

-Bệnh viện huyện Nam Đàn (bệnh viện tuyến huyện – nông thôn)

Mỗi Sở Y tế và Bệnh viện lựa chọn 1 thành viên ban giám đốc phụ trách nhân sự

để tiến hành phỏng vấn sâu và điền phiếu thiết kế sẵn

2.3.3 Các chỉ số và biến số nghiên cứu

- Thực trạng và nhu cầu nguồn nhân lực cử nhân điều dưỡng khu vực Biển đảo miền Bắc:

-Số lượng CNĐD hiện có tại các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An

-Số lượng CNĐD tuyến tỉnh, tuyến huyện hiện có tại các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An

-Tỷ lệ Điều dưỡng/Bác sỹ, Điều dưỡng/dân số tại các tỉnh (thu thập từ Sở y tế) và tại các Bệnh viện tỉnh và huyện được điều tra

-Nhu cầu đào tạo về số lượng, về chất lượng (chuyên ngành, trình độ, hình thức đào tạo mới)

- Khảo sát sự hài lòng của người sử dụng nguồn nhân lực cử nhân điều dưỡng khu vực Biển đảo phía Bắc dựa vào bảng câu hỏi tự điền, tập trung chủ yếu vào:

-Mức độ quan trọng theo đánh giá của người sử dụng lao động về :

Trang 31

-Những giải pháp giúp nâng cao năng lực sinh viên tốt nghiệp đáp ứng yêu cầu các nhà sử dụng lao động

2.3.4 Kỹ Thuật thu thập thông tin

a- Công cụ thu thập thông tin

o Các nghiên cứu và đánh giá về nhân lực y tế đã tiến hành

o Nghiên cứu đánh giá nhu cầu kiến thức, kỹ năng bác sỹ đa khoa của

dự án Việt Nam – Hà Lan

o Đánh giá nhu cầu về kiến thức, kỹ năng bác sỹ y học dự phòng (dự

án Nuffic)

Bản công cụ soạn thảo dựa trên tham khảo sau đó được chỉnh sửa dựa trên góp ý của các chuyên gia và đại diện một số bộ môn liên quan của Trường Đại học Y Dược Hải Phòng

b- Phương pháp thu thập số liệu

- Trực tiếp gửi công văn, kế hoạch thực hiện và phiếu định lượng khảo sát nguồn nhân lực ( Phụ lục 1, 2) tới các Sở y tế và bệnh viện trước 1 tuần, hẹn lịch phỏng vấn sâu một thành viên trong ban giám đốc phụ trách về nhân lực hoặc trưởng phòng tổ chức cán bộ

Trang 32

- Sau một tuần, tại các Sở y tế và bệnh viện nhận lại phiếu định lượng nhân lực

và tiến hành phỏng vấn sâu lãnh đạo phụ trách nhân lực dựa vào bộ công cụ phỏng vấn sâu về nguồn nhân lực (Phụ lục 3,4)

2.3.6 Kỹ thuật khống chế sai số

- Để khắc phục sai số, chúng tôi sử dụng các thuật ngữ rõ ràng, bộ câu hỏi dễ hiểu Bộ công cụ được điều tra thử, phỏng vấn tiến hành điều tra thử sau đó chỉnh sửa cho phù hợp với tình hình thực tế, có phần trao đổi mang tính “thảo luận, gợi mở” để chọn lọc thông tin khi đối tượng gặp khó khăn trong việc điền phiếu vì các nguyên nhân khác nhau và thống nhất lại trước khi chính thức tiến hành nghiên cứu

- Tập huấn điều tra viên để hướng dẫn cách điền phiếu, thống nhất cách thức đặt câu hỏi phỏng vấn

- Có sự giám sát chặt chẽ và có sự tham gia trực tiếp của người chủ trì tổ chức nghiên cứu, cùng với các điều tra viên là những người có kinh nghiệm

2.3.7 Đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu không can thiệp, không xâm hại hoặc có nguy cơ xâm hại đến cơ thể đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu tuân thủ đúng đề cương nghiên cứu được Hội đồng đánh giá đề cương của trường Đại học Y Hải Phòng thông qua năm 2014

- Đối tượng nghiên cứu tự nguyện tham gia sau khi giải thích mục tiêu, phương pháp và nội dung cũng như lợi ích của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu có quyền rút khỏi nghiên cứu hoặc từ chối không trả lời bất cứ câu hỏi nào mà không hề bị bất kỳ một sự làm phiền hay đe doa nào

Trang 33

- Các thông tin cá nhân và các thông tin do đối tượng tham gia nghiên cứu cung cấp đều bảo mật, và chỉ nhằm mục đích nghiên cứu, không sử dụng vào mục đích khác

Trang 34

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng và nhu cầu nguồn nhân lực cử nhân điều dưỡng 5 tỉnh biển đảo phía Bắc

3.1.1 Thực trạng và nhu cầu chung về nhân lực cử nhân điều dưỡng 5 tỉnh biển đảo phía Bắc

Bảng 3.1: Các chỉ số về Điều dưỡng 5 tỉnh khu vực BĐPB

Tỉnh/ Thành

Điều dưỡng Dân số

Tỷ lệ ĐD /10000 dân

Tỷ lệ ĐD/BS

Nhận xét: Theo số liệu thông kê từ các Sở y tế tỷ lệ ĐD/BS rất thấp (1,44), cao

nhất là Quảng Ninh (1,75); thấp nhất tại Nam Định chỉ có 1,27 Tỷ lệ ĐD/10.000 dân trung bình là 10,1 Quảng Ninh có tỷ lệ cao nhất 14,3; thấp nhất tại tỉnh Thanh Hóa chỉ có 6,72

Trang 35

Bảng 3.2: Thực trạng chung nguồn nhân lực CNĐD 5 tỉnh khu vực BĐPB

Nhận xét: Theo số liệu thống kê từ các Sở y tế về nhân lực điều dưỡng các địa phương, điều dưỡng trung học chiếm đa số (73,9%), CĐĐD 16,4%, CNĐD chỉ

chiếm 9,7% Nam Định có tỷ lệ CNĐD cao nhất (18,6%), Nghệ An có tỷ lệ CNĐD

thấp nhất (4,7%) Hải Phòng có đến 83,1% điều dưỡng ở trình độ trung học Thực trạng chung nhân lực cử nhân điều dưỡng của khu vực:

Các kết quả phỏng vấn định tính lãnh đạo Sở y tế và các bệnh viện đều cho thấy thực trạng nhân lực điều dưỡng không đủ về cả số lượng cũng như cơ cấu và trình độ chuyên môn Có sự chênh lệch rất lớn về trình độ nhân lực điều dưỡng

trong đó đa số là điều dưỡng trung học, CNĐD chiếm số lượng rất ít:“Tình hình nhân lực y tế chung của thành phố hiện nay tính cả biên chế được giao, và lao động hợp đồng, theo hướng dẫn thông tư 04/08 (thông tư 08/2007/TTLT-BYT-

BNV Hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước) thì đều không đủ cả về số lượng cũng như về cơ cấu và trình độ chuyên môn, theo đúng quy định thì điều dưỡng thiếu nhiều nhất” - PGĐ Sở y tế Hải Phòng

Trang 36

Nguyên nhân thiếu nhân lực điều dưỡng trong khu vực:

Sự thiếu hụt số lượng điều dưỡng nói chung và các cử nhân điều dưỡng nói riêng do số lượng biên chế mà các Sở y tế, bệnh viện dành cho điều dưỡng rất hạn chế, ưu tiên biên chế cho các đối tượng khác trong bệnh viện như bác sỹ, dược sỹ Mặt khác thu nhập cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự thiếu hụt nhân lực điều dưỡng, để cải thiện thu nhập cho nhân viên, một số bệnh viện cố gắng hạn chế tuyển dụng điều dưỡng hoặc tuyển dụng điều dưỡng trung học để

giảm chi phí:“ Nếu có thêm chỉ tiêu biên chế thì ưu tiên tuyển thêm bác sỹ do nhiều khoa hiện tại chưa có bác sỹ chuyên sâu” GĐ-BV huyện đảo Cát Bà, “Về

số lượng điều dưỡng cần đạt 2,5 điều dưỡng trên 1 bác sỹ, tại bệnh viện là thấp hơn nhưng theo chủ trương tự chủ về biên chế và tài chính nên với nhân lực hiện nay là đủ” - Trưởng phòng TCCB bệnh viện Việt Tiệp

Số lượng cử nhân điều dưỡng trong khu vực rất thấp cũng do các bệnh viện đã hết biên chế để có thể tuyển dụng thêm các CNĐD chính quy, còn việc

cử các điều dưỡng trung học học tập nâng cao trình độ cũng gặp khó khăn do không có nhân lực làm việc tại bệnh viện, mỗi năm chỉ có thể cử số lượng rất ít mặc dù bản thân các điều dưỡng mong muốn được có cơ hội học tập nâng cao trình độ nên hình thức đào tạo điều dưỡng tại chức vừa học vừa làm được các

nhà lãnh đạo rất ủng hộ:“ Đào tạo điều dưỡng vừa học vừa làm thì rất hay vì nhân lực không đủ để bệnh viện cử đi học tập trung, các bạn điều dưỡng cũng

có mong muốn học tập rất cao nên đào tạo từ xa, vừa học vừa làm là phù hợp” -

PGĐ Sở y tế Hải Phòng

Nhu cầu tuyển dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng:

Nhu cầu đến năm 2020 cần một số lượng lớn các điều dưỡng đặc biệt là điều dưỡng đại học trong đó bao gồm điều dưỡng đại học chính quy và tại chức:

“Đến năm 2020, về điều dưỡng, hộ sinh trình độ cao đẳng và đại học, cần có khoảng 1326 điều dưỡng, hiện nay có khoảng hơn 400 người, như vậy là cần có

800 đến 900 điều dưỡng nữa trong đó tính cả điều dưỡng chính quy và tại chức”- PGĐ Sở y tế Hải Phòng

Trang 37

Nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực điều dưỡng:

Đa số các điều dưỡng ở trình độ trung học nên nhu cầu đào tạo nâng cao trình độ được nhà lãnh đạo đề cao, khuyến khích Trong kế hoạch của bệnh viện hàng năm đều có kế hoạch đào tạo điều dưỡng trung học lên đại học hay các

khóa đào tạo liên tục về chuyên ngành:“Hàng năm bệnh viện đều cử các cán bộ

đi đào tạo lại như chuyên ngành điều dưỡng từ 3 – 4 cán bộ/1 năm học hệ tại chức CNĐD” - Trưởng phòng TCCB bệnh viện Việt Tiệp – Hải Phòng

Nhu cầu đào tạo lại:

Kết quả phỏng vấn sâu cũng cho thấy các nhà sử dụng nhân lực khẳng định đào tạo liên tục là nhu cầu bức thiết hàng năm của điều dưỡng dưới hình thức các khóa học ngắn ngày cập nhật về chuyên môn hay quản lý, và có hình

thức đánh giá tại bệnh viện để kiểm tra tay nghề:“Về đào tạo lại thì hàng năm đào tạo lại hết, kể cả cán bộ quản lý Hình thức đào tạo có thể học đinh kỳ 3 tháng, 1 tháng, 15 ngày hoặc đào tạo tại chỗ, ba là tập huấn tại chỗ khác.” ,

“Đào tạo từ xa phải đổi mới lại ví dụ có thể bệnh viện hợp tác với trường nào

đó, đào tạo 1 khóa, số lượng học viên không nhiều, chứ không nhất thiết phải tập hợp nhiều bệnh viện lại và phải cấp bằng thực sự vì đó là hành lang pháp lý

để cho cán bộ làm việc”- PGĐ-BV tỉnh Nghệ An

Mặt khác cũng có nhu cầu đào tạo ngắn hạn các chuyên ngành điều dưỡng chuyên sâu từ 3 đến 6 tháng, có cấp chứng chỉ hành nghề Với hình thức này bệnh viện khuyến khích và sẵn sàng chi trả học phí để điều dưỡng học tập lên

Nhu cầu đào tạo chuyên ngành mới cho điều dưỡng:

Phỏng vấn sâu các lãnh đạo Sở y tế và lãnh đạo phụ trách về nhân lực tại một số bệnh viện trong khu vực biển đảo phía Bắc, khi đặt câu hỏi về chuyên ngành mới nào phù hợp với điều dưỡng và phù hợp với nhu cầu chăm sóc người bệnh hiện nay chúng tôi đã nhận được kết quả là dinh dưỡng tiết chế và kiểm soát nhiễm khuẩn, các lĩnh vực này cần được quan tâm hơn trong thời gian

tới:“Chúng tôi đang cần điều dưỡng chuyên khoa về dinh dưỡng lâm sàng và kiểm soát nhiễm khuẩn, đào tạo theo hình thức cấp chứng chỉ vì 2 lĩnh vực này rất quan trọng nhưng chưa có đào tạo định hướng” - PGĐ-BV thành phố Cẩm

Trang 38

Phả “Thực tế khoa kiểm soát nhiễm khuẩn chưa tương xứng với thực tế, nhiệm

vụ khoa kiểm soát nhiễm khuẩn mới chỉ là giặt quần áo của bệnh nhân, hấp dụng cụ Còn thực hiện các nhiệm vụ như kiểm soát nhiễm trùng bệnh viện thì chưa làm được Không cần 1 bác sỹ xuống phụ trách khoa phòng chống nhiễm khuẩn mà chỉ cần cử nhân điều dưỡng được đào tạo chuyên sâu là được” - GĐ-

BV thành phố Thanh Hóa

3.1.2 Đặc điểm thực trạng và nhu cầu nhân lực cử nhân điều dưỡng tại Hải Phòng

Bảng 3.3: Tỷ lệ ĐD/BS một số bệnh viện tại Hải Phòng

Nhận xét: Tỷ lệ ĐD/BS tại các bệnh viện tương đối đồng đều nhau, cao nhất tại

bệnh viện Ngô Quyền là 2,34 và thấp nhất bệnh viện Việt Tiệp là 1,93

Kết quả phỏng vấn sâu cũng cho thấy thực trạng nhân lực điều dưỡng đang thiếu hụt về số lượng do không đảm bảo được mức ĐD/BS theo quy định

là 3,5; bệnh viện quận Ngô Quyền có số lượng ở mức gần đủ nhất so với tiêu

chuẩn:“Hiện nay bệnh viện chúng tôi có 160 giường, biên chế hiện tại của bệnh viện là 162 cán bộ trong đó có 38 bác sỹ, 15 cử nhân điều dưỡng trong tổng số

89 điều dưỡng, Sở y tế Hải Phòng khi đi kiểm tra các bệnh viện cũng đánh giá bệnh viện chúng tôi có số lượng bác sỹ và điều dưỡng gần đủ nhất trong số các bệnh viện khối quận huyện” - PGĐ bệnh viện quận Ngô Quyền

Trang 39

Xác định là thiếu điều dưỡng do không đảm bảo mức quy định 3,5 điều dưỡng trên 1 bác sỹ nhưng các lãnh đạo bệnh viện lại đánh giá nhu cầu tuyển dụng các CNĐD chưa thật sự là cần thiết, không muốn tuyển dụng thêm điều dưỡng vì ưu tiên biên chế tuyển dụng cho bác sỹ, mặt khác thì thu nhập cũng là nguyên nhân

quan trọng dẫn tới sự thiếu hụt nhân lực điều dưỡng:“Về số lượng điều dưỡng cần đạt 3,5 điều dưỡng trên 1 bác sỹ, tại bệnh viện là thấp hơn nhưng theo chủ trương tự chủ về biên chế và tài chính nên với nhân lực hiện nay là đủ” - Trưởng phòng TCCB bệnh viện Việt Tiệp

Bảng 3.4: Thực trạng nhân lực CNĐD một số bệnh viện tại Hải Phòng

Bệnh viện

Việt Tiệp 1(0,2) 54(10,3) 87(16,6) 381(72,9) 523(100) Bệnh viện quận

Ngô Quyền 0(0) 15(16,9) 11(12,3) 63(70,8) 89(100) Bệnh viện huyện

Thủy Nguyên 0(0) 7(5,8) 2(1,6) 112(92,6) 121(100) Bệnh viện huyện

đảo Cát Hải 0(0) 1(4,2) 2(8,3) 21(87,5) 24(100) Tổng 1(0,1) 77(10,2) 102(13,5) 577(76,2) 757(100)

Nhận xét: Chỉ có 1 thạc sỹ Điều dưỡng tại Bệnh viện Việt Tiệp, CNĐD chiếm

tỷ lệ thấp (10,2%) và tập trung tại bệnh viện tuyến tỉnh (Việt Tiệp: 10,3%) và bệnh viện nội thành (Ngô Quyền: 16,9%), bệnh viện huyện Cát Hải chỉ có 1 CNĐD(4,2%)

Kết quả phỏng vấn sâu lãnh đạo các bệnh viện tại Hải Phòng cũng cho thấy các nhà lãnh đạo đều nhìn nhận được sự chênh lệch rất lớn giữa CNĐD và các trình độ khác trong bệnh viện Các bệnh viện cũng đã có giải pháp cải thiện

Trang 40

tình trạng trên bằng cách cử các điều dưỡng trung cấp học tại chức theo hình thức vừa học vừa làm Tuy nhiên số lượng các điều dưỡng được cử đi học không

nhiều do không đủ nhân lực để đảm bảo công việc tại bệnh viện: “Hàng năm

bệnh viện đều cử các cán bộ đi đào tạo lại như chuyên ngành điều dưỡng từ 3 –

4 cán bộ/1 năm học hệ tại chức CNĐD” - Trưởng phòng TCCB bệnh viện Việt

Tiệp – Hải Phòng

Tại Cát Bà, việc tuyển dụng các CNĐD chính quy rất khó khăn do đặc thù huyện đảo, mặt khác việc cử các điều dưỡng trung học đi học tại chức cũng gặp khó khăn do việc đi lại từ đảo vào đất liền mất rất nhiều thời gian và chi phí Hiện tại cả bệnh viện chỉ có 1 CNĐD đang làm tại phòng điều dưỡng của bệnh

viện:“Các bạn điều dưỡng chính quy chắc chắn không muốn về đây làm việc, còn các điều dưỡng ở bệnh viện đi học rất vất vả, đặc biệt là đi lại giữa đảo và đất liền mất thời gian và tốn kém” - GĐ bệnh viện huyện Cát Hải

3.1.3 Thực trạng và nhu cầu nhân lực CNĐD tại Quảng Ninh

Bảng 3.5: Tỷ lệ ĐD/BS một số bệnh viện tỉnh Quảng Ninh

Nhận xét: Tỷ lệ ĐD/BS tương đối đồng đều, cao nhất tại bệnh viện huyện

Đông Triều với tỷ lệ 1,92 và thấp nhất bệnh viện thành phố Cẩm Phả là 1,67

Ngày đăng: 25/03/2016, 02:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Nhân lực KCB tuyến tỉnh, thành phố - Thực trạng nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng một số tỉnh khu vực miền đảo phía bắc năm 2013 2014
Bảng 1.1 Nhân lực KCB tuyến tỉnh, thành phố (Trang 22)
Bảng 1.2: Nhân lực KCB tuyến huyện - Thực trạng nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng một số tỉnh khu vực miền đảo phía bắc năm 2013 2014
Bảng 1.2 Nhân lực KCB tuyến huyện (Trang 23)
Bảng 3.1: Các chỉ số về Điều dưỡng 5 tỉnh khu vực BĐPB - Thực trạng nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng một số tỉnh khu vực miền đảo phía bắc năm 2013 2014
Bảng 3.1 Các chỉ số về Điều dưỡng 5 tỉnh khu vực BĐPB (Trang 34)
Bảng 3.2: Thực trạng chung nguồn nhân lực CNĐD 5 tỉnh khu vực BĐPB - Thực trạng nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng một số tỉnh khu vực miền đảo phía bắc năm 2013 2014
Bảng 3.2 Thực trạng chung nguồn nhân lực CNĐD 5 tỉnh khu vực BĐPB (Trang 35)
Bảng 3.4: Thực trạng nhân lực CNĐD một số bệnh viện tại Hải Phòng - Thực trạng nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng một số tỉnh khu vực miền đảo phía bắc năm 2013 2014
Bảng 3.4 Thực trạng nhân lực CNĐD một số bệnh viện tại Hải Phòng (Trang 39)
Bảng 3.6: Thực trạng nhân lực CNĐD một số bệnh viện tỉnh Quảng Ninh  Bệnh viện - Thực trạng nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng một số tỉnh khu vực miền đảo phía bắc năm 2013 2014
Bảng 3.6 Thực trạng nhân lực CNĐD một số bệnh viện tỉnh Quảng Ninh Bệnh viện (Trang 41)
Bảng 3.8: Thực trạng nhân lực CNĐD một số bệnh viện tỉnh Nam Định - Thực trạng nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng một số tỉnh khu vực miền đảo phía bắc năm 2013 2014
Bảng 3.8 Thực trạng nhân lực CNĐD một số bệnh viện tỉnh Nam Định (Trang 43)
Bảng 3.10: Thực trạng nhân lực CNĐD một số Bệnh viện tỉnh Thanh Hóa - Thực trạng nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng một số tỉnh khu vực miền đảo phía bắc năm 2013 2014
Bảng 3.10 Thực trạng nhân lực CNĐD một số Bệnh viện tỉnh Thanh Hóa (Trang 45)
Hình 3.1:  Vị trí CNĐD mới tốt nghiệp thường được bố trí khi được tuyển dụng - Thực trạng nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng một số tỉnh khu vực miền đảo phía bắc năm 2013 2014
Hình 3.1 Vị trí CNĐD mới tốt nghiệp thường được bố trí khi được tuyển dụng (Trang 48)
Hình 3.5: Mức quan trọng của năng lực ứng dụng chuyên môn và - Thực trạng nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng một số tỉnh khu vực miền đảo phía bắc năm 2013 2014
Hình 3.5 Mức quan trọng của năng lực ứng dụng chuyên môn và (Trang 51)
Bảng 3.13: Mức độ quan trọng và hài lòng về năng lực nghiệp vụ của CNĐD - Thực trạng nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng một số tỉnh khu vực miền đảo phía bắc năm 2013 2014
Bảng 3.13 Mức độ quan trọng và hài lòng về năng lực nghiệp vụ của CNĐD (Trang 53)
Hình 3.7: Mức độ quan trọng Tính tự tin vào khả năng của bản thân của CNĐD - Thực trạng nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng một số tỉnh khu vực miền đảo phía bắc năm 2013 2014
Hình 3.7 Mức độ quan trọng Tính tự tin vào khả năng của bản thân của CNĐD (Trang 54)
Hình 3.9: Mức độ quan trọng Hiểu biết về trách nhiệm nghề nghiệp của CNĐD - Thực trạng nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng một số tỉnh khu vực miền đảo phía bắc năm 2013 2014
Hình 3.9 Mức độ quan trọng Hiểu biết về trách nhiệm nghề nghiệp của CNĐD (Trang 55)
Hình 3.14: Mức độ hài lòng về Tính chủ động của CNĐD - Thực trạng nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng một số tỉnh khu vực miền đảo phía bắc năm 2013 2014
Hình 3.14 Mức độ hài lòng về Tính chủ động của CNĐD (Trang 58)
Bảng 3.15: Mức độ quan trọng và hài lòng về năng lực tổ chức điều hành - Thực trạng nhu cầu và sự hài lòng của người sử dụng nhân lực cử nhân điều dưỡng một số tỉnh khu vực miền đảo phía bắc năm 2013 2014
Bảng 3.15 Mức độ quan trọng và hài lòng về năng lực tổ chức điều hành (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w