LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Nuôi cá rô phi vằn Oreochromis niloticus Linnaeus, 1758 tại Hải Dương: Hiện trạng và giải pháp phát triển nuôi bền vững” là công tr
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2ii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả của đề tài: “Nuôi cá rô phi vằn Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758) tại Hải Dương: Hiện trạng và giải pháp phát triển nuôi bền vững” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi và chưa từng được công bố trong
bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Khánh Hòa, ngày 03 tháng 12 năm 2015
Tác giả
Tăng Thị Mỹ Trang
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của quý Phòng, Ban Giám hiệu, Lãnh đạo Viện Nuôi trồng Thủy sản, Khoa Sau Đại học Trường Đại học Nha Trang, Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi được hoàn thành đề tài Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của TS.Nguyễn Địch Thanh đã giúp tôi hoàn thành tốt đề tài Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến sự giúp đỡ này
Tôi xin gửi đến sự kính trọng và lòng tự hào được học tập tại viện, trường trong thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo cùng toàn thể cán bộ Trường Đại học Nha Trang, Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia, bạn
bè đồng nghiệp đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình và tất cả bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Khánh Hòa, ngày 03 tháng 12 năm 2015
Tác giả
Tăng Thị Mỹ Trang
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC HÌNH vii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá rô phi vằn 3
1.1.1 Đặc điểm hình thái và phân loại 3
1.1.2 Nguồn gốc và phân bố 4
1.1.3 Khả năng thích ứng với môi trường 4
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 5
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 5
1.1.6 Đặc điểm sinh sản 5
1.2 Tình hình nuôi và nghiên cứu chọn giống cá rô phi trên thế giới 7
1.2.1 Nuôi cá rô phi trên thế giới 7
1.2.2 Tình hình nghiên cứu chọn giống cá rô phi trên thế giới 9
1.3 Tình hình nuôi và nghiên cứu chọn giống cá rô phi ở Việt Nam 10
1.3.1 Tình hình nuôi cá rô phi ở Việt Nam 10
1.3.2 Tình hình nghiên cứu chọn giống cá rô phi ở Việt Nam 13
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm và nội dung nghiên cứu 14
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 14
2.1.2 Thời gian: từ tháng 4/2013 đến 12/2014 14
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu: Tỉnh Hải Dương 14
2.1.4 Nội dung nghiên cứu: 14
2.2 Phương pháp nghiên cứu 14
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 14
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu điều tra 15
2.3 Xử lý và phân tích số liệu 15
2.3.1 Xử lý số liệu 15
2.3.2 Phân tích số liệu 15
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 16
Trang 6iv
3.2 Hiện trạng nuôi cá rô phi vằn tại Hải Dương 16
3.2.1 Kỹ thuật nuôi cá rô phi tại Hải Dương 17
3.2.2 Tình hình sử dụng thức ăn, thuốc, hoá chất cho cá rô phi 21
3.2.3 Dịch bệnh trong nuôi cá rô phi 23
3.2.4 Sản xuất và cung ứng giống cá rô phi tại Hải Dương 24
3.2.5 Kết quả đánh giá về nuôi cá rô phi bền vững 25
3.3 Đề xuất giải pháp nuôi cá rô phi vằn theo hướng bền vững tại Hải Dương26 3.2.1 Giải pháp sản xuất giống 28
3.2.2 Về mô hình tổ chức quản lý sản xuất 29
3.2.3 Giải pháp khoa học công nghệ 29
3.2.4 Giải pháp thức ăn 30
3.2.5 Giải pháp quản lý 30
3.2.6 Giải pháp thị trường 30
3.2.7 Giải pháp dịch vụ và khuyến ngư 30
3.2.8 Giải pháp về cơ chế chính sách 30
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 31
1 Kết luận 31
2 Đề xuất 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33 PHỤ LỤC a
Trang 8vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Đặc điểm phân biệt cá đực, cá cái 6
Bảng 1.2: Kết quả nuôi trồng thuỷ sản 2008 – 2011 12
Bảng 3.1: Độ tuổi các chủ hộ nuôi cá rô phi tại các huyện nghiên cứu khảo sát 17
Bảng 3.2: Tỉ lệ chủ hộ tham gia các lớp tập huấn, hội thảo chuyên đề 17
Bảng 3.3: Diện tích ao nuôi của các hộ 18
Bảng 3.4: Kết quả điều tra ao nuôi cá rô phi trong vùng quy hoạch nuôi trồng thủy sản 18 Bảng 3.5: Hình thức nuôi tại vùng khảo sát 19
Bảng 3.6: Mật độ thả trung bình 20
Bảng 3.7: Năng suất và sản lượng nuôi cá rô phi tại Hải Dương 20
Bảng 3.8: Tình hình sử dụng thức ăn tại vùng khảo sát 21
Bảng 3.9: Kiểm tra yếu tố môi trường 22
Bảng 3.10: Sử dụng thuốc, hóa chất 23
Bảng 3.11: Tỉ lệ phòng, chữa bệnh cá rô phi 24
Bảng 3.12: Các nguồn cung cấp cá giống 24
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Cá rô phi vằn 3
Hình 1.2: Sản lượng cá rô phi toàn cầu năm 2005 - 2010 7
Hình 1.3: Diện tích và sản lượng nuôi cá rô phi năm 2012 11
Hình 2: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 14
Hình 3.1: Tỉ lệ sử dụng các loại thức ăn 22
Hình 3.2: Một số yếu ảnh hưởng đến nuôi cá rô phi bền vững .25
Hình 3.3: Một số yếu tố khó khăn trong nuôi cá rô phi .26
Trang 10viii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1 Tên đề tài: Nuôi cá rô phi vằn Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758) tại Hải Dương: Hiện trạng và giải pháp phát triển nuôi bền vững”
2 Mục tiêu của đề tài: Đánh giá được hiện trạng nuôi cá rô phi tại Hải Dương Từ đó
đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nuôi cá rô phi đơn tính bền vững, góp phần đẩy mạnh mô hình nuôi cá rô phi an toàn vệ sinh thực phẩm
3 Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập các số liệu sơ cấp và thứ cấp
- Chọn mẫu điều tra:
+ Các vùng nuôi thương phẩm gồm 5 huyện nuôi thủy sản tập trung, mỗi huyện chọn 3 xã đại diện Chọn ngẫu nhiên 120 hộ tương ứng 120 mẫu, số lượng mẫu cụ thể như sau: Huyện Tứ Kỳ 35 hộ, Ninh Giang 30 hộ, Nam Sách 18 hộ, Cẩm Giàng 15 hộ,
và Thanh Hà 22 hộ
+ Các cơ sở sản xuất và cung ứng giống
+ Các cơ quan quản lý: Chi cục nuôi trồng Thủy sản tỉnh Hải Dương, Trung tâm Khuyến nông, Trạm Khuyến nông 5 huyện (mỗi đơn vị 1-2 người được phỏng vấn)
- Số liệu được thu thập sẽ được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2007 và phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả: chỉ số giá trị trung bình, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, sai số trung bình, độ lệch chuẩn, tỷ lệ phần trăm
4 Tóm tắt kết quả nghiên cứu
- Một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên tại Hải Dương: Hải Dương là tỉnh nằm
ở đồng bằng sông Hồng, thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Việt Nam; có tọa độ
từ 20°43' đến 21°14' độ vĩ Bắc, 106°03' đến 106°38' độ kinh Đông; nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông)
- Hiện Trạng nuôi cá rô phi tại Hải Dương: Người nuôi cá rô phi tại Hải Dương
có độ tuổi từ 28-60 tuổi; có nhiều kinh nghiệm về nuôi trồng thủy sản, trong đó có 63% được đào tạo tập huấn chuyên đề hoặc ngắn hạn; Các hộ nuôi cá rô phi chủ yếu là nuôi theo hình thức nuôi ghép (78%) với mật độ 1,5-4 con/m2, có diện tích ao nuôi 500
m2 – 10.000 m2 đạt 80% diện tích nuôi nằm trong quy hoạch nuôi trồng thủy sản của địa phương
- Sử dụng thức ăn: Kết quả điều tra cho thấy có 66% số hộ nuôi cá rô phi sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp cho cá ăn, 26% số hộ sử dụng kết hợp cả 2 loại thức ăn tự chế và thức ăn công nghiệp và 8% số hộ dùng thức ăn tự chế hoàn toàn
- Việc sử dụng thuốc hóa chất có tới 83% số hộ sử dụng trong quá trình nuôi;
- Sản xuất và cung ứng giống: các hộ nuôi cá tại Hải Dương phần lớn là mua giống của thương lái và 2 trại sản xuất giống là Trại cá Tứ Kỳ và Trung tâm Quốc gia giống thủy sản nước ngọt Miền Bắc
- Yếu tố ảnh hưởng trong nuôi cá rô phi bền vững: thức ăn, chất lượng giống, quản lý môi trường quản lý dịch bệnh là các yếu tố ảnh hưởng đến nuôi bền vững chiếm trên 90% các hộ được điều tra Đặc biệt là thị trường đầu ra cho sản phẩm nuôi,
có 100% số hộ được hỏi tại các huyện Thanh Hà, Cẩm Giàng và Ninh Giang cho rằng yếu tố này ảnh hưởng đến nuôi bền vững (trung bình 96%)
- Khó khăn trong nuôi cá rô phi bền vững: Theo điều tra cho thấy, phần lớn các
hộ nuôi tại Hải Dương thiếu vốn đầu tư, kỹ thuật nuôi, nguồn cung cấp con giống chất
Trang 11lượng chiếm trên 90% tổng số hộ được điều tra; môi trường nuôi ngày càng bị ô nhiễm, dịch bệnh lây lan, khó quản lý lần lượt chiếm tỷ lệ 87% và 84% tổng số phiếu điều tra; 68% số hộ được điều tra gặp khó khăn trong quá trình lựa chọn và sử dụng thức ăn do trên thị trường có nhiều hãng sản xuất thức ăn
- Đề xuất giải pháp nuôi cá rô phi bền vững tại Hải Dương
+ Giải pháp sản xuất giống
+ Giải pháp khoa học công nghệ
Xây dựng các mô hình nuôi cá rô phi sạch nhằm đáp ứng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm của người tiêu dùng, phù hợp với đòi hỏi khắt khe của thị trường xuất khẩu Việc áp dụng VietGAP vào nuôi cá rô phi sẽ là giải pháp nhằm nâng cao sức canh tranh của sản phẩm cá rô phi tại thị trường quốc tế
+ Giải pháp dịch vụ và khuyến ngư
Tăng cường mạng lưới khuyến ngư từ tỉnh xuống xã nhằm thực hiện tốt nhiệm
- Tổng diện tích nuôi tại các huyện khảo sát là 356.268 m2, diện tích nuôi trung bình từ 1.778,67 – 3.801,43 m2 Diện tích ao nuôi nhỏ nhất là 500 m2, diện tích ao nuôi lớn nhất là 10.000 m2;
- Tại Hải Dương chủ yếu tập trung nuôi theo hình thức nuôi ghép và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các hình thức nuôi 78%, còn lại 22% là nuôi đơn, trong đó có 14% nuôi bán thâm canh, tỷ lệ nuôi thâm canh và quảng canh cải tiến đều chiếm 4%;
- Có 66 % số hộ nuôi cá rô phi sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp cho cá
ăn, 26% số hộ sử dụng kết hợp cả 2 loại thức ăn tự chế và thức ăn công nghiệp, còn lại
Trang 12x
- Các hộ nuôi đa số áp dụng tốt quy trình kỹ thuật từ khâu cải tạo ao, chọn cá giống, chăm sóc quản lý môi trường để hạn chế dịch bệnh trong quá trình nuôi 95% trong tổng số các hộ khảo sát định kỳ kiểm tra các yếu tố môi trường như: nhiệt độ nước, độ pH;
- 57% số hộ nuôi trong vùng khảo sát đã sử dụng các chế phẩm sinh hoá học E.M, Aqua- clear-No1,…để cải thiện môi trường nước và đáy ao, hạn chế sự phát triển của các tác nhân gây bệnh và tăng sức đề kháng của đối tượng thuỷ sản;
- Hải Dương hiện đang có 9 cơ sở chuyên sản xuất và cung ứng cá giống nhưng chỉ có Trung tâm Giống thủy sản nước ngọt miền Bắc và Trại cá giống Tứ Kỳ là làm chủ được quy trình kỹ thuật cho cá bố mẹ đẻ trứng, ương nuôi 21 ngày tuổi, sử dụng hoóc-môn chuyển đổi giới tính thành công để ương cá giống
5.2 Đề xuất
- Cần xây dựng và thực hiện quy hoạch chi tiết cho vùng nuôi cá rô phi Xây dựng và nâng cấp mạng lưới sản xuất và cung cấp giống cá rô giống đảm bảo chất lượng và số lượng phục vụ theo yêu cầu;
- Các cơ quan chức năng cần ưu tiên bố trí đủ vốn, cấp đủ mặt nước cho các dự
án phát triển nuôi cá rô phi của tỉnh
- Tăng cường tập huấn kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản nói chung và nuôi cá rô phi nói riêng cho người nuôi trong toàn tỉnh, đặc biệt quan tâm đối tượng là những người nuôi ở vùng nuôi cá rô phi tập trung, vùng miền núi
- Tăng cường xây dựng các đề tài, dự án, mô hình sản xuất thử nghiệm áp dụng các
tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá rô phi
6 Từ khóa: cá rô phi vằn, bền vững.
Trang 13MỞ ĐẦU
Từ năm 1990 trở lại đây, nghề nuôi cá rô phi phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước trên thế giới Cá rô phi là loài cá dễ nuôi, ít dịch bệnh, thức ăn không đòi hỏi chất lượng cao, giá thành sản xuất thấp nên các quốc gia đang phát triển đặc biệt chú trọng phát triển nuôi cá rô phi Thêm vào đó, thịt cá rô phi có chất lượng thơm ngon, không
có xương dăm nên được người tiêu dùng ưa chuộng Các nỗ lực nhằm phát triển nghề nuôi cá rô phi ở nước ta trong thời gian qua đã đạt được nhiều thành tựu khả quan như: nghiên cứu cải thiện di truyền, quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm Cá rô phi phát triển đã trở thành đối tượng hàng hoá ngày càng có sức cạnh tranh cao ở ngay thị trường các nước phát triển Thị trường cá rô phi phát triển rất nhanh trong 2 thập kỷ gần đây, đặc biệt thị trường Mỹ và Châu Âu Năm 2008 Mỹ nhập khẩu 453.264 tấn cá
rô phi Nhập khẩu của Mỹ chính là động lực thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất
cá rô phi trên toàn cầu (Trích dẫn qua [5])
Về thị hiếu người tiêu dùng sẽ chuyển hướng sang tiêu thụ hàng thuỷ sản tươi sống, đặc biệt là có giá trị cao và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm Cá rô phi ngày càng có nhu cầu cao trên thị trường thế giới Trong khi giá nhiều loại cá hay các loại thuỷ sản khác luôn có nhiều biến động thì hầu hết các sản phẩm từ cá rô phi có giá khá
ổn định trong vòng 5 năm qua (Trích dẫn qua [5])
Trong những năm qua, theo báo cáo của Trung tâm Khuyến nông Hải Dương tỉnh Hải Dương luôn quan tâm phát triển nông nghiệp theo hướng chuyên môn hóa, phát huy những thế mạnh của địa phương, trong đó có ngành nuôi thủy sản Từ năm
2006 tới nay, giá trị sản xuất thủy sản của tỉnh luôn đạt trên 400 tỉ đồng/năm, tăng bình quân 11% mỗi năm Phát triển nuôi cá rô phi tại Hải Dương sẽ góp phần tăng nhanh sản lượng cá nuôi, mặt khác làm tăng tỷ trọng xuất khẩu đặc biệt là các sản phẩm thuỷ sản nuôi từ nước ngọt Nuôi cá rô phi sẽ góp phần đa dạng hoá sản phẩm, tận dụng tốt hơn các vùng nước ngọt hiện có
Hải Dương có tiềm năng nuôi cá rô phi rất lớn Từ năm 2005, tỉnh đều dành từ
10 ha trở lên xây dựng các mô hình nuôi rô phi đơn tính cao sản, rô phi đơn tính dòng Sudan nhằm rút kinh nghiệm, nhân ra diện rộng, trong đó Tứ Kỳ được chọn là huyện
“điểm”, năng suất đạt từ 10 - 15 tấn/ha [20] Tuy nhiên cho tới nay, các giải pháp và
Trang 14Vấn đề cấp bách đặt ra cần có những định hướng phát triển nuôi cá rô phi phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, phát triển theo hướng bền vững nhằm tạo sản phẩm cá rô phi tập trung cung ứng cho nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu, làm tăng thu nhập cho người dân, góp phần thực hiện thành công mục tiêu chuyển đổi đất nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi trồng thuỷ sản của tỉnh
Xuất phát từ những lý do trên và được sự đồng ý của Viện Nuôi trồng Thủy sản,
Trường Đại học Nha Trang, tôi thực hiện đề tài: “Nuôi cá rô phi vằn Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758) tại Hải Dương: Hiện trạng và giải pháp phát triển nuôi
bền vững” với các nội dung chính sau:
- Đánh giá hiện trạng nuôi cá rô phi tại Hải Dương
- Đề xuất giải pháp nuôi cá rô phi theo hướng bền vững tại Hải Dương
1 Mục tiêu đề tài
Đánh giá được hiện trạng nuôi cá rô phi tại Hải Dương Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển nuôi cá rô phi đơn tính bền vững, góp phần đẩy mạnh mô hình nuôi cá rô phi an toàn vệ sinh thực phẩm
2 Ý nghĩa của đề tài
Thành công của đề tài sẽ góp phần cho các nghiên cứu về kỹ thuật nuôi cá rô phi, quy hoạch vùng nuôi, định hướng chiến lược phát triển nuôi cá rô phi tại tỉnh Hải Dương
Trang 15CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá rô phi vằn
1.1.1 Đặc điểm hình thái và phân loại
a Đặc điểm hình thái
Cá rô phi vằn có màu hơi tím, vảy sáng bóng, có 9-12 sọc đậm song song nhau từ lưng xuống bụng Vây đuôi có màu sọc đen sậm song song từ phía trên xuống phía dưới và phân bổ khắp vây đuôi Vây lưng có những sọc trắng chạy song song trên nền xám đen Viền vây lưng và vây đuôi có màu hồng nhạt [21] (Hình 1.1)
Trang 16 Cá rô phi vằn (rô phi Đài Loan) (O.niloticus) được nhập vào Việt Nam năm
cá đã được nuôi ở các nước khác nhau thuộc châu Á [28], [37], [39]
1.1.3 Khả năng thích ứng với môi trường
Các loài cá rô phi hiện đang nuôi có đặc điểm sinh thái gần giống nhau
Nhiệt độ: Nhiệt độ cần thiết cho sự phát triển của cá rô phi từ 20 - 350C, thích hợp nhất là 28 - 300C [9], [28] Khả năng chịu đựng với biến đổi nhiệt độ cũng rất cao
từ 8 - 420C, cá chết rét ở 70C và bắt đầu chết nóng ở 420C [30] Nhiệt độ xuống thấp thì cá sinh trưởng phát triển chậm [22]
Độ mặn: Cá rô phi là loài rộng muối, có khả năng sống được trong môi trường
nước sông, suối, đập tràn, hồ ao nước ngọt, nước lợ và nước mặn [32] Trong đó loài
O.mossambicus có thể sống bình thường ở độ mặn 49‰ [42] và O.aureus có thể chịu
đựng nồng độ muối lên tới 44‰ [29] Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng của chúng bị giảm khi nồng độ muối trên 36‰ [12], [13] Một số báo cáo cho rằng các dòng cá rô phi lai
có khả năng chịu mặn cao do được thừa hưởng đặc tính chịu mặn từ bố mẹ
O.mossambicus [40] Trong môi trường nước lợ (độ mặn 10 - 25‰) cá tăng trưởng
nhanh, mình dày, thịt thơm ngon
pH: Môi trường có độ pH từ 6,5 - 8,5 thích hợp cho cá rô phi, nhưng cá có thể
chịu đựng trong môi trường nước có độ pH = 4 [30], [41]
Oxy hoà tan (DO): Cá rô phi có thể sống được trong ao, đầm có màu nước đậm,
mật độ tảo dày, có hàm lượng chất hữu cơ cao, thiếu oxy Yêu cầu hàm lượng oxy hoà tan trong nước của cá rô phi ở mức 0,1mgO2/l [28]
Trang 171.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Khi còn nhỏ, cá rô phi ăn sinh vật phù du (tảo và động vật nhỏ) là chủ yếu Khi
cá trưởng thành ăn mùn bã hữu cơ lẫn các tảo lắng ở đáy ao, ấu trùng, côn trùng, thực vật thuỷ sinh Tuy nhiên, trong nuôi công nghiệp cá ăn các loại thức ăn chế biến từ cá tạp, cua, ghẹ, ốc, bột cá khô, bột bắp, bột khoai mì, khoai lang, bột lúa, cám mịn, bã đậu nành, bã đậu phộng Trong tự nhiên cá thường ăn từ tầng đáy có mức sâu từ 1 - 2
m [10], [13]
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Tốc độ sinh trưởng của cá rô phi phụ thuộc vào nhiệt độ môi trường, thức ăn, mật
độ và kỹ thuật chăm sóc Khi nuôi thâm canh cá lớn nhanh hơn nuôi bán thâm canh hay nuôi ghép
Giai đoạn cá hương, cá rô phi vằn có tốc độ sinh trưởng khá nhanh từ 15 - 20 g/tháng Từ tháng nuôi thứ 2 đến tháng nuôi thứ 6 tăng trưởng bình quân ngày có thể đạt 2,8 - 3,2 g/con/ngày Cá rô phi vằn có thể đạt trọng lượng bình quân trên 500g/con sau 5 - 6 tháng nuôi [4], [7], [21]
1.1.6 Đặc điểm sinh sản
1.1.6.1 Tuổi và kích thước thành thục
Trong điều kiện ao nuôi cá rô phi thành thục sinh dục vào tháng thứ 3, 4 khi cá
có trọng lượng là 100 – 150 g/con (cá cái) Tuy vậy kích thước thành thục sinh dục phụ thuộc vào điều kiện chăm sóc, nhiệt độ và độ tuổi Cá nuôi trong mô hình thâm canh năng suất cao cá cái tham gia sinh sản lần đầu khi trọng lượng đạt trên 200g trong khi đó ở điều kiện nuôi kém, cá cái bắt đầu đẻ khi trọng lượng cơ thể mới khoảng 100 g [11], [12]
1.1.6.2 Giới tính
Trang 18Bảng 1.1: Đặc điểm phân biệt cá đực, cá cái
trứng và con Màu sắc Vây lưng và vây đuôi sặc sỡ Màu nhạt hơn
Lỗ niệu sinh dục 2 lỗ: lỗ niệu sinh dục và lỗ
và nhiệt độ [11]
1.1.6.4 Tập tính sinh sản
Trong điều kiện nhiệt độ nước trên 200C, cá rô phi thành thục lần đầu sau 4 - 5 tháng tuổi và cỡ cá tương đương 100 – 150 gr Cá rô phi vằn có thể đẻ nhiều lần trong năm, cá cái đẻ trứng và ấp trứng trong miệng Thời gian ấp trứng được tính từ khi cá được thụ tinh đến khi cá bột tiêu hết noãn hoàng và có thể bơi lội tự do.Thời gian này kéo dài khoảng 10 ngày tuỳ theo nhiệt độ môi trường Ở nhiệt độ 200C thời gian
ấp của cá rô phi kéo dài khoảng 10 - 15 ngày, ở nhiệt độ 280C là 4 - 6 ngày và khi nhiệt độ tăng lên đến 340C thì thời gian ấp trứng chỉ còn từ 3 - 5 ngày Trong thời kỳ
ấp trứng cá cái thường ngừng kiếm ăn Chúng kiếm ăn mạnh nhất khi thời kỳ ấp trứng
đã kết thúc hoàn toàn và chuyển sang giai đoạn tái phát dục lần tiếp theo (giai đoạn này thường kéo dài khoảng 2 - 4 tuần) [33]
Trang 191.2 Tình hình nuôi và nghiên cứu chọn giống cá rô phi trên thế giới
1.2.1 Nuôi cá rô phi trên thế giới
Theo thống kê, cá rô phi là loài cá được nuôi phổ biến thứ 2 trên thế giới, chỉ sau những loài cá chép [32] Sản lượng cá rô phi nuôi không ngừng tăng lên nghề nuôi cá
rô phi cũng được cho là một sinh kế tốt nhất cho nông dân thoát khỏi đói nghèo ở nhiều quốc gia trên thế giới Hiện nay, cá rô phi đã được nuôi rộng rãi trên 100 nước trên thế giới [43] Sản lượng cá rô phi toàn cầu đã bùng nổ trong vòng hai thập kỷ qua,
từ từ 830.000 tấn năm 1990 tăng lên hơn 2,5 triệu tấn năm 2005, và hơn 4,2 triệu tấn năm 2012 [14]
Cá rô phi nuôi chiếm tỷ lệ lớn và ngày càng cao, với sản lượng tăng thêm 75% từ gần 2 triệu tấn năm 2005 lên gần 3,5 triệu tấn năm 2010 Trong khi đó, sản lượng cá rô phi khai thác tự nhiên chỉ đạt khoảng 700 - 800 tấn mỗi năm
Hình 1.2: Sản lượng cá rô phi toàn cầu năm 2005 - 2010 (Nguồn: FAO)
Sản lượng cá rô phi trên thế giới ngày càng tăng, cá rô phi của Bănglađét ước tính tăng từ khoảng 100.000 tấn năm 2011 lên khoảng 120.000 tấn trong năm 2013 nhờ hỗ trợ từ Chính phủ và đầu tư của khu vực tư nhân
Ngân hàng phát triển châu Phi (AFDB) đã hỗ trợ tài chính cho một dự án công nông nghiệp nhằm tăng cường nuôi cá rô phi tại hồ Kariba thuộc Zimbabwe, dự án nhằm tăng sản lượng cá rô phi lên gấp 7 lần, mục tiêu đạt 20.000 tấn vào năm 2015 Nhu cầu cá rô phi đang tăng mạnh tại các nước tiếp giáp với Zimbabwe Cộng hòa Dân chủ Cônggô, Zambia, Nam Phi, Malawi và Ăngôla NK 100.000 tấn cá mỗi năm, với tổng lượng tiêu thụ đạt 1,3 triệu tấn cá Dự án nói trên hy vọng sẽ tạo thêm khoảng
Trang 20-900 việc làm mới vào năm 2015 và đóng góp khoảng 33 triệu USD cho nước này trong vòng 10 năm tới[14]
Tại Châu Á
Trung Quốc là quốc gia đứng đầu thế giới về nuôi và tiêu thụ cá rô phi Các hình thức nuôi rất đa dạng, từ những ao nhỏ sau nhà, nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến cho đến thâm canh và siêu thâm canh Quốc gia này có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu
cá rô phi nhanh nhất thế giới, tăng gần 3 lần trong năm 2000 so với năm 1999 (tương ứng 13.492 tấn và 5.728 tấn) [16]
Philippin, Ðài Loan có sản lượng trung bình đạt 110.000 tấn/năm Cá rô phi của Ðài Loan xuất sang Mỹ, Nhật dưới dạng sản phẩm nguyên con đông lạnh và phi lê, còn Philippine chủ yếu xuất sang thị trường Nhật với sản phẩm sashimi và phi lê Các công ty nuôi cá rô phi ở Ðài Loan có xu hướng chuyển hướng đầu tư vào Trung Quốc
do các điều kiện thuận lợi hơn nên giá thành sản xuất sẽ thấp hơn [16]
Thái Lan thường xuất khẩu các sản phẩm là cá nguyên con đông lạnh và phi lê đông lạnh
Inđônêxia là nước đang phát triển nghề nuôi cá rô phi, sản lượng đạt được mỗi năm khoảng 30.000 tấn, phần lớn tiêu thụ nội địa[16]
họ lại tiến hành nuôi tôm Chu kỳ nuôi xen kẽ tôm - cá đã chứng tỏ được hiệu quả Một nước khác là Peru tuy mới phát triển nuôi cá rô phi nhưng có nhiều triển vọng trong tương lai [16]
Tại Châu Phi
Trang 21Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi, tuy nhiên nghề nuôi cá rô phi lại chỉ mới bắt đầu phát triển ở đây Ai Cập là nước sản xuất cá rô phi lớn nhất, đạt sản lượng 200.000 tấn (năm 2003), chiếm 90% sản lượng cá rô phi của châu lục Trong đó, có một sản lượng đáng kể cá được khai thác từ tự nhiên Zămbia có kế hoạch mở rộng nuôi cá rô
phi theo mô hình tổng hợp heo cá, loài được nuôi là cá rô phi địa phương Oreochromis andersonii và cá rô phi toàn đực dòng Ai Cập Với hình thức nuôi này, mặc dù mang
lại hiệu quả nhưng chất lượng cá nuôi không đảm bảo yêu cầu vệ sinh [16]
Ghana và Nigiêria vừa thành lập nhiều trang trại có quy mô lớn và được quản lý tốt Mục tiêu là tạo ra sản phẩm xuất khẩu sang thị trường EU Malauy có một vài
trang trại nhỏ, chủ yếu nuôi các loài cá bản địa O lodole, O Karonga, O squamipinnis và O shiranus [16]
Các quốc gia Kenya, Uganda, Tanzania, Môzămbic, Namibia, Botswana, Angola đều có sản lượng cá rô phi nuôi không đáng kể và các quốc gia này cũng đang có kế hoạch phát triển nuôi cá rô phi
Tại Châu Âu
Sản lượng cá rô phi nuôi ở châu Âu rất ít do khu vực này có nhiệt độ thấp không thuận lợi để nuôi cá rô phi Bỉ là nước nuôi nhiều nhất với sản lượng đạt khoảng 300 tấn/năm Cá rô phi cũng được nuôi ở Hà Lan, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha, Ðức, Pháp và Anh Hiện nay nhu cầu tiêu thụ cá rô phi ở các quốc gia này tăng lên, cá rô phi được bày bán ở nhà hàng và hệ thống siêu thị nhằm phục vụ cho một bộ phận dân cư có nguồn gốc từ Châu Á [16]
Tại Trung Ðông
Ả Rập Xê út, Cô oét và Lebanon nuôi cá rô phi trong môi trường nước mặn nên
loài nuôi phổ biến là O spiluris Do thiếu nguồn nước nên các hoạt động nuôi thường
bị giới hạn trong khi nhu cầu và giá bán cá rô phi rất cao[16]
1.2.2 Tình hình nghiên cứu chọn giống cá rô phi trên thế giới
Cá rô phi là một trong những loài có giá trị cao đang được quan tâm và chú trọng phát triển Đã có nhiều công trình nghiên cứu và đạt được một số kết quả đáng
kể Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp chọn giống truyền thống đang được áp dụng rộng rãi thì việc sử dụng công nghệ di truyền phân tử (ADN) cũng bắt đầu được
Trang 22thế hệ, hệ số thức ăn thấp hơn, tỷ lệ sống đạt cao và giảm tỷ lệ cận huyết xuống dưới 3% ở mỗi thế hệ [24], [26]
Từ năm 1997 trở lại đây, phương pháp chọn giống cá rô phi truyền thống đã được áp dụng chương trình chọn giống theo tính trạng Trong đó, chủ yếu tập trung vào tăng trưởng để nâng cao chất lượng di truyền và đã được thực hiện ở nhiều nước khác nhau trên thế giới Đầu tiên là chương trình chọn giống nâng cao chất lượng di truyền của cá rô phi tại Phi-lip-pin, kết quả tạo ra cá rô phi GIFT có tốc độ tăng trưởng vượt trội 75% so với quần đàn bố mẹ ban đầu sau 5 thế hệ chọn giống (tricha qua so sánh ; Cá rô phi dòng GIFT đã được nuôi ở 5 nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, cá có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn 15 - 20% so với các dòng khác hiện đang được nuôi tại Việt Nam [6]
Việc cung cấp giống rô phi hiện nay không thỏa mãn nhu cầu của người nuôi Theo thống kê, nhu cầu giống Philippines chỉ đạt 60%, ở Thái Lan và Phillipine khoảng 1 tỷ con/năm, trong khi đó Isreal cần hơn một tỉ giống/năm (trích qua 24] Trung Quốc và các quốc gia Châu Á và Châu Mỹ Latinh khác cũng trong tình trạng tương tự Theo báo cáo của Vannuccini năm 1998, thế giới cần phải đẩy nhanh hơn nữa việc sản xuất và lưu thông giống cá rô phi mới đáp ứng đủ cho nhu cầu phát triển
và mở rộng nuôi cá rô phi ngày càng tăng Do đó việc nghiên cứu và áp dụng những công nghệ sản xuất giống cá rô phi cho mỗi khu vực và mỗi vùng sinh thái khác nhau
là cần thiết
1.3 Tình hình nuôi và nghiên cứu chọn giống cá rô phi ở Việt Nam
1.3.1 Tình hình nuôi cá rô phi ở Việt Nam
1.3.1.1 Tình hình nuôi cá rô phi tại Việt Nam
Ở Việt Nam, nghề nuôi cá rô phi đã có lịch sử phát triển hơn nửa thế kỷ và ngày càng được nuôi phổ biến ở nhiều địa phương với lượng người tiêu dùng cá rô phi nhiều hơn Theo thống kê năm 2005, diện tích nuôi cá rô phi của cả nước là 29.717 ha chiếm 3% tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản, trong đó nuôi nước mặn là 5.184 ha và nuôi nước ngọt là 24.533 ha Vùng nuôi cá rô phi ở nước ta như là một nghề sản xuất hàng hoá có quy mô lớn còn ít, phần lớn là nuôi phân tán quy mô nhỏ, nuôi bán thâm canh và chủ yếu là nuôi ghép các đối tượng.Tuy nhiên, chính những quy mô nuôi nhỏ
đã góp phần quan trọng vào việc giải quyết lao động nhàn rỗi ở nông thôn, tăng thu nhập cho nông dân và góp phần tạo sinh kế bền vững [19]
Trang 23Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản, năm 2012 diện tích nuôi cá rô phi của cả nước đạt 19.219 ha (đạt 97,5% chỉ tiêu quy hoạch đến năm 2015 của quy hoạch tổng thể), sản lượng nuôi đạt 116.750 tấn (đạt 116,8% chỉ tiêu quy hoạch đến năm 2015 của quy hoạch tổng thể) Như vậy, diện tích và sản lượng nuôi cá rô phi cơ bản đã đạt và vượt chỉ tiêu đến 2015 của quy hoạch tổng thể đề ra
- Diện tích nuôi cá rô phi vùng đồng bằng sông Cửu Long chiếm 13,9% tổng diện tích nuôi cá rô phi của cả nước và 25,6% sản lượng;
- Vùng đồng bằng sông Hồng chiếm 57,8% diện tích và 59,7% sản lượng;
- Vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung chiếm 10,5% diện tích nuôi và 7,7% sản lượng nuôi;
- Vùng trung du và miền núi phía Bắc chiếm 5,9% diện tích và 3% sản lượng;
- Vùng Đông nam Bộ chiếm 1,8% diện tích và 0,5% sản lượng;
- Vùng Tây nguyên chiếm 10,1% diện tích và 3,4% sản lượng
Loại hình tổ chức sản xuất cá rô phi: Loại hình hộ/trang trại chiếm 87,5%, Doanh nghiệp chiếm 4,6% và Hợp tác xã chiếm 7,9% Năng suất nuôi cá rô phi bình quân 5,9 tấn/ha, trong đó năng suất nuôi thâm canh đạt 9 tấn/ha, còn năng suất nuôi trên diện tích nuôi bán thâm canh chỉ đạt 4,4 tấn/ha
Một số địa phương có diện tích nuôi cá rô phi khá lớn là: Hải Dương đạt 3.700
ha, Thái Bình, Đăk Lăk 2.000 ha, Hưng Yên 1.900 ha, Nghệ An 1.400 ha, Long An
760 ha, Vĩnh Long 719 ha, Quảng Bình 540 ha, các địa phương khác chỉ đạt từ vài chục ha đến dưới 500 ha Địa phương có năng suất nuôi cá rô phi cao nhất là Vĩnh Long đạt 14,2 tấn/ha, Vĩnh Phúc 11,7 tấn/ha, Hải Phòng 9,6 tấn/ha, Ninh Bình 9,2 tấn/ha [25]
Hình 1.3: Diện tích và sản lượng nuôi cá rô phi năm 2012
Trang 241.3.1.2 Tình hình nuôi cá rô phi tại Hải Dương
Theo Báo cáo của Chi cục Thuỷ sản Hải Dương, 2012 cho thấy: Diện tích ao, hồ mặt nước nuôi thuỷ sản giai đoạn 2008 - 2012 khoảng 10.000 ha, tăng gần 1000 ha so với năm 2006 Do lợi nhuận cao hơn trồng lúa ở vùng đất trũng nhiều địa phương đã chuyển đổi và đến nay (2012) đã hình thành 35 vùng nuôi thuỷ sản tập trung có quy
mô từ 30 ha trở lên Trong đó 10 vùng được ngân sách hỗ trợ đầu tư một phần kinh phí cho xây dựng cơ sở hạ tầng, với tổng diện tích là 1.114 ha Với năng suất bình quân năm 2010 đạt 5,3 tấn/ha, tăng 1,52 tấn so với năm 2006 (3,78 tấn/ha), tốc độ tăng trung bình 11%/năm Sản lượng nuôi năm 2010 đạt: 51.765 tấn và năm 2012 đạt khoảng: 51.500 tấn [2]
Bảng 1.2: Kết quả nuôi trồng thuỷ sản 2008 – 2011
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Hải Dương, năm 2005 mới có vài mô hình nuôi thí điểm cá rô phi với diện tích khiêm tốn 10 ha, chiếm chưa được 16% diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh, năng suất bình quân 5,2 tấn/ha thì đến năm
2009, diện tích nuôi chuyên canh rô phi đơn tính của Hải Dương đạt mức 3.440 ha, năng suất bình quân 6 tấn/ha, sản lượng 20.000 tấn Cá biệt, một số hộ có kinh nghiệm chọn giống, mạnh dạn đầu tư thức ăn chất lượng cao đã đạt năng suất 10 - 12 tấn/ha
Dự án “Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật xây dựng mô hình nuôi trồng thủy sản theo hướng an toàn góp phần xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Hải Dương” được UBND tỉnh Hải Dương triển khai từ năm 2012 với mục tiêu đưa một số giống thủy sản
có năng suất, chất lượng cao vào nuôi tại một số vùng nuôi thủy sản tập trung, với trọng tâm là mô hình nuôi cá rô phi đơn tính Kết quả, những mô hình thuộc dự án đáp ứng đúng quy trình kỹ thuật đều đạt năng suất trên 10 tấn/ha mang lại lợi nhuận từ 30 -
32 triệu đồng/ha, thu nhập của người dân được cải thiện đáng kể
Trang 25Bên cạnh đó, Sở Khoa học và Công nghệ cũng phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện thành công nhiều đề tài áp dụng tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi thủy sản cho năng suất cao: Nuôi cá rô phi bán thâm canh, mật độ 3 - 5 con/m2, đạt năng suất 12 - 15 tấn/ha/vụ, nuôi ghép cá rô phi với cá khác đạt năng suất 7 - 8 tấn/ha/vụ
1.3.2 Tình hình nghiên cứu chọn giống cá rô phi ở Việt Nam
Từ những năm 90, thông qua một số công trình nghiên cứu và hợp tác quốc tế, Viện nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản 1 đã nhập nội một số dòng rô phi qua 2 lần: lần 1 vào năm 1994, lần 2 vào năm 1997 Năm 1999, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1
đã tiến hành chương trình chọn giống nhằm nâng cao tốc độ sinh trưởng từ cá rô phi dòng GIFT thế hệ thứ 5 chọn lọc theo gia đình cho kết quả cá rô phi thế hệ thứ 6 có tốc
độ tăng trưởng tăng 36% so với cá rô phi nhập nội ban đầu [4] Qua 8 thế hệ chọn giống đã nâng cao chất lượng di truyền của cá rô phi NOVIT4 được thực hiện từ năm
2003 - 2008 [1]
Trang 26CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm và nội dung nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Cá rô phi vằn Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758)
2.1.2 Thời gian: từ tháng 4/2013 đến 12/2014
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu: Tỉnh Hải Dương
2.1.4 Nội dung nghiên cứu:
Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Nuôi cá rô phi vằn Oreochromis niloticus (Linnaeus, 1758) tại Hải Dương:
Hiện trạng và giải pháp phát triển nuôi bền vững
Đánh giá hiện trạng nuôi cá rô phi tại Hải Dương
Kết luận và đề xuất ý kiến
Hiện trạng nuôi
cá rô phi (năng
suất, sản lượng
và hiệu quả kinh
tế) tại Hải Dương
Điều tra về tình hình dịch bệnh trong nuôi cá rô phi tại Hải Dương
Điều tra về sản xuất giống và cung ứng giống tại Hải Dương
Điều tra về sử dụng thuốc, hóa chất, thức ăn trong nuôi cá rô phi tại Hải Dương
Đề xuất một số giải pháp phát triển nuôi cá rô phi bền vững tại Hải Dương
Trang 27Thu thập số liệu thứ cấp thông qua các cơ quan, ban ngành địa phương như các báo cáo tổng kết ngành thuỷ sản, niên giám thống kê của tỉnh Hải Dương, các huyện thị; khai thác thông tin trên các Website của các cơ quan, tổ chức chuyên ngành
2.2.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Phỏng vấn có sự tham gia của cộng đồng, thu số liệu thông qua phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý thuỷ sản, người dân nuôi cá rô phi tại Hải Dương, dựa trên bộ câu hỏi đã được chuẩn hóa với mục đích nghiên cứu
2.2.2 Phương pháp chọn mẫu điều tra
Phạm vi nghiên cứu:
+ Vùng nuôi thương phẩm gồm 5 huyện nuôi thủy sản tập trung hoặc có chính sách chuyển đổi từ trồng cây nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi thủy sản mỗi huyện chọn 3 xã đại diện tập trung nuôi thủy sản Chọn ngẫu nhiên 120/403 hộ tương ứng
120 mẫu, số lượng mẫu ở các huyện cụ thể như sau: Tứ Kỳ: 35/119 hộ, Ninh Giang: 30/102 hộ, Nam Sách: 18/62 hộ, Cẩm Giàng: 15/51 hộ, và Thanh Hà: 22/69 hộ
+ Các cơ sở sản xuất và cung ứng giống
+ Các cơ quan quản lý: Chi cục nuôi trồng Thủy sản tỉnh Hải Dương, Trung tâm Khuyến nông, Trạm Khuyến nông 5 huyện (mỗi đơn vị 1 - 2 người được phỏng vấn)
Trang 28CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Điều kiện tự nhiên tại Hải Dương
Hải Dương là tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Việt Nam Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương nằm cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía Đông, cách thành phố Hải Phòng 45 km về phía Tây, phía Tây Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Đông giáp thành phố Hải Phòng, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình
và phía Tây giáp tỉnh Hưng Yên
Hải Dương có tọa độ từ 20°43' đến 21°14' độ vĩ Bắc, 106°03' đến 106°38' độ kinh Đông và được chia làm 2 vùng: vùng đồi núi và vùng đồng bằng Vùng đồi núi nằm ở phía Bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên gồm 13 xã thuộc thị xã Chí Linh và
18 xã thuộc huyện Kinh Môn; là vùng đồi núi thấp, phù hợp với việc trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm
Hải Dương nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông) Vào giai đoạn từ tiết lập xuân đến tiết thanh minh (khoảng đầu tháng hai - đầu tháng tư dương lịch) có hiện tượng mưa phùn và gió đông nam - là giai đoạn chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa mưa Mùa mưa kéo dài từ tháng tư đến tháng mười Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.300 – 1.700 mm Nhiệt độ trung bình năm
23 °C; tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 và tháng 2 (khoảng 10 - 12 °C); tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6 và tháng 7 (khoảng 37 - 38 °C), số giờ nắng trong năm: 1.524 giờ, độ ẩm trung bình: 85 – 87%
Hải Dương là tỉnh nông nghiệp có tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt Tổng diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thuỷ sản khoảng từ 11.000 - 13.000 ha, bao gồm ao hồ, sông cụt, đầm triều trũng có thể chuyển sang nuôi trồng thủy sản
3.2 Hiện trạng nuôi cá rô phi vằn tại Hải Dương
Tại Hải Dương, chúng tôi đã điều tra khảo sát 120 hộ nuôi tại 5 huyện nuôi cá rô phi, đây là những huyện được quy hoạch cho vùng nuôi trồng thủy sản tập trung (Tứ
Kỳ, Ninh Giang) hoặc huyện có quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng từ trồng lúa
Trang 29kém hiệu quả chuyển sang nuôi thủy sản và trồng cây ăn quả ngắn ngày (Thanh Hà, Cẩm Giàng, Nam Sách)
3.2.1 Kỹ thuật nuôi cá rô phi tại Hải Dương
3.2.1.1 Độ tuổi của các chủ hộ nuôi cá rô phi
Qua Bảng 3.1 cho thấy, độ tuổi của các chủ hộ nuôi cá rô phi tại các huyện đều nằm trong độ tuổi lao động Ít tuổi nhất là 28 tuổi, nhiều tuổi nhất là 61 tuổi, đa số các chủ hộ tham gia nuôi cá rô phi thường tận dụng nguồn lao động nhàn rỗi trong gia đình, nuôi theo kinh nghiệm là chủ yếu Tuy nhiên, có 63% các chủ hộ được tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật, hội thảo chuyên đề để trang bị kiến thức cơ bản về nuôi trồng thuỷ sản nói chung và nuôi cá rô phi nói riêng (Bảng 3.2)
Bảng 3.1: Độ tuổi các chủ hộ nuôi cá rô phi tại các huyện nghiên cứu khảo sát
Địa phương Tứ Kỳ Nam Sách Thanh Hà Cẩm Giàng Ninh Giang
Bảng 3.2: Tỉ lệ chủ hộ tham gia các lớp tập huấn, hội thảo chuyên đề
Qua tập huấn Không được tập huấn
Địa phương
điều tra Tỷ lệ (%)
Số phiếu điều tra Tỷ lệ (%)
3.2.1.2 Diện tích ao nuôi khảo sát tại Hải Dương
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Hải Dương, năm 2005 mới có vài mô hình nuôi thí điểm cá rô phi với diện tích khiêm tốn 10 ha, chiếm gần 16% diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh, năng suất bình quân 5,2 tấn/ha Đến năm 2009 diện tích
Trang 30nuôi chuyên canh rô phi đơn tính của Hải Dương lên đến 3.440 ha, năng suất bình quân 6 tấn/ha
Cá rô phi tại Hải Dương hiện nay được nuôi chủ yếu ở những huyện được quy hoạch cho vùng nuôi trồng thủy sản tập trung (Tứ Kỳ, Ninh Giang) hoặc huyện có quy hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng từ trồng lúa kém hiệu quả chuyển sang nuôi thủy sản (Thanh Hà, Cẩm Giàng, Nam Sách)
Bảng 3.3: Diện tích ao nuôi của các hộ (m 2 )
Địa phương Tứ Kỳ Nam Sách Thanh Hà Cẩm Giàng Ninh Giang
Bảng 3.4: Kết quả điều tra ao nuôi cá rô phi trong vùng quy hoạch NTTS
mè, cá trắm cỏ, cá trôi, ), còn lại 22% là nuôi đơn, trong đó có 14% nuôi bán thâm
Trang 31canh, tỷ lệ nuôi thâm canh và quảng canh cải tiến đều chiếm 4% (Bảng 3.5) Kết quả này cũng phù hợp với kết quả điều tra các cán bộ công tác tại Chi cục Nuôi thủy sản, Trung tâm Khuyến nông Hải Dương và các Trạm khuyến nông các huyện nghiên cứu Không chỉ riêng tại Hải Dương, qua quá trình khảo sát, chúng tôi cũng nhận thấy các tỉnh khác người dân cũng nuôi cá rô phi theo hình thức nuôi ghép chiếm đa số vì vừa tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên vừa sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên mặt nước và cho năng suất cao
Tỷ lệ nuôi ghép cao nhất là huyện Ninh Giang 100% số hộ điều tra, tỷ lệ nuôi ghép thấp nhất trong các huyện nuôi cá rô phi là Nam Sách đạt 38,89% số hộ Tại Nam Sách và Ninh Giang không có hộ nào nuôi thâm canh cá rô phi và huyện có tỷ lệ nuôi thâm canh cao nhất là Cẩm Giàng đạt 13,3%
Bảng 3.5: Hình thức nuôi tại các địa phương điều tra
Hình thức nuôi (hộ)
canh
Quảng canh cải tiến
Bán thâm canh
Thâm canh Nuôi ghép
độ thả từ 1,5 – 4 con/m2 (Bảng 3.6) Theo kết quả khảo sát, huyện Nam Sách có mật
độ thả trung bình thấp nhất và nuôi theo hình thức quảng canh cải tiến là chủ yếu, trong khi đó ở Cẩm Giàng, mật độ thả cao nhất là 4 con/m2
Trang 32Bảng 3.6: Mật độ thả tại các huyện điều tra
TK theo mật độ thả (con / m 2 ) Huyện 1-1,5 1,5-2,0 2,0-3,0 3,0-4,0
3.2.1.5 Năng suất và sản lượng nuôi
Trong những năm qua, ngành nuôi trồng thủy sản ở Hải Dương phát triển nhanh
cả về diện tích và năng suất Quy mô nuôi trồng thủy sản vùng khảo sát là 35,6 ha, với năng suất trung bình đạt 7,9 tấn/ha Trong đó Tứ Kỳ là huyện đạt năng suất cao nhất 9,7 tấn/ha, huyện Nam sách có năng suất thấp nhất là 5,9 tấn/ha Điều này cũng phù hợp khi Tứ Kỳ là huyện có nhiều diện tích ao tập trung, bờ vùng cao, nguồn nước tốt,
có khả năng điều tiết được nước khi cần thiết, và có đủ cơ sở vật chất tốt, thuận tiện cho việc nuôi trồng thủy sản nói chung và nuôi cá rô phi nói riêng Hơn nữa 86% chủ
hộ tại huyện Tứ Kỳ tham gia các lớp tập huấn về kỹ thuật nuôi, xử lý ao trước, trong quá trình nuôi và hướng dẫn chữa trị kịp thời một số bệnh thông thường
Bảng 3.7: Năng suất và sản lượng nuôi cá rô phi tại Hải Dương
Sản lượng (kg), năng suất TB (kg/m 2 )
Huyện
Diện tích nuôi (m 2 ) Tổng SL SL TB NS TB Tổng SL SL TB NS TB Tổng SL SL TB NS TB
Tứ Kỳ 98.720 90.900 2.597,14 0,88 96.670 2.762,00 0,95 111.090 3.174,00 1,08 Nam Sách 58.325 25.270 1.805,00 0,46 29.590 1.740,59 0,62 31.970 1.776,11 0,69 Thanh Hà 58.500 44.100 2.004,55 0,74 46.200 2.100,00 0,78 46.340 2.106,36 0,78 Cẩm Giàng 26.680 19.650 1.310,00 0,70 20.050 1.336,67 0,71 20.183 1.345,53 0,70 Ninh Giang 114.043 85.830 2.861,00 0,71 91.660 3.055,33 0,74 98.355 3.278,50 0,79
Ngoài kỹ thuật nuôi, phương thức nuôi ghép cá rô phi cũng cho hiệu quả cao hơn
so với cách nuôi trước đây 97% số hộ nuôi tại Tứ Kỳ nuôi ghép theo tỉ lệ 60% cá rô phi, còn 40% cá các loại như: trắm cỏ, chép V1, trôi, mè Nuôi ghép đã giảm được chi phí trong quá trình nuôi và cá ít bị bệnh, tăng trọng nhanh, hệ số thức ăn giảm Theo
Trang 33ông Nguyễn Văn Thắng – cán bộ trạm Khuyến nông huyện Tứ Kỳ những hộ được tham gia tập huấn về kỹ thuật nuôi an toàn theo quy chuẩn đã đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn
3.2.2 Tình hình sử dụng thức ăn, thuốc, hoá chất cho cá rô phi
3.2.2.1 Tình hình sử dụng thức ăn cho cá rô phi:
Thức ăn cho cá là các loại phụ phẩm từ nông nghiệp như cám gạo, bột ngô và rau
cỏ Những sản phẩm này thường cho ăn sống trực tiếp thả xuống ao, một số ít gia đình nấu chín các loại thức ăn trên trước khi cho ăn Việc cho các phụ phẩm như cám gạo, cám ngô xuống trực tiếp ao nuôi cá là hết sức hao phí thức ăn, lượng thức ăn bị chìm lắng xuống đáy và cá không sử dụng được chiếm tỷ lệ rất lớn Mặt khác, do thiếu hiểu biết về cơ sở khoa học và quy trình chế biến thức ăn cho cá nên việc phối chế các chất dinh dưỡng không phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cá nuôi dẫn đến năng suất và hiệu quả nuôi thấp
Kết quả điều tra cho thấy có 66% số hộ nuôi cá rô phi sử dụng hoàn toàn thức ăn công nghiệp cho cá ăn (các loại thức ăn công nghiệp tại Hải Dương chủ yếu sử dụng thức ăn CP chiếm 58,72%, Proconcon 24,77%), 26% số hộ sử dụng kết hợp cả 2 loại thức ăn tự chế và thức ăn công nghiệp Ở giai đoạn cá nhỏ người ta thường cho cá ăn thức ăn tự chế như cám gạo, cám ngô, bột đậu tương, vào giữa và cuối chu kỳ nuôi hoặc xen kẽ sử dụng thức ăn công nghiệp với thức ăn tự chế, còn lại 8% số hộ dùng thức ăn tự chế hoàn toàn (Bảng 3.8)
Bảng 3.8: Tình hình sử dụng thức ăn tại vùng khảo sát