Nghiên cứu bổ sung một số đặc điểm sinh học sinh sản: phân biệt đực cái, tỷ lệ đực cái; các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục; sức sinh sản; hệ số thành thục; đường kính trứng Thử nghi
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong luận văn này là do chính bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn và chỉ bảo hết sức tận tình của TS Võ Thế Dũng – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III, TS Nguyễn Văn Minh và các anh, chị trong phòng Sinh học thực nghiệm – Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III
Các số liệu, kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là trung thực
và chưa ai từng công bố trong bất kỳ công trình nào
Nguyễn Tiến Thành
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang, Viện Nuôi Trồng Thủy Sản – ĐHNT, Khoa đào tạo sau Đại học cho tôi mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin gửi đến ban lãnh đạo của Viện Nghiên cứu Nuôi Trồng Thủy Sản III lòng biết ơn sâu sắc đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi có thể thực hiện đề tại tốt nghiệp luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Võ Thế Dũng, TS Nguyễn Văn Minh
đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tôi không những về phương pháp nghiên cứu, báo cáo khoa học mà còn chỉ dẫn trong tác phong, lề lối làm việc của người nghiên cứu suốt thời gian thực hiện đề tài
Xin gửi lời cám ơn chân tình tới các anh, chị trong phòng Sinh học thực nghiệm Viện Nghiên cứu NTTS III, các bạn, các em sinh viên đang trong thời gian thực hiện
đề tài tốt nghiêp Đại học, Cao học những sự giúp đỡ, góp ý quý báu Em gửi lòng biết
ơn sâu sắc đến các thầy, các cô trong Viện nghiên cứu NTTS – Trường ĐHNT cũng như các chuyên gia trong và ngoài nước đã truyền đạt những kiến thức bổ ích trong khóa học
Cuối cùng, tôi muốn gửi lòng biết ơn sâu sắc nhất đến gia đình tôi, xin cảm ơn đến các thành viên trong lớp Cao học khóa 2012 – 2014, bạn bè đã động viên, khích lệ tinh thần cho tôi thực hiện tốt luận văn tốt nghiệp
Một lần nữa, tôi xin chân thành cám ơn tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FSH : Follicle Stimulating Hormone
ppt : (parts per thousand) phần ngàn
ppm : (parts per million) phần triệu
SSS : Sức sinh sản
SD : Độ lệch chuẩn
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
TB : Trung bình
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG xiii
DANH MỤC HÌNH ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá mặt quỷ 3
1.1.1 Hệ thống phân loại và phân bố 3
1.1.2 Đặc điểm hình thái 4
1.1.3 Đặc điểm môi trường sống 5
1.1.5 Đặc điểm sinh học sinh sản 7
1.2 Hiện trạng sản xuất giống và nuôi cá biển trên thế giới và ở Việt Nam 7
1.2.1 Trên thế giới 7
1.2.2 Hiện trạng sản xuất giống cá biển ở Việt Nam 10
1.2.3 Vấn đề nuôi vỗ cá bố mẹ tại Việt Nam 13
1.2.4 Vấn đề kích thích sinh sản trên cá biển 14
1.2.4.1 Kích thích sinh sản bằng phương pháp tự nhiên 15
1.2.4.2 Kích thích sinh sản bằng kích dục tố 16
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Vật liệu nghiên cứu 19
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.2 Thời gian nghiên cứu: 19
2.1.3 Địa điểm bố trí thí nghiệm: 19
Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III, 33 Đặng Tất, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa 19
2.2 Phương pháp nghiên cứu 19
2.2.1 Tình hình khai thác, sử dụng và giá trị dinh dưỡng của cá mặt quỷ 20
2.2.2 Nghiên cứu bổ sung một số đặc điểm sinh học sinh sản 22
Trang 72.2.3 Thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá mặt quỷ 25
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1.1 Tình hình khai thác, sử dụng và thương mại sản phẩm cá mặt quỷ 30
3.2 Kết quả nghiên cứu bổ sung một số đặc điểm sinh học sinh sản 33
3.2.2 Phân biệt đực, cái và tỷ lệ đực, cái 34
3.2.3 Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục 37
3.2.4 Kích thước thành thục sinh dục lần đầu 40
3.2.5 Sức sinh sản 41
3.2.6 Hệ số thành thục 41
3.3 Thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá mặt quỷ: 42
3.3.1 Kết quả thu gom và thuần hóa: 42
3.3.2 Chăm sóc quản lý 43
3.3.3 Tạo đàn cá hậu bị, đàn cá bố mẹ trong điều kiện nhân tạo 44
3.3.4 Kết quả thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá mặt quỷ 46
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục cá mặt quỷ 23
Bảng 2.2: Liều lượng chất kích thích sinh sản 28
Bảng 3.1 Ước tính sản lượng và giá trị cá mặt quỷ qua việc điều tra từ các đại lý 30
Bảng 3.2: Thành phần sinh hóa trong thịt cá mặt quỷ 31
Bảng 3.3: Thành phần các axit béo trong thịt cá mặt quỷ 31
Bảng 3.4 Thành phần các axit amin trong thịt cá mặt quỷ 32
Bảng 3.5 Kết quả điều tra ngư dân khai thác 33
Bảng 3.6 Tỷ lệ cá đực, cái cá mặt quỷ qua các tháng nghiên cứu 36
Bảng 3.7 Kích thước nhóm cá thành thục sinh dục lần đầu 40
Bảng 3.8 Sức sinh sản của cá mặt quỷ 41
Bảng 3.9 Hệ số thành thục cá mặt quỷ cái qua các tháng nghiên cứu 42
Bảng 3.10 Kết quả thu gom và thuần hóa cá mặt quỷ 43
Bảng 3.11 Tỷ lệ sống của cá mặt quỷ qua nuôi vỗ trong các hệ thống khác nhau 44
Bảng 3.12 Tỷ lệ thành thục của cá bố mẹ trong các hệ thống khác nhau 44
Bảng 3.13 Các yếu tố môi trường trong quá trình sinh sản nhân tạo cá mặt quỷ 47
Bảng 3.14.Kết quả thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá mặt quỷ 48
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cá mặt quỷ 3
Hình 1.2: Bản đồ vùng phân bố cá mặt quỷ 4
Hình 1.3: Khả năng ngụy trang hoàn hảo của cá mặt quỷ 6
Hình 1.4 Sơ đồ cơ chế hormon điều khiển sự chín noãn bào và những hoạt chất ngoại sinh có thể điều khiển quá trình này 15
Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dụng nghiên cứu 20
Hình 2.2 Mô hình hệ thống nước chảy 26
Hình 2.3: Mô hình hệ thống nước tĩnh 27
Hình 3.1 Phần phụ sinh dục của cá mặt quỷ cái 35
Hình 3.2 Phần phụ sinh dục của cá mặt quỷ đực 35
Hình 3.3 Tỷ lệ đực cái qua các tháng nghiên cứu 36
Hình 3.4 Cấu trúc mô học tuyến sinh dục cá mặt quỷ đực giai đoạn I 37
Hình 3.5 Cấu trúc mô học tuyến sinh dục cá mặt quỷ đực giai đoạn II 38
Hình 3.6 Cấu trúc mô học tuyến sinh dục cá cái mặt quỷ giai đoạn III 38
Hình 3.7 Cấu trúc mô học tuyến sinh dục cá mặt quỷ cái giai đoạn IV 38
Hình 3.8 Cấu trúc mô học tuyến sinh dục cá mặt quỷ đực giai đoạn IV 39
Hình 3.9 Hình dạng buồng trứng cá mặt quỷ cái 39
Hình 3.10 Hình dạng buồng sẹ cá mặt quỷ đực 40
Hình 3.11: Cá đực thành thục trong điều kiện nuôi vỗ 45
Hình 3.12 Tiến hành kiểm tra mức độ thành thục ở cá mặt quỷ 46
Hình 3.13 Tiêm LHRH_A cho cá 49
Hình 3.14: Trứng thụ tinh 50
Hình 3.15 Đo đường kính trứng 51
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Chủ đề nghiên cứu: nghiên cứu bổ sung một số đặc điểm sinh học sinh sản, thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá mặt quỷ, đồng thời bước đầu nghiên cứu về giá trị dinh dưỡng nguồn gen
Mục tiêu của đề tài: Bổ sung một số đặc điểm sinh học sinh sản, phân tích giá trị dinh dưỡng nguồn gen và cung cấp các kết quả bức đầu cho việc sinh sản nhân tạo cá
mặt quỷ (Synanceia verrucosa Bloch & Schneider, 1801)
Phân tích hàm lượng dinh dưỡng trong thịt cá, định lượng lipid, tro, acid béo, acid amin
Điều tra ngư dân, đầu nậu, nhà hàng hải sản tại 4 tỉnh Nam Trung Bộ ( Khánh Hòa, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận) và 1 tỉnh Đông Bắc Bộ (Quảng Ninh)
Nghiên cứu bổ sung một số đặc điểm sinh học sinh sản: phân biệt đực cái, tỷ lệ đực cái; các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục; sức sinh sản; hệ số thành thục; đường kính trứng
Thử nghiệm sinh sản nhân tạo: thu gom thuần hóa cá mặt quỷ, tạo đàn cá bố mẹ
và kích thích sinh sản bằng phương pháp tiêm kích dục tố
Bước đầu thu được một số kết quả về thành phân sinh hóa, dinh dưỡng trong thịt
cá mặt quỷ Bổ sung một số đặc điểm sinh học sinh sản như phân biệt cá đực, cái dựa vào hình dạng bên ngoài
Nuôi vỗ thành công đàn cá mặt quỷ thuần dưỡng với hệ thống nước chày, nước tĩnh Thu được trứng cá mặt quỷ thụ tinh ở giai đoạn 4 tế bào
Đề xuất tiếp tục nghiên cứu sâu hơn nữa các đặc điểm sinh học sinh sản của cá mặt quỷ trong đó chú trọng đến việc nghiên cứu các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục đực, cái nhằm phục vụ tốt hơn cho việc sinh sản nhân tạo Đồng thời, thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá với các chất kích dục tố khác để thu được kết quả khả quan hơn Ngoài ra, cần có các đánh giá chuyên sâu hơn về thành phần dinh dưỡng thịt cá, nghiên cứu về thành phần độc dược, tạo cơ sở cho các công trình về bảo tồn giá trị dinh dưỡng nguồn gen loài cá này trong tương lai
Từ khóa: giá trị dinh dưỡng nguồn gen, cá mặt quỷ (Synanceia verrucosa Bloch
& Schneider, 1801)
Trang 11MỞ ĐẦU
Nước ta có đường bờ biển dài hơn 3.260km, có nhiều đảo tạo nên nhiều vùng biển, nhiều eo biển, vũng vịnh kín gió, nhiều đầm phá rộng lớn, rất thuận lợi cho việc phát triển nuôi cá biển, đặc biệt là nuôi cá biển bằng lồng Tuy nhiên, nghề nuôi cá biển chỉ mới đóng góp một phần nhỏ (<1%) so với tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của nghề cá nói chung Nguyên nhân chủ yếu là chúng ta chưa tập trung nghiên cứu đối với các đối tượng nuôi nước mặn Các loài cá kinh tế đã và đang được nuôi hiện nay mặc dù đã nghiên cứu sản xuất được con giống nhân tạo, nhưng số lượng chưa nhiều, chủ yếu lấy nguồn giống từ tự nhiên, và nhập ngoại, số lượng và chất lượng không ổn định, chưa có quy trình nuôi cụ thể cho từng loài Tính bền vững của việc cung cấp giống trong sự phát triển dài hạn sẽ là trở ngại lớn đối với nghề nuôi cá biển Cùng với đó việc đi tìm các đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao sẽ có tác dụng làm phong phú cơ cấu đàn cá nuôi, giảm áp lực khai thác tự nhiên
Cá mặt quỷ (tên tiếng Anh Stone fish) là một trong những đối tượng thủy sản nước mặn có giá trị kinh tế cao, giàu dinh dưỡng và hiện đang rất được ưa chuộng trên thế giới cũng như ở Việt Nam [4] Hiện nay, nguồn cung cấp cá mặt quỷ trên thị trường hoàn toàn từ khai thác tự nhiên và trong thời gian gần đây sản lượng khai thác
đã giảm đáng kể, do vậy việc nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm cá mặt quỷ là hết sức cần thiết Tuy vậy, đây là đối tượng mới, những nghiên cứu về cá mặt quỷ ở Việt Nam còn hạn chế, trong đó chủ yếu về đặc điểm vùng phân
bố, một số đặc điểm sinh học sinh sản mà chưa có công trình nào nghiên cứu thành công về sinh sản nhân tạo cá mặt quỷ Song song với đó việc phân tích thành phần các chất có trong thịt cá sẽ giúp chúng ta đánh giá được giá trị dinh dưỡng của loài và xa hơn nữa là xây dựng các chương trình bảo tồn nguồn gen cho loài cá quý hiếm này Nhận thức được điều đó, được sự đồng ý của Hội đồng xét duyệt để cương luận văn cao học chuyên ngành NTTS trường đại học Nha Trang, Viện nghiên cứu NTTS - III và các thầy cô, cán bộ hướng dẫn tôi thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu bổ sung một số đặc điểm sinh học sinh sản, giá trị dinh dưỡng
nguồn gen và thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá mặt quỷ (Synanceia verrucosa
Bloch & Schneider, 1801)”
Trang 12Mục tiêu của đề tài: Bổ sung một số đặc điểm sinh học sinh sản, phân tích giá
trị dinh dưỡng nguồn gen và cung cấp các kết quả bước đầu cho việc sinh sản nhân tạo
cá mặt quỷ (Synanceia verrucosa Bloch & Schneider, 1801)
Nội dung của đề tài
Phân tích thành phần sinh hóa trong thịt cá mặt quỷ phục vụ việc đánh giá giá trị dinh dưỡng nguồn gen
Nghiên cứu bổ sung một số đặc điểm sinh học sinh sản cá mặt quỷ
Thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá mặt quỷ
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số đặc điểm sinh học của cá mặt quỷ
1.1.1 Hệ thống phân loại và phân bố
Loài: S verrucosa Bloch & Schneider, 1801
Tên tiếng Anh: Stone fish
Hình 1.1 Cá mặt quỷ
Cá mặt quỷ hay còn gọi là cá mang ếch, cá mao ếch, có tên tiếng Anh là Stone fihs là một giống thuộc họ cá mao mặt quỷ (Synanceiidae) loài điển hình của chi này
là cá mặt quỷ rạn san hô (Synanceia verrucosa) [44] Đây được xem là loài cá có độc
tính nhất trong các loài cá Nọc độc của chúng tập trung ở các gai trên khu vực lưng, mỗi trong số đó chứa hai túi nọc độc [39] Ý nghĩa về thương mại chính của cá mặt quỷ là làm cá cảnh, tuy nhiên tại một số thị trường như HongKong, Nhật Bản, Philippines, Việt Nam chúng được biết đến như là một trong những món ăn xa xỉ Thịt cá mặt quỷ dai ngon, giàu canxi, giàu dưỡng chất omega-3 giúp tuần hoàn máu tốt, ngăn chặn sự hình thành huyết khối, giảm nguy cơ mắc bệnh tim, chống đột quỵ [39] Hiện nay, tại các thành phố lớn, giá bán cá mặt quỷ tại các nhà hàng có thể lên
Trang 14đến 2 - 3 triệu đồng cho 1kg cá Đồng thời cá mặt quỷ cũng rất có tiềm năng về giá trị dược liệu
1.1.1.2 Phân bố
Cá mặt quỷ được tìm thấy tại các vùng ven biển Ấn Độ Dương - Thái Bình
Dương: Biển Đỏ và Đông Phi đến Polynesia thuộc Pháp, phía Bắc đến các đảo Ryukyu
và Ogasawar, phía Nam đến Queensland, Úc cũng như ngoài khơi bờ biển Florida và vùng biển Caribbean [43] Ngoài ra có bằng chứng cho thấy cá mặt quỷ có thể tồn tại ở biển Địa Trung Hải [25] Vùng phân bố cá mặt quỷ trên thế giới được thể hiện qua hình 1.2
Hình 1.2: Bản đồ vùng phân bố cá mặt quỷ [50]; màu đỏ là nơi bắt gặp cá với
xác suất cao (0,8-1,0)
Cá mặt quỷ được tìm thấy chủ yếu tại các đảo, rạn san hô, bãi đá hay vũng vịnh kín với màu sắc phù hợp với môi trường sống Độ sâu phát hiện loài cá này có thể lên tới 30 m [41] Theo Võ Thế Dũng và CTV (2011), ở Việt Nam cá mặt quỷ phân bố tại các tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận [4] Tại vùng biển thuộc đảo Phú Quý (Bình Thuận), cá mặt quỷ có thể phân bố ở độ sâu 30m [11]
1.1.2 Đặc điểm hình thái
Cá mặt quỷ sống ngoài khơi thường có màu nâu hoặc có nhiều vết lốm đốm và
có nhiều vạch kẻ dọc màu đen trên nền sáng màu hơn, thường là màu xám hoặc màu hơi đỏ ở phía bụng Cá phân bố ở những vùng nước sâu hơn thường có màu đỏ sẫm, nâu hoặc đen và những đường kẻ màu trắng trên da [41]
Trang 15Cá mặt quỷ có thân hình thon dài, chiều dài khi trưởng thành đạt 30 - 40cm, cá
mặt quỷ lớn nhất được ghi nhận có chiều dài thân lên đến 51cm [41] Khối lượng cơ
thể cá mặt quỷ trưởng thành có thể lên đến 2,4 - 3kg Chúng có đầu to phủ nhiều gai, miệng khá rộng, chếch lên trên, có thể kéo dài được Răng có dạng lông nhung (một vài loài thuộc họ cá mặt quỷ có răng nanh nhỏ) được sắp xếp theo dạng đường hoặc mảng ở hàm trên, hàm dưới và vòm miệng (thường ở trên xương lá mía, thỉnh thoảng
ở xương vòm miệng) Mắt cá mặt quỷ khá to, xương chóp dưới mắt cá kéo dài về phía trước và bám chắc vào phía trước của nắp mang Lề của phần trước mang có từ 3 - 5 gai, trong đó 3 gai trước rất phát triển, nắp mang có 2 gai riêng rẽ, hoặc chỉ là 1 gai đơn Mang của cá mặt quỷ có khả năng mở rộng, lược mang ngắn Vây lưng là vây đơn, thường có dạng hình chữ V ở phía sau của phần gai, có 8 - 18 gai đơn và 4 - 14 tia vây Vây hậu môn thường có từ 2 - 4 gai đơn và 5 - 14 tia vây Trong hầu hết các trường hợp, các tia ở vây lưng và ở vây hậu môn tách rời nhau Vây ngực rộng hơn, giống như cái quạt với 11 - 23 tia vây Vây đuôi có dạng hình tròn hoặc hình vuông, không phân nhánh Tuyến nọc độc gắn liền với các gai trên vây Cá mặt quỷ có thể có hoặc không có vẩy (không kể đường bên) Ở một số loài cá mặt quỷ có đường bên, vẩy thường có dạng lược (hình tròn, dài), dạng vòng (bề mặt nhẵn), hoặc cả hai dạng này hoặc dạng thô sơ gắn chặt trên da Tất cả các loài cá mặt quỷ đều có đường bên, tuy nhiên, đường bên có thể không hoàn chỉnh hoặc chỉ như một đường rãnh mà không có vẩy Hầu hết các loài đều có nhiều mụn nhỏ mọc trên đầu và toàn bộ cơ thể [41] Cá mặt quỷ được biết đến như là loài cá độc nhất trên thế giới Thông qua những chiếc gai trên vây lưng nó có thể tiêm một chất độc có khả năng giết chết một người trưởng thành trong vòng chưa đầy một giờ Trong tự nhiên, cá mặt quỷ sử dụng nọc độc của
nó để tự vệ thay vì tấn công con mồi Nọc độc của cá mặt quỷ có độc lực rất lớn và có hiệu quả cao trong việc chống lại những kẻ thù Từ năm 1959, người ta đã bắt đầu phát triển được chất kháng nọc độc của loài cá này, điều đó góp phần làm giảm tỷ lệ tử vong do nhiễm nọc độc của nó [24]
1.1.3 Đặc điểm môi trường sống
Cũng như những loài thủy sản khác, môi trường sống có ảnh hưởng rất lớn đến
cá mặt quỷ Những ảnh hưởng, tác động từ môi trường bao gồm các thay đổi từ nguồn nước, các thông số môi trường Tùy theo mức độ thay đổi môi trường nhiều hay ít mà gây ra ảnh hưởng khác nhau đến sinh trưởng, dinh dưỡng, sinh sản, dịch bệnh, màu
Trang 16sắc, tỉ lệ sống của cá Điều kiện môi trường sống thích hợp đối với sinh trưởng của cá mặt quỷ là pH: 7,5 - 8, độ mặn 30 - 32‰, nhiệt độ 23 - 280C [41] Với đặc tính là loài
sống đáy, ít di chuyển, không có sự di cư nên trong suốt vòng đời nên môi trường sống của loài cá này ít thay đổi và khá ổn định
Hình 1.3: Khả năng ngụy trang hoàn hảo của cá mặt quỷ [37]
Có thể nhận định cá mặt quỷ là bậc thầy về ngụy trang, chúng vùi mình trong cát hoặc ẩn giữa đá và san hô để phục kích con mồi cũng như trốn tránh kẻ thù của nó Khả năng pha trộn hoàn hảo với môi trường sống làm cho các loài thủy sinh vật khác, thậm chí các thợ lặn rất khó phát hiện ra chúng Cá mặt quỷ hầu như nằm yên tĩnh hoàn toàn dưới đáy biển với màu sắc tương đồng với môi trường sống xung quanh Một số con cá mặt quỷ bên ngoài được phủ bởi một lớp tảo xung quanh [37] Ngoài khả năng ngụy trang và thích nghi rất tốt với môi trường sống, cá mặt quỷ còn có thể sống trên cạn trong nhiều giờ trong điều kiện đảm bảo đủ độ ẩm [37]
Cá đuối và cá mập là hai loài địch hại chủ yếu của cá mặt quỷ Johnson đã tìm thấy cá mặt quỷ trong ruột của cá mập lớn (cá mập hổ và cá mập trắng), bên cạnh đó
cá mặt quỷ nhỏ cũng là loại thức ăn ưa thích của loài rắn biển Astrotia stokesii [24]
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Thức ăn chủ yếu của cá mặt quỷ là cá nhỏ, các loài cá sống ở rạn san hô, tôm và
một số động vật giáp xác khác Chiếc hàm mạnh mẽ của chúng cùng với miệng lớn giúp chúng dễ dàng có thể đớp và nuốt trọn con mồi Cá mặt quỷ không chủ động đuổi theo con mồi, thay vào đó chúng chờ đợi để bữa ăn tự đến với mình Cá mặt quỷ có thể chờ đợi con mồi trong nhiều giờ tại cùng một địa điểm sau đó tấn công con mồi với một tốc độ cực nhanh Nếu có đầy đủ thức ăn trong khu vực sinh sống, loài cá này sẽ
Trang 17thể hiện bản chất chậm chạp của nó và sẽ định cư trong khu vực rạn san hô trong thời gian dài [37]
Việc phân tích tính ăn của cá theo các loại thức ăn khác nhau là cơ sở cho các nhà nuôi trồng thủy sản xác định được loại thức ăn, khẩu phần thức ăn, cách thức cho
ăn thích hợp với đối tượng nuôi trên nguyên tắc: "tôn trọng đặc tính dinh dưỡng của loài" Việc tìm hiểu nhu cầu dinh dưỡng của loài có thể giúp chúng ta chủ động về vấn
đề thức ăn cho từng loài trong quá trình nuôi vỗ, phục vụ sinh sản nhân tạo [7]
1.1.5 Đặc điểm sinh học sinh sản
Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của loài là điều hết sức cần thiết trong
sản xuất giống các loài thủy sinh vật nói chung và cá mặt quỷ nói riêng Tuy nhiên, hiện nay có rất ít công trình nghiên cứu cũng như thông tin về loài cá này Các nghiên cứu về cá mặt quỷ tại Việt Nam đã cho biết một số thông tin về đặc điểm sinh học sinh sản của loài như: Cá mặt quỷ thành thục sinh dục lần đầu có khối lượng 600g trở lên, kích thước 23,5 - 26cm, mùa vụ sinh sản chính là từ tháng 3 đến tháng 6 và từ tháng 9 đến tháng 10 trong năm [4], [11] Năm 2012, Nguyễn Cao Lộc cho biết, tỷ lệ đực, cái trong bầy đàn đánh bắt tự nhiên là 1:1,5; tuy nhiên, chưa phân biệt được đực cái nếu chỉ dựa vào hình dạng bên ngoài, hệ số thành thục của cá dao động từ 0,51(± 0,05) - 6,41(±1,21) Tác giả cũng cho biết sức sinh sản tuyệt đối của cá dao động từ 1.208.040
- 2.098.566 trứng, cao hơn so với một số loài cá biển khác [11]
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của cá mặt quỷ của các tác giả nêu trên được thực hiện trong thời gian ngắn với số lượng mẫu không nhiều Vì thế cần thiết phải có nghiên cứu trên đối tượng này trong thời gian dài và với quy mô lớn hơn để có thể rút ra được các kết luận chính xác nhất
1.2 Hiện trạng sản xuất giống và nuôi cá biển trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
1.2.1.1 Hiện trạng sản xuất giống cá biển trên thế giới
Trong các khu vực nuôi trồng thủy sản trên thế giới hiện nay, Châu Á - Thái
Bình Dương đang là nơi có nghề nuôi cá biển phát triển sôi động với số lượng loài được nuôi nhiều nhất, trong đó có nhiều loài đã được sản xuất giống thành công ở qui
mô thương mại [42], [26]
Ở Trung Quốc, việc cho đẻ và sản xuất giống nhân tạo các loài cá biển đã phát triển hơn 50 năm, số lượng loài nghiên cứu thành công và số lượng cá giống sản xuất
Trang 18ra tăng lên nhanh chóng từ những năm 1980, cung cấp một lượng lớn con giống cho nghề nuôi cá lồng và nuôi cá ao [34] Từ cuối những năm 1950, các loài thuộc họ cá
đối (Mugilidae) đã được nghiên cứu sinh sản nhân tạo thành công đầu tiên tại Trung
Quốc Từ những năm 1970, Trung Quốc đã hoàn thiện kỹ thuật sinh sản nhân tạo loài
cá đối Liza haematocheila đã sản xuất ra một lượng lớn cá giống đáp ứng nhu cầu phát
triển nuôi với qui mô lớn Đến những năm 1980, Trung Quốc bắt đầu cho sinh sản
thành công các loài cá khác như cá tráp, cá bơn Nhật (Paralichthys olivaceus), cá tráp đen (Sparus macrocephalus) và cá đù vàng (Pseudosciaena crocea) đã thiết lập được
kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo và sản xuất ra hàng triệu con giống của các loài cá này Từ những năm 1990, sản xuất giống nhân tạo cá biển ở Trung Quốc phát triển tăng nhanh về cả số lượng loài và số lượng cá giống sản xuất ra, tập trung vào các loài
có giá trị cao Đến năm 2000, có ít nhất 52 loài cá biển thuộc 24 họ đã được nghiên cứu sản xuất giống thành công Loài được sản xuất giống nhiều nhất là cá đù vàng đạt hơn 1,3 tỉ con giống Các loài sản xuất được hơn 10 triệu con giống trong năm 2000
gồm có: cá hồng Mỹ (Sciaenops ocellatus), cá vược Nhật (Lateolabrax japonicus), cá đối Liza haematocheila, cá Nibea miichthioides, cá tráp đỏ (Pagrosomus major), cá măng biển (Chanos chanos) và cá Plectorhynchus cinctus Các loài sản xuất được vài triệu con giống trong năm 2000 gồm: cá bơn Nhật, cá tráp đen, cá chẽm (Lates
calcarifer), cá hồng chấm đen (Lutjanus russelli), cá sạo (Pomadasys hasta), cá đù
(Miichthys miiuy), cá bống bớp (Bostrichthys sinensis) và cá sạo vây đen (Hapalogenys nitens) [34] Hiện nay, các loài cá biển thuộc họ cá đù (Sciaenidae) là
những loài chủ yếu đang được sản xuất giống nhân tạo ở Trung Quốc, tiếp theo là các
loài cá thuộc các họ tráp (Sparidae), họ cá sạo (Pomadasyidae), họ cá mú (Serranidae), họ cá bơn vĩ (Paralichthyidae) và họ cá hồng (Lutjanidae) [34]
Trong khu vực, Nhật Bản đang dẫn đầu về số lượng loài cá biển được sản xuất giống nhân tạo trên thế giới và đa số con giống sản xuất ra được thả ra biển để tái tạo nguồn lợi [29] Năm 1998, Nhật Bản đã sản xuất 107,8 triệu cá giống, trong đó cá bơn
Nhật chiếm 34%, cá tráp đỏ chiếm 28%, cá Arctoscopus japonicus và cá
Acanthopagrus schlegeli mỗi loài chiếm khoảng 9% Khoảng 81 triệu cá giống từ số
lượng trên đã được thả lại môi trường tự nhiên [42], [47]
Ở Đài Loan, theo Liao (1960), cá đối mục được sản xuất giống thành công tại Đài Loan từ lâu [35], và kỹ thuật này được áp dụng nghiên cứu trên nhiều loài cá khác
Trang 19Việc sản xuất giống cá biển ở qui mô thương mại bắt đầu ở Đài Loan từ những năm
1980, cùng với thời gian Nhật Bản đã sản xuất mạnh giống cá tráp đỏ và Châu Âu phát triển mạnh trên 2 loài cá chẽm Châu Âu và cá tráp vàng [35] Cho đến 2001, Đài Loan
đã sản xuất giống nhân tạo thành công hơn 90 loài cá khác nhau [35] Mặc dù có hơn
52 loài cá mú phân bố dọc bờ biển Đài Loan nhưng chỉ có một số loài đã được sản
xuất giống nhân tạo bao gồm: cá mú chấm đen (Epinephelus malabaricus), cá mú chấm nâu (E coioides), cá mú cọp (E fuscoguttatus), cá mú nghệ (E lanceolatus),
trong đó, loài cá mú chấm nâu đã được khép kín vòng đời Các loài cá mú khác: cá mú
chấm xanh (Plectropomus leopardus), cá mú chuột (Cromileptes altivelis) chỉ sản xuất
được một số lượng ít con giống Việc nghiên cứu ương nuôi ấu trùng cá mú chấm đen
(E malabaricus) bắt đầu từ năm 1985, tỉ lệ sống của ấu trùng loài cá này nói chung
thấp hơn các loài khác [35]
Tại Đông Nam Á, các loài cá biển có giống cung cấp từ các trại sản xuất bao gồm: cá chẽm, cá dìa, cá măng biển, cá mú cọp, cá mú chấm nâu, cá mú chuột, cá
hồng bạc, cá giò, cá chim vây vàng (Trachinotus blochii ) Các loài đang được tiếp tục
nghiên cứu là cá mú nghệ, cá mú chấm xanh và cá mó đầu khum [29]
Ở Châu Âu, hệ thống ương nuôi ấu trùng hai loài cá chẽm Châu Âu và cá tráp vàng đã biến đổi từ dạng đơn giản, gây nuôi tảo trực tiếp trong bể, đến các trại sản xuất giống lớn, qui mô công nghiệp, sản xuất vài chục triệu cá giống mỗi năm [28], [43] Việc sản xuất giống 2 loài cá này ở qui mô thương mại phát triển mạnh ở Châu
Âu từ cuối những năm 1980 và những năm 1990 Số lượng cá giống của 2 loài này năm 1999 khoảng 450 triệu con Mặc dù có sự đa dạng hóa đối tượng nuôi trong thời gian sau này nhưng số lượng cá giống sản xuất nhân tạo của 2 loài chẽm Châu Âu và
cá tráp vàng vẫn chiếm chủ yếu ở Châu Âu [43] Theo Shields (2001), Châu Âu có khoảng 90 trại sản xuất giống 2 loài cá này với năng suất 1-5 triệu giống/năm, khoảng
10 công ty sản xuất với số lượng lớn với năng suất 10 triệu giống/năm [43]
Tại Mỹ, theo báo cáo của Lee và Ostrowski (2001), có ít nhất 20 loài cá biển được nghiên cứu phát triển công nghệ sản xuất giống nhân tạo với mức độ khác nhau,
từ đang nghiên cứu cho đến sản xuất thương mại Tám loài cá biển được sản xuất giống nhằm mục đích thương mại là: cá đối mục, cá nhụ Thái Bình Dương
(Polydactylus sexfilis), cá hồng Mỹ, cá măng biển, cá bơn mùa hè (Paralichthys
dentatus ), cá nục heo cờ (Coryphaena hippurus), cá hồng Mutton (Lutjanus analis) và
Trang 20cá chim Florida (Trachinotus carolinus) [36] Tại Mỹ, từ 2001, cá giò đã được nuôi vỗ
thành công trong điều kiện nuôi nhốt, kích thích sinh sản bằng hormone và cho đẻ tự nhiên trong hệ thống nước chảy tuần hoàn hoặc trong hệ thống nuôi bán tĩnh (semi-static), với nguồn cá bố mẹ thu từ tự nhiên và cá bố mẹ nuôi nhốt [36]
Như vậy, mặc dù nghề sản xuất giống cá biển còn rất non trẻ so với lịch sử phát triển của nghề sản xuất giống cá nước ngọt nhưng hiện nay trên thế giới đã sản xuất được rất nhiều loài cá biển cho giá trị kinh tế cũng như dinh dưỡng cao So với tiềm năng diện tích mặt nước chắc chắn trong tương lai tiềm năng phát triển nghề sản xuất giống cá biển sẽ còn rất lớn Hiện nay, trên thế giới chưa có một công trình nghiên cứu
nào thành công trong việc sản xuất nhân tạo cá mặt quỷ (Synanceia verrucosa) được
công bố
1.2.2 Hiện trạng sản xuất giống cá biển ở Việt Nam
Ngành NTTS ở nước ta đóng vài trò quan trọng trong phát triển kinh tế và đã được FAO đánh giá là một trong những hoạt động hiệu quả giúp xoá đói giảm nghèo Theo kết quả thống kê ở các tỉnh/thành phố, năm 2010, cả nước có trên 1 triệu ha mặt nước nuôi trồng thủy sản, bình quân giai đoạn 2001 – 2010, tăng 4,2%/năm Năm
2012, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản của cả nước đạt 1.200.000 ha với tốc độ tăng bình quân 4,3%/năm giai đoạn 2001 - 2012 [17]
Diện tích nuôi mặn, lợ có sự tăng lên rõ rệt cùng với sự tăng diện tích nuôi trồng thủy sản cả nước Năm 2010, diện tích nuôi mặn, lợ cả nước đạt 705.524
ha (chiếm 64,3% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản) Năm 2012, diện tích nuôi trồng thủy sản mặn lợ của cả nước đạt 750.000 ha [17]
Trước kia, nghề nuôi cá biển ở nước ta chủ yếu sử dụng hình thức đánh bắt khai thác giống tự nhiên, đồng thời nuôi cá bằng các phương pháp cổ truyền dân gian, chưa
áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất Tuy nhiên, trong những năm gần đây đã có một số cơ quan nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo một số loài cá biển có giá trị kinh
tế Gần đây, một số đề tài nghiên cứu trên đối tượng cá biển đã được đề cập đến: Nghiên cứu kỹ thuật vớt và sản xuất giống, ương nuôi, vận chuyển giống cá mú, cá cam, cá vược từ năm 1991 – 1995 [3]
Trong những năm gần đây đã có một số cơ quan nghiên cứu sản xuất giống nhân tạo một số loài cá biển có giá trị kinh tế:
Trang 21Cuối những năm 1990, đầu những năm 2000, nhiều nghiên cứu về sản xuất giống nhân tạo và nuôi thương phẩm các loài cá biển được tiến hành tại Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, Viện Nghiên cứu Hải sản, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II trên các đối tượng như: nuôi và sản xuất giống nhân tạo cá song
(Epinephelus spp) ở miền Bắc Việt Nam [21], nuôi cá đù đỏ, sản xuất giống cá tráp
vây vàng [3] Trong thời gian 1998-2000, đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao trong điều kiện Việt Nam” do
Đỗ Văn Khương chủ nhiệm được thực hiện và xây dựng qui trình công nghệ sản xuất
giống nhân tạo cá mú mỡ (Epinephelus tauvina), cá giò (Rachycentron canadum), cá chẽm (Lates calcarifer), cá tráp vây vàng (Mylio latus), xây dựng qui trình công nghệ
nuôi thương phẩm cá giò, cá song [10] Năm 2000, Nguyễn Tuần và CTV đã báo cáo công nghệ nuôi vỗ cá bố mẹ và cho sinh sản nhân tạo cá chẽm, là một phần kết quả của đề tài lớn trên [21] Năm 2003, tại Hội nghị khoa học toàn quốc về nuôi trồng thủy sản, Lê Xân và CTV có báo cáo về kết quả nghiên cứu sản xuất giống cá mú chấm nâu
(Epinephelus coioides), Đỗ Văn Minh và CTV báo cáo hoàn thiện qui trình sản xuất giống cá giò (Rachycentron canadum) [22]
Tại Trường Đại học Nha Trang, trong thời gian từ 1998-2000, Nguyễn Duy Hoan và CTV đã nghiên cứu sản xuất giống thành công cá chẽm [9] Năm 2001-2002, Nguyễn Trọng Nho và CTV đã thành công trong việc nghiên cứu sản xuất giống cá
chẽm mõm nhọn - Psammoperca waigiensis (Cuvier & Valenciennes, 1882) [13] Tuy
nhiên, trong giai đoạn trước 2003, gần như các nghiên cứu sản xuất giống cá biển ở Việt Nam chưa thực sự thành công trong việc sản xuất giống ở qui mô thương mại Nguồn cá giống cung cấp cho nghề nuôi cá biển gần như nhập từ Trung Quốc, Đài Loan hoặc từ khai thác tự nhiên
Từ năm 1996-2006, được sự tài trợ của Hội đồng Đào tạo Đại học Na Uy (NUFU), Đại học Nha Trang thực hiện chương trình “Nghiên cứu và Đào tạo Sau Đại học về Nuôi trồng Hải sản tại Việt Nam” (gọi tắt là dự án NUFU) với sự tham gia của các nhà khoa học đến từ Na Uy, Bồ Đào Nha, Bỉ Giai đoạn 2 của dự án (2002-2006)
đã tập trung nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện qui trình sản xuất giống nhân tạo cá
chẽm (Lates calcarifer) Cuối năm 2003 đến nay, từ việc kế thừa các kết quả nghiên
cứu trước, ứng dụng các thành quả nghiên cứu được của dự án, cá chẽm giống đã được sản xuất ở qui mô thương mại với qui trình sản xuất ổn định, cung cấp số lượng lớn
Trang 22con giống cho nghề nuôi cá chẽm thương phẩm, chuyển giao công nghệ cho nhiều địa phương trong cả nước [3] Năm 2009, Viện Nuôi trồng Thủy sản, trường Đại học Nha Trang đã nghiên cứu thành công kỹ thuật sản xuất giống cá chim vây vàng và nhanh chóng phát triển, mở rộng sản xuất đối tượng này Kết quả là năm 2010, sản lượng đạt khoảng 300 nghìn con (cỡ 3-5 cm), ba năm tiếp theo, mỗi năm sản xuất gần 1 triệu con Dự kiến trong năm 2014 sẽ sản xuất được 1,2 triệu con cá giống cung cấp cho các
cơ sở nuôi thương phẩm đã đặt hàng Bên cạnh việc tự sản xuất giống, cung cấp cho thị trường, trường Đại học Nha Trang còn cung cấp trứng cá chim vây vàng và tư vấn
kỹ thuật cho một số cơ sở ở trong và ngoài tỉnh Khánh Hòa, giúp các cơ sở này sản xuất được 300 nghìn con cá giống (năm 2012), 1 triệu con (năm 2013) và dự kiến đạt 1,5 triệu con (năm 2014) Với nhu cầu giống cá chim vây vàng nuôi thương phẩm của
cả nước (đặc biệt là khu vực Nam Trung Bộ) ngày càng tăng, nhiều cơ sở sản xuất giống đã tích cực tiếp nhận công nghệ sản xuất giống cá này
Trong những năm gần đây, mặc dù nghề sản xuất giống cá biển ở nước ta đã đạt được một số thành công đang kể, tuy nhiên sản lượng giống sản xuất được chỉ đáp ứng được 1/10 nhu cầu con giống cho người nuôi Trong khi đó sản lượng giống nhập ngoại có giá thành cao, chất lượng không đảm bảo do quá trình vận chuyển, hoặc thay đổi môi trường sống, sản lượng khai thác tự nhiên suy giảm mạnh Nguyên nhân chủ yếu hiện này là công nghệ sản xuất giống chưa cao, trình độ kỹ thuật nhân lực còn thấp, các cơ sở sản xuất giống chưa được đầu tư đúng mức, sản xuất mang tính đại trà
tự phát và thời vụ, chưa đúng với tiềm năng Để nghề nuôi cá biển ở nước ta phát triển bền vững nhà nước và các doanh nghiệp cần có sự đầu tư mạnh mẽ hơn trong việc sản xuất giống nhân tạo các loài cá biển cũng như tìm tòi phát triển để nhân rộng các loài
cá có giá trị kinh tế cao
Hiện nay, ở nước ta có 5 công trình nghiên cứu về cá mặt quỷ Công trình nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phụng (1999) nêu lên một vài đặc điểm phân bố của loài [14] Công trình nghiên cứu của Võ Thế Dũng và CTV (2011) nêu lên một vài đặc điểm sinh học sinh sản của cá mặt quỷ như: kích thước thành thục sinh dục lần đầu, sức sinh sản tuyệt đối, tỷ lệ thành thục sinh dục, tỷ lệ đực cái theo thời gian [4], [5] Năm 2012, Võ Thế Dũng và CTV cho biết một số kết quả ban đầu về thử nghiệm sinh sản nhân tạo cá mặt quỷ [5] Cũng trong năm 2012, Nguyễn Cao Lộc cho biết thêm một số đặc điểm về đặc tính lựa chọn chất đáy và một số kết quả về thử nghiệm sinh
Trang 23sản nhân tạo cá mặt quỷ với các loại kích dục tố khác nhau [11] Tuy nhiên, các tác giả cho biết không phân biệt được đực, cái dựa vào hình thái bên ngoài và chưa có công trình nghiên cứu nào thành công trong việc cho sinh sản nhân tạo cá mặt quỷ
(Synanceia verrucosa) Năm 2014, Võ Thế Dũng và CTV cho biết kết quả bước đầu
nghiên cứu giá trị dinh dưỡng nguồn gen của cá mặt quỷ [6]
1.2.3 Vấn đề nuôi vỗ cá bố mẹ tại Việt Nam
Theo Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III, nuôi vỗ cá mú (Epinephelus coioides) bố mẹ bằng hai phương pháp:
- Nuôi lồng trên biển :Lồng nuôi vỗ cá bố mẹ thường được đặt ở những nơi kín
gió, có dòng chảy nhẹ và liên tục, xa nguồn nước thải, mực nước thuỷ triều lên xuống
ổn định và gần trại sản xuất giống Ngoài ra còn chú ý đến vị trí thuận tiện giao thông
để thuận tiện quá trình vận chuyển Lồng có hình vuông, tròn thông thường sử dụng những lồng có kích thước: 3x3x3m, 4x4x4m, 5x5x5m, kích thước mắt lưới 2a = 4cm, mật độ nuôi vỗ 1–2 con/ m3 Thức ăn: Tốt nhất là sử dụng các loại thức ăn như cá tạp, mực còn tươi, định kỳ bổ sung vitamin và khoáng chất, hàng ngày cho ăn 1 lần vào buổi chiều Khẩu phần cho ănlà 3-5% trọng lượng thân
- Nuôi trong bể xi măng: Nguồn nước cung cấp vào bể cá bố mẹ được lọc qua
hệ thống lọc cơ học, sinh học để loại bỏ các chất vẩn và mầm bệnh Nước được cung cấp vào bể phải đảm bảo các thông số môi trường như: Nhiệt độ 27 – 280 C, độ mặn 30
- 32‰, NH3 < 0,1mg/l, NO2< 0,05mg/l , pH 7,5 - 8,2 Bể nuôi vỗ thường có kích thước lớn, hình tròn hoặc hình vuông tuỳ theo thiết kế Dung tích bể thường từ 100 – 200m3 Bể được vệ sinh sạch, khử trùng bằng chlorine nồng độ 40ppm sau đó rửa sạch lại bằng nước ngọt trước khi cấp nước biển sạch vào Mật độ nuôi vỗ thông thường từ 1-2kg/m3 hoặc 1 con/2m3 Hàng ngày cho cá ăn bằng các loại thức ăn như cá trích, cá nục, cá ngân, mực… có bổ sung vitamin và các chất khoáng Khẩu phần cho ăn hàng ngày khoảng từ 3-5% trọng lượng thân Cho ăn vào chiều muộn (16 -17h) Sau khi cho
ăn 2 giờ tiến hành kiểm tra, nếu còn thức ăn thừa trong bể phải vớt ra để đảm bảo cho môi trường nuôi thường xuyên sạch, không gây ra dịch bệnh cho cả đàn cá trong bể Hàng ngày thay từ 100-200% nước trong bể [22]
Năm 2003, Đỗ Văn Minh và CTV đã nêu phương pháp nuôi vỗ cá giò bố mẹ bằng lồng Lồng nuôi vỗ phải được đặt ở nơi ít sóng gió, dòng chảy nhẹ từ 0,2-0,5 m/s,
độ mặn 25-32‰, độ trong > 2m Kích thước lồng 3mx6mx3m hoặc 10x10x10m, kích
Trang 24cỡ mắt lưới thích hợp là 2a=10cm Chọn những con cá bố mẹ khỏe mạnh, trọng lượng
từ 8-10 kg/con Xác định cá đực và đánh dấu (bằng chíp điện tử) Nuôi vỗ với mật độ 5-6kg cá/1m3 lồng Chia làm 3 thời kỳ:
+ Nuôi duy trì: Thời gian nuôi vỗ từ tháng 6 - 9, thức ăn là cá tạp tươi, khẩu
phần cho ăn bằng 3% trọng lượng thân Đối với cá đã nuôi vỗ từ năm trước nhưng không cho đẻ thì dùng LRHa (liều lượng 10-15mg/kg cá mẹ) tiêm để loại bỏ hết sản phẩm sinh dục cũ Đối với cá mới tuyển chọn lần đầu không cần tiêm
+ Nuôi vỗ tích cực: Kéo dài từ tháng 10 - 12, lượng cho ăn bằng 5% trọng lượng
thân, thức ăn bổ sung một số loại cá có chất lượng cao như mực, cá nục…
+ Nuôi vỗ thành thục: Từ tháng 1 năm sau cho đến khi cá đẻ Đây là thời kỳ rất
quan trọng, giảm khẩu phần thức ăn xuống từ 2-2,5% trọng lượng thân Tuy nhiên, giai đoạn này cần bổ sung khoáng, các vitamin E [12]
1.2.4 Vấn đề kích thích sinh sản trên cá biển
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục (chín) của noãn bào, trong đó
bao gồm cả các yếu tố bên trong (các hormon) cũng như các yếu tố ngoại sinh (các yếu
tố sinh thái) Cơ chế điều tiết hormon cũng như các tác động của các yếu tố ngoại sinh đến sự chín của noãn bào được thể hiện ở hình 1.4
Trang 25Hình 1.4 Sơ đồ cơ chế hormon điều khiển sự chín noãn bào và những hoạt
chất ngoại sinh có thể điều khiển quá trình này [1]
1.2.4.1 Kích thích sinh sản bằng phương pháp tự nhiên
Một trong những phương pháp kích thích sinh sản cho cá biển đã và đang được
áp dụng và đem lại thành công chính là tạo môi trường tương tự như trong tự nhiên để
cá đẻ trứng
Các yếu tố bên ngoài môi trường có tác động đến sự phát triển của tuyến sinh dục Dòng nước để kích thích cũng là yếu tố đóng góp cho kết quả sinh sản và thụ tinh của trứng Trong quá trình phát triển của tuyến sinh dục cá cần có sự tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường khác nhau như sự thay đổi về nhiệt độ, chất nước dòng chảy Nếu các yếu tố này không phù hợp với nhu cầu sinh lý của cá có thể gây nên những rối loạn trầm trọng [1]
Trang 26Nguồn nước mới có tác dụng thúc đẩy quá trình bơi lội của cá, thúc đẩy quá trình chuyển hóa chất dinh dưỡng cho sự thành thục của tuyến sinh dục, kích thích sự hoạt động của các tuyến nội tiết thông qua các cơ quan cảm giác Các tác nhân chính của môi trường kích thích đối với nhiều loài cá thường được nhắc đến là nguồn nước mới, dòng chảy, nhiệt độ, oxy Trong quá trình phát triển của tuyến sinh dục, trao đổi chất tăng cao nên nhu cầu oxy sẽ tăng, vì thế oxy là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến quá trình thành thục của cá [1]
Hai kích dục tố kinh điển:
- FSH (Follicle Stimulating Hormone) là hormon kích thích nang trứng Hệ quả
là cả nang trứng và noãn bào đều phát triển
- LH (Luteinizing Hormone) là hormon hoàng thể hóa Chúc năng của LH là gây chín noãn bào và rụng trứng Sự rụng trứng là hiện tượng nang trứng vỡ để noãn bào thoát ra ngoài, đi vào ống dẫn trứng Nang trứng vỡ ở lại buồng trứng rồi biến thành thể vàng (Corpus Luteum) vì thế mới có thuật ngữ hoàng thể hóa
Cả FSH và LH đều có nguồn gốc là tuyến yên Ngày nay nhờ công nghệ sinh học, đã có FSH và LH nhân tạo, được gọi là những KDT tái tổ hợp (Recombinant Gonadotropins) [1]
Ngoài KDT tự nhiên có nguồn gốc là tuyến yên, còn có các hoạt chất khác cũng được gọi là KDT do tính năng sinh lý của chúng trong các thí nghiệm nội tiết học mặc
dù chức năng sinh lý tự nhiên của chúng là duy trì thể vàng Các hoạt chất đó là HCG (Human Chorionic Gonadotropin) KDT màng đệm người và PMSG (Pregnant Mare’s Serum Gonadotropin) kích dục tố huyết thanh ngựa chửa Riêng HMG (Human Menopausal Gonadotropin) kích dục tố của phụ nữ mãn kinh là hỗn hợp của FSH và
LH tự nhiên
Chế phẩm KDT được dùng trong sinh sản nhân tạo cá phổ biến hiện nay là dịch chiết từ tuyến yên cá và HCG Dịch chiết từ tuyến yên cá (fish pituitary gland extract)
Trang 27dễ kiếm, có thể tự sản xuất sau khi thu, xử lý và bảo quản tuyến yên từ những cá có tuyến sinh dục phát triển tốt trong ao hồ nuôi (như từ cá Chép, cá Trê, Mè, Trắm) Trở ngại của việc thu thập và sử dụng tuyến yên cá là số lượng hạn chế, hoạt tính không ổn định HCG là hoạt chất được dùng rất phổ biến trong sinh sản nhân tạo cá hiện nay do
sự phong phú về nguồn và sự ổn định của hoạt tính HCG cần được bảo quản ở nhiệt
độ của tủ lạnh [1]
Phương pháp Linpe
Linpe, là phương pháp kích thích cá đẻ mang tên của nhà nghiên cứu Canada là Peter R.E và nhà khoa học Trung Quốc là Lin Hao- ran (Lâm Hạo Nhiên) Nguyên lý của phương pháp Linpe là dùng GnRH–A kích thích tuyến yên cá tiết ra KDT để KDT nội sinh của cá gây ra phản ứng chín và rụng trứng cũng như sự tiết tinh ở cá đực Trong phương pháp này người ta tiêm cho cá đồng thời hai hoạt chất: GnRH –
A (Gonadotropin Releasing Hormon - Analog , Chất tương tự hormon phóng thích kích dục tố và Antidopamine (Dopamine antagonist, Dopamine blocker) là chất chống lại Dopamin (vì Dopamin là chất ức chế sự tiết KDT)
Ovaprim là biệt dược của Canada (Syndel Laboratories) xuất phát từ phương pháp Linpe Mỗi mL Ovaprim chứa 20μg sGnRH–A (salmon Gonadotropin Releasing Hormone Analog) và 10 mg Domperidon hòa tan trong Propylen Glycol vừa đủ Lượng thuốc này đủ để gây chín và rụng trứng 1 kg cá cái hoặc 2 kg cá đực
Các kỹ thuật viên cho cá sinh sản cũng có thể tự tạo ra hỗn hợp thuốc dựa vào phương pháp Linpe, trong đó chứa GnRH–A dưới dạng LH-RH–A (Luteinizing Hormone RH–A) hay Buserelin (Hoechst–Đức) còn các Antidopamin có thể là Pimozid, Metoclopramid, Haloperidol
Linpe là phương pháp gây rụng trứng rất mạnh, thậm chí cả những noãn bào chưa thành thục hoàn toàn Hệ quả là số trứng rụng rất lớn nhưng tỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ
nở không cao Một nhược điểm khác của phương pháp này là thời gian cá tái thành thục dài hơn so với trường hợp dùng kích dục tố hoặc hormon Steroid Ưu điểm của việc dùng phương pháp Linpe là giá thành thấp do GnRH là một peptid đơn giản, cấu trúc có 10 amino acid [1]
Các hormon steroid
Có thể gây chín noãn bào cá bằng các hormon Steroid thuộc nhóm Gestagen (C21) Những Gestagen sau đây đã cho kết quả sinh sản tốt trên cá (in vivo) trong liều
Trang 28tiêm quyết định: Progesteron; 17α–Hydroxyprogesteron; 17α–Hydroxy, 20β–Dihydroprogesteron (17,20 P); Desoxycorticosteron, hoặc muối Acetat của nó (DOCA) Liều dùng các Gestagen trong khoảng 2–15 mg/kg cá cái, trong đó mạnh nhất và có nhiều ưu điểm nhất là 17,20P
Nhược điểm của các Gestagen khi dùng cho cá là chỉ có tác dụng gây chín Vì thế, cần sử dụng chúng kèm với các yếu tố gây rụng trứng (KDT, Prostaglandin) Ưu điểm của các steroid là chịu được nhiệt độ cao (đến 100 oC), không bị phân hủy bởi vi khuẩn và nấm, dễ pha chế và định liều [1]
Trang 29
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Tên tiếng Việt: Cá mặt quỷ, cá đá, cá bòng
Tên tiếng Anh: Stonefish
Tên khoa học: Synanveia verrucosa Bloch & Schneider, 1801
2.1.2 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 10/2013 đến tháng 09/2014
2.1.3 Địa điểm bố trí thí nghiệm:
Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III, 33 Đặng Tất, thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Các nội dung nghiên cứu trong đề tài được thể hiện trong sơ đồ khối theo hình 2.1
Trang 30Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dụng nghiên cứu
2.2.1 Tình hình khai thác, sử dụng và giá trị dinh dưỡng của cá mặt quỷ
2.2.1.1 Phương pháp thu thập số liệu và công thức ước tính sản lượng khai thác và giá trị của cá mặt quỷ
- Phương pháp thu thập số liệu:
Đặc điểm sinh học sinh sản
1 Thử nghiệm cho đẻ:
- Kích thích sinh thái
- Sử dụng kích dục tố LHRH _A+DOM
2 theo dõi quá trình phát triển phôi
Nghiên cứu bổ sung một số đặc điểm sinh học sinh sản, giá trị dinh dưỡng nguồn gen và thí nghiệm sinh
sản nhân tạo cá mặt quỷ
vỗ cá bố mẹ
Phân tích số liệu, nhân xét, thảo luận, kết
luận và đề xuất ý kiến
Nghiên cứu bổ sung một số đặc điểm sinh học sinh sản
Thử nghiệm sinh sản nhân tạo
Phân tích
thành phần sinh
hóa trong
thịt cá
Đặc điểm phân
bố
Trang 31Số liệu thứ cấp: số liệu thông qua các báo cáo khoa học, tạp chí của bộ Nông nghiệp & phát triển Nông thôn, internet, các tài liệu có liên quan tới đề tài này
Số liệu sơ cấp: Thông tin điều tra các đại lý thu mua và tiêu thụ hải sản: giá bán
cá, khối lượng cá, sản lượng Số liệu điều tra về sản lượng: số liệu sản lượng thu mua được của các đại lý trong mỗi tỉnh được dùng để tính giá trị trung bình cho mỗi đại lý trong tỉnh đó, dùng số liệu này đem nhân với tổng số đại lý của mỗi tỉnh để được sản lượng ước tính thu mua được tại tỉnh đó
Lựa chọn phương pháp điều tra qua phỏng vấn các đại lý cấp 1 ( những người thu mua trực tiếp từ ngư dân) ở địa phương Thực hiện điều tra theo danh sách được
chọn ngẫu nhiên, sử dụng các bảng câu hỏi được thiết kế sẵn (phụ lục 1)
Kết hợp với thông tin về kinh tế trong bảng kết quả điều tra Ngư dân khai thác
và tìm hiểu thông tin tại một số nhà hàng tại địa phương để đánh giá về sản lượng và giá trị kinh tế của cá mặt quỷ (phụ lục 2, 3)
Sản lượng trung bình cho mỗi đại lý được xác định theo công thức:
A=
Trong đó:
A là sản lượng trung bình ước tính của mỗi đại lý tại mỗi tỉnh (kg); S1 là tổng sản lượng (kg) của tất cả các đại lý trong mỗi tỉnh đã trả lời câu hỏi;
N1 là tổng số đại lý ở mỗi tỉnh đã trả lời câu hỏi (đại lý);
Tổng sản lượng đại lý mỗi tỉnh:
St= A*Nt Trong đó:
St là tổng sản lượng ước tính tại tỉnh đó (kg);
Nt là tổng số đại lý thu mua cá Mặt quỷ tại mỗi tỉnh;
Giá trị sản lượng khai thác (triệu đồng):
V = St*0,7 (triệu) Trong đó:
V là giá trị khai thác, tính bằng triệu đồng;
0,7 triệu/kg là giá bán trung bình loài cá này tại các đại lý
Trang 322.2.1.2 Phương pháp phân tích thành phần dinh dưỡng trong thịt cá
Mẫu cá phục vụ phân tích: 30 cá thể cá còn sống, khối lượng trung bình 870 ±
157 g/con, chiều dài cơ thể 267 ± 37 mm, được thu gom trực tiếp từ các đại lý tại Khánh Hòa, từ tháng 5/2013-3/2014, được vận chuyển sống về làm mẫu phân tích tại Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III, Nha Trang, để phân tích
- Định lượng Protein: Sưử dụng quy trình được quy định trong Tiêu chuẩn Việt Nam số TCVN 4328–1:2007 [16]
- Định lượng lipid: Dùng phương pháp định lượng lipid tổng số theo Tiêu chuẩn Việt Nam số TCVN 4331:2001 [19]
- Định lượng tro: theo Tiêu chuẩn Việt Nam số TCVN 4327:2007 [18]
- Định lượng acid béo: bằng phương pháp Ester hóa và sắc ký khí (GC)
- Định lượng acid amin: bằng phương pháp sắc ký khí (GC)
2.2.2 Nghiên cứu bổ sung một số đặc điểm sinh học sinh sản
Tiến hành điều tra phỏng vấn ngư dân lặn tại các tỉnh Quảng Ninh, Phú Yên, Ninh Thuận và Bình Thuận Thực hiện điều tra theo danh sách lựa chọn ngẫu nhiên, bảng mẫu câu hỏi điều tra được thiết kế sẵn (phụ lục 2)
Thu mẫu
Mẫu được thu định kỳ ở 2 đại lý hải sản Hải Long và Hải Lành tại thành phố Phan Thiết tỉnh Bình Thuận và một số đại lý hải sản tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh Hòa Mỗi tháng thu mua 20 con cá mặt quỷ còn sống vận chuyển về Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III để tiến hành nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản
Xử lý mẫu
Mẫu tuyến sinh dục của cá được cắt theo phương pháp của Oie (2000a) như
sau: tuyến sinh dục được cố định trong dung dịch Division, loại nước bằng Ethanol sau
đó làm sạch bằng xylene Đúc parafin và cắt mỏng 2 - 4 micron bằng dao cắt hiển vi quang học, sau đó nhuộm bằng Hematocylin và Eosin
Thu mẫu tuyến sinh dục
Buồng trứng và tinh sào của cá Mặt quỷ được thu và xác định khối lượng bằng
cân điện tử có độ chính xác đến 0,01g Cân cá bằng cân đồng hồ có độ chính xác đến 1g
Trang 332.2.2.1 Phân biệt đực, cái và tỷ lệ đực cái
Căn cứ vào hình thái bên ngoài, quan sát, mô tả các đặc điểm cấu tạo của cá nhằm phân biệt đực, cái
Giải phẫu cá để xác định đặc điểm hình thái cấu tạo tuyến sinh dục, kết hợp với hình thái bên ngoài để phân biệt đực, cái
Xác định tỷ lệ đực cái dựa vào kết quả phân biệt, lập bảng so sánh tỷ lệ
2.2.2.2 Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục
Phương pháp thông thường để đánh giá giai đoạn thành thục của cá là xác định giai đoạn thành thục của từng cá thể theo bậc thang thành thục trong đó có những đặc điểm khác biệt có thể nhận biết được bằng mắt thường Bậc thang thành thục cho phép đánh giá nhanh mức độ thành thục và khả năng sinh sản của một lượng lớn cá thể Quá trình phát triển tuyến sinh dục cá mặt quỷ ngoài tự nhiên được đánh giá dựa trên cơ sở quan sát hình dạng, kích cỡ, màu sắc tuyến sinh dục và xác định bằng thang thành thục sinh dục 6 bậc của Xakun & Buskaia (1968) [43]
Bảng 2.1 Các giai đoạn phát triển tuyến sinh dục cá mặt quỷ
I Cá còn non chưa thành thục sinh dục
II Tuyến sinh dục có kích thước nhỏ, mắt thường không nhìn thấy được III
Giai đoạn thành thục, bằng mắt thường nhìn thấy những hạt trứng, khối lượng tuyến sinh dục tăng lên rất nhanh, tinh sào có
màu trắng trong, chuyển sang màu hồng nhạt
IV Giai đoạn chín muồi, tuyến sinh dục có kích thước lớn nhất, nhưng
khi ấn nhẹ các sản phẩm sinh dục chưa chảy ra