Tuy nhiên không phải công ty nào cũng được quyền phát hành trái phiếu mà chỉ có những công ty lớn có uy tín trên thị trường Trái phiếu chính phủ: do chính phủ phát hành nhằm mục đích h
Trang 1Lời nói đầu
Thị trường vốn nói chung và thị trường chứng khoán (TTCK) nói riêng đóng vai tròquan trọng trong nền kinh tế thị trường Thị trường chứng khoán ở Việt Nam mới ra đờivào khoảng đầu năm 2000 và còn khá mới mẻ đối với công chúng ở Việt Nam Trong khi
đó ở nhiều nước trên thế giới, thị trường chứng khoán đã phát triển rất sôi động Vai tròquan trọng nhất của TTCK là huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế Trong nền kinh tếhiện đại, TTCK trở thành một kênh huy động vốn chủ yếu đối với các doanh nghiệp TTCK ở Việt Nam quy mô còn nhỏ bé nhưng đã bước đầu xây dựng được một hệthống tương đối hoàn chỉnh Đã có nhiều doanh nghiệp thực hiện việc huy động vốn quakênh này Tuy nhiên sự phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam vẫn đang gặpnhiều khó khăn, nếu không có biện pháp khắc phục thì thậm chí nó còn là vật cản cho sựphát triển kinh tế Đề tài này nghiên cứu về điều kiện và khả năng huy động vốn củadoanh nghiệp trên TTCK Tập trung trình bày về các cơ sở lý luận về TTCK và cách thứchuy động vốn cũng như điều kiện và khả năng huy động vốn của doanh nghiệp qua kênhquan trọng này Qua đó nêu lên thực trạng và giải pháp nhằm phát triển TTCK Việt Nam
Đề tài gồm 3 phần:
Phần I Cơ sở lý luận về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Phần II Điều kiện và khả năng huy động vốn trên thị trường chứng khoán Phần II Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam
Trang 2Phân tích điều kiện và khả năng huy động vốn trên thị trường chứng khoán
Liên hệ thực tế Việt Nam
I Cơ sở lý luận về chứng khoán và thị trường chứng khoán
- Chứng khoán nợ: trái phiếu
- Các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khoán: chứng quyền, chứng chỉ
Cổ phiếu được chia làm hai loại chủ yếu sau
- Cổ phiếu ưu đãi : có đặc điểm là thường có mức cổ tức cố định Người
chủ của cố phiếu này có quyền được nhận tiền lãi trước các cổ đông thường Nếu số lãi chỉ đủ trả cổ tức cho các cổ đông ưu tiên thì các cổ đông thường sẽ không nhận được cổ tức kì đó Một vấn đề rất quan trọng trong việc phát hành cổ phiếu ưu đãi là thuế Khác với chi phí lãi vay được giảm trừ khi tính thuế thu nhập công ty, cổ tức được lấy từ lợi nhuận sau thuế Đó là hạn chế của cổ phiếu ưu đãi Mặc dù vậy thì cổ phiếu ưu đãI vẫn có
ưu điểm với cả nhà phát hành và nhà đầu tư Tuy nhiên thông thường thì cổ phiếu ưu đãi chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng số cổ phiếu được phát hành
Trang 3- Cổ phiếu thông thường: là loại cổ phiếu thông dụng nhất vì các ưu đIểm của
nó đáp ứng được yêu cầu của cả người đầu tư và công ty phát hành Là cổ phiếu xác định quyền sở hữu của cổ đông trong công ty Cổ phiếu thường được đặc trưng bởi quyền quản lí, kiểm soát công ty Cổ đông sở hữu cổ phiếu thường được tham gia bầu hội đồng quả trị, tham gia bỏ phiếu quyết định các vấn đề lớn của công ty Cổ tức của cổ phiếu thường được trả khi hội đồng quản trị công bố Khi công ty giải thể hoặc phá sản, cổ đông sở hữu cổ phiếu thường sẽ được chia số tiền còn lại sau khi thanh toán các khoản nợ
và thanh toán cho cổ phiếu ưu đãi Lượng cổ phiếu tối đa mà công ty được cơ quan quản
lý có thẩm quyền cho phép phát hành gọi là vốn cổ phần Phần lớn những cổ phiếu đã phát hành nằm trong tay những nhà đầu tư - cổ đông Những cổ phiếu này được coi là đang lưu hành trên thị trường Tuy nhiên, có thể chính công ty phát hành mua lại một số
cổ phiếu của mình và giữ nó nhằm những mục đích nhất định và những cổ phiếu đó được coi như không lưu hành
Trái phiếu công ty: do công ty phat hành nhằm mục đích gia tăng
vốn cho công ty Tuy nhiên không phải công ty nào cũng được quyền phát hành trái phiếu mà chỉ có những công ty lớn có uy tín trên thị trường
Trái phiếu chính phủ: do chính phủ phát hành nhằm mục đích huy
động vốn phục vụ cho các mục xây dựng các công trình hay tài trợ cho các dự án của chính phủ
Trái phiếu chính quyền địa phương: do chính quyền địa phương
Trang 4phát hành nhằm mục đích tài trợ cho dự án của chính quyền địa phương
- Căn cứ tính chất chuyển đổi của trái phiêu
Trái có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu
Trái phiếu không có khả năng chuyển đổi
- Căn cứ cách thức trả lãi
Trái phiếu có lãi suất cố định: lãi suất được ghi ngay trên mặt trái
phiếu và không thay đổi trong suốt kỳ hạn cuả nó Việc thanh toán lãi trái phiếu cũng thường được qui định rõ ràng
Trái phiếu có lãi suất thả nổi: là loại trái phiếu mà khoản lãi thu
được thay đổi theo sự biến động của lãi suất thị trường hoặc bị chi phối bởi biểu giá, chẳng hạn như giá bán lẻ
Trái phiếu chiết khấu: là loại trái phiếu không trả thưởng và được
bán theo nguyên tắc chiết khấu Tiền thưởng cho việc sở hữu trái phiếu nằm dưới dạng lợi nhuận do vốn đem lại hơn là tiền thu nhập (nó là phần chênh lệch giữa giá trị danh nghĩa- mệnh giá trái phiếu và giá mua)
2.3 Các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khoán
Gồm các loại chứng khoán sau
- Chứng quyền: là giấy xác nhận quyền được mua cổ phiếu mới phát hành
tại mức giải tường bán ra của công ty Các chứng quyền thường được phát hành cho cổđông cũ, sau đó chúng có thể được đem ra giao dịch
- Chứng khế: là các giấy tờ được phát hành kèm theo các trái phiếu, trong
đó xác nhận quyền được mua cổ phiếu theo những điều kiện nhất định
- Chứng chỉ thụ hưởng: là giấy xác nhận quyền lợi của khách hàng là
những nhà đầu tư cá nhân trong các quỹ đầu tư nhất định Chứng chỉ này có thể đượcmua bán, giao dịch trên thị trường chứng khoán như các giấy tờ có giá trị khác Chứngchỉ này do công ty tín thác đầu tư hay các quỹ tương hỗ phát hành (là tổ chức chuyênnghiệp thực hiện đầu tư theo sự uỷ nhiệm của khách hàng)
Trang 5B Thị trường chứng khoán
1 Thị trường chứng khoán là gì?
1.1 Khái niệm
Thị trường chứng khoán trong điều kiện của nền kinh tế hiện đại được quan niệm
là nơi diễn ra các hoạt động trong giao dịch mua bán chứng khoán trung và dài hạn Việcmua bán này được tiến hành trên thị trường sơ cấp khi người mua mua được chứng khoánlần đầu từ những người phát hành và ở những thị trường thứ cấp khi có sự mua di bán lạicác chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp
Như vậy xét về mặt hình thức thị trường chứng khoán chỉ là nơi diễn ra các hoạtđộng trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán qua đó thay đổi chủ thể
nắm giữ chứng khoán
1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán được coi là đặc trưng cơ bản, là biểu tượng của nền kinh
tế hiện đại Người ta có thể đo lường và dự tính sự phát triển kinh tế qua diễn biến trên thịtrường chứng khoán Hình thức sơ khai của TTCK đã xuất hiện cách đây hàng trăm năm.Vào khoảng thế kỷ 15, ở các thành phố trung tâm thương mại của các nước phương tây,trong các chợ phiên hay hội chợ, các thương gia thường tụ tập tại các quán cà phê đểthương lợng mua bán, trao đổi hàng hoá Đặc điểm của hoạt động này là các thương giachỉ trao đổi bằng lời nói với nhau về các hợp đồng mua bán mà không có sự xuất hiệncủa bất cứ hàng hoá, giấy tờ bào Đến cuối thể kỷ 15 “khu chợ riêng” đã trở thành thịtrường hoạt động thường xuyên với những quy ước xác định cho các cuộc thương thươnglượn Những quy ước này dần trở thành các quy tắc có tính chất bắt buộc với các thànhviên tham gia
Buổi họp đầu tiên diễn ra năm 1453 tại một lữ quán tại gia đình Vanber tại tànhphối Bruges (Bỉ) Trược lữ quán có một bảng hiệu vẽ 3 túi da và chữ Ba túi da tượngtrưng cho ba nội dung của thị trường: thị trường hàng hoá, thị trường ngoại tệ và thị
Trang 6trường chứng khoán động sản còn chữ bourse có nghĩa là mậu dịch thị trường hay còngọi là nơi buôn bán chứng khoán.
Đến năm 1547, thị trường ở thành phố Bruges bị sụp đổ do cửa biển Evin nơi dẫncác tàu thuyền vào buôn bán tại thành phố bị cát biển lấp mất
Tuy nhiên, vào năm 1531 thị trường này đã được dời tới thành phố cảngAnvers(bỉ), từ đó thị trường này phát triển nhanh chóng Một thị trường như vậy cũngđược thành lập ở London vào thế kỷ 18 sau đó một loại thị trường tại Pháp, Đức, ý vàmột số nước Bắc Âu và Mỹ cũng được thành lập Sau một thời gian hoạt động thị trường
đã chứng tỏ không đáp ứng được yêu cầu của cả 3 giao dịch khác nhau Vì thế, thị trườnghàng hoá được tách ra thành các khu thương mại, thị trường ngoại tệ được tách ra và pháttriển thành thị trường hối đoái Thị trường chứng khoán động sản trở thành thị trườngchứng khoán Như vậy, thị trượng chứng khoán được hình thành cùng với thị trường hànghoá và thị trường hối đoái
Quá trình phát triển của thị trường chứng khoán đã trải qua nhiều bước thăng trầm.Lịch sử đã ghi nhận hai đợt khủng hoảng lớn, đó là khi các thị trường chứng khoán lớn ở
Mỹ, Tâu Âu, Bắc Âu, Nhật Bản bị sụp đổ chỉ trong vài giờ vào “ngày thứ năm đen tối”,29/10/1929 và “ngày thứ hai đen tối” 19/10/1987 Song, trải qua các cuộc khủng hoảng,cuối cùng thị trường chứng khoán lại được phục hồi và tiếp tục phát triển, trở thành mộtthể chế tài chính không thể thiếu được trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường
2 Chức năng của thị trường chứng khoán
2.1 Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế
Thị trường chứng khoán được xem như chiếc cầu vô hình nối liền người thừa vốnvới người thiếu vốn để họ giúp đỡ nhau thông qua việc mua bán cổ phiếu và qua đó đểhuy động vón cho nền kinh tế, góp phần phát triển sản xuất kinh doanh tạo công ăn việclàm cho người lao động, giảm thất nghiệp, ổn định đời sống dân cư và thúc đẩy nền kinh
tế phát triển.Thông qua thị trường CK,chính phủ và chính quyền địa phương cũng huy
Trang 7động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng.Thị trường chứng khoán đóng vaitrò tự động điều hoà vốn giữa nơi thừa sang nơi thiếu vốn Vì vậy, nó góp phần giao lưu
và phát triển kinh tế Mức độ điều hoà này phụ thuộc vào quy mô hoạt động của từng thịtrường chứng khoán Chẳng hạn, những TTCK lớn như Luân Đôn, Niu óc , Paris,Tokyo, thì phạm vi ảnh hưởng của nó vượt ra ngoài khuôn khổ quốc gia vì đây lànhững TTCK từ lâu được xếp vào loại hoạt động có tầm cơ quốc tế Cho nên biến độngcủa thị trường tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế của bản thân nước sở tại, mà còn ảnhhưởng đến thị trường chứng khoán nước khác
2.2 Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng
Bên cạnh các thị trường mà từ trước đén giờ người dân hay đầu tư như thị trườngbất động sản hay hình thức đầu tư qua gửi tiền vào ngân hàng thì từ khi có thị trườngchứng khoán nó trở thành một trong những môI trường đầu tư mới cho người dân, giúp
họ có nhiều cơ hội lựa chọn hình thức đầu tư hơn Hơn thế nữa thị trường chứng khoánvới các hàng hoá là chứng khoán hết sức đa dạng cũng làm tăng lựa chọn đầu tư cho côngchúng
2.3 Tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán
Nhờ có thị trường chứng khoán mà các nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoánthành tiền khi họ muốn.Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản bảo đảm cho thịtrường chứng khoán hoạt động hiệu quả và năng động Không chỉ vậy mà nhờ có thịtrường chứng khoán cung cấp tính thanh khoản mà các chứng khoán do công ty pháthành dễ dàng được chấp nhận trên thị trường do nó có thể đựoc mua đI bán lại dễ dàng
2.4 Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp
Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá chính xác các hoạt động của doanhnghiệp thông qua chỉ số chứng khoán trên thị trường Việc này kích thích các doanhnghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, áp dụng công nghệ mới Ví dụ một loại chưng
Trang 8khoán như cổ phiếu mà trên thị trường đang có như cầu cao điều đó chứng tỏ hoạt độngcủa công ty phát hành đang rất thuận lợi, làm ăn hiệu quả nên giá trị thi trường của cổphiếu của nó trên thi trường cũng tăng cao Điều đó đồng thời thúc đây doanh nghiệp mởrộng đầu tư thúc đây kinh doanh Có thể nói tối đa hoá giá trị cổ phiếu trên thị trường làmột trong những mục tiêu quan trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
2.5 Tạo môi trường giúp chính phủ thực hiện các chính sách vĩ mô
Thông qua các chính sách vĩ mô đối với thị trường chứng khoán chính phủ có thểđịnh hướng đầu tư hay thúc đẩy thị trường tài chính bởi thị trường chứng khoán là mộttrong những thị trường bậc cao nhất của thị trường chứng khoán Ngoài ra chính phủcũng có thể huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu chính phủ trên thị trường đểhuy động vốn cho các mục tiêu vĩ mô hay mua bán trái phiếu kiềm chế lạm phát
3 Phân loại thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, mỗi tiêu thức cómột sự phân chia khác nhau
3.1 Căn cứ theo tính chất pháp lý
Căn cứ theo tính chất pháp lý có thị trường chứng khoán chính thức và thị trườngchứng khoán phi chính thức
- Thị trường chứng khoán chính thức (hay còn gọi là Sở giao dịch chứng
khoán): là nơi mua bán loại chứng khoán được niêm yết có địa điểm và thời biểu mua bán
rõ rệt, giá cả được xác định theo hình thức đấu giá hoặc đấu lệnh
- Thị trường chứng khoán phi chính thức (hay còn gọi là thị trường OTC):
là nơi mua bán chứng khoán bên ngoài Sở giao dịch, không có ngày giờ nghỉ hay thủ tụcquyết định mà do thoả thuận giữa người mua và người bán
3.2 Căn cứ vào quá trình luân chuyển chứng khoán
Trang 9Căn cứ vào quá trình luân chuyển chứng khoán có thị trường phát hành(thị trườngcấp 1) và thị trường giao dịch(thị trường cấp 2)
- Thị trường cấp 1: là thị trường tài chính trong đó diễn ra các hoạt động
mua bán chứng khoán đang phát hành hay chứng khoán mới phát hành lần đầu Các loạihàng hoá như cổ phiếu, trái phiếu của công ty và của chính phủ khi mới phát hành đềuđược đem bán ở thị trường này Việc mua bán chứng khoán trên thị trường cấp 1 thườngđược tiến hành thông qua các trung gian đó là ngân hàng Ngân hàng này thường đượcxem như là ngân hàng đầu tư hay ngân hàng bảo hiểm cho việc phát hành thông qua việcbảo đảm giá cố định của chứng khoán trong qua trình phát hành
- Thị trường cấp 2: là thị trường mua bán các chứng khoán đã phát hành.
Khi một cá nhân mua chứng khoán ở thị trường cấp 2 thì cá nhân, người vừa bán nó nhậnđược tiền bán chứng khoán nhưng công ty phát hành chứng khoán lần đầu tiên không thuđược tiền nữa Một công ty mua được vốn chỉ khi chứng khoán đó được bán lần đầu trênthị trường cấp 1 Việc mua bán ở thị trường cấp 2 thường được thực hiện thông qua cáccông ty môi giới
Thị trường cấp 2 thực hiện 2 chức năng sau:
Thứ nhất, nó tạo điều kiện để bán chứng khoán nhằm thu tiền mặt tức là nó đảmbảo cho những chứng khoán này có tính lỏng thêm Tính lỏng thêm của những chứngkhoán làm chúng được ưa chuộng hơn và như thế là dễ dàng hơn cho công ty phát hànhbán chúng ở thị trường cấp 1
Thứ hai, thị trường cấp 2 xác định giá của chứng khoán mà công ty phát hành bán
ở thị trường cấp 1 Những hãng mua các chứng khoán ở thị trường cấp một sẽ chỉ thanhtoán cho công ty phát hành với giá mà họ cho rằng thị trường cấp 2 sẽ chấp nhận nó
3.3 Căn cứ vào phương thức giao dịch
Căn cứ vào phương thức giao dịch có thị trường giao ngay và thị trường tương lai
- Thị trường giao ngay: là thị trường mua bán chứng khoán theo giá của
Trang 10ngày giao dịch nhưng việc thanh toán và chuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra tiếp theosau đó vài ngày theo qui định
- Thị trường tương lai: là thị trường mua bán chứng khoán theo một loạt
hợp đồng định sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày giao dịch nhưng việc thanh toán vàchuyển giao chứng khoán sẽ diễn ra trong một ngày kỳ hạn nhất định trong tương lai
3.4 Căn cứ vào đặc điểm của hàng hóa
Căn cứ vào đặc điểm của hàng hóa có thị trường trái phiếu, thị trường cổ phiếu vàthị trường các công cụ phái sinh
- Thị trường trái phiếu: là thị trường trái phiếu là thị trường giao dịch và
mua bá các trái phiếu đã được phát hành, các trái phiếu này bao gồm tráI phiếu công ty,trái phiếu đô thị và trái phiếu chính phủ
- Thị trường cổ phiếu: là thị trường cổ phiếu là thị trường giao dịch và mua
bán các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi
- Thị trường các công cụ phái sinh: là thị trường các chứng khoán phái
sinh là thị trường phát hành và mua đI bán lại các chứng từ tài chính khác như: quyềnmua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn…
4 Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán
4.1 Nguyên tắc công khai
Theo nguyên tắc này tất cả các hoạt động của thị trường chứng khoan, các văn bảnpháp luật, các tài liệu về các công ty niêm yết , báo cáo kết quả kinh doanh dưới hìnhthức bản cáo bạch của công ty này đều phải được công bố rộng rãi công khai không có sựche giấu thông tin
4.2 Nguyên tắc đấu giá
Khi phát hành hay bán một số lượng lô lớn cổ phiếu thì phải thực hiện đấu giá trênthị trường
Trang 114.3 Nguyên tắc trung gian
Hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường đều được thực hiện thông qua cáctrung gian
5 Các thành phần tham gia thị trường chứng khoán
5.1 Nhà phát hành
Nhà phát hành là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua thị trường chứngkhoán Nhà phát hành là người cung cấp các chứng khoán, hàng hoá của thị trường chứngkhoán Trong đó:
- Chính phủ và chính quyền địa phương là nhà phát hành các trái phiếu
chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phương
- Công ty là nhà phát hành các cổ phiếu và trái phiếu công ty
- Các tổ chức tài chính là nhà phát hành các công cụ tài chính như các trái
phiếu, chứng chỉ thụ hưởng…phục vụ cho hoạt động của họ
chuyên gia có kinh nghiệm Một bộ phận quan trọng của các tổ chức đầu tư là các công ty
tàI chính Ngoài ra còn có các công ty chứng khoán, ngân hàng thương mại
Trang 125.3 Các công tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán
5.3.1 Công ty chứng khoán
Các công ty này hoạt động với nghiệp vụ chính là bảo lãnh phát hành, tự doanh,môi giới, quản lý danh mục đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán
5.3.2 Quỹ đầu tư chứng khoán
Các quỹ này hoạt động trên cơ sở tập trung một số vốn lớn thông qua các chủ sởhữu quỹ hay huy động trên thị trường thông qua phát hành chứng chỉ quỹ đầu tư Trên cơ
sở số vốn đó và với phân tích của các chuyên gia chứng khoán quỹ đầu tư chứng khoánvới lô lớn
5.3.3 Các trung gian tài chính
Các trung gian tài chính khác cũng có thể trở thành các tổ chức kinh doanh chứngkhoán khi nó mua chứng khoán nhằm mục đích đầu tư sinh lời Chẳng hạn như các ngânhàng mua chứng khoán nhằm mục đích sinh lời, hơn nữa chứng khoán còn nhằm mụcđích tạo tính thanh khoản cho các tàI sản của ngan hàng hay các công ty bảo hiẻm cũngvậy
5.4 Các tổ chức có liên quan đến thị trường chứng khoán
5.4.1 Cơ quan quản lý nhà nước
Cơ quan quản lý nhà nước được thành lập để quản lý hoạt động của thị trườngchứng khoán có vai trò quan trọng nhất Cơ quan này được thành lập với những tên gọikhác nhau, như tại Anh có uỷ ban đầu tư chứng khoán (SBI – securicties investmentboard ) hay tại Mỹ có uỷ ban chứng khoán và giao dịch chứng khoán ( SEC – securitiesand exchange commisson ) ở Việt Nam thì uỷ ban chứng khoán nhà nước được thành lậptheo nghị định 75 của chính phủ ngày 28/11/96
5.4.2 Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK)
Sở giao dịch chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán Sởgiao dịch được tổ chức thành 3 hình thức:
Trang 13- Thứ nhất: SGDCK được tổ chức dưới hình thức “câu lạc bộ mini” hay
được tổ chức theo chế độ hội viên Đây là hình thức tổ chức SGDCK có tính chất tự phát.Trong hình thức này, các hội viên của SGDCK tự tổ chức và tự quản lý SGDCK theopháp luật không có sự can thiệp của nhà nước Các thành viên của SGDCK bầu ra hộiđồng quản trị để quản lý và hội đồng quản trị bầu ra ban điều hành
- Thứ hai: SGDCK được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần có cổ
đông là công ty chứng khoán thành viên SGDCK tổ chức dưới hình thức này hoạt độngtheo luật công ty cổ phần và chịu sự giám sát của một cơ quan chuyên môn về chứngkhoán và thị trường chứng chứng khoán do chính phủ lập ra
- Thứ ba: SGDCK được tổ chức dưới dạng một công ty cổ phần nhưng có
sự tham gia quản lý và điều hành của Nhà nước Cơ cấu tổ chức, điều hành và quản lýcũng giống như hình thức công ty cổ phần nhưng trong thành phần hội đồng quản trị cómột số thành viên do Uỷ ban chứng khoán quốc gia đưa vào, giám đốc điều hànhSGDCK do ủy ban chứng khoán bổ nhiệm
Thành viên của SGDCK có thể là cá nhân hoặc các công ty chứng khoán (còn gọi
là công ty môi giới chứng khoán) Để trở thành thành viên của một SGDCK, công ty phảiđược cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cấp giấy phép hoạt động, phải có số vốn tốithiểu theo quy định và có những chuyên gia kinh tế, pháp lý đã được đào tạo về phân tích
và kinh doanh chứng khoán, ngoài ra công ty còn phải thoả mãn yêu cầu của từng sở giaodịch riêng biệt Một công ty chứng khoán có thể là thành viên của hai hay nhiều SGDCK,nhưng khi đã là thành viên của SGDCK (thị trường chứng khoán tập trung) thì khôngđược là thành viên của thị trường phi tập trung (thị trường OTC) và ngược lại
5.4.3 Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán hoạt động với mục đích bảo vệ lợi íchcho các công ty thành viên nói riêng và cho toàn ngành chứng khoán nói chung Hiệp hộinày có một số các chức năng chính sau:
- Khuyến khích hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán.
- Ban hành và thực hiện các quy tắc tự điều hành trên cơ sở các quy định
Trang 14pháp luật về chứng khoán.
- Điều tra và giải quyết tranh chấp giữa các thành viên.
- Tiêu chuẩn hoá các nguyên tắc và thông lệ trong ngành chứng khoán
5.4.4 Các tổ chức ký gửi và lưu kí chứng khoán
Tổ chức ký gửi và thanh toán chứng khoán là các tổ chức nhận lưu giữ các chứngkhoán và tiến hành nghiệp vụ thanh toán bù trừ
5.4.5 Các công ty dịch vụ máy tính chứng khoán
Các công ty này cung cấp mạng máy tính và điều hành, sửa chữa mạng máy tínhcho các sở giao dịch, các công ty chứng khoán…
5.4.6 Các tổ chức tài trợ chứng khoán
5.4.7 Các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm
Các tổ chức này là các công ty chuyên đưa ra các đánh giá về tình hình và triểnvọng của các công ty khác dưới dạng các hệ số tín nhiệm
II Điều kiện và khả năng huy động vốn trên thị trường chứng khoán
1 Khả năng huy động vốn trên TTCK
Trong luật của Việt Nam việc gọi vốn của công ty được quy định ngay khi nó thànhlập Luật đề ra loại trách nhiệm hữu hạn nếu gọi vốn riêng tư và cổ phần nếu gọi vốncông chúng Ranh giới gọi vốn đã định, muốn đổi cách gọi vốn phải đối mới các hìnhthức doanh nghiệp
Cách làm của Mỹ thì khác , nó không ổn định loại hình công ty lúc đầu mà để công
ty trong quá trình hoạt động sẽ chọn cách gọi vốn Và từ cách gọi vốn đó công ty có mộtloại hình Nếu chọn cách gọi vốn riêng tư thì công ty không phải đăng ký với uỷ ban giaodịch chứng khoán (Securities Exchange Commission)
Trang 15Khi thành lập, ngay trong sổ đăng ký và điều lệ của công ty, những người sáng lập
ra công ty đã ấn định số vốn của công ty là bao nhiêu, chia ra bao nhiêu phần bằng nhaugọi là cổ phần Khi cổ phần đã bán đi thì những người mua nhận được nhận biên nhận đãtrả tiền là cổ phiếu và họ trở thành cổ đông
Tính toán gọi vốn bằng cách nào là việc giải bài toán “vốn được gọi nhiều nhưngchỉ chia quyền quản trị ít” Cổ đông có 3 quyền là quản trị công ty, chia lời và sau này làchia tài sản còn lại Bỏ tiền ra, chấp nhận lời ăn, lỗ chịu, cổ đông thường muốn đượcquản trị công ty Trái lại, người lập ra công ty không muốn quyền quản trị công ty củamình bị chia xẻ cho nhiều người Cổ phần là cách thức giải quyết vấn đề kia Công ty bán
cổ phần để gọi vốn, giống như bán một viên kẹo dừa, ở mức phát triển thấp, công ty chỉ
có kẹo dừa làm theo 2 hình vuông, có đề tên người chủ và tròn, không đề tên ai Loạivuông không được chuyển cho ai có tên khác gọi là cổ phiểu ký danh; loại tròn chuyểncho ai cũng được gọi là cổ phiếu vô danh
Đến mức phát triển cao, người lập công ty đánh vào tính hám lợi của các cổ đông
Họ ghi trong điều lệ công ty là sẽ bán cổ phiếu ưu đãi cho cổ đông nào không đòi quyềnquản trị công ty Gọi là cổ phiếu ưu đãi, mục đích của nó là thu hút được vốn nhưngkhông bị mất quyền quản trị công ty Cổ phiếu này thường có mức cổ tức cao hơn các cổphiếu thường
Để huy động vốn, công ty sẽ bán cổ phiếu cho cổ đông tuỳ theo số tiền cần có.Nếu định bán cho công chúng, trước khi bán công ty phải đăng ký cổ phiếu vớiUBCKNN Sau khi gọi vốn lần đầu, những lần sau muốn tăng vốn, công ty phải bán nốt
số cổ phiếu còn giữ lại ban đầu, hay phát hành một đợt cổ phiếu mới, gọi là phát hànhmới Loại này, bao nhiêu thì do hội đồng quản trị của công ty quyết định Mỗi lần pháthành mới thì công ty lại phải làm thủ tục đăng ký với UBCK Điều này khác với khi vaytiền ngân hàng, do vậy phí tổn để huy động vốn trên thị trường chứng khoán thường caohơn
Trang 16Biện pháp nào để khuyến khích cổ đông mua cổ phiếu: Nếu đã bán chứng
khoán trên thị trường chứng khoán rồi, mỗi lần phát hành mới, công ty đặt ra 3 cách thuhút cổ đông
Cách thứ nhất là phát hành chứng quyền đối với nhân viên của công ty Đó làquyền mua hay bán một số cổ phiếu với giá ấn định
Cách thứ hai là ấn định quyền cho người nắm cổ phiếu thông thường Có “quyền”
họ được mua một số cổ phiếu thông thường mới phát hành với một giá đã ấn định
Loại thứ 3 là loại dành cho người nắm cổ phiếu ưu đãi, họ được cấp một chứngquyền cho phép được mua trước một số lượng cổ phiếu phổ thông nhất định trướcmột thời hạn nhất định
2 Điều kiện và thủ tục huy động vốn trên TTCK
Trong nền kinh tế thị trường thu hút vốn đầu tư có vai trò rất quan trọng đối vớihoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đối với các kênh huy động vốn hiện nay huyđộng vốn trên thị trường chứng khoán là một kênh huy động chủ yếu và được các doanhnghiệp sử dụng rộng rãi Bởi vì huy động vốn qua TTCK sẽ giúp doanh nghiệp có đượcnguồn vốn lớn và ổn định Đặc biệt là đối với các công ty cổ phần việc huy động vốn quathị trường chứng khoán giúp doanh nghiệp không phải phụ thuộc vào vốn vay
Muốn gọi vốn đầu tư thì các doanh nghiệp phải phát hành chứng khoán, việc pháthành chứng khoán được chia thành 2 loại: phát hành chứng khoán lần đầu và phát hànhcác đợt tiếp theo
- Phát hành chứng khoán lần đầu là việc tổ chức phát hành chứng khoán lần đầu tiên
ra công chúng sau khi doanh nghiệp đã hội tụ đủ những điều kiện theo quy định của nhànước với việc phát hành chứng khoán lần đầu