i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “ Hiện trạng kỹ thuật và giải pháp phát triển ổn định của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại tỉnh Bà R
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -
NGUYỄN XUÂN TOẢN
HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
ỔN ĐỊNH CỦA NGHỀ NUÔI LỒNG BÈ MỘT SỐ LOÀI
CÁ BIỂN CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ TẠI
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA – 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
- -
NGUYỄN XUÂN TOẢN
HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
ỔN ĐỊNH CỦA NGHỀ NUÔI LỒNG BÈ MỘT SỐ LOÀI
CÁ BIỂN CÓ GIÁ TRỊ KINH TẾ TẠI
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài “ Hiện trạng kỹ thuật và giải pháp
phát triển ổn định của nghề nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại tỉnh
Bà Rịa – Vũng Tàu” là kết kết quả nghiên cứu thực sự nghiêm túc của tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học tận tình của TS Nguyễn Địch Thanh Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Nha Trang, Ngày 29 tháng 11 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Xuân Toản
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp tôi đã nhận được nhiều kiến thức bổ ích về chuyên môn cũng như nhiều sự giúp đỡ từ ban giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, các thầy cô Viện Nuôi trồng Thủy Sản, Khoa Sau đại học, các bạn lớp cao học Nuôi trồng thủy sản niên khóa 2013, để tôi hoàn thành tốt đề
bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy TS Nguyễn Địch Thanh đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn ban lãnh đạo Phân Viện Nghiên Cứu Hải sản Phía nam, Viện Nghiên Cứu Hải sản đã tạo điều kiện cho tôi về thời gian, tài chính cũng như cơ sở vật chất để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn Phòng Kinh tế thành phố Vũng Tàu, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Tân Thành đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian khảo sát thu thập dữ liệu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình và tất cả các bạn đã giúp đỡ động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tốt nghiệp
Nha Trang, Ngày 29 tháng 11 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Xuân Toản
Trang 5iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình hình nuôi và khai thác thuỷ sản trên thế giới 3
1.2 Tình hình nghiên cứu nuôi cá biển ở Việt Nam 8
1.2.1 Nghiên cứu về thức ăn 8
1.2.2 Nghiên cứu giống cá biển 9
1.2.3 Nghiên cứu bệnh cá biển 10
1.2.4 Nghiên cứu nuôi cá biển bằng lồng bè ở Việt Nam 13
1.3 Điều kiện tự nhiên tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 19
1.3.1 Vị trí địa lý 19
1.3.2 Khí hậu, thời tiết 19
1.3.3 Chế độ thủy văn và thủy triều 20
1.3.4 Chất lượng môi trường nước nuôi trồng thủy sản 21
1.3.5 Tình hình môi trường, dịch bệnh, thiên tai 22
1.3.6 Cơ sở hạ tầng và dịch vụ hậu cần nuôi trồng thủy sản 23
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.2 Đối tượng nghiên cứu 25
2.3 Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.1 Thu thập số liệu thứ cấp 26
2.3.2 Thu thập số liệu sơ cấp 26
2.3.3 Đề xuất giải pháp 26
2.4 Xử lý số liệu 26
2.4.1 Xử lý số liệu 26
Trang 6iv
2.4.2 Phân tích số liệu 27
2.4.3 Chỉ tiêu xác định kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế - xã hội 27
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
3.1 Hiện trạng kinh tế xã hội của các chủ hộ nuôi cá biển lồng bè 28
3.1.1 Độ tuổi của chủ hộ 28
3.1.2 Trình độ văn hóa của chủ hộ 28
3.1.3 Tập huấn, đào tạo nghề nuôi cá lồng bè 29
3.1.4 Kinh nghiệm nuôi cá lồng 29
3.2 Hiện trạng kỹ thuật nuôi cá lồng tại Bà Rịa – Vũng Tàu 30
3.2.1 Hình thức nuôi và kích cỡ lồng nuôi 30
3.2.1.1 Hình thức nuôi 30
3.1.1.2 Kích cỡ lồng nuôi 30
3.2.2 Thông tin về đối tượng và mùa vụ nuôi 30
3.2.2.1 Đối tượng nuôi 30
3.2.2.2 Mùa vụ thả cá giống 31
3.2.3 Nguồn gốc, kích cỡ và mật độ nuôi 31
3.2.4 Hiện trạng quản lý chăm sóc 32
3.2.4.1 Thức ăn nuôi cá 32
3.2.4.2 Hiện trạng môi trường nuôi 33
3.2.4.3 Phân cỡ cá 33
3.2.4.4 Vệ sinh lồng lưới 33
3.2.4.5 Tỷ lệ sống cá nuôi lồng 34
3.3 Hiện trạng những bệnh thường gặp trên cá biển nuôi tại BR-VT 34
3.3.1 Bệnh lở loét 34
3.3.2 Bệnh ký sinh trùng 35
3.3.3 Bệnh xuất huyết 35
3.3.4 Bệnh cá chết không rõ nguyên nhân trên 36
3.3.5 Bệnh mù mắt 36
3.4 Năng suất, hiệu quả kinh tế và cơ cấu chi phí của nuôi cá biển lồng bè 37
3.4.1 Năng suất và hiệu quả kinh tế của nuôi cá lồng 37
3.4.2 Cơ cấu chi phí cho nghề nuôi cá biển tại Bà Rịa Vũng Tàu 38
3.5 Hiệu quả về kinh tế xã hội 38
Trang 7v
3.6 Những khó khăn gặp phải trong nuôi cá lồng bè 39
3.7 Đề xuất một số giải pháp 40
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 41
Kết luận 41
Đề xuất 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 43 PHỤ LỤC a
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Sản lượng nuôi, đánh bắt thuỷ sản trên thế gới năm 2006-2011 3
Bảng 1.2 So sánh sản lượng nuôi thuỷ sản khu vực châu Á với thế giới năm 2010 4
Bảng 1.3 Một số loài cá biển có giá trị kinh tề nuôi trong lồng bè 6
Bảng 1.4 Một số loài cá biển có giá trị kinh tế nuôi trong lồng bè ở Indonesia 6
Bảng 1.5 Ương cá biển từ hương lên cá giống ở các loại hình nuôi khác nhau 7
Bảng 1.6 Một số loài cá biển có giá trị kinh tế nuôi trong lồng bè ở Thái Lan 7
Bảng 1.7 Các dạng lồng nuôi truyền thống thường được sử dụng ở Việt Nam 15
Bảng 3.1 Phân bố tuổi của chủ hộ nuôi cá biển lồng bè ở BR-VT 28
Bảng 3.2 Nguồn gốc, kích cỡ và mật độ cá nuôi trong lồng 32
Bảng 3.3 Thời gian thay lưới lồng nuôi cá lồng bè ở BRVT 33
Bảng 3.4 Năng suất và hiệu quả kinh tế của một số loài cá biển 37
Bảng 3.5 Những khó khăn gặp phải trong nuôi cá lồng bè tại BRVT 39
Trang 9vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Nhóm đối tượng cá biển nuôi và sản lượng nuôi trên thế giới 5
Hình 1.2 Dạng lồng bán chìm Semi-submergible cages 17
Hình 1.3 Dạng lồng nổi khung sắt 18
Hình 1.4 Cấu tạo lồng tròn HPDE do aqualine (Nauy) thiết kế) 18
Hình 2.1 Bản đồ khu vực nghiên cứu 25
Hình 2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 25
Hình 3.1 Trình độ văn hóa của người nuôi cá lồng 29
Hình 3.2 Kinh nghiệm của người nuôi cá lồng bè 29
Hình 3.3 Tỷ lệ đối tượng cá biển được nuôi trong lồng 31
Hình 3.4 Tỷ lệ sống của các loài cá biển nuôi bằng lồng bè tại BR-VT 34
Hình 3.5 Bệnh lở loét trên cá hồng 35
Hình 3.6 Ký sinh trùng trên cá mú (A) và cá bớp (B) 35
Hình 3.7 Biểu hiện cá chẽm bị bệnh xuất huyết .36
Hình 3.8 Biểu hiện cá hồng bị bệnh đục mắt .36
Hình 3 9 Cơ cấu chi phí nuôi cá biển tại Bà Rịa Vũng Tàu 38
Trang 11
ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Đề tài “Hiện trạng kỹ thuật và giải pháp phát triển ổn định của nghề nuôi cá lồng bè
một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ” được thực hiện từ tháng
6/2014 đến tháng 11 năm 2015 nhằm đánh giá được hiện trạng kỹ thuật và đề xuất một
số giải pháp nhằm phát triển ổn định nghề nuôi cá lồng bè ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Nghiên cứu được thực hiện ở một số địa bàn trọng điểm về nuôi cá lồng biển trong vùng như: xã Long Sơn và xã Tân Hải Từ đó, đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi để góp phần ổn định và phát triển cho những hộ nuôi cá lồng bè Dựa vào các phiếu điều tra
về hiện trạng kỹ thuật, được tổng hợp và phân tích thống kê
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tuổi trung bình của các chủ hộ nuôi là 37,6 tuổi Số chủ hộ tốt nghiệp cấp 2 chiếm tỷ lệ 39,4%, tiếp đến là số người tốt nghiệp cấp 3 và cấp 1 với tỷ lệ lần lượt là 35,3% và 19,0% , người không biết chữ 4,6 % Hình thức nuôi cá biển lồng bè tại tỉnh BRVT là nuôi bè nổi, khung gỗ, kích cỡ 6x6x3 m và thể tích trung
cá bớp và cá chim ,… mùa vụ nuôi chính vào khoảng tháng 2 – 5 dương lịch hàng năm Kích cỡ giống thả nuôi 5 loài cá (cá mú, cá chẽm, cá hồng, cá bớp và cá chim) dao động
từ 5 – 20cm Thức ăn sử dụng trong nuôi cá lồng bè của các ngư dân ở Bà Rịa Vũng Tàu chủ yếu là các loại cá tạp (cá nục, cá ngân, cá chỉ vàng, cá ngừ ồ) Trong các khoản chi phí cho hoạt động nuôi thì chi phí thức ăn chiếm tỉ trọng lớn nhất với trên 60% tổng Tỷ suất lợi nhuận của cá mú và cá chim cao nhất lần lượt là: 50,57±5,48 % và 59,32±7,13thấp nhất là tỷ suất lợi nhuận của cá bớp và cá chẽm Tỷ lệ sống của 5 loài cá biển dao
Xuất phát từ kết quả nghiên cứu, luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả nghề nuôi cá lồng bè ở Bà Rịa – Vũng Tàu, bao gồm: giải pháp
về con giống, giải pháp về thức ăn, kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnh, thị trường tiêu thụ và những biện pháp để quản lý môi trường vùng nuôi hiệu quả nhằm hạn chế rủi ro
Từ khóa: Hiện trạng kỹ thuật, cá lồng bè, giải pháp, Bà Rịa – Vũng Tàu
Trang 121
MỞ ĐẦU
Thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta, là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng cho thị trường nội địa và xuất khẩu Năm 2010 xuất khẩu thuỷ sản của cả nước đạt 1,353 triệu tấn, trị giá gần 5,034 tỷ USD (theo thống kê của VASEP năm 2010) Định hướng phát triển đến năm 2020 kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 8 tỷ USD, trong đó tổng sản lượng cá biển nuôi năm 2015 đạt 160.000 tấn, giá trị tương đương 1,04 tỷ USD và năm 2020 đạt 200-260.000 tấn, tương đương 1,8 tỷ USD.[31]
Nghề nuôi cá lồng ở nước ta trong những năm gần đây phát triền mạnh ở một số tỉnh ven biển như: Quảng Ninh, Hải Phòng, Khành Hoà, Bà Rịa-Vũng Tàu, Kiên Giang Hình thức nuôi hiện nay ở qui mô nhỏ trong các eo biển, vịnh, cửa sông, và chỉ tập trung nuôi một số đối tượng có giá trị kinh tế như: cá giò, cá song, cá chim vây vàng, cá chẽm, cá hồng…
Để đạt được chỉ tiêu kế hoạch đề ra trong những năm tới, ngành thuỷ sản đã có định hướng phát triển nghề nuôi biển, nghiên cứu những đối tượng mới có giá trị kinh
tế, thử nghiệm thành công nuôi thương phẩm cá biển theo công nghệ của các nước có nghề nuôi phát triển: Nhật Bản, Úc, Đài Loan… qui hoạch vùng nuôi tập trung, tìm giải pháp cho các vùng nuôi kém hiệu quả giúp nghề nuôi cá biển phát triển bền vững Nghề nuôi cá lồng bè tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bắt đầu phát triển từ năm 2000, trong đó khu vực xã Long Sơn phát triển nghề mạnh nhất, toàn xã hiện nay có khoảng trên 2.866 lồng nuôi cá của 140 hộ dân tập trung chủ yếu ở trên sông Chà Và Việc phát triển tự phát, không quy hoạch trong một thời gian dài, làm cho môi trường nuôi
bị ô nhiễm, dịch bệnh cá xảy ra nhiều, gây thiệt hại nhiều cho người nuôi Đây là nguyên nhân khiến cho nghề nuôi cá biển tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu phát triển kém bền vững Để góp phần vào nghiên cứu, đánh giá và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của nghề nuôi cá lồng bè khu vực tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và được sự đồng ý của Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang cho phép
tôi thực hiện đề tài “ Hiện trạng kỹ thuật và giải pháp phát triển ổn định của nghề nuôi cá lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”
Trang 132
* Các nội dung chính của đề tài:
- Tìm hiểu tình hình kinh tế - xã hội nghề nuôi cá biển lồng bè tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Điều tra hiện trạng kỹ thuật nuôi lồng bè một số loài cá biển có giá trị kinh tế
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển ổn định nghề nuôi cá biển lồng bè tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Mục tiêu của đề tài
Đánh giá được hiện trạng kỹ thuật và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển
ổn định nghề nuôi cá lồng bè tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
- Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
+ Ý nghĩa khoa học:
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm cơ sở cho các nhà khoa học và các nhà quản lý quy hoạch, cải tiến kỹ thuật nuôi phù hợp đối với nghề nuôi cá biển lồng bè
+ Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Kết quả của đề tài giúp cho cán bộ kỹ thuật và ngư dân khu vực tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu thấy rõ được hiện trạng kỹ thuật và hiệu quả kinh tế - xã hội mà nghề nuôi
cá lồng bè mang lại Từ đó có những giải pháp cụ thể giúp cho nghề nuôi cá biển lồng
bè phát triển bền vững
Trang 14từ 47,3 đến 63,6 triệu tấn, tăng khoảng 16,3 triệu tấn trong vòng 6 năm qua, tăng bình quân 2,72 triệu tấn/năm Sản lượng cá nuôi biển chỉ chiếm từ 30-34% trong tổng số sản lượng nuôithuỷ sản trên thế giới (FAO, 2012).[27]
Bảng 1.1 Sản lượng nuôi, đánh bắt thuỷ sản trên thế gới năm 2006-2011
(tr tấn) 2007 2008 2009 2010 2011 Đánh bắt
- Nội địa
- Biển khơi
9,8 80,2
10,0 80,4
10,2 79,5
10,4 79,2
11,2 77,4
11,5 78,9
33,4 16,6
36,0 16,9
38,1 17,6
41,7 18,1
44,3 19,3
Tổng sản lượng (nuôi+đánh bắt) 137,3 140,2 142,6 145,3 148,5 154,0
(Nguồn: : FAO, 2012.)
Sản lượng cá từ khai thác và nuôi trồng được con người sử dụng làm thực phẩm
có xu hướng tăng nhẹ, chiếm từ 83 đến 86% tổng sản lượng Con người sử dụng bình quân từ 17,4 kg/người/năm (năm 2006) tăng đến 18,8 kg cá/người/năm (năm 2011)
Trong 10 nước hàng đầu thế giới và châu Á thì Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới (chiếm 61,35%) và khu vực châu Á (chiếm 68,92) về sản lượng nuôi trồng thuỷ sản Việt Nam là nước đứng hàng thứ 3 về sản lượng thuỷ sản nuôi,
Trang 154
Bảng 1.2 So sánh sản lượng nuôi thuỷ sản khu vực châu Á với thế giới năm 2010
(tấn)
Tỷ lệ % so với châu á
độ tăng trưởng bình quân hàng năm cao thứ 2, sau Trung Quốc, với mức tăng 13,2%/năm Tuy nhiên, sản phẩm thuỷ sản chủ lực được xuất khẩu tại Việt Nam là cá tra, tiếp theo là tôm sú, tôm thẻ, nhuyễn thể… Trong 10 nước đứng đầu thế giới, cả
về giá trị xuất khẩu và nhập khẩu, chiếm hơn 50% trong tổng của thế giới
Trên thế giới, có khoảng 12 nhóm cá biển đang được nuôi thương phẩm ở các quy mô khác nhau trong môi trường nước mặn Thống kê năm 2010 cho thấy, sau nhóm cá chưa xác định (hoặc chưa xếp nhóm) thì sản lượng nuôi đối với nhóm cá cam, chim và thu chiếm sản lượng lớn (gần 200 ngàn tấn), tiếp theo là nhóm cá đù, cá tráp, cá song, cá bớp, dao động từ khoảng 50 đến 170 ngàn tấn (hình 1.1) [27]
Trang 165
Hình 1.1 Nhóm đối tượng cá biển nuôi và sản lượng nuôi trên thế giới
Nghề nuôi cá biển trong lồng bè ở châu á đạt 394.580 tấn, trị giá gần 512 triệu USD, trong đó Trung Quốc là nước có sản lượng cá biển nuôi lồng bè cao nhất: 358,495 tấn Quy mô nuôi nhỏ (8-20 ô lồng) chiếm trên 80% tổng số các hộ nuôi, có rất ít các hộ nuôi có số lượng lồng nuôi từ 20-100 ô lồng (kích cỡ lồng 3x3x3 m)
Ở Trung Quốc nghề nuôi cá biển lồng bè bắt đầu phát triển từ thập niên 80S có trên 1 triệu ô lồng được phân bố ở các tỉnh ven biển như: Fujian (54%); Guangdong (15%), Zhejiang (10%), Shandong (7%), Hainan (5%) các vùng khác chiếm khoảng (5%) Các lồng nuôi truyền thống có kích thước thường nhỏ (3-5 m x 3-5 m và chiều sâu lưới 4-5 m Vật liệu làm bè thường bằng tre, gỗ, ống thép, lồng được đặt trên các phao nhựa.[25]
Hiện nay ở Trung Quốc có trên 65 loài cá biển đang được nuôi trong lồng bè và ao đất, như cá mú, cá bớp, cá bơn nhật bản, cá tráp …
Thức ăn sử dụng cho nuôi cá lồng bè chủ yếu vẫn là cá tạp, được băm nhỏ hoặc xay nhuyễn trộn với vitamine, cho ăn hằng ngày từ 3-5% trọng lượng thân, giá cá tạp dao động trong khoảng từ 0,2- 0,53 USD/kg
Theo bảng 1.3 ở Trung Quốc đã chủ động ương được một số các loài cá có giá trị kinh tế, việc này đã giúp cho người nuôi chủ động được nguồn giống đưa vào nuôi đại trà
Trang 17Thời gian nuôi (tháng)
Kích cỡ thu hoạch (kg)
Tỷ lệ sống (%)
Sản lượng (Kg/m 3 )
Giá bán tại bè (USD/kg)
Nhân tạo,
tự nhiên và ngoại nhập
Kích cỡ thu hoạch (kg)
Tỷ lệ sống (%)
Sản lượng (Kg/m 3 )
Giá bán (USD/kg)
Trang 187
với cá có kích thước nhỏ (dưới 10 cm) Kỹ thuật nuôi cá ở Thái Lan có khác so với một số nước khác là: cá giống được sản xuất trong trại có kích thước khoảng 1-2,5 cm sẽ được vèo trong lồng nhỏ có kích cỡ (1x1x1,5 m3, trong ao đất 800-1600 m2 hoặc trong bể tròn
lồng lớn hơn loại: 3x3x2 m3, 4x4x2m3 và 5x5x2m3 (bảng 1.5) Một số bệnh virus thường gặp trên cá biển nuôi lồng như bệnh VNN (Viral Nervous Necrosis), Bệnh do Irridovirus, Bệnh IPN (Infectious Pancreatic Necrosis), BệnhVHS (Viral Haemorrhagic septicaemia), Bệnh do nhóm herpesvirus, Bệnh IHN (Infectiuos Hematopoietic Necrosis), Bệnh GNV và HIV (Gill Necrosis và HemocyticInfection Virus), Bệnh OVV (Oyster Velar Virus).[28]
Bảng 1.5 Ương cá biển từ hương lên cá giống ở các loại hình nuôi khác nhau
Loại hình nuôi Mật độ
(con/m 2 )
Kích cỡ thả (cm)
Thời gian nuôi (ngày)
Kích cỡ thu (cm)
cá tương đối cao dao động trong khoảng 70-90% tùy thừng loài
Bảng 1.6 Một số loài cá biển có giá trị kinh tế nuôi trong lồng bè ở Thái Lan
Thời gian nuôi (tháng)
Kích
cỡ thu hoạch (kg)
Tỷ lệ sống (%)
Sản lượng
Giá bán tại bè (USD/kg)
Trang 198
1.2 Tình hình nghiên cứu nuôi cá biển ở Việt Nam
Nuôi trồng thủy sản là nghề truyền thống ở Việt Nam nhưng đến những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX, đặc biệt là sau năm 2000 nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam mới phát triển nhanh chóng Năm 2012, diện tích NTTS đạt 1,2 triệu ha, sản lượng đạt 3,2 triệu tấn, đóng góp quan trọng vào giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản 6,6 tỷ USD Trong đó nuôi cá biển diện tích 7.436 ha và 86.066 lồng, sản lượng 86.000 tấn Nhìn chung, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có NTTS phát triển nhanh nhất thế giới Theo Quy hoạch phát triển nuôi cá biển đến năm 2015, định hướng đến 2020 (Quyết định 1523/QĐ-BNN-TCTS ngày 08/7/2011 của Bộ Nông nghiệp và PTNT), mục tiêu đặt ra là đến năm 2015: Tổng sản lượng cá biển nuôi năm
2015 đạt 160.000 tấn, giá trị tương đương 1,04 tỷ USD, trong đó nuôi cá biển trong ao đạt 61.000 tấn, nuôi trong hệ thống lồng nhỏ 44.000 tấn, nuôi công nghiệp tập trung 55.000 tấn Dự kiến đến năm 2020 tổng sản lượng cá biển đạt 200.000 - 260.000 tấn, giá trị 1,8 tỷ USD : Nuôi cá biển trong ao đạt khoảng 98.000 tấn, nuôi hệ thống lồng nhỏ 51.000 tấn, nuôi công nghiệp tập trung 111.000 tấn
1.2.1 Nghiên cứu về thức ăn
* Thức ăn cá tạp
Nghiên cứu trước đây (Trai, 1997) đã cho thấy chỉ có cá tạp tươi được sử dụng làm thức ăn cho cá mú và hệ số chuyển hóa thức ăn trong nuôi lồng trung bình là 5,9 (khối lượng tươi) là cao đáng kể so với hệ số chuyển hóa thức ăn đối với nuôi ao là
4,3 Cá tạp được sử dụng để nuôi cá mú, cá chẽm và cá bớp bao gồm cá mối (Saurida
spp), cá cơm (Stolephorus sp), cá liệt (Leiognathus spp), cá nục (Decapterus sp), cá
bơn (Solea sp), cá trích (Clupea leiogaster), cá sơn (Priacanthus macracanthus) là
những loài cá chính (Nguyễn Thị Vân Hà, 2003).[9;29]
* Thức ăn công nghiệp
Theo Vasep (2012), hiện nước ta có khoảng 130 nhà máy sản xuất thức ăn thủy sản với sản lượng 3,77 triệu tấn, đáp ứng 85,6% nhu cầu trong nước Trong đó, có 96
cơ sở sảnxuất thức ăn cá tra, 68 cơ sở thức ăn tôm sú và 38 cơ sở thức ăn tôm chân trắng Tỉ lệ thức ăn thủy sản phải nhập khẩu của nước ta ngày càng giảm dần, nhưng nguồn nguyên liệu để sản xuất thức ăn (như ngô, khô dầu đậu nành, đậu tương, bột cá, dầu cá hồi, nhóm các acidamin…) vẫn phụ thuộc lớn vào nhập khẩu với hơn 50%
Trang 209
Trên thị trường hiện nay có các công ty sản xuất thức ăn cho cá biển như: Grobest, Uni- president, Tomboy… và thức ăn nhập khẩu cho cá biển giống của công ty INVE Thái Lan.[31]
1.2.2 Nghiên cứu giống cá biển
Cuối những năm 1990, đầu những năm 2000, có nhiều công trình nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm các loài cá biển được tiến hành tại nhiều Viện Nghiên cứu NTTS ở Việt Nam như:
Từ năm 1994, Đào Mạnh Sơn và Đỗ Văn Nguyên (1998), nghiên cứu đặc điểm sinh học, nuôi và sản xuất giống nhân tạo một số loài cá biển ở miền Bắc Việt Nam
Kết quả bước đầu đã tạo ra được những con cá song (Epinephelus spp), cá hồng, cá
giò giống đầu tiên ở Việt Nam Từ năm 1994 – 1995, Trần văn Đan đã tiến hành
nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cá bớp (Bostrichthys sinensis), cá đù đỏ (Sciaenops ocellatus) và cá tráp vây vàng (Mylio latus) [5][6][7]
Nguyễn Tuần và ctv (2000), nghiên cứu công nghệ nuôi vỗ và sinh sản nhân tạo
cá vược (Lates calcarifer) Kết quả nghiên cứu đã tạo ra con giống cá vược, đã đề
xuất được quy trình công nghệ sản xuất giống cá vược, mở ra nhiều triển vọng cho nghề nuôi cá vược và nghề nuôi cá biển nói chung Tại Trường Đại học Nha Trang, trong thời gian từ năm 1998 – 2000, Nguyễn Duy Hoan và ctv đã nghiên cứu sản xuất thành công giống cá chẽm Năm 2001 - 2002, Nguyễn Trọng Nho và ctv đã nghiên
cứu sản xuất giống cá chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis Cuvier &
Valenciennes, 1882) thành công.[15]
Trong thời gian từ năm 1998 – 2000, Đỗ Văn Khương và ctv đã thực hiện đề tài
“Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao trong điều kiện Việt Nam” Kết quả đề tài đã xây dựng qui trình công nghệ sản xuất giống nhân tạo nhiều loài cá biển như: nghiên cứu nuôi vỗ và sinh sản nhân tạo
cá song mỡ (Epinephelus tauvina Forsskal, 1775), nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi cá đù đỏ (Sciaenops ocellatus Linnaeus 1766) và nghiên cứu
đặc điểm sinh học sinh sản và thăm dò khả năng sinh sản của loài cá tráp vây vàng
(Mylio latus) tại Hải Phòng, xây dựng qui trình công nghệ nuôi thương phẩm cá giò (Rachycentron canadum), cá song (Epinephelus spp).[17]
Trang 2110
Từ năm 1996 – 2006, được sự tài trợ của Hội đồng Đào tạo Đại học Na Uy (NUFU), Đại học Nha Trang thực hiện chương trình “Nghiên cứu và Đào tạo Sau Đại học về Nuôi trồng Hải sản tại Việt Nam” (gọi tắt là dự án NUFU) với sự tham gia của các nhà khoa học đến từ Na Uy, Bồ Đào Nha và Bỉ Giai đoạn 2 của dự án (2002 – 2006) đã tập trung nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện qui trình sản xuất giống nhân
tạo cá chẽm châu Á (Lates calcarifer) Cuối năm 2003 đến nay, từ việc kế thừa các
kết quả nghiên cứu trước, ứng dụng các thành quả nghiên cứu được của dự án, cá chẽm giống đã được sản xuất ở qui mô thương mại với qui trình sản xuất ổn định, cung cấp số lượng lớn con giống cho nghề nuôi cá chẽm thương phẩm, chuyển giao công nghệ cho nhiều địa phương trong cả nước
Nguyễn Văn Hùng và ctv (2009) có một số công bố về sinh sản nhân tạo cá biển
như: nghiên cứu một số đặc điểm sinh học sinh sản cá song da báo (Plectropomus
leopardus) và cá thia đồng tiền ba chấm (Dascyllus trimaculatus) tại vùng biển
Khánh Hòa Lê Xân (2010) đã công bố kết quả nghiên cứu cho sinh sản thành công
và nuôi thương phẩm trong lồng bè Cá song chuột (Crommileptes altivelis), Cá song vằn (E fuscoguttatus), cá song da báo (Plectropomus leopadus).[13][14][24]
Nhìn chung, nghề nuôi cá biển ở nước ta những năm gần đây phát triển khá nhanh và đạt được kết quả đáng khích lệ Mặc dù, trong nước đã sản xuất được con giống nhân tạo một số loài cá biển như cá chẽm, cá mú, cá giò và cá hồng Mỹ, cá chim vây vàng, nhưng số lượng vẫn rất hạn chế không đáp ứng đủ cho nhu cầu nuôi Trong khi, nguồn giống thu từ tự nhiên không đảm bảo về số lượng cũng như chất lượng, giống nhập từ các nước khác về giá lại cao, tỷ lệ sống khi ương nuôi thấp do môi trường nuôi thay đổi Bên cạnh đó, công nghệ nuôi lạc hậu, chủ yếu sử dụng cá tạp làm thức ăn dẫn đến ô nhiễm môi trường, dịch bệnh bùng phát và không ổn định, thị trường tiêu thụ hẹp nên hiệu quả nuôi vẫn chưa cao Do vậy, để nghề nuôi cá biển phát triển bền vững, đạt được năng suất cao và ổn định bên cạnh việc mở rộng thị trường, nghiên cứu phát triển sản xuất thức ăn công nghiệp thay thế cho cá tạp thì cần thiết phải tập trung vào khâu nghiên cứu sản xuất con giống nhân tạo
1.2.3 Nghiên cứu bệnh cá biển
Theo báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài “Chẩn đoán và phòng trị một số bệnh truyền nhiễm ở cá nuôi và thủy đặc sản” năm 1996 đến 1998 cho biết cá mú được đưa
Trang 2211
vào nuôi lồng khoảng 1 đến 2 tuần đã có biểu hiện như: cá mù mắt, mắt có mủ trắng thường một bên mắt, da đầu, thân đuôi thường bị ăn mòn, viêm loét các gốc vây và
trong 3 năm đó Bùi Quang Tề và ctv đã phân lập được 6 loài Vibrio spp và 1 loài
Pseudomonas sp ở cá mú khi xuất hiện bệnh và lở loét Trong đó, V alginolyticus
chiếm 44,3%, V vulnificus chiếm 25% Đã xác định được vi khuẩn V vulnificus trên một số loài cá mú (Epinephelus sp) nuôi tại Quảng Ninh (Bùi Quang Tề và ctv,
1998).[22]
Báo cáo tổng kết đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao trong điều kiện Việt Nam” công bố thu được 25 mẫu
cá mú và 8 mẫu cá Giò bị bệnh và phân lập được 5 loài vi khuẩn trong đó có 4 loài là
Vibrio spp: V parahaemolyticus, V anguilarum, V alginolyticus, V vulnificus và một
loài vi khuẩn gram dương là Streptococcus sp (Đỗ Văn Khương và ctv, 2001) Cá Giò
(cá bớp) nuôi tại Cát Bà - Hải Phòng thường bị bệnh đốm đỏ và viêm ruột.[17]
Phan Thị Vân và ctv (2006) phân lập và xác định Streptococcus sp gây nên bệnh mắt
mờ đục ở cá mú chấm cam (E coioides) vào năm 2004 Đến năm 2005, phân lập và xác định được Staphylococcus sp gây bệnh trên giai đoạn cá mú giống và cá mú thương phẩm Khi cá mú chấm cam (E coioides) nuôi thương phẩm có biểu hiện bệnh lý như có vết loét trên thân, trong ruột không có thức ăn tiến hành kiểm tra và phân lập thấy vi khuẩn V
alginolyticus và V parahaemolyticus Đối với cá mú giai đoạn từ hương lên giống khi cá
bị nhiễm V pelagius thì cá bơi nổi lên tầng mặt, bỏ ăn và chết [23]
Năm 2006, phát hiện cá mú bị bệnh V alginolyticus, V parahaemolyticus và
Streptococcus sp tại 2 điểm thu là Quảng Ninh và Hải Phòng Khi thấy có dấu hiệu
loét tròn trên đồng xu trên thân cá, mổ thấy ruột không có thức ăn, nội tạng bình
thường tiến hành phân lập thấy V alginolyticus và Streptococcus sp Khi da cá bị
phồng rộp giải phẫu thấy ruột không có thức ăn gan xuất huyết khi này cá chết rất
nhanh và tỷ lệ chết cao (Trương Thị Mỹ Hạnh, 2006).[8]
Theo Bùi Quang Tề và ctv (2008) tiến hành nghiên cứu bệnh trên cá hồng đỏ và
cá tráp tại Quảng Ninh, trong quá nuôi thí nghiệm cá đã bị nhiễm các loại bệnh: bệnh
hoại tử thần kinh (VNN) và bệnh Iridovirus Bệnh do vi khuẩn Vibrio và
Pseudomonas thường là vi khuẩn cơ hội, khi môi trường bị ô nhiễm vi khuẩn tăng đủ
số lượng có thể gây bệnh xuất huyết cho cá Bệnh sinh trùng nhiễm ở cá hồng đỏ và cá
Trang 2312
tráp đã định loại được 10 loài, trùng bánh xe (Trichodina), sán lá đơn chủ (Monogenea) có thể gây bệnh ở giai đoạn cá giống; sán đơn chủ Megalocotyle có thể
gây bệnh cá nuôi lồng; rận cá Caligus có thể gây bệnh cá nuôi ao
Theo Nguyễn Đức Bình và ctv (2011) cho thấy tỷ lệ bắt gặp tác nhân gây bệnh lớn nhất là vi khuẩn sau đó là ký sinhh trùng Trong 6 tháng thu mẫu có 4 tháng tỷ lệ bắt gặp 100% tác nhân gây bệnh là vi khuẩn Thời điểm thu mẫu tháng 6 do sự gia
tăng đồng thời mật độ vi khuẩn hiếu khí, Vibrio trong nước đã tạo điều kiện cho sự
phát triển các tác nhân như vi khuẩn, vi rút, nấm ở tháng này cao hơn các tháng khác
Nấm phân lập được các loài Fusarium moliniforme trên cá Sủ sao, ký sinh trùng thường gặp là Trichodina sp, Pseudorhabdosynochus sp; Gyrodactylus sp;
Cryptocaronirrtaus; Ichthyobodo.necator, ký sinh ở da và mang cá Năm 2010 cá chết
xảy ra rải rác ở tất cả các tháng với hiện tượng bị rộp da đối với cá chẽm, rộp da,
trương bóng hơi với cá Sủ sao trong đó tỷ lệ bắt gặp vi khuẩn V haveryi có tỷ lệ lớn
nhất chiếm 28,2% trên số mẫu nhiễm (Nguyễn Đức Bình và ctv, 2011) Thử kháng
sinh đồ thấy rằng Doxycyline là kháng sinh có tác dụng tốt nhất [1]
Theo nghiên cứu của Phan Thị Vân và ctv (2006) tại khu vực lồng nuôi ở Phú
Yên đã phát hiện ra 11 loài Vibrio spp (V alginolyticus, V carchariae, V
parahaemolyticus, V fluvialis, V cholaera, V hollisae, V damsela, V anguilarum, V vulnificus, V ordalli và V haeveyi) và 4 loài Streptococcus sp, Staphylococcus sp, Edwardsiella tarda và Pseudomonas fluorescens gây bệnh trên 2 đối tượng nuôi biển
là cá bớp và cá mú, trong đó có 7 loài gây bệnh trên cá bớp với tỷ lệ tương ứng V
alginolyticus (8,3%-100%), V cholerae (25%-50%), V fluvialis (37,5%), V hollisae
(20%-50%), V ordalli (50%), V damsela (14,3%) và V vulnificus (42,9%), V
alginolyticus và V parahaemolyticus [23]
Đối với bệnh viêm ruột, cá mú có biểu hiện bệnh lý như cá kém ăn, bơi lờ đờ gần mặt nước, đôi khi thân cá xoay tròn, đầu hướng lên trên, bụng trướng, da nhợt, thân có nhiều nhớt, khi mổ thấy gan bầm tím, mật sưng, thận viêm nhũn, dạ dày và ruột không có thức ăn Khi đó dùng 2kg cỏ sữa cộng với 1 kg rau sam tươi trộn vào 1 lít nước đun kỹ trong 2 giờ chắt lấy nước trộn vào thức ăn cho 100kg cá hoặc 2 vạn cá giống Mỗi tuần làm 1 đợt, mỗi đợt từ 2 – 3 ngày liên tục Hoặc trộn Streptomyxin vào thức ăn với liều lượng 20 – 25mg/kg cá/ngày, liên tục trong 1 tuần Hoặc trộn
Trang 2413
Sulfamidin vào thức ăn với liều lượng 100mg/kg cá/ngày liên tục trong 1 tuần (Ngô Trọng Lư và ctv, 2004).[19]
Trần Vĩ Hích và ctv 2008 đã phát hiện những dấu hiện bất thường, tương tự với
dấu hiệu bệnh hoại tử thần kinh ở cá biển nuôi thương phẩm cá mú (Epinephelus spp),
cá chẽm (Lates calcarifer) và cá bớp (Rachycentron canadum) tại Khánh Hòa đã gây
ra tỉ lệ chết cho cá nuôi cao [10]
Trần Văn Dũng (2008) trong nghiên cứu về thành phần KST và thử nghiệm trị bệnh sán dây trên cá bớp tại công ty Hoằng Ký- Khánh Hòa đã phát hiện và mô tả 13 giống, loài ký sinh trùng và một số dạng ấu trùng của giun sán Trong nghiên cứu này
cá Giò giai đoạn cá con bị cảm nhiễm với 4 loài ký sinh trùng đơn bào là Trichodina
sp, Brooklynella sp, Hemiopheys sp, Ichthyophthyrius sp; 3 loài giun sán: Tylocepalum
sp, Spectatus sp, Spinitectus sp, Contraceacum sp và 2 loài giáp xác là Caligus sp,
Pleururus sp [4]
Theo Võ Văn Nha (2012), Bệnh lở loét được ghi nhận đã xuất hiện và làm chết
cá vào mùa hè năm 2008, 2009 ở một số cơ sở nuôi cá mú tại Sông Cầu, thuộc tỉnh Phú Yên và Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa Trong năm 2010 và đầu năm 2011, bệnh cũng xuất hiện nhiều ở các vùng nuôi cá mú trong ao và trong lồng nổi trên biển thuộc các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa và Vũng Tàu Bệnh xuất hiện nhiều vào mùa hè
và nhất là vào lúc giao mùa, gây tỉ lệ chết cao Nguyên nhân chủ yếu là do vi khuẩn vibrio sp gây ra [20]
Nguyễn Văn Hảo và Nguyễn Ngọc Du (2006) đã mô tả khá chi tiết về các loại bệnh virus trên cá biển và cách phòng bệnh Như bệnh VNN (Viral Nervous Necrosis), Bệnh do Irridovirus, Bệnh IPN (Infectious Pancreatic Necrosis), BệnhVHS (Viral Haemorrhagic septicaemia), Bệnh do nhóm herpesvirus, Bệnh IHN (Infectiuos Hematopoietic Necrosis), Bệnh GNV và HIV (Gill Necrosis và HemocyticInfection Virus), Bệnh OVV (Oyster Velar Virus).[11]
1.2.4 Nghiên cứu nuôi cá biển bằng lồng bè ở Việt Nam
Mặc dù nước ta có tiềm năng to lớn để phát triển nuôi biển nhưng cho đến nay, công nghệ nuôi biển nước ta vẫn đang rất lạc hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới Hầu hết các trang trại nuôi biển tại khu vực Hải Phòng, Quảng Ninh, Phú
Trang 2514
Quốc đều sử dụng lồng gỗ, quy mô kiểu nông hộ, lắp đặt tại các vùng biển kín gió Các lồng này thường có dung tích nhỏ, kích thước 3x3x3 m kết lại thành cụm lồng hết sức đơn giản (Tuan và ctv., 2000) [30] Từ năm 1999, trong khuôn khổ dự án SVR
0330, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 1 đã lắp đặt thử nghiệm thành công một
số lồng tròn nổi làm bằng vật liệu HDPE có đường kính 9 m dung tích 300 m3 Kết quả nghiên cứu cho thấy kiểu lồng này có cấu tạo khá vững chắc, mềm dẻo, dễ vận hành, thích hợp cho nuôi nhiều loài cá biển, tương đối phù hợp với điều kiện vùng biển Việt nam Nhược điểm của các lồng này là giá thành cao và có bộ phận khung cơ khí được làm từ sắt mạ kẽm không chịu được điều kiện khí hậu nắng nóng và ẩm của nước ta nên có tuổi thọ thấp (không quá 5 năm) Năm 2002, Công ty Hà Quang đã ứng dụng chế tạo mô hình lồng này bằng vật liệu tại chỗ và cung cấp cho một số doanh nghiệp nuôi trồng thuỷ sản sử dụng nuôi cá giò thương phẩm tại khu vực biển Cửa Lò, Quỳnh Lưu (Nghệ An), Cô Tô (Quảng Ninh), Cát bà (Hải Phòng), vịnh Văn Phong (Khánh Hoà)… Phần khung cơ khí là sắt mạ kẽm đã được cải tiến và thay thế bằng vật liệu thép không gỉ (inox), tuy đảm bảo độ bền nhưng giá thành vẫn còn cao Gần đây,một số trang trại do nước ngoài đầu tư đã bắt đầu lắp đặt những hệ thống lồng nuôi hiện đại có đường kính khoảng 12-20 m tại khu vực biển tỉnh Khánh Hoà như công ty Marine Farm (Mafa, Nauy), Công ty TNHH An Hải (Nga).Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu đánh giá chất lượng và khả năng chịu sóng của các mô hình này, chưa có đủ cơ sở để khẳng định khả năng lắp đặt loại lồng tại những vùng biển mở Một số doanh nghiệp nuôi cá bằng lồng tròn HDPE, do chưa nắm vững quy trình vận hành, bảo dưỡng, chưa tuân thủ nghiêm túc yêu cầu kỹ thuật nên đã để xảy ra
sự cố đứt dây neo tại vùng nuôi Quỳnh Lưu, Nghệ an trong cơn bão số 7 năm 2005, gây thiệt hại lớn về kinh tế và làm ảnh hưởng đến tâm lý đầu tư, làm ảnh hưởng đến
sự phát triển nuôi biển Bên cạnh mô hình lồng HDPE, một số mô hình lồng chi phí thấp, lồng gỗ cải tiến có khả năng chịu sóng được nghiên cứu thử nghiệm thành công
từ năm 2002 nhưng khả năng ứng dụng thấp vì chưa thuận tiện trong vận hành (Như Văn Cẩn và ctv., 2003) [2]
* Một số kiểu lồng nuôi truyền thống
Lồng được thiết kế theo nhiều kiểu, nhiều kích cỡ khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của vùng nước và khả năng tài chính của người nuôi
Trang 2615
- Lồng nổi: Túi của lồng nổi thường được hỗ trợ bởi một khung có phao Dạng lồng
này thường được bố trí ở những eo, vịnh có độ sâu khoảng 10 m trở lên Kích cỡ lồng phổ biến là 3x3x3 m và 4x4x3 m, 6x6x3 m Các dạng lồng theo kiểu truyền thống (do dân tự làm) này vẫn đang phổ biến mặc dù gần đây, ở một số nơi như Nghệ An, các dạng lồng hiện đại theo mẫu thiết kế của Na-Uy đã được đưa vào sử dụng
- Lồng tre cố định: Đây là dạng lồng được sử dụng phổ biến ở vùng đầm phá Tam
Giang, tỉnh Thưa Thiên - Huế Các thanh tre dày 1 cm, rộng 3-4 cm và dài 1,5-2,0 m được buộc bằng dây nylon có đường kính 0.18 cm Khoảng cách giữa hai dây buộc là 20 cm, và giữa hai thanh tre là 1,2 cm Các thanh tre được đan lại với nhau tạo thành đáy lồng Bề mặt phía trên của lồng có một ô trống cỡ 60x60 cm để kiểm tra (bảng 1.7) [18]
Bảng 1.7 Các dạng lồng nuôi truyền thống thường được sử dụng ở Việt Nam Kiểu
thanh ngang:
Ø = 12-15 cm
Lưới 2a=2-4
mm
Có độ sâu 10-20 m, trong Vịnh, Quảng Ninh, Hải Phòng,
* Một số kiểu lồng biển mở hiện nay
Một số mô hình lồng thông dụng hiện đang được sử dụng như sau:
Trang 27(2) Kiểu lồng TLC (dạng lồng bán chìm Semi-submergible cages)
Đây là kiểu lồng có tên là Tension Leg Cage gọi tắt là TLC được Egil Liên thiết
kế và mô tả từ năm 1993 Mô hình này sau đó được Công ty REFA MED (Italy) ứng dụng và phát triển thành mô hình lồng thương mại, được lắp đặt tại một số vùng biển
mở tại Italy Kiểu lồng này phù hợp để lắp đặt tại những vùng biển thường xuyên có thời tiết xấu, sóng gió mạnh liên tục Lồng TLC gồm 02 phần chính là phần lồng lưới (cage net modul) bao gồm túi lưới (net pen), phao mặt (floatation buoys) và phần cổ lồng (floating collar); Phần hệ thống neo (mooring modul) bao gồm chì đáy (clum weight), dây neo (tension legs) phao neo (mooring buoys) và khung gia cường (reinforcing ring) Hệ thống neo được buộc cố định trong khi phần lồng lưới có thể được tháo rời nhằm thực hiện các thao tác trong nuôi cá hoặc kéo di chuyển bằng tàu như các lồng nổi khác Về nguyên lý vận hành, lồng TLC vận hành theo nguyên tắc có thể tự chìm khi có sóng mạnh nhờ hệ thống neo buộc thẳng đứng kết nối trực tiếp với đáy lồng Phần lồng nổi trên mặt nước có diện tích nhỏ nên có thể giảm thiểu sức công phá của sóng bề mặt Phần túi lưới được cố định với hệ thống neo đáy nên ít bị biến dạng và có khả năng ổn định dung tích lồng (đạt trên 75 %) Trong trường hợp thu cá, thay lưới, cần sử dụng khung lồng nổi và kết nối với phần túi lưới trước khi tháo bỏ neo buộc đáy Lúc đó các thao tác sẽ thực hiện như với kiểu hệ thống lồng nổi bình thường Việc chăm sóc và cho cá ăn hàng ngày được thực hiện bằng hệ thống thiết bị quan sát và cho ăn tự động (FAO,2007).[26]
Trang 2817
Hình 1.2 Dạng lồng bán chìm Semi-submergible cages
(3) Kiểu lồng nổi có khung sắt mạ
Mô hình lồng này có cấu tạo chia làm 3 phần chính: Phần khung lồng, phần túi lưới và hệ thống neo buộc Phần khung lồng có cấu trúc thép mạ vững chắc được kết nối nhờ những khớp mềm dẻo, có lối đi lại để tiện thao tác, vận hành Hệ thống này được làm nổi nhờ các phao, có kích thước phù hợp Khung lồng có thể làm theo hình vuông, hình chữ nhật, hình lục giác hoặc bát giác tuỳ theo mục đích sử dụng Túi lưới được buộc vào khung và được định hình nhờ hệ thống chì đáy Toàn bộ lồng được kết nối với phao chịu lực và neo (FAO,2007) [26]
Ưu điểm chính là kiều lồng này có cấu tạo đơn giản, vững chắc, có thể kết nối thành giàn lồng, có lối đi trên bề mặt nên rất thuận thiện cho vận hành nuôi hàng ngày Toàn bộ khung lồng, phao nổi trên mặt nước nên có thể quan sát dễ dàng, tu sửa kịp thời khi xảy ra sự cố
Nhược điểm của kiều lồng này là có cấu trúc cứng, hệ thống ít mềm dẻo, khả năng chịu sóng kém Mô hình này chỉ nên lắp đặt tại những vùng biển ít sóng, có vịnh kín gió để kéo đến tránh bão khi cần thiết Khả năng cải tiến đểđánh chìm tránh bão tại chỗ là rất thấp Vật liệu làm lồng cần có độ cứng và độ bền đảm bảo tiêu chuẩn Ngoài
ra, do phần nổi chiếm không gian lớn nên đòi hỏi hệ thống neo phải đủ lớn để đảm bảo sức giữ (holding capacity) [26]
Trang 2918
Hình 1.3 Dạng lồng nổi khung sắt
(4) Kiểu lồng tròn HDPE của Aqualine
Kiểu lồng tròn nổi có khung làm bằng ống nhựa HDPE cấu tạo khá đơn giản, có
độ mềm dẻo cao, có khả năng chịu sóng tốt, hiện đang được ứng dụng rất rộng rãi Kiểu lồng này có thể thiết kế dung tích từ vài trăm đến hàng chục ngàn mét khối và được sản xuất bởi một số công ty nổi tiếng như Aqualine, Bridgestone Hi-Seas, Dunlop tempest … Đây cũng chính là kiểu lồng đã được nhập nội và thử nghiệm thành công tại Nghệ An từ năm 1999 (Như Văn Cẩn, 2010).[3]
Hình 1.4 Cấu tạo lồng tròn HPDE do aqualine (Nauy) thiết kế)
Những ưu thế trên đây của kiểu lồng tròn HDPE đã được minh chứng bằng kết quả thử nghiệm tại Nghệ An của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 1 từ năm 1999 (Như và ctv, 2003) Kết quả khảo sát tại Trung Quốc và Việt Nam cũng cho thấy kiểu lồng này cũng đang được sử dụng khá rộng rãi và hiệu quả ở tất các các vùng biển nửa
Trang 3019
kín như ở Thâm Quyến, Trạm Giang, Hải Nam, Hạ Môn v.v (Chen và ctv, 2006) và tại Nha Trang, Vũng Tàu (Việt Nam) Tại Trung Quốc, nhóm nghiên cứu về lồng biển của Đại Học Trung Sơn cũng đã cải tiến thành công mô hình lồng Aqualine thành kiểu lồng có thể điều khiển chìm sâu tránh bão nhưng bạn hiện vẫn đang giữ kín công nghệ [2;25]
Về nhược điểm, do cấu trúc giá đỡ làm từ khung cơ khí thép mạ, độ bền của lồng
có thể giảm do khí hậu nóng ẩm và nước mặn Giá đỡ thép mạ (vật liệu cứng) thường
cọ sát và làm mài mòn ống nhựa (vật liệu mềm) Nhược điểm này có thể khắc phục bằng cách cải tiến, thay thế khung cơ khí bằng khung HDPE chất lượng tốt với cấu trúc hợp lý
1.3 Điều kiện tự nhiên tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
1.3.1 Vị trí địa lý
Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc vùng Đông Nam Bộ, nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía
đến 10048’39” vĩ độ Bắc Lãnh thổ của tỉnh gồm hai phần: đất liền và hải đảo
1.3.2 Khí hậu, thời tiết
Bà Rịa - Vũng Tàu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của đại dương Nhiệt độ trung bình năm khá cao (trên 27oC) và tương đối ổn định, nhiệt độ
lớn, nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1(26,3oC), cao nhất là vào tháng 5 (30,8 oC) Số giờ nắng trong năm dao động trong khoảng 2.344 – 2.694 giờ và phân phối tương đối đều
ở các tháng trong năm Số giờ nắng cao tập chung vào các tháng 3, 4 và 5 (265 – 307 giờ/tháng) và ít nhất vào tháng 12 (104 – 204 giờ/tháng).Lượng mưa trung bình hàng năm thấp (930,9 – 1.519.8 mm) và phân bố không đều theo thời gian, tạo thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, với lượng mưa lớn chiếm 90% lượng mưa cả năm; lượng mưa còn lại phân bố vào các tháng mùa khô từ tháng 12 đến tháng
4 năm sau Nhìn chung, từ hướng Đông Bắc đến Tây Nam thì lượng mưa có xu thế giảm dần
Trang 31- Hiện tượng xâm nhập mặn: Ngoại trừ vùng cửa sông bị nhiễm mặn, các vùng
còn lại của sông Dinh và sông Ray đều ngọt và là hai nơi cung cấp nước ngọt quan trọng cho tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Trái lại, sông Thị Vải vừa rộng vừa sâu, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp thủy triều biển Đông nên hầu như bị nhiễm mặn quanh năm và tùy thuộc vào mùa mà độ nhiễm mặn này có khác nhau, tháng 3 và tháng 4 trong năm độ mặn đạt mức 17 – 18 0/00 và do ảnh hưởng của khối nước di chuyển từ biển và lưu lượng từ thượng nguồn nên việc pha trộn khác nhau dẫn đến độ mặn biến động khác nhau tùy thuộc vào vị trí và mùa khảo sát
Đối với sông Dinh, tính từ thượng nguồn nếu lấy ranh giới mặn là 5o/oo thì về mùa mưa ranh giới mặn nằm giữa khu vực cầu Cỏ May và nhà máy điện Bà Rịa Vào mùa mưa ranh giới mặn tiến vào sâu hơn nằm giữa đập lấy nước nhà máy nước và cầu sông Dinh trên Quốc lộ 51A Vào giao mùa biên mặn cũng dao động giữa khu vực này giữa cầu sông Dinh và nhà máy điện Bà Rịa [21]
Khí hậu Bà Rịa - Vũng Tàu nhìn chung có nền nhiệt độ cao, mưa tập trung theo mùa, biên độ thủy triều cao nên rất phù hợp với phát triển nuôi trồng thủy sản
1.3.3 Chế độ thủy văn và thủy triều
(1) Chế độ thủy văn
Các sông trong vùng đều thông ra biển đông nên chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều, biên độ triều 2 – 3.5 m; ảnh hưởng của thủy triều sâu vào đất liền 170 km đối với hệ thống sông Đồng Nai.Vùng biển chịu ảnh hưởng chủ yếu của 2 loại gió mùa Đông Bắc và Tây Nam theo mùa rõ rệt, cường độ gió không cao, ít có bão, nhưng có nhiều dông Khi có bão xảy ra thường đi kèm hiện tượng nước biển dâng cao 2 - 3 m, có hại tới các công trình ven biển