1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tật khúc xạ và kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở lê hồng phòng hải phòng

104 764 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học viên lớp Cao học Y tế Công cộng khóa 9 trường Đại học Y Dược Hải Phòng Trong thời gian năm học 2014 – 2015 tôi đã nghiên cứu đề tài “Thực trạng cận thị của học sinh và kiến thức, th

Trang 1

**********

NGUYỄN THỊ QUỲNH HOA

THỰC TRẠNG TẬT KHÚC XẠ VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA GIÁO VIÊN, PHỤ HUYNH TRONG CHĂM

SÓC MẮT CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ LÊ HỒNG PHONG HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

HẢI PHÒNG - 2015

Trang 2

**********

NGUYỄN THỊ QUỲNH HOA

THỰC TRẠNG TẬT KHÚC XẠ VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA GIÁO VIÊN, PHỤ HUYNH TRONG CHĂM

SÓC MẮT CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ LÊ HỒNG PHONG HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ: 60.720.301

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS PHẠM VĂN THỨC PGS.TS KHÚC THỊ NHỤN

HẢI PHÒNG - 2015

Trang 3

Học viên lớp Cao học Y tế Công cộng khóa 9 trường Đại học Y Dược Hải Phòng

Trong thời gian năm học 2014 – 2015 tôi đã nghiên cứu đề tài “Thực

trạng cận thị của học sinh và kiến thức, thực hành của cộng đồng trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở Lê Hồng Phong, Hải Phòng năm 2015”

Tôi xin cam đoan đây là nghiên cứu do tôi thực hiện Đề tài được nghiên cứu nghiêm túc, trung thực Các thông tin, số liệu trong nghiên cứu này là khách quan

Người viết luận văn

Nguyễn Thị Quỳnh Hoa

Trang 4

Thạc sỹ y học chuyên ngành Y tế công cộng

Tôi xin chân thành cảm:

- Ban Giám hiệu, các Thầy cô giáo, Phòng đào tạo Sau đại học, Khoa Y

tế công cộng và cùng các bộ môn, phòng ban liên quan của Trường Đại học Y Dược Hải Phòng

- Ban giám đốc và cán bộ, nhân viên khoa mắt của Bệnh viện trường Đại học Y Dược Hải Phòng, Ban giám hiệu, cán bộ, thầy cô giáo trường THCS Lê Hồng Phong

Tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:

- GS.TS Phạm Văn Thức - Hiệu trưởng - Trường Đại học Y Dược Hải Phòng Người thầy luôn tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

- PGS.TS Khúc Thị Nhụn – Nguyên trưởng bộ môn Mắt Trường Đại học

Y Dược Hải Phòng- Cô luôn nhiệt tình truyền đạt những kiến thức hữu ích, hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn

- PGS.TS Phạm Văn Hán - Phó hiệu trưởng phụ trách Đào tạo đại học Trưởng Khoa Y tế công cộng - Trường Đại học Y Dược Hải Phòng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt khoá học và thực hiện đề tài

- PGS.TS Đinh Văn Thức – Trưởng phòng Đào tạo Sau đại học, trường Đại học Y Dược Hải Phòng luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt khoá học và thực hiện đề tài

Tôi vô cùng biết ơn:

Toàn thể gia đình, cha mẹ, các anh chị em, chồng và con cùng những người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi nhiều mặt trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Hải phòng, ngày tháng năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Quỳnh Hoa

Trang 5

Y tế Tivi Thành phố Đếm ngón tay Bác sĩ

Mắt phải Mắt trái

Trang 6

Chương 1: TỔNG QUAN 3

1.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý quang học của mắt 3

1.2 Những yếu tố liên quan đến tạo ảnh lên trên võng mạc của mắt 4

1.3 Đại cương về bệnh sinh của tật cận thị 6

1.4 Phân loại cận thị 8

1.5 Kính đeo mắt 9

1.6 Tình hình cận thị trên thế giới và ở Việt Nam 10

1.7 Một số yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh cận thị trong học sinh 17

1.8 Kiến thức và thực hành của cộng đồng trong việc chăm sóc và bảo vệ mắt cho học sinh 22

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 25

2.2 Phương pháp nghiên cứu 25

2.3 Phân tích và xử lý số liệu 34

2.4 Đạo đức trong nghiên cứu 35

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

3.1 Thực trạng tật khúc xạ của học sinh 36

3.2 Kiến thức và thực hành của phụ huynh, giáo viên trong chăm sóc, bảo vệ mắt cho học sinh 40

Chương 4: BÀN LUẬN 51

4.1 Thực trạng tật khúc xạ của học sinh THCS 51

4.2 Kiến thức và thực hành của cộng đồng về TKX 58

KẾT LUẬN 66

KHUYẾN NGHỊ 67

TÍNH CẤP THIẾT, THỰC TIỄN 68

KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 7

Bảng 3.2 Mức độ thị lực không kính của học sinh THCS 36

Bảng 3.3 Phân bố thị lực không kính của học sinh theo giới tính 37

Bảng 3.4 Tỷ lệ học sinh mắc cận thị theo mức độ và khối học 37

Bảng 3.5 Tỷ lệ học sinh mắc cận thị phân theo khối lớp và giới tính 38

Bảng 3.6 Tỷ lệ học sinh mắc TKX sử dụng kính để điều chỉnh thị lực theo khối học 39

Bảng 3.7 Tỷ lệ HS mắc TKX sử dụng kính không đúng số để điều chỉnh thị lực theo khối học 39

Bảng 3.8 Trang thiết bị của các hiệu kính thuốc trên địa bàn 40

Bảng 3.9 Kiến thức của học sinh về tật khúc xạ 40

Bảng 3.10 Kiến thức của học sinh về chăm sóc mắt khi có TKX (n= 354 ) 41 Bảng 3.11 Tỷ lệ học sinh lựa chọn địa điểm các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc TKX 41

Bảng 3.12 Kiến thức của phụ huynh, giáo viên về TKX 42

Bảng 3.13 Tỷ lệ phụ huynh và giáo viên biết cách chăm sóc, bảo vệ mắt khi có TKX 42

Bảng 3.14 Tỷ lệ phụ huynh học sinh, giáo viên biết về yếu tố làm tăng TKX 43

Bảng 3.15 Tỷ lệ học sinh biết về thị lực của bản thân 43

Bảng 3.16 Một số thói quen sinh hoạt, học tập ở nhà của học sinh 46

Bảng 3.17 Thực hành của giáo viên, phụ huynh đối với TKX của học sinh 47 Bảng 3.18 Nguồn thông tin về TKX cho phụ huynh, giáo viên 48

Bảng 3.19 Nơi thực hiện tốt chương trình chăm sóc, giữ gìn và bảo vệ mắt đối với TKX 48

Bảng 3.20 Định kỳ phụ huynh đưa học sinh đi khám TKX 49

Trang 8

Hình 3.1 Tỷ lệ cận thị của học sinh THCS 38

Hình 3.2 Định kỳ kiểm tra thị lực của học sinh THCS 44

Hình 3.3 Cách xử lý của HS khi mắc TKX 44

Hình 3.4 Nguồn cung cấp thông tin về TKX 45

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cơ quan thị giác của con người là vô cùng tinh tế và nhạy bén, trong đó thị lực là chức năng quan trọng nhất giúp ta nhận biết ánh sáng và thế giới xung quanh Thị lực không chỉ quan trọng đối với người lớn mà nó còn đặc biệt quan trọng đối với trẻ em Thị lực giúp trẻ em học tập, lao động, phát triển nhận thức, tư duy

Vấn đề đáng lo ngại trong những năm gần đây ảnh hưởng lớn đến thị lực của trẻ em chính là tật khúc xạ ngày một gia tăng Một đôi mắt bị tật khúc

xạ sẽ gây nhiều bất tiện trong sinh hoạt, thậm chí ảnh hưởng lớn đến tương lai của trẻ Ở Việt Nam, trong những năm đầu của thiên niên kỷ thứ 3 này, cận thị học đường đang có chiều hướng ngày càng tăng lên ở lứa tuổi học sinh các cấp học, đặc biệt là học sinh khối trung học cơ sở và là nguyên nhân chính gây giảm thị lực ở học sinh [23] Theo nghiên cứu của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (2008), tỷ lệ mắc cận thị học đường trong các trường học rất cao với tỷ lệ trung bình là 26,14% [33] Báo cáo của Viện Mắt Trung ương (2012) tại Hội nghị nhãn khoa toàn quốc cho thấy, tỷ lệ mắc cận thị học đường chiếm khoảng 40-50% ở thành phố và 10-15% ở nông thôn [17]

Cận thị gây nhiều tác hại như: hạn chế sự phát triển toàn diện của học sinh; hạn chế các hoạt động thể dục thể thao, nâng cao sức khoẻ; hạn chế sự lựa chọn ngành nghề trong cuộc sống; hạn chế một số hoạt động sinh hoạt hàng ngày của học sinh và hạn chế một phần kết quả học tập do mắt chóng bị mỏi, do nhìn bảng không rõ, viết và đọc chậm; dễ bị tai nạn trong lao động, sinh hoạt Bên cạnh đó khi bị cận thị nặng sẽ có nguy cơ mắc nhiều biến chứng như vẩn đục dịch kính, đục thủy tinh thể [102], Glocom [143], thoái hóa võng mạc [112], hoặc bong võng mạc [128]

Có rất nhiều phương pháp điều chỉnh tật khúc xạ nhưng phương pháp đơn giản nhất là đeo kính, vừa an toàn, hiệu quả đem lại sự cải thiện to lớn về

Trang 10

chức năng thị giác, vừa kinh tế, thuận tiện Vì thế việc sử dụng kính đúng số, mài lắp đúng kỹ thuật là điều vô cùng quan trọng trong việc cải thiện, điều chỉnh thị lực

Việc cải thiện tình trạng thị lực của học sinh là một vấn đề sức khỏe mà ngành giáo dục và cả xã hội quan tâm Điều này đã thôi thúc tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “ Thực trạng tật khúc xạ và kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở Lê Hồng Phong, Hải Phòng” nhằm mục tiêu:

1 Xác định tỷ lệ cận thị và việc sử dụng kính của học sinh trường trung học cơ sở Lê Hồng Phong năm 2015

2 Mô tả kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở Lê Hồng Phong năm 2015

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý quang học của mắt

Mắt là một phần của hệ thống thị giác con người, cấu trúc gần như hình cầu, bao gồm 4 mối tương quan học, đường kính trước sau vào khoảng 24,2

mm, trục ngang là 24,1 mm, trục dọc 23,6 mm Các chất lưỡng cầu này có cùng một trục chính là một đường thẳng xuyên qua nhãn cầu Nhãn cầu được chứa trong hốc xương gọi là hốc mắt, mỗi hốc mắt là một hốc xương hình tháp có 4 cạnh, đầu quay ra trước, hốc mắt nằm giữa khối xương sọ xương mặt [28]

Cấu tạo của mắt từ ngoài vào trong gồm:

* Vỏ nhãn cầu có 3 lớp: Củng – giác mạc, màng bồ đào và võng mạc Giác mạc diện tích của vỏ nhãn cầu, phần còn lại củng mạc chiếm 5/6 Bên trong củng giác mạc là màng bồ đào được chia thành 3 phần (mống mắt, thể

mi, hắc mạc) Lớp bên trong cùng là võng mạc, đây là màng thần kinh tiếp nhận và dẫn truyền ánh sáng lên não bộ

* Các môi trường trong suốt gồm: giác mạc, thủy dịch, thể thủy tinh, dịch kính bảo đảm cho ánh sáng đi từ ngoài vào đến võng mạc

- Giác mạc: có chỉ số khúc xạ 1.376, bề mặt giác mạc càng về phía rìa càng dẹt hơn, có bán kính cong mặt trước 7,7mm, bán kính cong mặt sau 6,8mm Công suất khúc xạ của giác mạc: mặt trước giác mạc 48,83 D, mặt sau giác mạc -5,88D, công suất trung bình giác mạc 42,95 D [28]

- Thủy dịch và dịch kính: có chỉ số khúc xạ 1.336 [42]

- Thể thủy tinh: có chỉ số khúc xạ 1.406, thể thủy tinh thường hơi lệch tâm so với trục giác mạc và trục nhìn của con mắt Do đó, nói một cách khác chính xác thì mắt người sống không phải là một quang học hệ có tâm do các lớp vỏ không thực sự đồng tâm, độ cong lớp vỏ ngoài lớn hơn lớp vỏ trong

Trang 12

Bán kính độ cong mặt trước 7,91mm, bán kính độ cong mặt sau – 5,76mm

Có sự khác biệt về chỉ số khúc xạ giữa lớp vỏ và nhân, lực khúc xạ của thể thủy tinh từ + 16 D đến + 20D Khi điều tiết công xuất tối đa của thủy tinh có thể tăng lên 33,06 D [42]

Toàn bộ hệ thống quang học của mắt có lực khúc xạ chung từ + 50,69

D đến +70,57 D Như vậy khúc xạ của mắt phụ thuộc ba yếu tố chính là: trục trước sau của nhãn cầu, độ cong của các lưỡng chất (chủ yếu là giác mạc và thủy tinh thể) và chỉ số của các môi trường quang học [43]

Bình thường các tia sáng song song từ vật tiêu sau khi đi qua hệ thống quang học của mắt sẽ hội tụ tại một điểm ở võng mạc (hoàng điểm), lúc đó mắt sẽ nhìn rõ vật tiêu ở xa và cả ở gần, đó là mắt chính thị [28]

1.2 Những yếu tố liên quan đến tạo ảnh lên trên võng mạc của mắt

Các tia sáng từ vật liệu sau khi đi qua hệ thống quang học của mắt sẽ hội tụ tại một điểm ở võng mạc, ảnh của vật hiện rõ hay mờ, to hay nhỏ phục thuộc vào các yếu tố sau:

1.2.1 Độ dài trục nhãn cầu

Độ dài trục nhãn cầu tính từ mặt trước giác mạc đến cực sau của võng mac, Trục trước sau của trẻ em mới sinh: nam là 17,9 mm ± 0,10 mm, nữ là 17,7 mm ± 0,20 mm, theo Hoàng Hồ và cộng sự nghiên cứu trên người trưởng thành với siêu âm ký thì độ dài trục trước sau là 22,77 ± 0,06 mm đối với nữ

và 23,5 ± đối với nam, nếu dài hơn sẽ gây cận thị [29]

1.2.2 Bán kính độ cong giác mạc

Trong quá tình phát triển của cơ thể, giác mạc tăng trưởng rất ít, bán kính độ cong trước giác mạc lúc mới sinh là 6,6 mm, 1 tuổi là 7,50 mm, đến 6 tuổi đã ổn định ở mức 7,80 mm Công suất khúc xạ của giác mạc lúc mới sinh cho đến tuổi trưởng thành chỉ tăng khoảng 4D và đạt công suất trung bình là 43,34 ± 1,52D Như vậy công suất giác mạc chiếm 2/3 tổng công suất của hệ

Trang 13

thống quang học mắt và là yếu tố ít biến đổi trong quá trình chuẩn hóa khúc

xạ Nếu bán kính độ cong giác mạc nhỏ hơn bình thường sẽ gây cận thị [42]

1.2.3 Công suất thể thủy tinh

Thể thủy tinh biến đổi không ngừng kể từ khi trẻ em ra đời cho đến tuổi già Khi trẻ mới sinh, thể thủy tinh có hình cầu và lực khúc xạ rất cao (khoảng 42,7 D) Càng về sau thể thủy tinh càng dẹt dần và đến 15-16 tuổi thì lực khúc

xạ chỉ còn 16 – 24 điốp Vì vậy ở trẻ em thường có viễn thị (sinh lý) sau đó giảm dần và đến 6 – 7 tuổi thì trở thành mắt chính thị [43]

Thể thủy tinh chịu tác động của lực điều tiết do cơ thể mi chi phối (cơ chế điều tiết) thông qua điều tiết mà thể thủy tinh có thể co giãn làm tăng hoặc giảm lực khúc xạ để điều chỉnh nhìn rõ vật tiêu cả ở xa và ở gần Khi điều tiết, lực khúc xạ của thể thủy tinh có thể thay đổi từ 19 – 24 D làm tăng tổng chỉ số lực khúc xạ của hệ thống quang học và như vậy cơ chế điều tiết đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi lực khúc xạ của hệ thống quang học mắt [29]

1.2.4 Độ sâu tiền phòng

Bình thường độ sâu tiền phòng trong khoảng {2,80mm; 3,50mm} Độ sâu của tiền phòng thay đổi sẽ làm thay đổi khúc xạ [42]

1.2.5 Vai trò của điều tiết

Về phương diện quang học, con mắt được cấu tạo để nhìn xa ở vô cực Ảnh của một vật ở xa vô cực hội tụ đúng trên võng mạc (hoàng điểm) Nhưng trên thực tế mắt vẫn nhìn rõ những vật ở rất gần, như vậy phải có một cơ chế điều chỉnh cho phép thay đổi lực hội tụ của hệ quang học và cơ chế đó chính

là sự điều tiết của mắt [29]

Điều tiết là cơ chế mà mắt thay đổi công suất khúc xạ bằng cách thay đổi hình dạng của thể thủy tinh Trong khi điều tiết, tiêu điểm di chuyển về phía trước của mắt Do đó, viễn điểm lại gẩn mắt hơn Lực điều tiết của mắt

Trang 14

bắt đầu xuất hiện khi cơ thể mi co và các sợi dây zinn chùng lại dưới tác dụng của hệ thần kinh đối giao cảm Con người có phản xạ điều tiết vào khoảng 30 – 36 tháng tuổi Lực điều tiết nhanh chóng trở lên rất mạnh Để đáp ứng điều tiết là do tăng độ cong (chủ yếu mặt trước) của thủy tinh, tức là công suất thủy tinh thay đổi Công suất này thể hiện biên độ điều tiết, biên độ điều tiết tức là khoảng cách giữa viễn điểm của mắt và điểm gần nhất mà mắt vẫn nhìn thấy được vật tiêu Biên độ điều tiết khác nhau ở hai mắt, nó được đo ở từng mắt riêng rẽ Biên độ điều tiết hai mắt thường lớn hơn một mắt Biên độ điều tiết rất lớn từ 12 D – 14 D ở trẻ 12 – 14 tuổi Khi tuổi tăng, lực điều tiết và biên

độ điều tiết giảm dần dẫn đến cận điểm ngày càng xa mắt Đến tuổi 40 cận điểm cách mắt 22,2cm, lúc đó đọc sách bắt đầu có hiện tượng mỏi mắt, đó là dấu hiệu giới hạn của tuổi bắt đầu lão thị [29]

Như vậy, trên thực tế khi nhìn gần phải huy động lực điều tiết, mà lực điều tiết ở trẻ em tuổi học sinh lại rất mạnh, nếu sử dụng mắt nhìn gần thường xuyên sẽ tạo thành thói quen điều tiết Khi đó sử dụng thị lực xa sẽ không rõ, lâu dần trở thành bệnh cận thị

1.3 Đại cương về bệnh sinh của tật cận thị

Cận thị là một tật khúc xạ, gây nên bởi hệ quang học có lực hội tụ hoặc quá mạnh, do sự mất cân xứng giữa công suất hội tụ của hệ thống quang học với độ dài trục trước sau của nhãn cầu, làm cho các tia sáng song song từ vật đến nhãn cầu quy tụ quá sớm, do đó ảnh của vật tiêu hội tụ ở phía trước võng mạc, tạo ra ở hoàng điểm một vòng khuyếch tán làm cho mắt nhìn vật tiêu bị

mờ và nhỏ hơn bình thường, vòng khuyếch tán càng to mắt nhìn vật tiêu càng

mờ [35]

Mắt cận thị lại càng phát triển điều tiết, càng điều tiết lại càng gia tăng

độ cận thị Bình thường lực điều tiết kèm theo một lực quy tụ tương ứng (được đo bằng đơn vị góc mét) Do đó điều tiết 1 D sẽ kèm theo quy tụ 1 góc

Trang 15

mét Vì thế ở những người cận thị nếu có khuynh hướng buông thả điều tiết

và đồng thời cả quy tụ (phản xạ điều tiết quy tụ) dẫn đến khả năng bị lác ẩn ngoài hoặc lác phân kỳ [27], [50]

Viễn điểm của mắt cận thị là một điểm thực ở cự ly trước mắt Khoảng cách của viễn điểm đến mắt là do độ cận thị, khoảng cách càng ngắn độ cận thị càng cao Độ cận thị được tính theo công thức [42]

P=

f

1 Trong đó: f là khoảng cách của viễn điểm tính bằng m

P là độ cận thị tính bằng điốp (ký hiệu là D)

Sự mất cân xứng giữa trục nhãn cầu và lực hội tụ của bán phần trước nhãn cầu có thể gây nên bởi:

Độ cong giác mạc

Độ cong và chỉ số khúc xạ thể thủy tinh

Chiều dài trục nhãn cầu

Độ cong giác mạc gia tăng trong dị tật giác mạc hình chóp, biến đổi giác mạc trong bệnh glocom bẩm sinh Sự gia tăng độ cong giác mạc dẫn đến

sự gia tăng công suất hội tụ của giác mạc Đây là loại cận thị trục, chiếm đa số người cận thị Nếu độ dài trước sau của trục nhãn cầu dài thêm 1mm thì sẽ gây cận thêm -3D Trong đó một số bệnh nội tiết như đái tháo đường, làm chỉ

số khúc xạ của lớp vỏ và nhân thể thủy tinh tăng lên dẫn đến cận thị [42], [57]

Sự gia tăng trục nhãn cầu là kết quả của sự mất cân xứng giữa áp lực nội nhãn với độ cứng và tính đàn hồi của củng mạc [50], [63]

Áp lực nội nhãn gia tăng có thể tăng tiết thủy dịch Sự tăng tiết thủy dịch có thể được quy cho là sự điều tiết quá mức và quá lâu trong điều kiện mắt làm việc gần, do mất cân bằng của thần kinh thực vật hoặc sự rối loạn

Trang 16

vận mạch Sự gia tăng áp lực nội nhãn còn có thể xảy ra do sự bất thường trong cấu trúc và sự hình thành của góc tiền phòng hoặc sự cản trở do lưu thông thủy dịch qua đồng tử [53], [60]

Những biến đổi về độ cứng và tính đàn hồi của củng mạc, đặc biệt là củng mạc của vùng cực sau nhãn cầu, cũng là nguyên nhân gây gia tăng trục trước sau của nhãn cầu góp phần vào sự tiến triển của cận thị [47], [59]

Sự suy giảm độ cứng của củng mạc, đặc biệt củng mạc ở vùng cực sau,

mà nguyên nhân suy tuyến giáp hoặc do rối loạn của chế tiết các hormone vỏ, dẫn đến rối loạn chuyển hóa collagen làm thoái hóa củng mạc Bên cạnh đó

sự thiếu dinh dưỡng có liên quan đến gia tăng bệnh cận thị Đặc biệt là thiếu hụt các Vitamin A, Vitamin E và một số vi chất khác cũng góp phần làm giảm

độ rắn của củng mạc [66]

Tiển triển của cận thị có thể dẫn đến những biến đổi của bệnh lý của hắc võng mạc như: thoái hóa hắc võng mạc, bong võng mạc cũng như những thoái hóa của dịch kính [42]

- Cận thị bệnh lý (còn gọi là cận thị ác tính, cận thị tiến triển hoặc cận thị thoái hóa)

Trang 17

+ Cận thị bệnh lý do trục nhãn cầu phát triển quá mức ngoài giới hạn bình thường trong khi đó các thành phần khác của nhãn cầu phát triển bình thường [42]

+ Cận thị bệnh lý do độ cong: do biến dạng ở giác mạc và thể thủy tinh

1.5 Kính đeo mắt

1.5.1 Lịch sử kính đeo mắt

Chiếc kính đeo mắt đầu tiên xuất hiện vào khoảng cuối thế kỉ 13 ở Trung Quốc và Châu Âu, đến giữa thế kỉ 14 thì được dùng rộng rãi Đó là loại kính có thấu kính lồi cho người già Đến đầu thế kỉ 16, thấu kính dùng cho người cận thị đeo mới ra đời

Thời kì đầu, kính đeo mắt là loại kính đơn, khi mang kính phải cầm trên tay Sau đó là đeo kính phải đặt ở trên mũi, khiến người dung khó chịu Sau này, phát minh ra gọng kính, người ta dùng dây da buộc kính lên đầu Năm 1748, Fulakelin (Mỹ) mới phát minh ra kính đeo hai mắt giống như hiện nay

1.5.2 Những sai lầm thường mắc khi sử dụng kính

+ Không đeo kính dù có tật khúc xạ: những người này khi đeo kính là cảm thấy ngại ngùng, xấu hổ khi phải mang kính, nhưng cũng có khi cho rằng mang kính làm cho bệnh nặng thêm Hậu quả là bệnh nhân luôn phải nheo mắt khi nhìn, dẫn đến mỏi mắt, co quắp mi, mất độ phối hợp của thị giác hai mắt, lác hai mắt Trường hợp biến chứng nặng, bệnh nhân có thể bị đục dịch kính, thoái hóa hoặc bong võng mạc

+ Đeo kính mặc dù không có bệnh: nguyên nhân thường là do bệnh nhân nghĩ là mình có tật khúc xạ nên tự mua kính để đeo Một số trường hợp

do bệnh nhân khám mắt và được chẩn đoán là có tật khúc xạ ở những cơ sở không có chuyên môn Có trường hợp bệnh nhân mang kính cận thị -5D, nhưng khi bệnh nhân được nhỏ thuốc liệt điều tiết và đo mắt đúng quy trình

Trang 18

thì phát hiện bệnh nhân không có cận Những trường hợp đó có thể được coi

- Bệnh nhân không thường xuyên đi khám kiểm tra lại nên độ khúc xạ

đó thay đổi mà kính vẫn giữ nguyên

+ Kính lắp không đúng quy cách: mắt kính đúng công suất được lắp đúng kỹ thuật mới đảm bảo hiệu quả và không gây hại cho mắt Gọng kính phải phù hợp với khuôn mặt, khoảng cách tâm 2 mắt kính đúng với khoảng cách đồng tử hai mắt, khoảng cách từ mắt đến kính là 12mm, độ nghiêng của kính là 12 độ Kính lắp không đúng kỹ thuật có thể làm bệnh nhâ thấy biến dạng, méo mó, mắt hoa, đau đầu Theo một nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân lắp kính đúng rất thấp, Hà Nội từ 60-70%, Hải Phòng 50%, thành phố Hồ Chí Minh là 51%

1.6 Tình hình cận thị trên thế giới và ở Việt Nam

1.6.1 Các nghiên cứu về cận thị trên thế giới

Những nghiên cứu đầu tiên về bệnh cận thi trong học sinh trên thế giới mới chỉ bắt đầu từ những thập kỷ 70 của thế kỷ 19 Trước đó cận thị được coi như là một bệnh di truyền mà người ta hoàn toàn bất lực, nhất là thể tiến triển

và ác tính [13]

Kết quả đầu tiên của các công trình nghiên cứu của F.Erismen năm

1870 ở Nga và của Hermann Cohan ở Đức vào năm 1876 đã làm cho các nhà nhãn khoa, các nhà vệ sinh học đường, các nhà giáo dục bắt đầu thấy tầm

Trang 19

quan trọng của cận thị học đường, là một tật khúc xạ xuất hiện và tiến triển trong thời gian đi học [13]

Tật khúc xạ nói chung và cận thị nói riêng liên quan tới thành tích học tập, vấn đề vệ sinh học tập, sinh hoạt, vui chơi của trẻ em Qua các thống kê được thông báo chúng ta thấy tỷ lệ cận thị và sự phân bố cận thị trong cộng đồng nói chung và trong học sinh nói riêng tùy thuộc vào nghiên cứu của từng tác giả ở các vùng khác nhau, ở các đối tượng lứa tuổi khác nhau cũng cho các kết quả khác nhau

Theo nghiên cứu của Cohan (1876) ở các thành phố Đức tỷ lệ cận thị trong học sinh từ cấp 1 đến cấp 3 là 6,7% - 26,2% [12]

Theo F Erisman (1970) nghiên cứu của ông trong học sinh các trường học Saint Peterbourg tỷ lệ cận thị đối tượng này là 30,2% [13]

Theo Maija I.Mantyarvi, MD nghiên cứu năm 1983 tỷ lệ cận thị ở học sinh Phần Lan là 23,4% [26]

Sau các nghiên cứu trên thì có nhiều thống kê của các tác giả khác cho thấy rằng học sinh ở các lớp học cuối cấp tỷ lệ cận thị là 20 – 40% [12]

Turacli – M.E và cộng sự trong điều tra năm 1995 trên 23.810 học sinh

ở 39 trường mẫu giáo và tiểu học ở các vùng khác nhau thuộc Ankara Trong

đó có 10 trường tư thục, 11 truờng trung bình, 7 trường tốt và 11 trường ở nông thôn, kết quả cho thấy tỷ lệ cận thị ở lứa tuổi này là 3,53% [67]

Morgan – KS, Kenemer-J.C nghiên cứu tại Mỹ năm 1997 Khám 14.075 em ở lứa tuổi nhà trẻ và học sinh lớp 1 đến lớp 4 của 70 trường thuộc Tây Nam nước Mỹ Kết quả cho thấy tỷ lệ cận thị trong trẻ em ở lứa tuổi này

là 4,5% [61]

Kali Kivayi va cộng sự điều tra năm 1997 với 1029 đối tượng từ 3 đến

18 tuổi thuộc 9 trường ở miền Nam Ấn Độ thấy tỷ lệ cận thi là 6,8% [58]

Trang 20

Trong cộng đồng dân cư sống ở các quốc gia tại quần đảo Solomon tỷ

lệ cận thị chỉ xấp xỉ 1% [60] Trong khi đó tỷ lệ cận thị ở các nước khu vực châu Á lại khá cao [63] Tỷ lệ cận thị thường cao ở các quốc gia: Trung Quốc, Nhật Bản nhưng cao hơn cả là Đài Loan và Singapore [56] Cận thị trở thành một vấn đề sức khỏe quan trọng trong cộng đồng học sinh ở Đài Loan Tỷ lệ cận thị trong học sinh lứa tuổi 18 là 80% [52]

Nghiên cứu ở lứa tuổi từ 5-12 tuổi (phương pháp đo khúc xạ bằng liêt điền kế) tại Bangkok – Thái Lan thấy tỷ lệ khúc xạ bình thường 25,8%, viễn thị 61,3%, cận thị 12,5%, tỷ lệ đeo kính 9,43% [25]

Tại Lào, điều tra trên 5.452 học sinh từ 6-12 tuổi, có 54 học sinh (1%)

có thị lực thấp hơn 6/10 Với máy đo khúc xạ tự động kế, kết quả thu được là 2,4% bị viễn thi và 97,6% bị cận thị (trong số giảm thị lực) [25]

Tại Campuchia điều tra trên 4.402 học sinh từ tiểu học đến trung học của tỉnh Battambong cho thấy ty lệ bị tật khúc xạ ở đôi tượng này là 1%, trong số đó cận thị chiếm 70% [25]

Tại Mông Cổ, theo điều tra năm 1980- 1982, tỷ lệ bị tật khúc xạ gây giảm thị lực ở học sinh phổ thông chiếm 20,2% [25]

Tại tỉnh Quảng tây – Trung Quốc, theo điều tra năm 1997, ty lệ tật khúc

xạ khoảng 9% dân số, trong đó cận thị chiếm 40% [12]

Theo một sô nghiên cứu người ta thấy sự khác biệt về tỷ lệ cận thị giữa các dân tộc Một nghiên cứu so sánh tật khúc xạ ở miền Tây Malaysia cho thấy: tỷ lệ cận thị thay đổi trong ba cộng đồng dân tộc sinh sống tại đây (người gốc Malaysia, gốc Trung Quốc và gốc Ấn Độ) Kết quả cho thấy tỷ lệ cận thị cao nhất trong cộng đồng trung Quốc, thấp nhất ở cộng đồng Ấn Độ [50] Những học sinh có nguồn gốc Trung Quốc và Nhật Bản thường hay bị cận thị và tỷ lệ cận thị trong cộng đồng học sinh này thường cao [54] Tỷ lệ

Trang 21

cận thị cũng khác nhau giữa các dân tộc trong cùng một quốc gia, giữa thổ dân và người đồng bằng sống cùng một nơi, trong cùng một lứa tuổi [42]

1.6.2 Cận thị ở Việt Nam

Ở nước ta mặc dù đất nước còn gặp nhiều khó khăn song công tác bảo

vệ và chăm sóc cho thế hệ trẻ nói chung và đặc biệt là học sinh nói riêng góp phần đáng kể trong việc đào tạo, xây dựng một lớp người vừa có sức khỏe, vừa có kiến thức, đây là nguồn tài nguyên của đất nuớc luôn được Đảng, Nhà nước cũng như các ban ngành đã sớm quan tâm Những năm 1960, công tác y

tế trường học nhận được sự chỉ đạo của Bộ y tế, Bộ giáo dục – Đào tạo và cũng từ đây có nhiều công trình nghiên cứu về sức khỏe học sinh, các tiêu chuẩn về vệ sinh học đường, về cận thị đã được bắt đầu ở nước ta

Năm 1963 – 1964 trong điều tra của Ngô Như Hòa – Viện mắt Trung Ương, nghiên cứu 10.823 học sinh Hà Nội thì tỷ lệ cận thị trong đối tượng này là 4,2% [13], [24]

Năm 1975 trong kết quả điều tra của Đoàn Cao Minh thì tỷ lệ cận ở học sinh Hà Nội cũng có kết quả tương tự như điều tra của Ngô Như Hòa năm

1964 là 4,2% [12], [24]

Năm 1978 theo điều tra của Trần Văn Dần tỷ lê cận thị tỷ lệ cận thị học sinh ở Hà Nội là 1,9% [6] Năm 1980 theo Hà Huy Tiến – Viện mắt Trung ương nghiên cứu tình hình phát triển thị lực và tật khúc xạ ở 3.929 học sinh phổ thông nông thôn và thành thị cho thấy học sinh mắc bệnh cận thị là 5% [39]

Năm 1980 theo kết quả điều tra của Trần Văn Dần và Phạm Năng Cường thì học sinh trung học ở Hà Nội tỷ lệ cận thị từ 7-8% [5]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhung ở học sinh khối 12 của trường Amsterdam kết quả tỷ lệ học sinh mắc bệnh cận thị 28,57%

Trang 22

Trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Liên tại Nam Định năm học 1997 –

1998 ở học sinh từ bậc tiểu học đến bậc phổ thông trung học tỷ lệ cận thị chung trong học sinh ở đây là 13,6% [20]

Theo tác giả Nguyễn Thị Hiền, tình hình cận thị học đường của học sinh Hà Nội trong năm học 1998 – 1999, điều tra 6.791 học sinh ở cả 3 bậc học thấy tỷ lệ mắc bệnh cận thị trong học sinh là 23,3% [11]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Trí tỷ lệ măc bệnh cận thị của học sinh phổ thông tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh năm 2000 là: trong trung học cơ sở là 4,9%, trong trung học phổ thông là 5,6% [41]

Theo kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Ngọc – Viện vệ sinh lao động năm 2002 tỷ lệ bệnh cận thị của học sinh tiểu học ở nội thành Hà Nội là 16,88%, ngoai tỉnh là 1,13%, tỷ lệ mắc chung là 9,0% [25]

Năm 2002 – 2003 kết quả nghiên cứu của Lê Minh Thông và cộng sự

tỷ lệ mắc bệnh tật khúc xạ ở trẻ em từ 5-15 tuổi tại 16 trường ở Quận Bình Thạnh TPHCM tỷ lệ mắc bệnh cận thị trong học sinh là 27,1% [37]

Năm 2002 – 2003 kết quả nghiên cứu của Nguyễn Kim Bắc và cộng sự

tỷ lệ măc bệnh tật cận thị của học sinh ở một số huyện và thành phố Hải Dương, tỷ lệ chung là 10,9% [3]

Năm 2004 kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hằng và Trần Mạnh Đô cho thấy tỷ lệ cận thị của học sinh chung là 23,4 %, nội thành là 43,7%, ngoại thành là 13,3% Tỷ lệ mắc cận thị học đường cao nhất là khối lớp trung học cơ sở

Trang 23

cho kết quả là: tỷ lệ học sinh mắc bệnh tật cận thị là 13,25%, tỷ lệ học sinh mắc bệnh tật cận thị tăng dần theo cấp học: tiểu học là 14,68%, trung học cơ

sở là 37,7%, trung học phổ thông là 47,62% [19]

Theo Ngô Như Hòa năm 1964 tỷ lệ cận thị ở học sinh các cấp như sau: Cấp I: 2,1%, Cấp II: 4,2%, Cấp III: 9,6% Tỷ lệ cận thị nặng thường gặp nhiều hơn ở các cấp học cao hơn Các trường hợp cận thị trên – 3D hầu như không có ở cấp I, bắt đầu xuất hiện ở cấp II và cấp III Cận thị trên 3D ở thành phố cao hơn ở nông thôn ở mọi cấp học [13], [15]

Theo Đoàn Cao Minh năm 1975 tỷ lệ cận thị của học sinh ở các cấp học như sau: Cấp I: 0,49 %, Cấp II: 1,61 %, Cấp III: 8,12% [24]

Năm 1978 theo điều tra của Trần Văn Dần, tỷ lệ cận thị ở học sinh tại

Hà Nội ở các cấp như sau: Cấp I: 2,2%, Cấp II: 3,9%, Cấp III: 8,7% [6]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Liên năm 1998 tỷ cận thị của học sinh ở các cấp học như sau: Cấp I: 10 %, Cấp II: 16,2 %, Cấp III: 15,4% [20]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Hữu Trí tỷ lệ mắc bệnh cận thị của học sinh phổ thông tại huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh năm 2000 là: THCS 4,9%, trong THPT 5,6% [41]

Năm 2002 – 2003 theo kết quả nghiên cứu của Lê Minh Thông và cộng

sự, tỷ lệ mắc tật cận thị ở trẻ em từ 5-15 tuổi tại 16 trường ở quận Bình Thạnh

TP Hồ Chí Minh ở các bậc học như sau: Cấp I: 16,6 %, Cấp II: 29,8 %, Cấp III: 35,1 % [37]

Theo tác giả Nguyễn Thị Hiền, tình hình cận thị học đường của học sinh Hà Nội trong năm học 1998-1999, điều tra 6.791 học sinh ở cả ba cấp học thấy tỷ lệ cận thị trong học sinh như sau: bậc tiểu học: 9,5%, bậc THCS: 36,5%, bậc THPT: 23,65% [11]

Năm 2002-2003 theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Kim Bắc và cộng

sự tỷ lệ mắc bệnh cận thị của học sinh của một số huyện và thành phố Hải

Trang 24

Dương Bậc tiểu học: 5,6%, bậc THCS: 10,6%, bậc THPT: 19,7%, tỷ lệ chung là 10,9% Trong đó tại thành phố Hải Dương tỷ lệ mắc tật cận thị theo cấp học là: bậc tiểu học 15,3%, bậc THCS: 28,5%, bậc THPT: 29,7% [3]

Tại Hải Phòng, năm 2012, phát hiện hơn 70% số học sinh bị bệnh khúc

xạ học đường (cận thị) Đây là chương trình do Bệnh viện Mắt thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Mắt Trung ương, nhãn hàng New V.Rohto thuộc Công

ty Rohto-Mentholatum (Việt Nam) phối hợp tổ chức, được triển khai tại 30 trường học của 5 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ,

Đà Nẵng Bác sĩ Đỗ Lê Hà, Phó bí thư Đoàn Thanh niên Bệnh viện Mắt Trung ương, thành viên tham gia đoàn khám mắt miễn phí cho học sinh, cho biết: Trong số hơn 6 nghìn học sinh được khám mắt đợt này, hơn 4200 em bị các tật khúc xạ học đường, trong đó chủ yếu là bệnh cận thị Ở Trường THPT chuyên Trần Phú, tỷ lệ học sinh bị cận thị chiếm hơn 90% (cứ 30 em khám có

Không thật sự khác biệt giữa nam và nữ ở những người 20 tuổi trở lên

và cận thị nhẹ hoặc trung bình Cận thị nặng ở nữ có tỷ lệ cao hơn gấp 2,5 lần

ở nam [16] Theo kết quả nghiên cứu của Lê Minh Thông và cộng sự năm

2002 – 2003, cho thấy tỷ lệ mắc tật cận thị được phân theo giới tính từ 5-15 tuổi tại 16 trường ở Quận Bình Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh là: nam 16,93%, nữ 21,88% [37]

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Kim Bắc [3] tỷ lệ mắc tật cận thị của học sinh ở một số huyện và thành phố Hải Dương: tỷ lệ tật cận thị của học sinh nữ là 14,7% và nam là 7,7 % Nghiên cứu của Nguyễn Văn Khoa năm

Trang 25

2003 “Nghiên cứu tình trạng giảm thị lực do tật cận thị ở học sinh các trường phổ thông tại Thái Bình” tỷ lệ học sinh mắc tật cận thị được phân theo giới:

nam 43,5%, nữ 56,5% [19]

Tỷ lệ cận thị theo vùng

Tỷ lệ cận thị thay đổi theo đặc điểm dân cư thành phố, nông thôn và miền núi [39] Theo nghiên cứu của Ngô Như Hòa, số học sinh bị cận thị ở các trường thành phố cao hơn hẳn so với các trường ở nông thôn Tỷ lệ cận thị ở học sinh Hà Nội là 5,15% trong khi đó cận thị ở học sinh của các vùng nông thôn chỉ có 1% [14]

Năm 2002-2003 kết quả nghiên cứu của Lê Minh Thông và cộng sự, tỷ

lệ mắc tật cận thị ở trẻ em từ 5-15 tuổi tại 16 trường ở Quận Bình Thạnh thành phố Hồ Chí Minh có sự khác biệt giữa nội và ngoại thành (nội thành: 37,84%, ngoại thành: 23,3%) [20]

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Kim Bắc và cộng sự năm

2002-2003 tỷ lệ mắc tật cận thị của một số huyện và thành phố Hải Dương: tỷ lệ mắc tật cận thị tại các trường nông thôn: bậc tiểu học 2,2%, bậc THCS 6,0% Trong khi đó tỷ lệ mắc tật cận thị tại các trường thành phố Hải Dương là: bậc tiểu học 15,3%, bậc THCS 28,8% [3]

Năm 2003 kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Khoa và cộng sự nghiên cứu tình trạng giảm thị lực do tật cận thị ở học sinh các trường phổ thông tại Thái Bình tỷ lệ học sinh mắc tật cận thị ở thành thị cao gấp 3,3 lần nông thôn [19]

1.7 Một số yếu tố nguy cơ dẫn đến bệnh cận thị trong học sinh

Người ta thấy rằng cận thị thường xuất hiện và tiến triển khi em bé đi

học Nhiều tác giả cho rằng vì trẻ đi học mới bị cận thị do đó từ Cận thị học đường xuất hiện từ đây

Trang 26

Nguyên nhân của cận thị thông thường là do sự sai lạc phát triển xảy ra

ở thời kỳ phôi thai và thời kỳ phát triển tích cực Những rối loạn dẫn đến những bất thường của các thành phần cấu tạo khúc xạ nhãn cầu như thay đổi

độ cong giác mạc, thay đổi độ sâu tiền phòng, thay đổi chỉ số khúc xạ của thể thủy tinh và trục trước sau của nhãn cầu hình thành yếu tố cơ sở của cận thị trục Sự dài ra của trục nhãn cầu là kết quả của các nguyên nhân như tình trạng di truyền, mâu thuẫn giữa sự gắng sức của mắt và khả năng điều tiết, độ rắn chắc của củng mạc [42], [48]

Những biến đổi trong cấu trúc của Collagen trong thành phần cấu tạo củng mạc là nguyên nhân làm thay đổi độ rắn chắc của củng mạc Những biến đổi này là kết quả của bệnh toàn thân, nội tiết và tình trạng dinh dưỡng [59]

Những biến đổi làm gia tăng độ cong của giác mạc và độ cong của các

bề mặt thủy tinh thể, thường là nguyên nhân từ các bệnh bẩm sinh

Những nguyên nhân khác như: Sự gia tăng áp lực nội nhãn cũng gây biến đổi về độ cong của trục nhãn cầu [65] Di truyền đóng một vai trò khá rõ nét trong cận thị bẩm sinh và cận thị nặng, ở cận thị đơn thuần vai trò của di truyền không rõ ràng Theo quan điểm lý thuyết trước đây thì các vấn đề về thị giác như cận thị, viễn thị, loạn thị là kết quả của nhãn cầu biến dạng di truyền Người ta cho rằng yếu tố di truyền có vai trò rất lớn ảnh hưởng đến cận thị trên một cá thể Một số nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ cận thị ở trẻ em

có bố, mẹ cận thị cao gấp ba lần tỷ lệ cận thị ở trẻ có bố, mẹ không bị cận thị Trong khi tỷ lệ cận thị ở trẻ 7 tuổi có bố mẹ không bị cận thị là 7,5% thì ở trẻ cùng lứa tuổi có bố mẹ bị cận thị là 26,2% và đặc biệt tỷ lệ cận thị là 100% ở trẻ cùng tuổi có cả mẹ và bố cận thị Người ta đã giải thích kết quả này là do gen di truyền [42], [60]

Mâu thuẫn trong sự gắng sức của mắt khi làm việc nhìn gần: thị giác gần, chính xác thì khả năng điều tiết của mắt nhiều hơn, dẫn đến một tình

Trang 27

trạng điều tiết quá mức cũng là một nguyên nhân gây cận thị Kết quả của sự điều tiết quá mức là tăng thủy dịch, gia tăng áp lực nội nhãn dẫn đến sự gia tăng trục trước sau của nhãn cầu Thống kê cho thấy có một tỷ lệ tăng nhanh

và đều đặn ở học sinh trong những năm đi học tại các bậc học và trong những điều kiện sinh hoạt mà mắt được sử dụng nhìn gần nhiều hoặc thị giác gần chính xác Tỷ lệ và mức độ cận thị sẽ tăng lên ở những học sinh có thói quen thị giác xấu [48] Trong những năm gần đây đã có những ý kiến trái ngược với quan điểm trước kia cho rằng yếu tố di truyền không phải là yếu tố chủ yếu mà hầu hết các trường hợp trục trặc thị giác thường gặp là do yếu tố môi trường [65]

Đã có những nghiên cứu kết luận rằng sự đọc sách trong một thời kỳ dài khi đi học đã gây ra cận thị Bởi vì, trong thời gian đi học các em phải dành nhiều thời gian cho công việc học tập, mà chủ yếu là hoạt động thị lực kéo dài hàng giờ liền và cứ trường diễn trong nhiều năm học dẫn đến mắt bị cận thị [65]

Người sử dụng máy vi tính có ảnh hưởng rất lớn đến thị lực Theo một nghiên cứu của James E.Sheedy, qua điều tra 1.307 đối tượng trên khắp nước

Mỹ đã phát hiện được 14% bệnh nhân có các triệu chứng như mắt nhức mỏi, căng thẳng đầu óc, thị lực mờ là do ngồi trước màn hình máy vi tính, ti vi mà nguyên nhân chính của các triệu chứng thị lực liên quan đến màn hình máy vi tính là độ lóa của màn hình và ánh sáng không thích hợp Người ta cũng đã phát hiện ra rằng từ khi việc sử dụng máy vi tính rộng rãi, hàng triệu người lớn trên 30 tuổi với thị giác khỏe mạnh bình thường cũng bắt đầu phát triển cận thị, mà đây là độ tuổi hệ thống quang học của mắt đã ngừng phát triển Điều này chỉ có thể lý giải là do những người này đã sử dụng thị lực gần kéo dài hàng giờ tiếp diễn [67]

Trang 28

Theo những thống kê ở Mỹ năm 1950 cho thấy tỷ lệ cận thị toàn nước

Mỹ là khoảng 15% trong tổng dân số Tỷ lệ này vẫn giữ trong thời gian dài, nhưng từ những năm 1920 đến năm 1980 tỷ lệ này tăng vọt lên tới 40% Người ta đã lý giải cho sự tăng vọt này là sự xuất hiện của ti vi vào năm 1955, làm cho nhiều người dành nhiều thời gian để xem ti vi, tức là họ đã sử dụng thị lực gần kéo dài và trường diễn [67]

Từ những dẫn giải trên chúng ta thấy rằng tỷ lệ cận thị ở trẻ có bố mẹ

bị cận thị cao hơn ở trẻ không có bố mẹ bị cận thị là có cơ sở Trong một gia đình các thành viên này thường chịu ảnh hưởng của các thành viên khác, những gia đình có bố mẹ bị cận thị thì họ thường có thói quen làm việc thị lực gần như đọc sách, xem ti vi, sử dụng vi tính… Những thói quen này được trẻ tiếp xúc từ tấm bé dần tạo nên thói quen giống bố mẹ, tức là thói quen làm việc thị giác gần vì vậy mà nguy cơ cận thị sẽ cao hơn

Những kết quả đầu tiên của các công trình nghiên cứu của F.Eismen năm 1870 ở Nga và giáo sư Y học nhãn khoa Buslaner, giáo sư Hormann Coha của Đức năm 1876 đã nghiên cứu sự tăng nhanh bệnh cận thị trong học đường liên quan đến vật chiếu sáng, cường độ chiếu sáng, trang thiết bị đồ dung học tập, giảng dạy Tỷ lệ cận thị ở học sinh trong lớp học thiếu ánh sáng (15%) cao gấp 2,5 lần so với học sinh có đủ ánh sáng (6,0%) Trong một nghiên cứu của Dchevski cho thấy tỷ lệ cận thị (24,1%) tương ứng với lớp học thiếu ánh sáng, với lớp học đủ ánh sáng tỷ lệ cận thị (6,7%) và nếu ngồi học trong lớp thiếu ánh sáng ba năm liền thì tỷ lệ cận thị tăng lên Vì thế từ đây có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà nhãn khoa và vệ sinh học đường về vấn đề xây dựng trường học, vật chiếu sáng và trang thiết bị đồ dùng học tập, giảng dạy từ kiểu bàn Eismen, bàn Unicef…

Theo một số tác giả sự thiếu ánh sáng trong các lớp học là nhân tố bệnh căn quan trọng nhất của cận thị học đường Họ khuyến cáo để đề phòng cận

Trang 29

thị trong học sinh nhiệm vụ chính là phải thay thế các phòng học cũ bằng các phòng học hiện đại, có các cửa sổ cao và rộng để đảm bảo độ chiếu sáng tự nhiên Phải có các hệ thống đèn để chiếu sáng nhân tạo đáp ứng đủ độ chiếu sáng cho học sinh [2]

Những công trình nghiên cứu lớn về sự chịu đựng của trẻ em Trong những nghiên cứu về sự mệt mỏi của trẻ em thì nghiên cứu được các nước Châu Âu quan tâm là của Edith Ocrel năm 1973 về gánh nặng của trẻ em trong học tập, sự hoạt động trí não trong các giờ học được đánh giá qua hệ thống thần kinh giao cảm Để không còn có hàng triệu trẻ em vì lý do sức khỏe mà không được đến trường mà phải bỏ học, như suy dinh dưỡng, cận thị, cong vẹo cột sống, bướu cổ, lao, nhiễm giun sán và các bệnh truyền nhiễm khác thì các vấn đề đô thị hóa, thay đổi khí hậu tình trạng thiếu nước sạch và ô nhiễm môi trường đe dọa sức khỏe và học tập của học sinh cần được cải thiện [3]

Nhằm nâng cao sức khỏe cho thanh thiếu niên thông qua trường học đã

và đang là phương pháp quan trọng, lâu dài của Tổ chức Y tế thế giới Năm

1986 Tổ chức Y tế Thế giới đã đưa ra Hiến chương OttaWa về việc nâng cao sức khỏe Tháng 11 năm 1991 WHO, UNICEFF và UNESSCO cùng triệu tập

ủy ban chuyên gia, nhằm đạt tới sự hiểu biết chung về giáo dục sức khỏe trường học và đề ra hành động để động viên tăng cường số lượng các trường

mà thực sự có thể gọi là “Các trường nâng cao sức khỏe” tạo một môi trường tăng cường sức khỏe cho cuộc sống, học tập và làm việc của học sinh

Một số tác giả của Việt Nam như: Ngô Như Hòa, Đoàn Cao Minh, Trần Văn Dần trong các nghiên cứu của mình cũng có chung nhận xét trên Ngoài yếu tố ánh sáng trong lớp học, còn một số yếu tố khác trong lớp học như: bàn ghế có kích thước không phù hợp với tầm vóc học sinh, sự căng thẳng điều

Trang 30

tiết khi đọc, khi viết và tư thế của đầu nghiêng ra trước cúi thấp là những yếu

tố bệnh căn quan trọng của cận thị học đường [13], [24], [5]

Sau nhiều năm nghiên cứu về vệ sinh học đường các chuyên gia vệ sinh học đường Việt Nam đã xây dựng các chỉ số tiêu chuẩn về vệ sinh trường học phù hợp với điều kiện của nước ta Quyết định mới nhất 1221/QĐ-BYT về vệ sinh trường học được Bộ ban hành ngày 18/4/2000 quy định về vệ sinh trường học bao gồm vệ sinh môi trường học tập, các phương tiện phục vụ học tập và một số quy định khác nhằm [1]:

- Xây dựng cho học sinh ngay từ khi học ở những lớp đầu cấp đã có nếp sống vệ sinh cá nhân, vệ sinh trong học tập, vệ sinh môi trường học tập và những nơi các em đang sống sinh hoạt cộng đồng

- Cung cấp cho các em học sinh những hiểu biết về công tác bảo vệ môi trường nói chung và môi trường trường học nói riêng, từ đó giúp cho các em

tự nâng cao sức khỏe phòng chống các bệnh do yếu tố vệ sinh học đường gây

đã nghiên cứu tại 16 trường học kết quả cho thấy:

1.8.1 Quan niệm của học sinh và phụ huynh về sử dụng kính

Có 6% phụ huynh học sinh trả lời sẽ không cho học sinh đeo kính nếu

có chỉ định của bác sĩ với lý do lựa chọn nhiều nhất là bất tiện chiếm 41,9%.Tỷ lệ học sinh cảm thấy không thích nếu phải đeo kính khá cao ở cả hai câp tiểu học và trung học cơ sở chiếm trên 80% Với nguyên nhân chủ yếu

mà khối trung học cơ sở đưa ra là bất tiện chiếm 46,5% và khối tiểu học là do đeo kính xấu, gây mất thẩm mỹ, biến dạng mắt chiếm gần 32%

Trang 31

Ba yếu tố quan trọng nhất để quyết định mua kính, cả phụ huynh học sinh và học sinh đều nhấn mạnh 3 tiêu chí: kính phù hợp với tình trạng mắt 79%, theo lời bác sĩ tư vấn 68,3% và chất lượng tốt 64% Tuy nhiên, kết quả phân tích cho thấy có tới 57% học sinh được nhận kính phát miễn phí của chương trình không đeo vì lý do “không thích kiểu dáng” và :không thích màu của gọng kính”, đó là tiêu chỉ chủ yếu liên quan đến tính thẩm mỹ Học sinh nội thành đặc biệt quan tâm đến yếu tố này hơn so với học sinh ngoại thành

1.8.2 Rào cản tiếp cận dịch vụ và sử dụng kính

Mặc dù có dấu hiệu thường xuyên nhức đầu/nhức mắt/mỏi mắt/mờ mắt sau các hoạt động học tập, chơi game, đọc truyện nhưng có gần 30% học sinh

sẽ không thông báo những dấu hiệu này với cha mẹ Nguyên nhân chủ yếu học sinh khối trung học cơ sở đưa ra là vì các em cho đây là vấn đề bình thường (51,5%), học sinh khối tiểu học không dám nói với cha mẹ do sợ đeo kính (31,3%) Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là cứ 05 phụ huynh học sinh được thông báo, có 01 phụ huynh học sinh không làm gì cả (N=327) Lý do đưa ra gồm: (1) quá bận rộn 42,8%; (2) cho rằng đây là vấn đề bình thường 40%; (3) chi phí khám quá đắt 13,2%; và bệnh viện ở quá xa 6,7% Kết quả phỏng vấn định tính học sinh cũng cho thấy các em thường cố nhìn “mờ” cho đến khi không nhìn nổi thì mới nói cho cha mẹ, sau đó là giáo viên chủ nhiệm Nhưng con số này cho thấy các chương trình chăm sóc mắt cần thúc đẩy chương trình truyền thông hơn nữa để tăng cường kiến thức đúng cho học sinh và sự tự tin cho các em để chia sẻ vấn đề với cha mẹ và giáo viên

1.8.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới quyết định sử dụng dịch vụ

Có tới 59,5% phụ huynh học sinh lựa chọn bệnh viên là nơi đưa con đi khám, 67,6% phụ huynh học sinh lựa chọn các cửa hàng bán kính của bệnh viện để mua kính Tuy nhiên, kết quả phóng vấn định tính cho thấy phần lớn

Trang 32

phụ huynh học sinh rất bối rối khi phải lựa chọn địa điểm khám cho con bởi không biết chất lượng dịch vụ Đi khám định kỳ và điểu chính mức độ phù hợp của kính là vấn đề cần đặt ra để truyền thông với phụ huynh học sinh Việt Nam Kết quả nghiên cứu này cho thấy 15% phụ huynh học sinh không cho con đi khám lại và chỉ có 23% cho đi khám lại trong vòng 6-12 tháng (lần khám gần nhất) Kết quả chỉ ra mức giá trung bình mà phụ huynh học sinh chấp nhận chi trả cho việc mua kính vào khoảng gần 450.000 VNĐ Mức giá thấp nhất là 200.000 VNĐ và cao nhất là 20.000.000 VNĐ (kính áp tròng) Không có sự khác biệt thống kê giữa tiểu học và trung học cơ sở, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, nội thành và ngoại thành

1.8.4 Thói quen sinh hoạt của học sinh có thể ảnh hưởng tới thị lực

Làm thế nào để phòng ngừa tật khúc xạ cho học sinh Việt Nam Đây là câu hỏi mà phụ huynh học sinh, giáo viên chủ nhiệm và cán bộ y tế trường đều cảm thấy lúng túng khi trả lời Phần lớn các ý kiến nhận xét của giáo viên

và cán bộ y tế trường cho thấy học sinh Việt Nam ngày nay thiếu thời gian cho mắt nghỉ ngơi Áp lực học tập chỉ góp một phần, internet và thiếu thời gian chơi ngoài trời là yếu tố tác động mạnh Tính trung bình, mỗi học sinh chỉ có 1,5 giờ mỗi ngày để chơi ngoài trời, bao gồm cả thời gian ở trường và

ở nhà

Ngoài ra, yếu tố ánh sáng trong lớp học và tại nhà cũng cần phải quan tâm Quan sát của nhóm nghiên cứu trong quá trình thu nhập số liệu cho thấy học sinh thường ngồi cúi sát mặt bàn, một số trường học thiếu ánh sáng, đặc biệt là trường nằm trong phố Đồng thòi số liệu nghiên cứu cho thấy tỷ lệ học sinh cảm thấy không thoải mái khi ngồi bàn học ở nhà tăng theo khối lớp Bàn học ở nhà của học sinh trung học cơ sở có thể không phù hợp với vóc dáng của trẻ và cha mẹ cần chú ý mua bàn mới hoặc điều chỉnh sao cho phù hợp với độ lớn của trẻ

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng

* Học sinh đang học từ lớp 6 – lớp 9 tại trường THCS Lê Hồng Phong trong năm học 2014 – 2015

* Phụ huynh của học sinh được chọn là đối tượng nghiên cứu

* Giáo viên chủ nhiệm của tất cả các lớp được chọn là đối tượng nghiên cứu

* Các cơ sở kính mắt đang hoạt động tại quận Ngô Quyền, Hải Phòng

2.1.2 Địa điểm

Trường THCS Lê Hồng Phong - Địa chỉ: Ngõ 4 đường Nguyễn Bình, Phường Đổng Quốc Bình, Quận Ngô Quyền, Hải Phòng Năm học 2014-2015 trường có tổng số 20 lớp

2.1.3 Thời gian

Nghiên cứu từ tháng 03/2015 đến tháng 09/2015

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

Z

d

q p

Trong đó:

- p: Tỷ lệ tật khúc xạ trong học sinh trung học cơ sở tại các trường được nghiên cứu, theo một nghiên cứu trước, p = 0,36 [37]

Trang 34

- q = 1 – p

- d: sai số tuyệt đối, d= 0,05

- Với ý nghĩa thống kê 95%, Z1 -  /2=1,96

- n: cỡ mẫu nghiên cứu, n = 354

* Cỡ mẫu cho mục tiêu 2: “Mô tả kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh về tật khúc xạ”

+ Đối tượng học sinh: toàn bộ học sinh được chọn cho khám sàng lọc

đồng thời phỏng vấn kiến thức và thực hành về tật khúc xạ Bao gồm 354 học sinh

+ Cha/ mẹ học sinh: lựa chọn phỏng vấn cha mẹ học sinh thuộc đối tượng nghiên cứu Mỗi lớp chọn 06 phụ huynh, chọn ngẫu nhiên 02 phụ huynh đại diện cho mỗi nhóm học sinh có thị lực bình thường, thị lực giảm và cận thị tại mỗi lớp được chọn Số đối tượng cha mẹ học sinh là 06 phụ huynh/ lớp x 08 lớp = 48 người

+ Giáo viên: lựa chọn phỏng vấn giáo viên chủ nhiệm của tất cả các lớp tại trường THCS Lê Hồng Phong, 01 giáo viên/ lớp x 20 lớp = 20 người

+ Người phụ trách cơ sở bán kính trên địa bàn quận Ngô Quyền: toàn

bộ 18 chủ cơ sở tại địa bàn quận

2.2.3 Chọn mẫu

Chọn mẫu nhiều giai đoạn:

- Chọn lớp: lựa chọn học sinh phân bố đồng đều cho mỗi khối lớp, mỗi khối chọn ngẫu nhiên đơn 2 lớp

- Chọn học sinh: Toàn bộ học sinh ở các lớp được chọn tham gia nghiên cứu sẽ được khám, phỏng vấn về kiến thức và thực hành đối với tật cận thị

- Chọn phụ huynh: số phụ huynh được chọn là 48 người

- Chọn giáo viên: số giáo viên được chọn là 20 người

Trang 35

- Người phụ trách cơ sở bán kính trên địa bàn quận Ngô Quyền: chọn toàn bộ 18 chủ cơ sở tại địa bàn quận

2.2.4 Nội dung nghiên cứu

2.2.4.1 Nghiên cứu về tỷ lệ bệnh và phân bố tỷ lệ bệnh theo đặc điểm của đối tượng:

- Xác định tỷ lệ giảm thị lực trong học sinh

- Phân bố các thể bệnh, mức độ nặng của bệnh

- Phân bố tỷ lệ giảm thị lực và cận thị của học sinh theo các đặc trưng

cá nhân sử dụng kính, thời gian xuất hiện, mức độ tăng nặng độ, tần suất thăm khám

Trang 36

2.2.5 Biến số nghiên cứu

Phương pháp thu thập thông

tin

Mục tiêu 1: Xác

định tỷ lệ tật

khúc xạ

Tỷ lệ giảm thị lực, phân bố theo lớp Khám sàng lọc

Tỷ lệ giảm thị lực, phân bố theo tuổi Khám sàng lọc

Tỷ lệ giảm thị lực, phân bố theo giới Khám sàng lọcXác định tỷ lệ các tật khúc xạ khác Khám sàng lọcXác định tỷ lệ trẻ đeo kính phù hợp

Tỷ lệ trẻ mới được phát hiện cận thị

Phân nhóm độ cận thị theo lớp Khám sàng lọcPhân nhóm độ cận thị theo giới, tuổi Khám sàng lọc

tuần trên lớp và nhóm cận và không cận

Phỏng vấn

Phân bố thời gian xem tivi/ tuần, chơi điện tử/ tuần, chơi ngoài trời/ tuần giữa 2 nhóm có cận và không cận

Phỏng vấn

Tỷ lệ tăng độ cận theo thời gian phát

Tần suất khám và thay kính mắt Phỏng vấn Xác định mối liên quan giữa nhóm

bệnh và mức độ kiến thức của học sinh Phân tích số liệu Xác định mối liên quan giữa nhóm

bệnh/ không bệnh và thời gian mắt làm việc

Phân tích số liệu Kiến thức của giáo viên, phụ huynh về

Trang 37

2.2.6 Phương pháp thu thập thông tin

2.2.6.1 Công cụ thu thập thông tin

* Phiếu khám

* Phiếu phỏng vấn về kiến thức và thực hành

* Câu hỏi gợi ý thảo luận

2.2.6.2 Phương pháp thu thập thông tin

a Khám xác định cận thị: Công cụ để thu thập thông tin là mẫu phiếu

khám được chuẩn bị trước, phiếu này được ghi trực tiếp bởi bác sỹ

+ Tập huấn các cán bộ của nhóm điều tra, thống nhất cách thức và các bước tiến hành điều tra Mỗi nhóm điều tra bao gồm 1-2 bác sỹ, 2-4 y tá thuộc Khoa Mắt Bệnh viện Đại học Y Dược Hải Phòng

+ Tổ chức khám tại trường: Bố trí một phòng khám riêng tách biệt với lớp học Trong phòng khám có thể tiến hành đồng thời, thử thị lực, đo khúc

xạ bằng máy và thử kính cho học sinh (do kỹ thuật viên thực hiện) Khám phát hiện các bệnh mắt phối hợp và soi bóng đồng tử để xác định chính xác số kính cho học sinh (do bác sỹ thực hiện)

+ Phương tiện nghiên cứu: Máy đo khúc xạ kế tự động, phiếu khám bệnh, phiếu phỏng vấn điều tra KAP, máy soi đáy mắt, thước Parent, hộp thử kính, dung dịch Cyclogy 1%, bảng thị lực Landolt

Trang 38

+ Trường hợp học sinh có thị lực <1/10 thì thử thị lực tiếp theo bằng cách cho đếm ngón tay (ĐNT) theo khoảng cách 5-4-3-2-1m

* Dụng cụ khám mắt và đo khúc xạ gồm: Bảng thị lực Landolt, máy đo khúc xạ kế tự động, máy soi đáy mắt, thước Parent, hộp thử kính, một gương phẳng có lỗ ở giữa và dung dịch Cyclogy 1%

+ Cách thử kính lỗ: được áp dụng cho những học sinh có thị lực <7/10

và cách tiến hành giống như cách thử bình thường nhưng học sinh được nhìn qua lỗ nhỏ của tấm nhựa chuyên dụng và bắt đầu từ hàng chữ tương đương thị lực vừa được thử tại lớp Không nhất thiết phải thử chính xác thị lực mà chỉ cần biết thử qua kính lỗ có tăng hay không

tự động

+ Cách thử kính: dựa vào kết quả đo khúc xạ của máy khúc xạ kể tự đông thử kính cho học sinh Cách tiến hành giống như thử thị lực bình thường nhưng thầy thuốc cần chỉnh số kính để học sinh có thị lực tốt nhất

- Đối với TKX viễn thị: thử tăng dần sổ kính hội tụ đến lúc học sinh bắt đầu nhìn mờ Số kính lớn nhất mà học sinh nhìn rõ nhất là mức độ viễn thị thể hiện

Trang 39

- Đối với TKX cận thị: nếu cận thị nhẹ thì không nhìn thấy hàng chữ nhỏ, nếu cận 3 – 4D trở lên thì dòng chữ to cũng không nhìn thấy Khi tăng dần số kính phân kỳ thì thị lực cũng tăng theo Số kính phân kỳ bé nhất mà học sinh nhìn rõ nhất là mức độ cận thị thể hiện Chú ý số kính thử thường lớn hơn mức độ cận thị vì học sinh hay có co quắp điều tiết

- Đối với tật khúc xạ loạn thị: trục của loạn thị, mức độ loạn đã được xác định tương đối qua kết quả của đo khúc xạ kế tự động Thầy thuốc điều chỉnh số kính giống như trường, hợp viễn, cận thị và chú ý chỉnh trục loạn thị tới vị trí mà học sinh nhìn các trục trên mặt đồng hồ Parent của bảng thử thị lực đều nhau

- Sau khi thử cả hai mắt, học sinh phải sử dụng kính trong 30 phút để kiểm tra các hiện tượng như chóng mặt, nhức đầu, đi lại thoải mái, dễ dàng thì kính đó được coi là phù hợp

+ Những học sinh đã xác định chỉ số khúc xạ theo phương pháp chủ quan, hoặc đã mang kính trước khi điều tra nhưng thị lực chưa phù hợp với kính đó đều được liệt điều tiết bằng Cyclogyl 1% và soi bóng đồng tử xác định chỉ số khúc xạ, phân biệt cận thị giả và cận thị hay cận viễn

+ Cách soi bóng đồng tử (phương pháp đo khúc xạ khách quan): là phương pháp xác định TKX của học sinh một cách khách quan, chính xác dù rất nhỏ Soi bóng đồng tử được tiến hành trong buồng tối và dựa trên hiện tượng khi ta khám ánh hồng đồng tử với gương phẳng, ánh đồng tử đồng đều, nhưng khi quay gương chung quanh trục với nó, đồng tử sẽ bị một cái bóng đen xâm nhập từ bờ đồng tử bên này, tỏa lan ra ở diện đồng tử rồi mất hẳn ở

bờ đồng tử phía bên kia Đó là hiện tượng bóng đồng tử

- Dụng cụ soi bóng đồng tử: một gương phẳng có lỗ ở giữa Một cặp thước Perent (hoặc những kính hội tụ, phân kỳ của hộp kính thử)

Trang 40

- Kỹ thuật: học sinh đã được nhỏ thuốc giãn đồng tử nhanh, liệt điều tiết Cyclogyl 1% Thầy thuốc và học sinh ngồi đối diện khoảng 1m, ngọn đèn sáng ở phía sau tai học sinh Nếu khám mắt phải thì học sinh nhìn thật xa ở phía sau tai phải thầy thuốc Khám tuyến ngang bằng cách xoay gương từ thái dương vào phía mũi, rồi từ mũi ra thái dương Khám tuyến dọc thì xoay gương theo chiều vuông góc với khám tuyến ngang Nếu bóng di động cùng chiều với gương thì gọi là bóng thuận chiều và mắt sẽ là chính thị, viễn thị, cận thị < 1D Nếu bóng di động ngược chiều với gương thì gọi là bóng ngược chiều và mắt sẽ cận thị 1D Muốn đo khúc xạ chỉ cần để trước mắt học sinh kính hội tụ nếu bóng xuôi chiều, kính phân kỳ nếu bóng ngược chiều tăng dần

số kính cho đến khi bóng tỏa lan Mức độ viễn thị là số kính làm bóng tỏa lan trừ đi 1D Mức độ cận thị là số kính làm bóng tỏa lan rộng thêm 1D Khúc xạ của hai tuyến ngang và dọc bằng nhau là TKX cầu Khúc xạ của hai tuyến ngang và dọc không bằng nhau là loạn thị

Tiêu chuẩn và phân loại nhóm bệnh:

+ Tiêu chuẩn chẩn đoán tật khúc xạ

- Những học sinh có thị lực không kính <7/10 sau khi thử kính lỗ thị lực tăng

- Những học sinh đã được chẩn đoán là tật khúc xạ và đã mang kính và

có thị lực phù hợp với kính đó thì được thừa nhận

- Một số trường hợp khó xác định bằng cách soi bóng đồng tử sau liệt điều tiết

+ Tiêu chuẩn đánh giá mức độ cận thị theo Tổ chức Y tế thế giới (1985)

- TL >7/10 trở lên Bình thường

- TL 4/10 – 7/10 Giảm thị lực

- TL ĐNT 3m-3/10 Giảm thị lực trầm trọng

Ngày đăng: 25/03/2016, 00:02

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo khối lớp và giới tính - Thực trạng tật khúc xạ và kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở lê hồng phòng hải phòng
Bảng 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo khối lớp và giới tính (Trang 44)
Bảng 3.4. Tỷ lệ học sinh mắc cận thị theo mức độ và khối học - Thực trạng tật khúc xạ và kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở lê hồng phòng hải phòng
Bảng 3.4. Tỷ lệ học sinh mắc cận thị theo mức độ và khối học (Trang 45)
Bảng 3.3. Phân bố thị lực không kính của học sinh theo giới tính - Thực trạng tật khúc xạ và kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở lê hồng phòng hải phòng
Bảng 3.3. Phân bố thị lực không kính của học sinh theo giới tính (Trang 45)
Bảng 3.5. Tỷ lệ học sinh mắc cận thị phân theo khối lớp và giới tính - Thực trạng tật khúc xạ và kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở lê hồng phòng hải phòng
Bảng 3.5. Tỷ lệ học sinh mắc cận thị phân theo khối lớp và giới tính (Trang 46)
Bảng  3.6.  Tỷ  lệ  học  sinh  mắc  TKX  sử  dụng  kính  để  điều  chỉnh  thị  lực  theo khối học - Thực trạng tật khúc xạ và kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở lê hồng phòng hải phòng
ng 3.6. Tỷ lệ học sinh mắc TKX sử dụng kính để điều chỉnh thị lực theo khối học (Trang 47)
Bảng 3.9. Kiến thức của học sinh về tật khúc xạ - Thực trạng tật khúc xạ và kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở lê hồng phòng hải phòng
Bảng 3.9. Kiến thức của học sinh về tật khúc xạ (Trang 48)
Bảng 3.10. Kiến thức của học sinh về chăm sóc mắt khi có TKX (n= 354 ) - Thực trạng tật khúc xạ và kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở lê hồng phòng hải phòng
Bảng 3.10. Kiến thức của học sinh về chăm sóc mắt khi có TKX (n= 354 ) (Trang 49)
Bảng 3.12. Kiến thức của phụ huynh, giáo viên về TKX - Thực trạng tật khúc xạ và kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở lê hồng phòng hải phòng
Bảng 3.12. Kiến thức của phụ huynh, giáo viên về TKX (Trang 50)
Bảng 3.13. Tỷ lệ phụ huynh và giáo viên biết cách chăm sóc, bảo vệ mắt  khi có TKX - Thực trạng tật khúc xạ và kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở lê hồng phòng hải phòng
Bảng 3.13. Tỷ lệ phụ huynh và giáo viên biết cách chăm sóc, bảo vệ mắt khi có TKX (Trang 50)
Bảng 3.14. Tỷ lệ phụ huynh học sinh, giáo viên biết về yếu tố làm tăng TKX - Thực trạng tật khúc xạ và kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở lê hồng phòng hải phòng
Bảng 3.14. Tỷ lệ phụ huynh học sinh, giáo viên biết về yếu tố làm tăng TKX (Trang 51)
Hình 3.2. Định kỳ kiểm tra thị lực của học sinh THCS - Thực trạng tật khúc xạ và kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở lê hồng phòng hải phòng
Hình 3.2. Định kỳ kiểm tra thị lực của học sinh THCS (Trang 52)
Hình 3.3. Cách xử lý của HS khi mắc TKX - Thực trạng tật khúc xạ và kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở lê hồng phòng hải phòng
Hình 3.3. Cách xử lý của HS khi mắc TKX (Trang 52)
Hình 3.4. Nguồn cung cấp thông tin về TKX - Thực trạng tật khúc xạ và kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở lê hồng phòng hải phòng
Hình 3.4. Nguồn cung cấp thông tin về TKX (Trang 53)
Bảng 3.16. Một số thói quen sinh hoạt, học tập ở nhà của học sinh - Thực trạng tật khúc xạ và kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở lê hồng phòng hải phòng
Bảng 3.16. Một số thói quen sinh hoạt, học tập ở nhà của học sinh (Trang 54)
Bảng 3.18. Nguồn thông tin về TKX cho phụ huynh, giáo viên - Thực trạng tật khúc xạ và kiến thức, thực hành của giáo viên, phụ huynh trong chăm sóc mắt cho học sinh trường trung học cơ sở lê hồng phòng hải phòng
Bảng 3.18. Nguồn thông tin về TKX cho phụ huynh, giáo viên (Trang 56)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w