1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và ương giống cá ngựa hippocampus kuda (bleeker, 1852)

71 800 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là một phần của đề tài cấp Tỉnh "Thử nghiệm sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá ngựa” của Phòng NN&PTNT huyện Núi Thành, tỉnh Q

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ VĂN HIỆP

THỬ NGHIỆM SINH SẢN NHÂN TẠO VÀ ƯƠNG GIỐNG

CÁ NGỰA Hippocampus kuda (Bleeker, 1852)

TẠI QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

LÊ VĂN HIỆP

THỬ NGHIỆM SINH SẢN NHÂN TẠO VÀ ƯƠNG GIỐNG

CÁ NGỰA Hippocampus kuda (Bleeker, 1852)

TẠI QUẢNG NAM

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là một phần của đề tài cấp Tỉnh "Thử nghiệm sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá ngựa” của Phòng NN&PTNT huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam do tôi làm chủ nhiệm đề tài và đã kiểm tra tiến độ đợt 2 xong

Tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu trình bày trong luận văn là kết quả nghiên cứu và chưa từng được công bố ở bất cứ công trình nào

Tác giả

Lê Văn Hiệp

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin gửi đến Ban Giám Hiệu nhà trường, Viện Nuôi trồng Thuỷ sản, Khoa sau đại học - Trường đại học Nha Trang sự kính trọng và lòng tự hào đã được học tập và nghiên cứu tại trường trong những năm qua

Xin chân thành cám ơn đến TS Phạm Quốc Hùng đã giúp đỡ, động viên và hướng dẫn trong suốt thời gian thực hiện luận văn Cho tôi gửi lời cảm ơn đến tất cả quý thầy cô đã giảng dạy, truyền đạt nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu tại Viện Nuôi trồng thuỷ sản - Trường đại học Nha Trang

Xin chân thành cảm ơn Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Núi Thành, UBND huyện Núi Thành, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Nam đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Xin cảm ơn tất cả bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như hoàn thành cuốn luận văn này

Cuối cùng, là lời cảm ơn đến gia đình đã động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong suốt thời gian học tập cũng như nghiên cứu thực hiện đề tài

Lê Văn Hiệp

Trang 5

MỤC MỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC MỤC v

DANH MỤC THUẬT NGỮ VÀ CHỮ VIẾT TẮT viii

DANH MỤC CÁC BẢNG ix

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ x

TRÍCH YẾU ĐỀ TÀI xi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 - TỔNG LUẬN 4

1.1 Sơ lược vai trò của cá ngựa 4

1.2 Tình hình nghiên cứu và nuôi cá ngựa trên Thế giới và ở Việt Nam 5

1.2.1 Đặc điểm hình thái cá ngựa đen 5

1.2.2 Đặc điểm phân bố cá ngựa đen 5

1.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng của cá ngựa 5

1.2.3.1 Đặc điểm chung 5

1.2.3.2 Dinh dưỡng của cá ngựa giống 6

1.2.3.3 Dinh dưỡng của cá ngựa trưởng thành 7

1.2.3.4 Nhu cầu dinh dưỡng của cá ngựa 9

1.2.4 Đặc điểm sinh trưởng 12

1.2.5 Đặc điểm sinh sản 12

1.2.6 Khả năng thích ứng với các yếu tố môi trường 14

1.2.6.1 Nhiệt độ 14

1.2.6.2 Ánh sáng 15

1.2.6.3 Độ mặn 15

1.2.6.4 pH 16

1.2.6.5 Oxy 16

1.2.6.6 NH4 + /NH3 16

1.2.6.7 NO3 / NO2 - 17

1.2.7 Tình hình nuôi cá ngựa 19

Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

Trang 6

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 21

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 21

2.1.2 Thời gian nghiên cứu: 21

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu: 21

2.2 Phương pháp nghiên cứu 22

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 22

2.2.2 Sản xuất giống cá ngựa 22

2.2.2.1 Hệ thống bể nuôi 22

2.2.2.2 Nguồn nước nuôi dưỡng cá và ương giống 23

2.2.2.3 Nuôi dưỡng cá trong bể xi măng có thể tích 4 m3 23

2.2.3 Ương cá ngựa giống từ khi sinh sản đến 4 cm 24

2.2.4 Ương cá ngựa giống từ 4 cm lên đên 5 - 6cm 25

2.2.4.1 Bố trí thí nghiệm 25

2.2.4.2 Hệ thống thí nghiệm 25

2.2.4.3 Cá thí nghiệm 26

2.2.4.4 Thức ăn 26

2.2.4.5 Chế độ quản lý chăm sóc 26

2.2.5 Phòng trị bệnh 27

2.2.6 Phương thức thu thập và xử lý số liệu 27

CHƯƠNG 3 - KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

3.1 Chọn cá bố mẹ, nuôi dưỡng và cho đẻ 29

3.2 Kỹ thuật ương nuôi cá giống 29

3.2.1 Ương cá ngựa giống từ khi sinh sản đến 4 cm 29

3.2.1.1 Kết quả sinh sản và tỷ lệ sống của cá ngựa giống đến cỡ 4 cm 29

3.2.1.2 Tăng trưởng về chiều dài của cá ngựa giống ương đến 4cm 32

3.2.1.3 Tăng trưởng về khối lượng của cá ngựa giống ương đến 4cm 33

3.3 Ương cá ngựa giống từ 4 cm (Giai đoạn cho ăn hoàn toàn bằng Mysida đông lạnh) đến 5 – 6 cm 36

3.3.1 Thí nghiệm ảnh hưởng của các loại độ mặn khác nhau lên tăng trưởng về chiều dài và khối lượng của cá 36

3.3.1.1 Điều kiện môi trường các bể thí nghiệm độ mặn 36

3.3.1.2 Ảnh hưởng của độ mặn lên sinh trưởng 37

Trang 7

3.3.2 Ương cá giống từ 4 cm đến 6 cm 41

3.3.2.1 Kết quả ương nuôi của 2 đợt 41

3.3.2.2 Tăng trưởng về chiều dài ở các bể ương nuôi cả hai đợt 41

3.3.2.3 Tăng trưởng về khối lượng ở cá ương trên 4cm lên 5-6 cm 42

3.4 Phòng trị bệnh 46

CHƯƠNG 4 - KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 47

4.1 Kết luận 47

4.2 Đề xuất ý kiến 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC THUẬT NGỮ VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Docosa Hexaenoic Acid Eicosa Pentaenoic Acid Highly unsaturated fatty acid Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Polyunsaturated fatty acid

parts per million Sức sinh sản Tiến sĩ

Uỷ ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Sinh trưởng của cá ngựa đen nuôi 12

Bảng 1.2: Sức sinh sản của một số loài cá ngựa cái và khả năng ấp của cá ngựa đực 13 Bảng 1.3: Thời gian phát triển phôi của một số loài cá ngựa trên thế giới .13

Bảng 3.1: Tỷ lệ sống khi vận chuyển và tỷ lệ sinh sản 29

Bảng 3.2: Số lượng cá giống sau 2 đợt sản xuất và tỷ lệ sống 29

Bảng 3.3: Các yếu tố môi trường trong bể nuôi đợt 1 30

Bảng 3.4: Các yếu tố môi trường trong bể nuôi đợt 2 31

Bảng 3.5: Sinh trưởng của cá ngựa ương đến 4 cm 34

Bảng 3.6: Một số yếu tố môi trường trong hệ thống bể thí nghiệm độ mặn 36

Bảng 3.7: Các chỉ tiêu sinh trưởng về chiều dài của cá ương ở các mức độ mặn 38

Bảng 3.8: Các chỉ tiêu sinh trưởng về khối lượng của cá ương ở các mức độ mặn 40

Bảng 3.9: Tỷ lệ sống cá ương từ 4cm đến 6 cm ở cả 2 đợt 41

Bảng 3.10: Sinh trưởng của cá ngựa ương đến 6cm 43

Bảng 3.11: Các yếu tố môi trường trong bể ương lên 5-6 cm (đợt 1) 44

Bảng 3.12: Các yếu tố môi trường trong bể nuôi ương nuôi lên 5-6 cm (đợt 2) 45

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ

Hình 2.1 Hình dáng ngoài cá ngựa đen đực (a) và cái (b) 21

Hình 2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 22

Hình 2.3 Hệ thống các bể ương trong trại sản xuất giống 22

Hình 2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống 25

Hình 2.5 Hệ thống bể nhựa thí nghiệm đặt trong Trại giống 26

Hình 3.1 Tỷ lệ sống của cá ngựa từ khi mới sinh đến 4 cm 30

Hình 3.2 Tăng trưởng về chiều dài của cá ngựa đợt 1 32

Hình 3.3 Tăng trưởng về chiều dài của cá ngựa đợt 2 32

Hình 3.4 Tăng trưởng về khối lượng của cá ngựa đợt 1 33

Hình 3.5 Tăng trưởng về khối lượng của cá ngựa đợt 2 33

Hình 3.6: Sinh trưởng về chiều dài của cá ở các mức độ mặn 38

Hình 3.7: Sinh trưởng về chiều dài của cá ở các mức độ mặn 38

Hình 3.8: Sinh trưởng về khối lượng của cá ở các mức độ mặn 39

Hình 3.9: Khối lượng của cá sau 7 tuần ương ở các mức độ mặn 40

Hình 3.10 Tăng trưởng về chiều dài ở các bể cá ương trên 4cm đợt 1 41

Hình 3.11 Tăng trưởng về chiều dài ở các bể cá ương trên 4cm đợt 2 42

Hình 3.12 Tăng trưởng về khối lượng ở bể ương cá ngựa trên 4 cm 42

Hình 3.13 Tăng trưởng về khối lượng ở bể ương cá ngựa trên 4 cm đợt 2 43

Hình 3.14 Bệnh cá ngựa do nguyên sinh động vật gây ra 46

Trang 11

TRÍCH YẾU ĐỀ TÀI

Những nghiên cứu trước đây cũng như việc sản xuất giống và ương nuôi cá ngựa thương phẩm hiện nay chủ yếu tại các vùng có độ mặn cao và ổn định Tuy nhiên, cá ngựa đen sống ở cửa sông, nơi có độ mặn thường xuyên biến động nguồn thức ăn cho

cá ở giai đoạn giống(mới sinh cho đến dưới 4cm) cũng khó tìm trong những ngày mưa gió ở khu vực Quảng Nam Do đó, để xây dựng một qui trình sản xuất giống và nuôi

cá ngựa thương phẩm ổn định, có thể nhân rộng cho nhiều vùng, nhiều địa phương, việc xác định độ mặn, tim thức ăn và mùa vụ nuôi thích hợp cho sản xuất giống và nuôi cá ngựa thương phẩm cũng là yếu tố cần thiết

Trước những yêu cầu cấp thiết đó, tôi đã thực hiện đề tài Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và ương giống cá ngựa Hippocampus kuda (Bleeker, 1852) tại Quảng Nam

Đề xuất được quy trình sản xuất giống cá ngựa phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Quảng Nam, góp phần tạo ra nghề nuôi mới, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân ven biển

Từ cá đực mang trứng trong tự nhiên được đưa về cho sinh sản nhân tạo và cho ương cá con lên kích cở 4 cm bằng cách sử dụng thức ăn Copepoda, Nauphli Artemia Tiếp tục cho ương cá lên kích cở 6 cm bằng thức ăn Mysida đông lạnh, để xác định được độ mặn thích hợp cho cá ở giai đoạn ương bố trí thí nghiệm với 4 nghiêm thức 5‰, 20‰, 25‰, nước biển bình thường 30‰

Thời gian thực hiện từ tháng 7.10.2014 – 01.11.2015, việc cho sinh sản nhân tạo

và ương cá ngựa lần đầu tiên được thực hiện tại Quảng Nam Bước đầu đề tài chúng tôi cũng đã thành công với một số kết quả như sau:

Cá Ngựa đen (H kuda) cho sinh sản lần đầu đạt tỷ lệ đẻ là 80% - 83%, bình

quân mỗi cá đực đẻ khoảng 498 – 501 con cá con; tỷ lệ sống của cá ngựa giống đến 4cm đạt 65-79,9%

Kích thước trung bình của cá ngựa Đen (H kuda) ương đến 4 cm là:

40,63±1,81 mm đến 46,7±3,21 mm

Khối lượng trung bình của cá ngựa Đen (H kuda) ương đến 4cm là:

209,27±30,18 mg đến 346,80±58,41 mg

Trang 12

 Tốc độ tăng trưởng đặc trưng của cá về chiều dài ương đến 4 cm là từ 2,31% đến 2,48 % / ngày

 Tốc độ tăng trưởng đặc trưng của cá về khối lượng ương đến 4 cm là từ 5,1% đến 5,61 % / ngày

Chúng tôi cũng đã cho làm thí nghiệm ảnh hưởng của các mức độ mặn khác nhau lên sinh trưởng và phát triển của cá ngựa kết quả thu được:

+ Kích thước trung bình của cá ngựa Đen (H kuda) ở độ mặn 15‰: 61,70 ± 0,70a

mm; 20‰: 63,90 ± 0,46b mm; 25‰: 67,23 ± 0,67c mm; 30‰: 67,30 ± 0,72c mm

+ Khối lượng trung bình của cá ngựa Đen (H kuda) ở các mức độ mặn 15‰ :

668,77 ± 28,84a mg; 20‰: 712,23 ± 8,80b mg; 25‰: 752,83 ± 13,04c mg; 30‰: 759,60 ± 19,77c mg

Kích thước trung bình của cá ngựa Đen (H kuda) ương đến 6 cm là:

1 Việc nuôi dưỡng cá bố đẻ bước đầu đã ứng dung thành công trong việc chọn cá

bố cho đẻ tỷ lệ thành thục và sinh sản đạt 80%, cũng đã thử nghiệm chọn mua cá bố tại địa phương và cá cho sinh sản tốt, tỷ lệ sống cao, sinh trưởng phát triển tốt

2 Ương nuôi cá giống lên 4 cm mặt dầu ở đợt 1 tuy khó khăn về thức ăn Copepoda sống do ở thời điểm này đang là mùa mưa, nhưng với nguồn thức ăn Copepoda đông lạnh và Nauplii Artemia thì việc ương nuôi cũng đem lại kết quả tốt tăng trưởng trung bình sau 80 ngày tuổi ở đợt 1là: 40,63,4±1,81mm đến 42,73±2,57mm và tăng trưởng về khối lượng là 209,27±30,18 mg đến 282,80±38,40 mg; với nguồn thức ăn Copepoda gây nuôi ở đợt 2 kết quả đêm lại cao tăng trưởng về chiều dài từ 42,9±3,42 mm đến 44,83±1,93 mm và tăng trưởng về khối lượng từ

Trang 13

3 Cá ngựa giai đoạn cá giống từ 4 – 7 cm có thể sinh trưởng ở điều kiện độ mặn

từ 15‰ - 30‰ Tuy nhiên điều kiện độ mặn tốt nhất cho sinh trưởng của cá là 25‰ - 30‰ với tốc độ sinh trưởng đặc trưng về khối lượng (2,05 - 2,07 %/ngày) Ở điều kiện

độ mặn thấp hơn 25‰ thì cá sinh trưởng chậm, tốc độ sinh trưởng đặc trưng về khối lượng dao động trong khoảng (1,81 – 1,91 %/ngày)

4 Ương nuôi cá ngựa từ 4cm đến 6 cm ở cả 2 đợt cá đều sinh trưởng và phát triển tốt, với nguồn thức ăn Misida đông lạnh và đôi lúc cho ăn Artemia, Ruốt đông lạnh cở nhỏ tỷ lệ sống đạt Đợt 1: 86% đến 95%; Đợt 2: 96 – 99% kích thước bình quân sau

40 ngày nuôi là: Đợt 1 58,53±3,86 mm đến 63,33±3,59 mm; Đợt 2 60,03±5,55 mm đến 65,60±2,4 mm và khối lượng bình quân đạt Đợt 1 613,13±50,28 mg đến 719,43±219,70 mg và Đợt 2 619,37±155,57 mg đến 781,1±40,50 mg

Để hoàn thiện hơn quy trình sản xuất giống và ương nuôi cá ngựa cần có thêm:

1 Nghiên cứu loại thức ăn mới thay thế được thức ăn Copepoda và Misida để người nuôi chủ động trong việc sản xuất giống cá ngựa

2 Hiện nay, trong nuôi cá ngựa giống một trong những vấn đề vẫn còn thường gặp đó là dịch bệnh làm cho cá chết hàng loạt, vì vậy cần nghiên cứu các bệnh trên cá

ngựa để giúp hạn chế rủi ro

Trang 14

MỞ ĐẦU

Các loài thuộc giống cá ngựa có dược tính cao nên được dùng làm thuốc chữa bệnh ở nhiều nước châu Á Còn ở phương Tây cá ngựa được nuôi làm cảnh Theo ước tính hàng năm có khoảng 20 triệu con cá ngựa được tiêu thụ trên thế giới cho các mục đích trên Chỉ tính riêng ở Trung Quốc hơn 20 tấn cá ngựa khô (khoảng 6 triệu con) được sử dụng hàng năm cho mục đích đông y [31], [36] Trước đây kích thước thương phẩm của cá ngựa thường lớn hơn 120 mm chiều dài thân nhưng hiện nay chỉ ở mức lớn hơn 60 mm do số lượng cá lớn ngày càng giảm [12]

Việt Nam là một trong 5 nước đứng đầu về xuất khẩu cá ngựa trên thế giới, cùng với

Ấn Độ, Indonesia, Mexicô và Thái Lan [47], [31] Lượng cá ngựa xuất khẩu của Việt Nam ước đoán khoảng 6,5 tấn (tương đương với 2,2 triệu con) mỗi năm, chủ yếu là sang Trung Quốc [31]

Do nhu cầu tiêu thụ cá ngựa ngày càng lớn, dẫn đến sự khai thác quá mức, làm cho nguồn lợi cá ngoài tự nhiên ngày càng giảm Điều này thể hiện qua sự suy giảm kích thước trung bình của cá khai thác được và sản lượng đánh bắt hàng năm Vì thế việc phát triển nghề nuôi cá ngựa vừa để tạo sản phẩm, vừa nhằm giảm áp lực khai thác tự nhiên, góp phần bảo vệ nguồn lợi là điều hết sức cần thiết

Nghề nuôi cá ngựa đã được chú ý rộng rãi ở khắp nơi Nuôi cá ngựa có tiềm năng rất lớn về mục đích bảo tồn và khả năng phát triển trở thành một nghề đem lại lợi nhuận cho người nuôi trồng thủy sản tại các quốc gia có nguồn lợi cá ngựa Ngày nay, một số nghị định thư đã được thiết lập cho một số loài vùng ở nhiệt đới có nguy cơ tiệt chủng ở các quốc gia thuộc khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương [33] Ở Việt Nam kể từ tháng 5 năm 2004, việc xuất khẩu cá ngựa được kiểm soát bởi CITES (Convention on International Trade in Endangered Species of Flora and Fauna) Để tiếp tục xuất khẩu

cá ngựa, Việt Nam phải chứng minh việc thương mại cá ngựa không đe dọa đến sự tồn tại lâu dài của quần đàn cá ngựa tự nhiên [31]

Ở nước ta, nghề nuôi cá ngựa mang tính chất thương mại chỉ mới xuất hiện vài năm gần đây, chủ yếu ở qui mô nhỏ và chưa được phổ biến rộng rãi Một trong những trở ngại chính cho việc phát triển nuôi cá ngựa là người nuôi chưa chủ động được về

số lượng và chất lượng thức ăn trong quá trình ương nuôi [55] Loại thức ăn chủ yếu cho nuôi cá ngựa giống hiện nay là động vật phù du (thành phần chủ yếu là Copepoda) thu từ các vực nước tự nhiên Tuy nhiên nguồn thức ăn này thường không ổn định, khó

Trang 15

khăn trong gây nuôi sinh khối với trình độ của người nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam Thông thường Copepoda được gây nuôi trong ao đất hoặc thu từ các ao nuôi hải sản Tuy nhiên mật độ Copepoda trong các ao này thường biến động lớn, dễ bị tàn lụi khi thời tiết thay đổi hay vào mùa mưa Do vậy cần phải tìm loại thức ăn thay thế đảm bảo

về chất lượng và chủ động được số lượng, chẳng hạn như khi mật độ Copepoda trong

ao cao ta có thể thu hoạch và lưu giữ trong tủ đông để sử dụng dần

Do nhu cầu cá ngựa cao nên nguồn lợi cá ngựa tự nhiên hiện bị khai thác quá mức, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nơi khác trên thế giới Cá ngựa hiện tại

đã trở thành mặt hàng quí hiếm Vì thế cần phải phát triển nghề nuôi cá ngựa vừa để tạo sản phẩm cung ứng cho các thị trường trong và ngoài nước, vừa nhằm giảm áp lực khai thác tự nhiên, góp phần bảo vệ nguồn lợi Đồng thời sẽ tạo công ăn việc làm cho một bộ phận ngư dân ven biển, góp phần tăng thu nhập

- Đây là đối tượng nuôi mới ở Quảng Nam nói riêng và nhiều tỉnh miền Trung Việt Nam nói chung

- Cá ngựa có giá trị kinh tế rất cao (cá cỡ 5 – 7 cm có giá 12.000 – 15.000 đ/con), nhu cầu thị trường tương đối lớn (hiện Việt Nam có một số công ty được cấp giấy phép xuất khẩu cá ngựa và được tổ chức CITES thế giới chấp thuận cho xuất khẩu nếu chứng nhận được cá ngựa có nguồn gốc nuôi nhân tạo

- Quảng Nam có nhiều diện tích dọc ven biển, phù hợp với môi trường sống của

cá ngựa Đồng thời có nhiều trại sản xuất tôm giống kém hiệu quả có thể chuyển sang nuôi cá ngựa Ngoài ra, Quảng Nam có một số cơ sở nuôi lồng bè nên có thể tận dụng các lồng bè này nuôi kết hợp cá ngựa

- Nguồn thức ăn để nuôi cá ngựa: Quảng Nam có một diện tích lớn vùng nuôi thủy sản nước lợ, nên có thể tận dụng các ao nuôi này để gây nuôi thức ăn tươi sống (Copepodaa) làm thức ăn cho cá ngựa giống

- Thức ăn sử dụng phổ biến hiện nay cho nuôi cá ngựa ở giai đoạn thương phẩm

là tôm cám (Mysida) và ruốc (Acetes) có nhiều ngoài tự nhiên, giá thành rẻ nên có thể

chủ động trong quá trình nuôi bằng cách thu mua, cấp đông và lưu trữ trong tủ đông Những nghiên cứu trước đây cũng như việc sản xuất giống và ương nuôi cá ngựa thương phẩm hiện nay chủ yếu tại các vùng có độ mặn cao và ổn định Tuy nhiên, cá ngựa đen là sống ở cửa sông, nơi có độ mặn thường xuyên biến động nguồn thức ăn cho cá ở giai đoạn giống (mới sinh cho đến dưới 4cm) cũng khó tìm trong những ngày

Trang 16

mưa gió ở khu vực Quảng Nam Do đó, để xây dựng một qui trình sản xuất giống và nuôi cá ngựa thương phẩm ổn định, có thể nhân rộng cho nhiều vùng, nhiều địa phương, việc xác định độ mặn, tìm thức ăn và mùa vụ nuôi thích hợp cho sản xuất giống và nuôi cá ngựa thương phẩm cũng là yếu tố cần thiết

Trước những yêu cầu cấp thiết đó, tôi đã thực hiện đề tài "Thử nghiệm sinh sản

nhân tạo và ương giống cá ngựa Hippocampus kuda (Bleeker, 1852) tại Quảng Nam" là cần thiết

* Mục tiêu của đề tài

Đề xuất được quy trình sản xuất giống cá ngựa phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Quảng Nam, góp phần tạo ra nghề nuôi mới, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân ven biển

* Nội dung nghiên cứu

- Thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá ngựa

- Ương cá ngựa giống từ khi mới nở đến 4 cm

- Ương cá ngựa giống từ 4 cm đến 5 – 6 cm

* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Về khoa học: Hoàn chỉnh qui trình sản xuất giống tạo cơ sở xây dựng quy trình

nuôi thương phẩm cá ngựa Góp phần bảo vệ nguồn lợi, quần đàn của cá ngựa

- Ý nghĩa thực tiễn: Hoàn thiện qui trình sản xuất giống, từ đó chủ động được

con giống để phục vụ cho nuôi thương phẩm cá ngựa bằng lồng, bè và trong bể xi

măng Giúp cho nghề nuôi cá ngựa ngày một phát triển

Trang 17

CHƯƠNG 1 - TỔNG LUẬN

1.1 Sơ lược vai trò của cá ngựa

Ở Châu Âu, con người đã biết đến giá trị của cá ngựa từ vài trăm năm trước Công Nguyên Ở Châu Á, Trung Quốc chế biến cá ngựa thành thuốc cổ truyền cách đây 600 năm [47] Gần đây các nhà khoa học Trung Quốc đã tiến hành nghiên cứu thành phần phân tử các hợp chất trong cá ngựa ở cấp độ gen và protein [58] Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng cá ngựa chứa các phân tử miễn dịch có hai nguồn gốc khác nhau: từ yếu tố

di truyền bẩm sinh và từ hệ miễn dịch do quá trình chọn lọc tự nhiên Dạng miễn dịch

từ quá trình tiến hóa qua chọn lọc tự nhiên bao gồm các peptide kháng lại các vi sinh vật, các nhân tố tăng cường khả năng tiêu diệt các tế bào ngoại lai, các protein chống oxy hóa, các phân tử có khả năng giải độc, các lectin và protein có liên quan đến quá trình tạo máu…Các phân tử miễn dịch từ di truyền bẩm sinh của cá ngựa có thể cùng tác dụng trong quá trình chống oxy hóa và chống lão hóa của cơ thể Một điều đáng nói nữa là cá ngựa có chứa enzyme sinh tổng hợp prostaglandin là chất đóng vai trò điều hòa thần kinh, hormone và hệ miễn dịch Prostaglandin và tiền chất của nó có khả năng kích thích sự tiết hormone oxytocin và sự cường dương bằng cách tác động đến vùng điều khiển tình dục của tuyến yên trong não người Ngoài ra chính hàm lượng cao của DHA – vật liệu cơ bản để sản sinh tinh trùng, liên quan chặt chẽ đến khả năng sản sinh tinh trùng được tìm thấy trong cá ngựa đã giải thích và chứng minh cho tác dụng tăng cường sinh lý ở nam giới của cá ngựa

Khi nghiên cứu về thành phần các chất trong cá ngựa Đỗ Tuyết Nga và cộng sự (1991)[16] cho thấy cá ngựa đen có thành phần lipid cao nhất ở phần nội quan, chiếm 14,67% ÷ 15,27%; thành phần protein cao nhất ở phần đầu, da và xương Những axít amin không thay thế rất cần thiết cho con người như: Licine, Histidine, Arginine, Threonine, Phelinaline, Valine, Methionine, Leucine, Isoleucine đều có trong cá ngựa Hàm lượng các axít amin cần thiết cho sự tăng trưởng của trẻ em như Histidine, Arginine và Methionine đều cao ở cá ngựa đen

Cá ngựa còn được dùng để chữa một số bệnh như các chứng nhức mỏi, viêm nhiễm, viêm tấy đường hô hấp, những vết thương do té ngã, gãy xương, bệnh tim và tuần hoàn máu, cao cholesterol, bệnh gan thận, hình thành hệ miễn dịch, chữa bệnh khó sinh nở [4], [14], [47] Ngoài ra cá ngựa có hình dạng kỳ lạ nên còn được nuôi làm

Trang 18

cảnh ở nhiều nước trên thế giới Như vậy cá ngựa là một mặt hàng quí và rất cần cho con người

1.2 Một số đặc điểm sinh học và tình hình nghiên cứu và nuôi cá ngựa trên Thế giới và ở Việt Nam

1.2.1 Đặc điểm hình thái cá ngựa đen

Cá ngựa có hình dạng đặc biệt với cơ thể gồm nhiều đốt xương vòng, các đốt vòng có gai gồm: 1, 4, 7 và 11 ở thân; 1, 4, 8, 11, 14, 16, 18 và 20 ở đuôi Đầu to có dạng như đầu ngựa gập thẳng góc với trục thân Không có vây đuôi, đuôi thường được cuộn lại để bám vào giá thể [1], [12]

Cơ thể cá thường có màu đen, kết cấu bề mặt da dạng sần, hoặc có màu vàng lợt, màu kem với các chấm tối màu (đặc biệt là với con cái) hoặc màu nâu đỏ nhạt, có thể là màu cát Chiều dài lớn nhất 30 cm, thường gặp 10 – 20 cm [1], [12]

1.2.2 Đặc điểm phân bố cá ngựa đen

Cá ngựa bơi đứng, di chuyển chậm nên thường “ngụy trang” trong các thảm

cỏ biển, rạn san hô, màu sắc thay đổi theo môi trường sống [12] Cá ngựa đen phân bố

ở vùng biển Ấn Độ-Thái Bình Dương; Pakistan và Ấn Độ, Australia, New Guinea, Indonesia, Malaysia,Philippines, Thái Lan, đến Nam Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hawaii Ở Việt Nam từ Bắc đến Nam ở vùng nước ven bờ, đặc biệt là ở Khánh Hòa và Bình Thuận [1], [12], [36].Cá ngựa đen có khả năng sống ở biển nhưng đẻ ở cửa sông [8], [9]

1.2.3 Đặc điểm dinh dưỡng của cá ngựa

1.2.3.1 Đặc điểm chung

Một trong những khó khăn gặp phải trong nuôi các loài cá biển là tìm ra loại thức ăn thích hợp, đảm bảo về chất lượng và chủ động được về số lượng Cá ngựa là một đối tượng có giá trị kinh tế được nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam rất quan tâm nghiên cứu, nuôi thử nghiệm Để nghề nuôi được phát triển thì ngoài việc nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản, phân bố, môi trường , vấn đề dinh dưỡng

đã được nhiều tác giả quan tâm

Theo một số tác giả, cá ngựa thuộc nhóm bắt mồi ít chủ động Mõm có dạng ống, không có răng, không có dạ dày, ruột thẳng [44] Chúng theo dõi con mồi ở nhiều tư thế, vị trí khác nhau Trong điều kiện nuôi nhốt chúng có thể ăn nổi hoặc ăn đáy ngay cả khi con mồi bám vào thành bể Khi phát hiện con mồi, cá chọn vị trí thích

Trang 19

hợp và đớp mồi nhanh Tần suất bắt mồi trong 5 phút là 10 - 15 lần, nếu những thức

ăn không thích hợp cá sẽ nhả ra [10], [12]

Hầu hết các loài cá ngựa có phổ thức ăn tương đối giống nhau: Artemia,

Mysida, Copepoda, Rotifer, Isopoda [39], [44], [56], [58] Chúng có thể tiêu hóa các loại mồi khác như: Amphipoda, cá nhỏ hoặc động vật không xương khác Theo quan sát của Đỗ Hữu Hoàng và cộng sự (1998) ở ngoài tự nhiên một số loài cá ngựa không

ăn thực vật như tảo và rong biển Nhưng các mảnh cỏ biển được tìm thấy trong ruột

của một số loài như: H guttulatus, có thể do chúng bám vào thức ăn của cá ngựa và

theo vào trong ruột [28]

Cá ngựa đen bắt mồi vào ban ngày, từ 6 giờ đến 18 giờ Hoạt động bắt mồi mạnh nhất vào 8 giờ sáng và 14 giờ chiều, nhưng lúc 14 giờ cường độ bắt mồi thấp hơn lúc 8 giờ, ban đêm chúng ngừng kiếm ăn [10], [12], [17], [19] Theo Trần Sương Ngọc (1997)[17], Trương Sĩ Kỳ (2000)[12] cá ngựa đen có thể bắt mồi vào ban đêm với điều kiện chiếu sáng liên tục

1.2.3.2 Dinh dưỡng của cá ngựa giống

Qua phân tích mẫu thức ăn trong ống tiêu hóa của cá ngựa con (5 - 15 mm) trong bể, cho ăn sinh vật nổi thu vớt ngoài tự nhiên thì thấy trong đó chủ yếu là bọn Copepoda, các loài giáp xác lớn như Lucife, Amphipoda Và không gặp thực vật trong ống tiêu hóa của chúng [6], [10] Theo Đào Xuân Lộc và cộng sự (1994)[15] khi sử dụng thức ăn là tảo Spirulina khô, men bánh mì thì cá ngựa con không hấp thụ được và

tử vong sau 3 – 5 ngày nuôi Kết quả nghiên cứu của Woods (2003b)[55] cho biết cá

ngựa giống loài H abdominalis khi mới sinh không thể sử dụng được thức ăn tổng hợp

hiệu Golden Pearls, hầu hết chúng bị chết

Các nghiên cứu trước đây của Trương Sỹ Kỳ và cộng sự (1993)[8], Vicent (1996)[47] cho rằng thức ăn của cá ngựa giai đoạn giống là những động vật nổi (zooplankton) đang còn sống và di động, phù hợp với kích thước của miệng Nhưng những năm sau đó đã có những nghiên cứu thành công cho cá ngựa giai đoạn giống ăn thức ăn đông lạnh Woods (2003b)[55] đã thành công nuôi cá ngựa giống loài

H.abdominalis khi cho ăn Copepoda đông lạnh (Cyclop-eeze Copepoda) Kết quả

nghiên cứu cũng xác định cá ngựa 1 tháng tuổi có thể tập cho ăn thức ăn đông lạnh mà không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống, nhưng tốc độ sinh trưởng chậm Cá ngựa 2 tháng tuổi

có thể tập cho ăn Cyclop-eeze Copepoda với tỷ lệ sống và sinh trưởng thấp, và có thể

Trang 20

tập cho ăn Golden Pearls mà không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống nhưng sinh trưởng chậm

Có nhiều sản phẩm đông lạnh được bán trên thị trường phục vụ cho nghề nuôi cá ngựa giống [48] Hiện nay một số cơ sở sản xuất cá ngựa đen tại Việt Nam đã thành công

trong nuôi cá ngựa giống bằng thức ăn là Copepoda đông lạnh kết hợp với Artemia

nauplii hay Copepoda sống (Copepoda được thu thập trong các ao nuôi tôm và cá, bằng lưới vớt động vật nổi (mắt lưới 120 μm)) [13], [33]

Khi nghiên cứu về tính chọn lọc thức ăn của cá, Payne & Rippingale (2000)[37] đã nhận thấy rằng ở giai đoạn 5 ngày đầu cá thích ăn Copepoda nauplii hoặc những cá thể Copepoda có kích thước nhỏ Sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá ngựa

giống lớn hơn khi cho ăn bằng Copepoda nauplii so với cho ăn Artemia nauplii

Copepoda nauplii được cá giống tiêu hóa rất tốt, trong khi đó Artemia nauplii thì không

thể Khi cho cá ăn Copepoda có kích thước khác nhau, cá ngựa sau 5 ngày tuổi thích những con có kích thước lớn hơn và tỷ lệ ăn tối đa là 214 Copepoda nauplii/h [41]

Khả năng phân loại và tiêu hóa thức ăn của cá có liên quan đến giai đoạn phát triển của chúng Cá có thể tiêu hóa hoàn toàn thức ăn trong 2,5 giờ đối với nhóm 5 ngày, 3,5 giờ ở nhóm 10 ngày và 4 giờ ở nhóm 15 ngày sau khi sinh [41]

Để xác định thời điểm cho ăn ban đầu thích hợp cho ương nuôi cá, Sheng và cộng sự (2007)[42] đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc thiếu thức ăn lên khả năng bắt

mồi, sinh trưởng và tỷ lệ sống loài Hippocampus trimaculatus Leach và H.kuda Bleeker vừa mới sinh Kết quả cho thấy tỷ lệ sống của loài H trimaculatus cho ăn sau

khi nhịn đói 24 giờ là cao nhất Thấp nhất ở cá cho nhịn đói đến 72 giờ sau khi đẻ Và

tất cả cá đều chết sau 6 ngày nuôi Tỷ lệ sống của loài H kuda ở nhóm cho ăn sau khi

đẻ 24 và 48 giờ là cao nhất trong khoảng 7 ngày sau khi đẻ Khi cho cá nhịn đói 72 giờ

và lâu hơn nữa cá có tỷ lệ sống thấp Kết quả nghiên cứu nhận thấy cá ngựa con mới sinh có thể ăn thức ăn ngay, nhưng tỷ lệ cá con có thức ăn trong ruột chưa đạt 100%

Như vậy trong ương nuôi cá ngựa giống có thể sử dụng các loại thức ăn khác nhau Tuỳ điều kiện cụ thể, loài cá nuôi mà chọn loại thức ăn cho phù hợp, có thể chủ động được về số lượng thức ăn, đảm bảo về chất lượng và có hiệu quả kinh tế cao

1.2.3.3 Dinh dưỡng của cá ngựa trưởng thành

Nghiên cứu về dinh dưỡng cá ngựa giai đọan trưởng thành hầu hết các tác giả đều nhận định: đối với cá lớn có kích thước lớn hơn 45 mm, phổ thức ăn của chúng hoàn toàn thay đổi Cá dinh dưỡng chủ yếu các giống thuộc họ tôm Palaemonidae,

Trang 21

nhóm bơi nghiêng Ngoài ra trong ống tiêu hóa của chúng còn có ấu trùng giáp xác và thân mềm Nhưng số lượng và tần số xuất hiện của chúng rất thấp [6], [10], [12], [55] Đối với Copepoda chúng không đóng vai trò quan trọng trong thành phần thức ăn của

cá trưởng thành vì tần số xuất hiện không cao và khối lượng của chúng quá bé [12]

Cho cá ngựa đen sống ở điều kiện tự nhiên (có khối lượng 2,0 – 3,2 g/con) đói

để tập cho ăn thức ăn hỗn hợp và kiểm tra sự bắt mồi của chúng Mặc dù bị đói, cá vẫn không chịu ăn mồi đến khi chết Cá có khả năng sống được mà không ăn trong thời gian 27 – 28 ngày [15]

Để xác định tính chọn lọc thức ăn của cá, Trần Sương Ngọc và cộng sự (1997)[17] đã xác định tính ăn của cá ngựa đen đối với 2 loại thức ăn là tôm cám

(Mysida) so với Artemia trưởng thành tươi sống là 6,9 : 1 Mysida là loại thức ăn được cá ngựa đen ưa thích hơn so với Artemia [19] Trương Sĩ Kỳ và cộng sự (1996)[10] xác định cả loài cá ngựa gai (H histrix) và cá ngựa ba chấm (H trimaculatus) đều có chỉ số chọn lọc thức ăn đối với loại thức ăn là tôm cám bao giờ cũng lớn hơn chỉ số chọn lọc thức ăn đối với Artemia và Carridae

Có rất nhiều tác giả đã thực hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của một số loại thức ăn khác nhau lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá ngựa Nghiên cứu của Đỗ Hữu Hoàng và cộng sự (2000)[6] cho thấy cá ngựa đen tăng trưởng nhanh nhất khi cho ăn

Mysida (chiều dài tăng từ 0,32 – 0,45 mm/ngày), kế đến là thức ăn Artemia làm giàu bằng nhũ tương của ruốc (0,27 – 0,42 mm/ngày), Artemia làm giàu bằng Selco (0,21 – 0,46 mm/ngày) và Artemia làm giàu bằng tảo (0,19 – 0,42 mm/ngày) có tốc độ tăng

trưởng thấp nhất Trong khi đó nghiên cứu của Job và cộng sự (2002) nuôi cá ngựa

đen giai đoạn 42 đến 98 ngày tuổi Cho ăn Artemia trưởng thành được làm giàu bằng

nhũ tương của ruốc, nhũ tương của cá tạp, và nhũ tương của ruốc và cá tạp với tỷ lệ

1:1 Kết quả thu được khi cho ăn bằng Artemia làm giàu bằng nhũ tương của ruốc có

tỷ lệ sống cao nhất (73%), và cho ăn Artemia làm giàu bằng nhũ tương của ruốc và cá

tạp có tỷ lệ sống thấp nhất (40%) Nhưng không khác nhau về tốc độ sinh trưởng

Nghiên cứu của Woods và cộng sự (2003a)[54] về ảnh hưởng của một số loại

thức ăn: Artemia làm giàu bằng Algamac-3050, Mysida (Amblyops kempi) đông lạnh

và kết hợp Artemia làm giàu bằng Algamac-3050 với Mysida (Amblyops kempi) đông lạnh lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của loài cá ngựa Hippocampus abdominalis, với

lượng thức ăn cho ăn hàng ngày bằng 25% khối lượng thân Sau 3 tháng nghiên cứu

Trang 22

kết quả thu được không có sự khác nhau về chiều dài, khối lượng, tỷ lệ sống, hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) giữa các nghiệm thức Chỉ số SGR ở nghiệm thức chỉ cho

ăn bằng Artemia làm giàu bằng Algamac-3050 cao hơn so với nghiệm thức chỉ cho ăn bằng Mysida đông lạnh (P<0,05) Hệ số chuyển đổi thức ăn giao động từ 6,14 đến

8,72 g khối lượng khô của thức ăn để cho tăng trưởng 1 g khối lượng khô của cá ngựa

Lin và cộng sự (2007)[35] nghiên cứu về ảnh hưởng của một số loại thức ăn khác nhau (ruốc sống, Mysida sống, Mysida đông lạnh và hỗn hợp của 50% Mysida sống và 50% Mysida đông lạnh) lên sự phát triển của tinh hoàn và buồng trứng của cá ngựa đen Kết quả cho thấy khi cá ngựa ăn bằng ruốc sống buồng trứng và tinh hoàn phát triển đến giai đoạn V ngắn nhất (87,6±3,84 và 89,2±3,71 ngày cho sự phát triển của buồng trứng và tinh hoàn) Khi cho ăn bằng Mysida đông lạnh khoảng thời gian phát triển của buồng trứng là chậm nhất Đồng thời sức sinh sản của cá khi cho ăn bằng ruốc sống cũng cao nhất Thức ăn cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của cá con Khi cho cá mẹ ăn bằng ruốc sống cá con nuôi có tỷ lệ sống cao nhất (90,4±2,26%), cho ăn bằng Mysida đông lạnh cho tỷ lệ sống đến 10 ngày nuôi thấp nhất (15,1±6,55%)

Như vậy cá trưởng thành có thể ăn nhiều loại thức ăn khác nhau, trong đó khi cho cá ăn bằng ruốc hay Artemia làm giàu bằng nhũ tương ruốc thường cho tốc độ sinh

trưởng cao Một số loại thức ăn dễ chủ động như là Artemia được làm giàu, tôm cám (Mysida spp.) đông lạnh có thể nuôi cá ngựa thương phẩm Điều này có ý nghĩa rất lớn

trong việc chọn lựa và chủ động được nguồn thức ăn trong nuôi cá ngựa thương phẩm

Khi nghiên cứu về khẩu phần thức ăn ngày đêm của cá ngựa gai (H histrix)

cỡ 9,5 – 11,5 g (130 – 143 mm), Trương Sĩ Kỳ và cộng sự (1996)[10] cho thấy khẩu phần thức ăn ngày đêm dao động 8,37 – 24,29% khối lượng cơ thể Theo Trần Sương Ngọc và cộng sự (1997)[17] thì khẩu phần ăn của cá ngựa đen cỡ 7,01 g là 12,48% khối lượng thân Nguyễn Tấn Sỹ và Trương Sỹ Kỳ (1999)[19] nhận định khẩu phần ăn

ngày đêm của cá ngựa thay đổi tùy theo loại thức ăn: đối với nhóm Artemia là 21,30%

- 23,93% và với Mysida là 24,78% - 30,00% Như vậy trong nuôi trồng thủy sản không nên cho ăn vượt quá 25% khối lượng cơ thể

1.2.3.4 Nhu cầu dinh dưỡng của cá ngựa

Giai đoạn ấu trùng và giống của hầu hết các loại cá biển đòi hỏi con mồi sống với hàm lượng dinh dưỡng cao, đặc biệt là giai đoạn đầu khi mới ăn thức ăn [37] Mặc

dù dinh dưỡng có tầm quan trọng rõ ràng trong sự phát triển, sinh trưởng và sự sống

Trang 23

của ấu trùng, nhưng người ta biết tương đối ít về nhu cầu dinh dưỡng đích thực của các

động vật thuỷ sinh ở giai đoạn ấu trùng khác nhau [22]

- Nhu cầu về lipid và các acid béo thiết yếu:

Khả năng tiêu hóa lipid của cá phụ thuộc vào chính chất lượng thức ăn lipid, những lipid được cấu tạo từ các axit béo no thì khả năng tiêu hóa thấp Những nghiên cứu về khả năng tiêu hóa lipid trên nhiều loài cá cho thấy những axit béo không no có

số lượng carbon trong mạch carbon càng nhiều càng dễ tiêu hóa Vì vậy, thức ăn có axit béo họ PUFA hay HUFA có khả năng tiêu hóa rất cao, thậm chí đạt tới 100% [7]

Ngoài việc thỏa mãn các nhu cầu của cá về các axit béo thiết yếu, lipid hoạt động như một nguồn năng lượng Nhìn chung 10 – 20% lipid trong các khẩu phần của

cá cho tốc độ sinh trưởng tối ưu mà không tạo ra một cơ thể quá béo (Cowey và Sargent, 1979) [22]

Cá có một loạt các enzyme elongase và desaturase có khả năng biến đổi các axit béo trong khẩu phần và các sản phẩm của quá trình sinh tổng hợp axit béo nội

sinh Chúng không sở hữu các desaturase cần cho việc biến đổi thành C18:2n-6 và C18:3n-3 từ C18:1n-9 Vì vậy, tất cả các n-3 và n-6 PUFA trong các loại lipid của cá

có nguồn gốc từ các n-3 và n-6 PUFA được tiêu thụ trong khẩu phần thức ăn và vì thế

chúng là các axit béo thiết yếu (các EFA) [22]

Điều quan trọng là trong suốt giai đoạn cá giống khẩu phần ăn đều cần có

hàm lượng HUFA cao, bao gồm DHA, 22:6n−3 và EPA, 20:5n−3 Nhu cầu về hàm

lượng HUFA của cá ngựa con chưa được biết Tuy nhiên, Payne & Rippingale (2000)[37] và Payne & cộng sự (1998) [52] cho rằng nhu cầu của chúng giống như những loài cá biển khác

Vấn đề chính để xác định ảnh hưởng của các loại HUFA khác nhau lên cá đó là nhu cầu HUFA được xác định không chỉ bởi tổng giá trị tuyệt đối của HUFA trong thức

ăn mà còn bởi các HUFA khác như là yếu tố cạnh tranh gây sự kiềm chế (Rainuzzo và cộng sự, 1997; Sargent và cộng sự, 1999 and Corraze, 2001) [56] Và tỷ lệ DHA/EPA

đã được xem như một chỉ tiêu đặc biệt trong thời gian gần đây (Izquierdo, 1996; Rainuzzo và cộng sự, 1997; Rodriguez và cộng sự, 1997 và Sargent và cộng sự, 1997) Thức ăn của cá chứa DHA và EPA với tỷ lệ xấp xỉ 2:1 được xem là tỷ lệ tối ưu [37], [56] Chang & Southgate (2001) thông báo hàm lượng DHA >9,3 mg/g khối lượng khô

Trang 24

là tối ưu cho sinh trưởng và tỷ lệ sống của giống một loài cá ngựa nhiệt đới (H kuda

thuộc nhóm này) giai đoạn từ 3 – 33 ngày tuổi [52]

Nghiên cứu của Woods (2003c)[56] về ảnh hưởng của việc làm giàu Artemia

bằng các sản phẩm có hàm lượng acid béo thiết yếu khác nhau lên tỷ lệ sống của cá

ngựa giống loài H abdominalis cho kết quả: tỷ lệ DHA/EPA thấp nhất (0,31) ở Artemia làm giàu bằng EPABSF/spirulina, cao nhất (1,21) ở Artemia làm giàu bằng Algamac-3050 Cả hai kết quả làm giàu này đều cho sinh trưởng tốt hơn Artemia

được làm giàu bằng Super Selco® với tỷ lệ DHA/EPA là 0,46 Kết quả cũng đã xác

định rằng, cá cho ăn bằng Artemia làm giàu bằng Super Selco® cho tốc độ sinh trưởng thấp nhất Nhưng Artemia làm giàu bằng Super Selco® có hàm lượng n−3

HUFA cao nhất Cũng theo tác giả này, nhu cầu đòi hỏi của EFA cho sự sinh trưởng

của cá ngựa H abdominalis cuối giai đoạn giống không lớn về tổng lượng EFA

- Nhu cầu về protein:

Protein là vật chất hữu cơ chủ yếu xây dựng nên các tổ chức mô của cá cũng như động vật Protein chiếm khoảng 60 – 75% tổng số vật chất khô của cơ thể Nhu cầu protein phụ thuộc vào việc sử dụng các amino axit để xây dựng nên các protein mới hoặc để thay thế các protein già cũ Thức ăn thiếu protein sẽ làm giảm tốc độ sinh trưởng của cá vì chúng phải huy động các nguồn protein từ các tổ chức trong cơ thể để đáp ứng nhu cầu amino axit, dẫn đến khối lượng bị giảm sút Ngược lại, nếu thức ăn thừa protein thì chỉ một phần protein được sử dụng, phần còn lại sẽ chuyển hóa thành năng lượng hoặc sẽ bị đào thải, vì vậy gây lãng phí [7]

Nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của protein đối với cá ngựa chưa nhiều, nhưng nhìn chung nhu cầu protein của cá ngựa cũng giống như các loài cá biển khác Nhu cầu protein ở giai đoạn cá giống của nhiều loài dao động từ 30 – 56% của khẩu

phần Như nhu cầu protein cá vược mõm rộng (Micropterus salmoides) là 40% (nguồn protein là Casein và protein cá cô), cá hồi cầu vồng (Oncorhynchus mykiss): 40% (nguồn protein là bột cá), cá cam (Seriola quinqueradiata): 55% (nguồn protein là

chình đất và bột cá) (Wilson, 1989) [22]

Nhu cầu protein của cá giảm cùng với việc tăng kích thước và tuổi Ví dụ cá hồi ở giai đoạn cá hương, nhu cầu protein từ 45 – 50% khối lượng khô của thức ăn, giai đoạn cá giống giảm còn 40% và giai đoạn thương phẩm còn khoảng 35% Cũng

Trang 25

tương tự với cá da trơn, giai đoạn giống nhỏ nhu cầu protein là 40% trong khi giai đoạn giống lớn là từ 30 – 35% [7]

1.2.4 Đặc điểm sinh trưởng

Cá ngựa là loài sinh trưởng nhanh, cá đạt kích thước thương phẩm sau 6 tháng nuôi, vòng đời ngắn Hầu hết các loài cá ngựa đánh bắt được có tuổi từ 1 – 2 năm, kích thước dao động 80 – 160 mm [12] Job và cộng sự (2002)[33] cũng cho rằng cá ngựa đen có tốc độ sinh trưởng nhanh (0,9 – 1,53 mm/ngày)

Theo Trương Sỹ Kỳ (2000)[12] sinh trưởng của cá ngựa đen nuôi theo thời gian được trình bày ở bảng 1.1

Bảng 1.1 Sinh trưởng của cá ngựa đen nuôi

Như vậy cá ngựa có tốc độ sinh trưởng tương đối nhanh, thời gian nuôi tương đương những đối tượng thủy sản khác, nên nó là một đối tượng nuôi rất có triển vọng

1.2.5 Đặc điểm sinh sản

Hầu hết các loài cá ngựa ở biển Việt Nam đều có mùa đẻ kéo dài quanh năm Tuy nhiên, tùy loài và vùng biển mà mùa đẻ rộ có thể thay đổi Đối với loài cá ngựa đen vùng biển Khánh Hòa mùa đẻ rộ thuộc các tháng 4, 5, 9, 10 và 12 [8], [12] Cá

ngựa gai (H histrix) từ tháng 5 đến tháng 11 Cá ngựa ba chấm (H trimaculatus) từ tháng 3 – tháng 5 và tháng 10 [8], [11], [12] Cá ngựa loài H comes được tìm thấy đẻ

quanh năm ở Philipines nhưng số lượng con đực mang trứng đạt cực đại vào tháng 7

và tháng 12, tương ứng với mùa mưa [38] Mùa sinh sản ở vùng nhiệt đới kéo dài hơn

so với các loài cá ở vùng ôn đới, ví dụ H whitei ở vùng ôn đới sinh sản từ tháng 10

cho đến tháng 8 [46]

Tuổi thành thục lần đầu của các loài cá ngựa rất khó xác định, chỉ quan sát được vài loài, đa số là không giống nhau [49] Các loài có kích thước nhỏ thì tuổi sinh sản

Trang 26

là 3 tháng, các loài có kích thước lớn hơn như H barbouri, H fuscus , tuổi sinh sản lần đầu là 4 – 5 tháng, từ 6 tháng đến một năm đối với H kuda và H mohnikei [32]

Tuổi thành thục lần đầu của cá ngựa ít được sử dụng hơn kích thước thành thục

lần đầu Quần thể H trimaculatus ở vùng biển phía Bắc và Nam Trung Quốc đều

thành thục cùng kích thước, ở vùng biển Bắc Trung Quốc thì tuổi thành thục lần đầu là

5 tháng tuổi trong khi ở vùng biển Nam Trung Quốc là 3 tháng tuổi [25] Kích thước thành thục lần đầu đối với cá ngựa đen ở vùng biển Việt Nam, con đực là 90 mm, con cái 100 mm Đối với cá nuôi thì khả năng thành thục sinh dục chậm hơn so với cá tự nhiên [8], [12]

Sức sinh sản tuyệt đối của các loài cá ngựa khác nhau thì khác nhau Sức sinh sản tuyệt đối của một số loài cá ngựa cái và khả năng ấp của cá ngựa đực thể hiện ở Bảng 1.2

Bảng 1.2 Sức sinh sản của một số loài cá ngựa cái và khả năng ấp của cá ngựa đực

phôi xảy ra nhanh hơn và ngược lại Ví dụ: thời gian phát triển phôi của loài H trimaculatus ở nhiệt độ 22,5oC là 19 ngày, 26oC là 16 ngày và chỉ còn 11 ngày ở 28,5oC [11], [25] Các loài H abdominalis, H whitei cũng xảy ra tương tự như thế

[48], [57]

Bảng 1.3 Thời gian phát triển phôi của một số loài cá ngựa trên thế giới

triển phôi (ngày)

Trang 27

Tập tính chuyển trứng và đẻ con: cá ngựa cái khi buồng trứng đạt đến giai đoạn chín muồi thì cá cái chuyển trứng sang túi ấp của cá đực Sau đó cá đực sẽ ấp trứng và

Theo Wong và cộng sự (2003) tăng trưởng về khối lượng và kích thước của cá

tăng khi nhiệt độ tăng Tỷ lệ tăng trưởng của cá ngựa H whitei sau 107 ngày nuôi gia

tăng khi nhiệt độ tăng Tốc độ tăng trưởng bình quân 0,14 mm/ngày ở 17°C đến 0,26 mm/ngày ở 26°C Sự tăng trưởng của cá tỷ lệ thuận với sự gia tăng của nhiệt độ, có lẽ

do sự tăng của quá trình trao đổi chất khi nhiệt độ tăng Điều này phù hợp với nghiên

cứu của Strawn (1958) khi báo cáo rằng sự sinh trưởng của cá ngựa H zosterae tăng

nhanh vào những mùa nhiệt độ ấm ngoài tự nhiên và phù hợp với nghiên cứu của

James & Woods (2001) [52] nghiên cứu trên loài H abdominalis

Kết quả nghiên cứu của Lin và cộng sự (2006) cho rằng, nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của tuyến sinh dục, khả năng thụ tinh, đẻ trứng của cá ngựa đen và tỷ

lệ sống của cá con là 26 – 28oC Khi nuôi cá ở nhiệt độ 18oC và 20oC tuyến sinh dục của cá chỉ phát triển lần lượt đến giai đoạn II và III Chỉ số GSI đạt đến đỉnh điểm khi nuôi cá ngựa đen ở nhiệt độ 28oC, đây cũng là nhiệt độ thích hợp nhất cho sự phát triển của tuyến sinh dục Trong khi đó sự phát triển của tế bào sinh dục đạt cao nhất ở nhiệt độ 20oC đối với cá ngựa H whitei và cá thành thục sinh dục sau 6 – 7 tháng nuôi

ở nhiệt độ 20oC [52]

Khi nghiên cứu ở các thang nhiệt độ: 22°C, 24°C, 26°C, 28°C, 30°C và 32°C

trên loài cá ngựa đen H kuda, Lin và cộng sự (2007) đã xác định: khi nhiệt độ cao thì

thời gian ấp trứng và tốc độ đẻ của cá cũng ngắn lại Tổng nhiệt (SET: sum of effective temperature) và ngưỡng nhiệt độ cho giai đoạn đầu phát triển của buồng

trứng cá ngựa đen lần lượt là: 14066,9 °C/h và 13,7°C

Nhiệt độ nước còn ảnh hưởng đến cường độ bắt mồi của cá giống H trimaculatus Nghiên cứu của Sheng và cộng sự (2006) đã nhận thấy ở nhiệt độ 18oC

cá ngựa không ăn, chúng không bơi lội và lắng xuống đáy bể Cá ngựa giống (10 ngày

Trang 28

tuổi) có thể ăn ở nhiệt độ 22oC, nhưng cường độ bắt mồi không cao (12,42 Copepoda/h) Khi nhiệt độ nước tăng lên 26oC, cá ngựa giống có cường độ bắt mồi cao nhất, cá ở các ngày tuổi 1, 5 và 10 cường độ bắt mồi lần lượt là 21,08, 22,64 và 39,32 Copepoda/h Cường độ bắt mồi của nhóm cá nuôi ở nhiệt độ 30oC cũng tương đối cao, chỉ thấp hơn so với nhóm nuôi ở 26oC (P<0,05)

Theo một số tác giả (Job và cộng sự, 2002; Heather, 2005 [13]) nhiệt độ môi trường trong sản xuất giống của các loài cá ngựa ở vùng nhiệt đới tương đối giống nhau: 28 – 30oC

1.2.6.2 Ánh sáng

Ánh sáng có ảnh hưởng đến sự phát triển của cá con Cá ngựa ở giai đoạn giống cần nuôi ở điều kiện chiếu sáng thích hợp Cường độ chiếu sáng thích hợp giao động trong khoảng 1.000 – 10.000 lux Khi nuôi cá ngựa ở nơi tối sau vài ngày cá sẽ bị

mù Cấn thiết phải nuôi cá ngựa ở giai đoạn giống ở điều kiện chiếu sáng thích hợp Nên đặt hồ nuôi ở nơi có ánh sáng phân bố đều, để tránh hiện tượng cá hướng quang, tập trung ở một nơi gây ra sự cạnh tranh vè không gian và thức ăn Thời gian chiếu sáng ít nhất là 10 giờ mỗi ngày [12]

Theo Wong & Benzie (2003) cường độ chiếu sáng trong khoảng 24 – 136 μE.m−2.s−1 không ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá ngựa H whitei

Cường độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng đến cường độ bắt mồi giữa các nhóm cá

con H trimaculatus khác nhau (P<0,01): 1834 lx là cường độ ánh sáng tốt nhất đối

với cá 1 ngày tuổi, 1014 lx ở nhóm 5 ngày và 510 lx ở nhóm 10 ngày tuổi [41]

Woods (2000) đã nghiên cứu để xác định tính hướng quang của cá ngựa H abdominalis, từ lúc mới đẻ đến 2 tháng tuổi Khi chiếu sáng trên bề mặt xuống bể nuôi

cá cảnh bằng thủy tinh, cá giống có tỷ lệ sống thấp hơn không chiếu vào bề mặt nước

Vì khi chiếu sáng trên bề mặt thì Artemia nauplii sẽ hướng quang lên bề mặt nước, khi

đó cá ăn mồi sẽ đớp bọt khí vào bụng và gây ra “bệnh” bọt khí

1.2.6.3 Độ mặn

Độ mặn có ảnh hưởng đến một số yếu tố khác của môi trường: độ mặn thấp làm tăng độ hòa tan của oxy và tăng hiệu quả của các vi khuẩn nitrat hóa [12] Cá ngựa có thể sống trong nước có độ muối dao động từ 15 – 35 ‰ Một số loài cá ngựa được thuần hóa bằng cách nuôi trong nước có độ mặn giảm dần, sau một thời gian chúng có thể sống bình thường trong nước có độ mặn thấp hown như loài cá ngựa

đen(Hippocampus kuda) có thể sống được ở độ mặn 5 ‰ nếu như được thuần hóa tốt

Hầu hết các nghiên cứu về cá ngựa đều nuôi ở độ mặn 30 – 35 ‰[12]

Trang 29

1.2.6.4 pH

pH nước có ảnh hưởng rất lớn đến các đối tượng sinh vật thủy sinh pH cao sẽ dẫn đến sự gia tăng hàm lượng ammonia gây độc cho cá đặc biệt ở dạng không ion, tăng tỷ lệ tử vong cho cá pH thích hợp cho nuôi cá ngựa 8,0 – 8,5; tối ưu 8,1 – 8,3 [12], [13]

pH cao dẫn đến sự tăng hàm lượng Amomni, gây độc cho cá ở dạng không ion, tăng tỷ lệ tử vong cho cá (Reay, 1979) HH3 H2S là hai khí độc hòa tan trong nước, chúng hiện diện trong bể nuôi dưới hai dạng: dạng khí độc có độc tính cao và dạng ion ít độc hơn Tỷ lệ giữa dạng khí và dạng ion bị ảnh hưởng bởi độ pH, khi pH cao

NH3 dạng khí sẽ nhiều và H2S dạng khí ít và ngược lại Độ pH của nước biển dùng cho sinh vật nuôi dao động từ 7,6 – 8,3 Thông thường đối với cá ngựa pH tối ưu dao động

từ 8,1 – 8,3 [12]

1.2.6.5 Oxy

DO là một yếu tố rất quan trọng trong hệ thống nước Tất cá các quá trình sống của sinh vật (trừ vi khuẩn kị khí) được đảm bảo với sự trao đổi năng lượng, mà đối với sinh vật, chất duy nhất và không thay thế được là oxy Khi hàm lượng DO thấp sẽ kìm hãm tốc độ tăng trưởng của vật nuôi: Vật nuôi hoạt động yếu, lượng thức ăn sử dụng giảm, thậm chí có khả năng chết ngạt Đồng thời thúc đẩy sự xuất hiện các độc tố với vật nuôi [21]

Dòng chảy, nhiệt độ nước, mật độ nuôi, vật chất hữu cơ trong hệ thống nuôi ảnh hưởng lớn đến hàm lượng oxy hòa tan Khi lượng oxy hòa tan giảm, đối tượng nuôi có thể bị sốc dẫn đến tăng tính cảm nhiễm bệnh, hệ số chuyển đổi thức ăn tăng, cá sẽ yếu dần và dễ nhiễm bệnh Đối với cá ngựa duy trì ở mức DO 4 – 5 mgO2/L [12], [13]

Bên cạnh đó, khi hàm lượng oxy thấp, NO3

sẽ chuyển hóa thành NH4

+

nhờ vi sinh vật gọi là sự amôn hóa nitrat [21]:

Trang 30

Trong cân bằng trên, dạng NH3 (độc đối với thủy sinh vật) gọi là ammonia không ion hóa (ammoniac), dạng NH4

Korsgaarg, 1996; Harris và cộng sự, 1998a) (trích từ Adams và cộng sự, 2001) Ảnh

hưởng của hàm lượng ammoniac lên tôm, cá phụ thuộc vào độ pH và nhiệt độ nước

Lượng khí ammoniac tăng lên tỷ lệ thuận với độ pH và nhiệt độ [18], [21]

Theo Colt và Amstrong (1979) [21] thì tác động độc hại của NH3 đối với động vật nuôi là: khi NH3 trong nước quá cao làm cho NH3 trong dịch máu khó tiết ra môi trường ngoài, làm lượng NH3 trong máu và các mô gia tăng, dẫn đến tăng pH máu Từ

đó, làm rối loạn chức năng điều hòa áp suất thẩm thấu của màng tế bào, phá hủy lớp nhớt ở mang, giảm khả năng vận chuyển oxy của hemoglobin

Nghiên cứu của Adams và cộng sự (2001) về ảnh hưởng mãn tính và cấp tính

của ammonia lên khả năng tiêu thụ oxy và sinh trưởng với cá ngựa bụng lớn (H abdominalis) giai đoạn giống Kết quả thí nghiệm về sự tác động mãn tính của hàm

lượng ammonia ở các nồng độ: 0,11; 0,55; 1,67; 3,07 mg/L TA-N cho thấy không có

sự khác nhau về sinh trưởng của cá khi tăng nồng độ ammonia trong suốt quá trình thí nghiệm Tỷ lệ tiêu thụ oxy tăng tỷ lệ với nồng độ ammonia và sự có sai khác ở nồng

độ 1,67 và 3,07 mg/L TA-N so với nồng độ không tác động là 0,11 mg/L (P<0,05)

Thí nghiệm về tác động cấp tính: qua tác động trong thời gian 24 giờ với hàm lượng ammonia-nitrogen tổng số ở các mức 0,01; 5,0; 10,1; 14,8 và 19,9 mg/L thì sự gia tăng

có ý nghĩa (P<0,001) về sự tiêu thụ oxy ở nồng độ 14,8 và 19,9 mg/L TA-N giữa

trước và sau khi có tác động so với nhóm ở mức 0,01; 5,0; 10,1 mg/L Tất cả cá đều

sống sót trong quá trình thí nghiệm

1.2.6.7 NO 3

/ NO 2

-Nitrite, sản phẩm được sinh ra đầu tiên trong hệ thống lọc tuần hoàn, nó có thể

tích lũy và gây nên sự nguy hại nếu hệ thống lọc sinh học bị hư (Jensen, 1995) [24]

Trang 31

Sự tăng lên dần của hàm lượng nitrite nó sẽ làm cản trở sự mang oxy của máu, bởi quá trình oxy hóa hemoglobin đã kết hợp với NO2

trở thành methaemoglobin Methaemoglobin không liên kết được với oxy và gây nên hiện tượng cấp tính làm giảm khả năng liên kết với oxy của máu (Jensen, 1995) Nitrite đã gây độc do sự phá

vỡ quá trình điện li, máu chứa nhiều methaemoglobin có màu nâu, vì vậy thuật ngữ cho nhiễm độc NO2

gọi là “bệnh máu nâu” [21], [24] Độ độc của NO2

trong môi trường nước ngọt gấp 55 lần so với môi trường nước lợ (độ mặn 16 ‰) [21]

Để xác định mức độ ảnh hưởng của nitrite-nitrogen, Adams và cộng sự (2001)

đã nghiên cứu về ảnh hưởng mãn tính và cấp tính của nitrite-nitrogen [NO2-N] lên khả

năng tiêu thụ oxy và sinh trưởng với cá ngựa bụng lớn (H abdominalis) giai đoạn

giống Kết quả, thí nghiệm về sự tác động mãn tính của hàm lượng nitrite-nitrogen ở các nồng độ: 0,91; 4,59 và 9,10 mg/L NO2-N, không có sự khác nhau có ý nghĩa giữa các nhóm khi có tác động của nitrite, mặc dù sinh trưởng của cá giảm khi nồng độ nitrie tăng Tỷ lệ tiêu thụ oxy khác nhau không có ý nghĩa giữa các nồng độ nitrite Tuy nhiên khi cá nuôi ở nồng độ nitrite 4,59 và 9,10 mg/L NO2-N phải thường xuyên sục khí liên tục và tất cả cá đều sống trong quá trình tác động Không có những hoạt động bất thường trong điều kiện bị căng thẳng này Thí nghiệm về tác động cấp tính của hàm lượng nitrite-nitrogen [NO2-N] ở các mức: <0,001; 74,4; 99,2 và 123,6 mg/L, không có sự tử vong trong suốt quá trình thí nghiệm Sự tiêu thụ oxy gia tăng có ý

nghĩa (P<0,001) ở nồng độ 99,2 và 123,6 mg/L NO2-N, không có ý nghĩa ở mức 74,4 mg/L NO2-N so với mức 0,001 mg/L Tuy nhiên có sự sai khác có ý nghĩa về sự sinh trưởng của cá giữa nhóm: 0; 74,4 và nhóm 99,2 và 123,6 mg/L NO2-N

Như vậy trong hệ thống nuôi thủy sản Nitơ thường tồn tại ở hai dạng NH4

+

/NH3 ra khỏi hệ thống nuôi người ta thường dùng hệ thống lọc sinh học để kích thích nhóm vi khuẩn nitrate hóa theo các bước sau: [18], [21], [40]

Trang 32

Ion NO3

là sản phẩm cuối cùng của sự vô cơ hóa các hợp chất hữu cơ có chứa Nitơ Nitrate không gây độc hại đối với thủy sinh vật [21] Tuy nhiên trong quá trình chuyển hóa có sự tồn tại của NO2

gây độc, để loại bỏ hoàn toàn Nitơ có trong các chất hữu cơ hòa tan ra khỏi hệ thống nuôi người ta thường hay dùng hệ thống tách protein (protein skimmer) để loại bỏ Nitơ [18], [40]

1.2.7 Tình hình nuôi cá ngựa

Từ năm 1957 Trung Quốc đã nuôi hai loài cá ngựa H kuda và H trimaculatus,

thức ăn chủ yếu của cá là các dạng ấu trùng thuộc loài giáp xác, cá ngựa trưởng thành

ăn moi, ruốc, cho cá ăn bột tôm tươi, khô [15]

Theo Trương Sỹ Kỳ (2006b), việc nuôi cá ngựa với mục đích kinh tế có lẽ được bắt đầu từ những năm 50 cho đến năm 1980 Tại Trung Quốc có 7 cơ sở nuôi qui mô khá lớn ở vùng phía Nam biển Trung Hoa, 2 cơ sở ở Guangxi và 5 cơ sở ở Guangdong Có lẽ vì những khó khăn về mặt kỹ thuật và hiệu quả kinh tế cho nên việc nuôi cá ngựa bị ngừng lại Ngày nay, do nhu cầu tiêu thụ cá ngựa quá lớn nên vấn đề nuôi cá ngựa ở Trung Quốc có thể được nghiên cứu tiếp trong thời gian tới

Ở Philippines, cá ngựa được nuôi ở đảo Marrunggas vào năm 1988, nhưng bị thất bại Phương pháp nuôi như sau: cho cá đẻ trong phòng thí nghiệm và nuôi cá con trong các lồng nổi đặt ở biển hoặc cửa sông, tỷ lệ sống sót của cá con là 12% sau một tuần nuôi Năm 1995 đề án nuôi cá ngựa lại được lặp lại ở Trường Đại Học Tổng hợp Mindanao và hiện nay đề án này thực hiện tại SEADAC/AQD (Southeast Asian Fisheries Development Center Aquaculture Department)

Những năm gần đây, ở Thái Lan bắt đầu nghiên cứu nuôi cá ngựa thương phẩm trong điều kiện phòng thí nghiệm, nhưng kết quả chỉ dừng lại ở bước đầu Tỷ lệ sống không cao, không chủ động được khâu thức ăn, chưa cho cá ngựa tái phát dục trong điều kiện nuôi nhốt, cho nên chưa tạo được thế hệ F2 Có lẽ đây là khó khăn chung cho các nghiên cứu nuôi cá ngựa Hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất khó khăn này có thể vượt qua Gần đây nhất, các nước Canada, Anh, Úc, Bỉ, Ấn Độ, Nam Phi, New Zealand đang tập trung nghiên cứu đặc điểm sinh học, sản xuất giống và nuôi thương phẩm loài cá này, nhưng kết quả đạt được còn rất hạn chế, chỉ thành công ở qui

mô thí nghiệm

Ở Việt Nam trong vài năm trở lại đây nuôi cá ngựa đã trở thành một nghề, với

một số cơ sở ở Khánh Hòa, nuôi chủ yếu các loài: cá ngựa đen (H kuda), cá ngựa ba

Trang 33

chấm (H trimaculatus), cá ngựa vằn (H comes), với hình thức nuôi chủ yếu là trong

các bể xi măng, bể composite Kích thước cá thu hoạch thường 6 – 12 cm, và cá chủ yếu được bán dưới dạng cá cảnh Năm 2006, Hồ Thị Hoa đã nuôi thành công cá ngựa bằng lồng ở vịnh Nha Trang, mở ra một nghề mới rất có triển vọng

Thức ăn được các cơ sở nuôi cá ngựa sử dụng, giai đoạn cá con nuôi bằng động

vật phù du hoang dã vớt bằng lưới động vật nổi (mắt lưới 120 μm), Artemia nauplii,

động vật phù du đông lạnh, cá lớn cho ăn chủ yếu là tôm cám và ruốc đông lạnh

Như vậy, khi nghiên cứu về cá ngựa các tác giả đã tập trung nhiều vào nghiên cứu hầu hết các đặc điểm sinh học cũng như sự thích nghi với các yếu tố môi trường của các loài cá ngựa khác nhau Và khi ứng dụng vào trong sản xuất vẫn chưa thực sự mang lại hiệu quả nên nghề nuôi cá ngựa vẫn chưa được phổ biến

Trong đó, khi nghiên cứu về dinh dưỡng của các loài cá ngựa, các tác giả nghiên cứu nhiều về nhu cầu dinh dưỡng cũng như các loại thức ăn cho cá ngựa và nhận thấy cá ngựa là loài sử dụng các loại thức ăn dễ tìm, có nhiều ở địa phương Nhưng việc chủ động nguồn thức ăn cho giai đoạn sản xuất giống vẫn chưa thực sự khắc phục được, đặc biệt trong điều kiện về cơ sở vật chất cũng như trình độ của người dân nuôi còn hạn chế Vì vậy, mà những cơ sở nuôi cá ngựa đã gặp nhiều khó khăn trong việc nhân rộng mô hình Hơn nữa các nghiên cứu này đều nuôi cá ngựa trong hệ thống lọc tuần hoàn, đòi hỏi chi phí sản xuất ban đầu và trình độ kỹ thuật tương đối cao Điều này không phù hợp với điều kiện cụ thể của các cơ sở nuôi hiện tại là tận dụng hệ thống bể trong trại sản xuất tôm sú giống để nuôi cá ngựa

Để khắc phục những khó khăn trên, và bước đầu thử nghiệm sản xuất nhân tạo tại Quảng Nam và tìm phương thức nuôi cá ngựa thích hợp để từ đó xây dựng một qui trình sản xuất cá ngựa giống hoàn thiện là điều hết sức cần thiết Xuất phát từ những

yêu cầu cấp thiết đó tôi đã thực hiện đề tài: : "Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và

ương giống cá ngựa Hippocampus kuda (Bleeker, 1852) tại Quảng Nam"

Trang 34

CHƯƠNG 2 - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:

Hệ thống phân loại cá ngựa đen:

Ngành động vật cĩ xương sống: Vertebrata

Lớp cá Xương: Osteichthyes

Bộ cá Gai: Gasterosteiformes

Bộ phụ cá Chìa vôi: Syngnathoidae

Họ cá Chìa vôi: Syngnathidae

Giống cá Ngựa: Hippocampus Lồi : Hippocampus kuda (Bleeker, 1852)

Tên tiếng Anh : Black seahorse, Yellow seahorse

(a) (b)

Hình 2.1 Hình dáng ngồi cá ngựa đen đực (a) và cái (b) 2.1.2 Thời gian nghiên cứu:

Từ ngày 07 tháng 10 năm 2014 đến ngày 01 tháng 11 năm 2015

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu:

Thơn Đơng Tuần, xã Tam Hải, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

Trang 35

Nguồn nước tại khu vực này thường có sự biến động quanh năm Các yếu tố môi trường của nguồn nước: độ mặn: 28 - 34‰, pH: 8,1 – 8,3, độ kiềm: 120-130 mg CaCO3/L

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Hình 2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 2.2.2 Sản xuất giống cá ngựa

2.2.2.1 Hệ thống bể nuôi

Hình 2.3 Hệ thống các bể ương trong trại sản xuất giống

Thí nghiệm về độ mặn để ương cá giống >4cm (15‰, 20‰, 25‰, nước biển bình thường 30‰)

Cá đực mang trứng từ tự nhiên

Lưu giữ trong bể 4 – 6 m3

Bể đẻ và ương cá con (4 –

6 m3)Ương cá đến 4 cm

Ương cá từ 4 cm lên 6cm

Hoàn thành quy trình sản xuất cá giống trong bể xi măng

Ngày đăng: 24/03/2016, 23:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu - Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và ương giống cá ngựa hippocampus kuda (bleeker, 1852)
Hình 2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (Trang 35)
Hình 2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống - Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và ương giống cá ngựa hippocampus kuda (bleeker, 1852)
Hình 2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống (Trang 38)
Hình 2.5 Hệ thống bể nhựa thí nghiệm đặt trong Trại giống - Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và ương giống cá ngựa hippocampus kuda (bleeker, 1852)
Hình 2.5 Hệ thống bể nhựa thí nghiệm đặt trong Trại giống (Trang 39)
Hình 3.1 Tỷ lệ sống của cá ngựa từ khi mới sinh đến 4 cm - Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và ương giống cá ngựa hippocampus kuda (bleeker, 1852)
Hình 3.1 Tỷ lệ sống của cá ngựa từ khi mới sinh đến 4 cm (Trang 43)
Hình 3.5 Tăng trưởng về  khối lượng của cá ngựa đợt 2 - Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và ương giống cá ngựa hippocampus kuda (bleeker, 1852)
Hình 3.5 Tăng trưởng về khối lượng của cá ngựa đợt 2 (Trang 46)
Hình 3.4 Tăng trưởng về khối lượng của cá ngựa đợt 1 - Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và ương giống cá ngựa hippocampus kuda (bleeker, 1852)
Hình 3.4 Tăng trưởng về khối lượng của cá ngựa đợt 1 (Trang 46)
Hình 3.6: Sinh trưởng về chiều dài của cá ở các mức độ mặn - Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và ương giống cá ngựa hippocampus kuda (bleeker, 1852)
Hình 3.6 Sinh trưởng về chiều dài của cá ở các mức độ mặn (Trang 51)
Kết quả sinh trưởng về khối lượng thể hiện hình 3.8, hình 3.9 và bảng 3.8. - Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và ương giống cá ngựa hippocampus kuda (bleeker, 1852)
t quả sinh trưởng về khối lượng thể hiện hình 3.8, hình 3.9 và bảng 3.8 (Trang 52)
Hình 3.9: Khối lượng của cá sau 7 tuần ương ở các mức độ mặn - Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và ương giống cá ngựa hippocampus kuda (bleeker, 1852)
Hình 3.9 Khối lượng của cá sau 7 tuần ương ở các mức độ mặn (Trang 53)
Hình 3.10 Tăng trưởng về chiều dài ở các bể cá ương trên 4cm đợt 1 - Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và ương giống cá ngựa hippocampus kuda (bleeker, 1852)
Hình 3.10 Tăng trưởng về chiều dài ở các bể cá ương trên 4cm đợt 1 (Trang 54)
Hình 3.12 Tăng trưởng về khối lượng ở bể ương cá ngựa trên 4 cm - Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và ương giống cá ngựa hippocampus kuda (bleeker, 1852)
Hình 3.12 Tăng trưởng về khối lượng ở bể ương cá ngựa trên 4 cm (Trang 55)
Hình 3.13 Tăng trưởng về khối lượng ở bể ương cá ngựa trên 4 cm đợt 2 - Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và ương giống cá ngựa hippocampus kuda (bleeker, 1852)
Hình 3.13 Tăng trưởng về khối lượng ở bể ương cá ngựa trên 4 cm đợt 2 (Trang 56)
Bảng 3.10 Sinh trưởng của cá ngựa ương đến 6cm - Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và ương giống cá ngựa hippocampus kuda (bleeker, 1852)
Bảng 3.10 Sinh trưởng của cá ngựa ương đến 6cm (Trang 56)
Hình 3.14 Bệnh cá ngựa do nguyên sinh động vật gây ra  Cách điều trị: - Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và ương giống cá ngựa hippocampus kuda (bleeker, 1852)
Hình 3.14 Bệnh cá ngựa do nguyên sinh động vật gây ra Cách điều trị: (Trang 59)
Bảng theo dõi kích thước đợt 1 - Thử nghiệm sinh sản nhân tạo và ương giống cá ngựa hippocampus kuda (bleeker, 1852)
Bảng theo dõi kích thước đợt 1 (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w