1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam (amphiprion percula lacepede, 1802) giai đoạn từ mới nở đến 60 ngày tuổi

72 772 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 3,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG PHẠM VĂN TÀI NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN VÀ MẬT ĐỘ NUÔI LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ KHOANG CỔ CAM Amphiprion percula Lace

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

PHẠM VĂN TÀI

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN VÀ MẬT ĐỘ NUÔI LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ

KHOANG CỔ CAM (Amphiprion percula Lacepede, 1802) GIAI

ĐOẠN TỪ MỚI NỞ ĐẾN 60 NGÀY TUỔI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

PHẠM VĂN TÀI

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN VÀ MẬT ĐỘ NUÔI LÊN SINH TRƯỞNG VÀ TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ

KHOANG CỔ CAM (Amphiprion percula Lacepede, 1802) GIAI

ĐOẠN TỪ MỚI NỞ ĐẾN 60 NGÀY TUỔI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Các số liệu và kết quả của luận văn tốt nghiệp cao học này là một phần trong nội dung nghiên cứu của đề tài Khoa học Công nghệ cấp Bộ Giáo dục (Mã số: B2014–13–09), do Đại học Nha Trang chủ trì – ThS Trần Văn Dũng chủ nhiệm Đƣợc sự đồng ý của chủ nhiệm đề tài, tôi cùng tham gia thực hiện và sử dụng số liệu

của đề tài trên Tôi xin cam đoan các kết quả và số liệu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Khánh Hòa, ngày 1 tháng 12 năm 2015

Tác giả luận văn

Phạm Văn Tài

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Viện Nuôi trồng Thủy sản, Khoa Sau Đại học Trường Đại học Nha Trang đã quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu vừa qua

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Tấn Sỹ đã tận tình hướng dẫn, động viên và dìu dắt tôi trong suốt quá trình định hướng nghiên cứu, thực hiện

đề tài và viết luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn ThS Trần Văn Dũng đã tạo các điều kiện về cơ sở vật chất để tôi thực hiện tốt đề tài tốt nghiệp của mình

Tôi xin gửi lời cảm ơn thuộc Viện Nuôi trồng Thủy sản

và tập thể lớp CHNT 2013–2 đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên trong quá trình học tập, nghiên cứu và ng trong suốt thời gian tôi thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình đã luôn động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Khánh Hòa, ngày 1 tháng 12 năm 2015

Tác giả luận văn

Phạm Văn Tài

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC HÌNH viii

DANH MỤC ĐỒ THỊ ix

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN x

Từ khóa: cá khoang cổ cam, sinh trưởng, tỷ lệ sống, thức ăn, mật độ ương xi

MỞ ĐẦU 1

3

1.1 Đặc điểm sinh học của cá khoang cổ cam và cá khoang cổ nói chung 3

1.1.1 Đặc điểm phân loại, hình thái và phân bố 3

1.1.1.1 Vị trí phân loại của cá khoang cổ cam 3

1.1.1.2 Đặc điểm hình thái 3

Hình 1.1 Cá khoang cổ ải) [5] 4

1.1.1.3 Đặc điểm phân bố 4

1.1.2 Đặc điểm cộng sinh với hải quỳ 5

1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng 7

1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 8

1.2.1 Đặc điểm sinh sản 9

1.2.1.3 Sự kết cặp, quá trình đẻ và chăm sóc trứng 10

1.2.2 Quá trình phát triển phôi 11

1.2.3 Thức ăn và dinh dưỡng giai đoạn ấu trùng cá khoang cổ 12

1.2.4 14

1.2.4.1 Ảnh hưởng của cá bố mẹ 14

1.2.4.2 15

1.2.4.3 18

1.2.4.4 19

1.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam 22

1.3.1 Trên thế giới 22

Trang 6

1.3.2 Trong nước 24

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Thời gian, đối tượng, địa điểm nghiên cứu 26

2.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 26

2.2.1 Sơ đồ nội dung nghiên cứu 26

2.2.2 Nguồn cá thí nghiệm 27

2.2.3 Nguồn nước và hệ thống bể thí nghiệm 27

2.2.4 Thức ăn nhân tạo 27

2.3 Bố trí các thí nghiệm 28

2.3.1 Thí nghiệm ảnh hưởng của các loại thức giai đoạn 0 đến 30 ngày tuổi 28

2.3.2 Thí nghiệm ảnh hưởng của các loại thức ăn giai đoạn 30–60 ngày tuổi 28

2.3.3 Thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi 28

2.3.4 Thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ ương giai đoạn 30 – 60 ngày tuổi 29

2.4 Chăm sóc và quản lý cá trong các thí nghiệm 29

2.5 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 29

2.5.1 Các thông số môi trường trong hệ thống nuôi 29

2.5.2 Xác định tốc độ tăng trưở 29

2.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 30

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam giai đoạn từ mới nở đến 30 ngày tuổi 31

3.2 Thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam giai đoạn từ 30 đến 60 ngày tuổi 34

3.3 Thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam giai đoạn từ mới nở đến 30 ngày tuổi 37

3.4 Thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam giai đoạn từ 30 đến 60 ngày tuổi 39

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DHA 22:6n-3 Docosahexaenoic acid

DO Dissolvel Oxygen Hàm lƣợng oxy hoà tan EPA 20:5n-3 Eicosapentaenoic acid

HUFA High unsaturated fatty acids Axít béo có mức chƣa no cao

SE Standard error Sai số chuẩn

SGR Specific Growth Rate ặc trƣng

SL Total length Chiều dài chiều dài chuẩn

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Cá khoang cổ ải) 4

Hình 1.2 Phân bố địa lý của cá khoang cổ cam 5

Hình 1.3 Vòng đời cá khoang cổ 10

A clarkii 12

Hinh 1.5 Hệ thống bể nuôi cá khoang cổ nemo 19

Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 26

27

Trang 9

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Đồ thị 3.1 Ảnh hưởng thức ăn đến SGRL 31

Đồ thị 3.2 Ảnh hưởng thức ăn đến chiề - 32

Đồ thị 3.3 Ảnh hưởng thức ăn đến tỷ lệ sống - 32

Đồ thị 3.4 Ảnh hưởng thức ăn đến SGRL 34

Đồ thị 3.5 Ảnh hưởng thức ăn đến chiề 35

Đồ thị 3.6 Ảnh hưởng thức ăn đến tỷ lệ sống 35

Đồ thị 3.7 Ảnh hưởng mật độ ương đế - 37

Đồ thị 3.8: Ảnh hưởng mật độ ương đến chiều dàitừ - 38

Đồ thị 3.9: Ảnh hưởng của mật độ đến SGRL từ - 38

Đồ thị 3.10 Ảnh hưởng mật độ ương đến SGRLtừ 40

Đồ thị 3.11 Ảnh hưởng của mật độ ương đến chiều dài từ - 41

Đồ thị 3.12 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tỷ lệ sống từ - 41

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Cá khoang cổ cam (Amphiprion percula) là một trong những loài cá cảnh được

ưa chuộng nhất trong giống cá khoang cổ, do chúng có màu sắc sặc sỡ và khả năng thích nghi cao trong điều kiện nuôi nhốt Do nhu cầu thị trường cao trong khi khả năng cung cấp con giống nhân tạo hạn chế đã làm gia tăng nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi tự nhiên của nhiều loài cá cảnh, nhất là trong trường hợp sử dụng các biện pháp khai thác mang tính hủy diệt, vì vậy việc hoàn thiện quy trình sản xuất giống đối tượng này là cần thiết

Việc ương nuôi ấu trùng cá cảnh nói chung và cá khoang cổ nói riêng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: hệ thống, kỹ thuật nuôi, dinh dưỡng, mật độ ương, chế độ chăm sóc, các yếu tố môi trường và dịch bệnh Trong đó, mật độ ương và thức ăn là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống và hiệu quả ương nuôi loài cá này Tuy nhiên, hầu như chưa có các nghiên cứu về mật độ ương và thức ăn trên ấu trùng cá khoang cổ cam giai đoạn mới nở đến 60 ngày tuổi Thí nghiệm về mật độ ương giai đoạn từ mới nở đến 30 ngày tuổi được thực hiện với 4 nghiệm thức (1, 3, 5 và 7 con/L) nhằm tìm ra mật độ ương thích hợp cho ấu trùng cá khoang cổ cam mới nở Kết quả nghiên cứu cho thấy, mật độ ương có ảnh hưởng lớn đến tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài toàn thân của ấu trùng cá khoang cổ cam mới nở Trong đó, cá được nuôi ở mật độ 1 và 3 con/L cho tốc độ sinh trưởng đặc trưng cao nhất (3,89 và 3,77 %/ngày), (p>0,05), tiếp theo là ương ở mật độ

5 con/L (2,99%/ngày /ngày) và thấp nhất là ở mật độ 7 con/L (2,48%/ngày), (p < 0,05) Tỷ lệ sống của ấu trùng cá được ương ở mật độ 1 và 3 con/L đạ ệ sống cao nhất (87,7 và 75,6%), tiếp theo là cá được ương ở mật độ 5 con/L (44,0 %) và thấp nhất khi ương ở mật độ 7 con/L (27,7 %); (p < 0,05)

Thí nghiệm về mật độ ương ở giai đoạn 30 đến 60 ngày tuổi được thực hiện với 5 nghiệm thức (1, 2, 3, 4 và 5 con/l) nhằm tìm ra mật độ ương thích hợp cho ấu trùng cá khoang cổ cam 30 ngày tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy, mật độ ương có ảnh hưởng lớn đến tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài toàn thân của ấu trùng cá khoang cổ cam mới nở Trong đó, cá được nuôi ở mật độ 1 và 2 con/L cho tốc độ sinh trưởng đặc trưng cao nhất (0,75 và 0,59 %/ngày, tiếp theo là ương ở mật độ 3 và 4 con/L (0,54 và 0,41%/ngày /ngày) và thấp nhất là ở mật độ 5 con/L (0,22%/gày); (p < 0,05) Tỷ lệ sống ở mật độ 1, 2 và 3 con/L cao nhất đạt (100%); (p>0,05), tiếp theo là cá được ương ở mật độ 4 và 5 con/L (98 và 93 %); (p < 0,05)

Thí nghiệm thức ănở giai đoạn từ mới nở đến 30 ngày tuổi được thực hiện với 4

nghiệm thức (luân trùng; n-Artemia; luân trùng + n-Artemia; thức ăn INVE ) nhằm tìm

ra thức ăn thích hợp cho ấu trùng cá khoang cổ cam mới nở Kết quả nghiên cứu cho

Trang 11

thấy, thức ăn có ảnh hưởng lớn đến tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài toàn thân của ấu trùng cá khoang cổ cam mới nở Trong đó, cá được cho ăn luân trùng + n-

Artemia cho SGRL cao nhất 4,47%/ngày, tiếp theo co ăn thức ăn INVE và luân trùng

lần lượt 3,29 và 3,05 %/ngày và thấp nhất cho ăn n-Artemia 2,18 %/ngày; (p < 0,05)

Tỷ lệ sống ở cho ăn ở nghiệm thức luân trùng + n-Art đạ ệ sống cao nhất (80%), tiếp theo là cá được cho ăn Luân trùng và được cho ăn bằng thức ăn INVE (40 và 37%) và thấp nhất khi ương với n-Art (23%), (p < 0,05)

Thí nghiệm thức ăn ở giai đoạn từ 30 đến 60 ngày tuổi được thực hiện với 4

nghiệm thức (Artemia; Copepoda; thức ăn chế biến; thức ăn INVE) nhằm tìm ra thức

ăn thích hợp cho ấu trùng cá khoang cổ cam 30 ngày tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy, thức ăn có ảnh hưởng lớn đến tốc độ sinh trưởng đặc trưng về chiều dài toàn thân của ấu trùng cá khoang cổ cam mới nở Trong đó, cá được ăn ở nghiệm thức (NT) 4

(thức ăn INVE) cho SGRL cao nhất 0,91%/ngày, tiếp theo là NT2 (Copepoda) và NT1

(Art) lần lượt 0,85 và 0,79 %/ngày và thấp nhất là NT3 (TACB) 2,18%/ngày, (p < 0,05) Cá được cho ăn ở nghiệm thức thức ăn Artemia đạ ệ sống cao nhất (97%),

tiếp theo là cá được cho ăn Copepoda và được cho ăn bằng thức ăn INVE (92,7 và

88,0%) và thấp nhất khi ương với TACB (71,3%); (p < 0,05)

Từ kết quả nghiên cứu có thể thấy rằng, mật độ ương ấu trùng mới nở là 1 3con/L và sau 30 ngày tuổi là 1 – 3 con/L; thức ăn ở giai đoạn ấu trừng mới nở đến 30

-ngày tuổi là kết hợp luân trùng + n-Artemia và thức ăn INVE ở giai đoạn 30 đến 60

ngày tuổi cho tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống cao nhất

Từ khóa: cá khoang cổ cam, sinh trưởng, tỷ lệ sống, thức ăn, mật độ ương

Trang 12

MỞ ĐẦU

Mỗi năm, nhu cầu tiêu thụ cá cảnh biển đạt khoảng 35 triệu con, doanh thu đạt hơn 200 triệu USD [40], [109] Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu cá cảnh biển lớn trên thế giới với giá trị hàng năm ước đạt trên 4 triệu USD Tuy nhiên, nguồn

cá cảnh cung cấp cho thị trường hiện nay hầu hết được khai thác từ tự nhiên, đặc biệt

là vùng biển Đông Nam Á [103]

Lợi nhuận thu được từ việc kinh doanh cá cảnh biển rất lớn.Trong khi một tấn cá dùng cho thực phẩm chỉ trị giá khoảng 6.000 USD thì 1 tấn cá cảnh biển lên đến 496.000 USD Các loài cá cảnh biển có giá trị xuất khẩu cao là cá hoàng đế (50 – 100 USD/con), cá ngựa (30 – 40 USD/con) và một số loài trong nhóm cá rồng biển có giá đến 10.000 đôla Hồng Kông [1]

Cá khoang cổ bao gồm nhiều loài có giá trị kinh tế cao, đặc biệt cá khoang cổ cam là một trong những loài được ưa chuộng nhất có giá bán cao hơn so với các loài

cá khoang cổ khác [14], [15] Nhờ đặc điểm sống cộng sinh với hải quỳ, sự đa dạng, phong phú về màu sắc và khả năng thích nghi cao trong điều kiện nuôi nhốt nên chúng được nuôi làm cảnh khá phổ biến ở các khu du lịch, giải trí cũng như các gia đình Hiện nay, một số nước đã cho sinh sản nhân tạo thành công nhiều loài cá khoang

cổ như Nga, Canada, Pháp, Đức, Thái Lan…Ở Việt Nam, cá khoang cổ mới được bắt đầu nghiên cứu trong 10 năm trở lại đây và đã đạt được một số thành công bước đầu trên 2 loài cá khoang cổ đỏ và khoang cổ nemo [9], [15] Tuy nhiên, tính đa dạng trong quần đàn, đặc điểm môi trường sống dẫn đến khả năng áp dụng công nghệ sinh sản nhân tạo giữa các loài cá khoang cổ với nhau nhìn chung gặp rất nhiều khó khăn Nguồn cung cấp cá khoang cổ hiện nay mới chỉ đáp ứng được một lượng rất nhỏ so với nhu cầu thị trường và tiềm năng phát triển ở nước ta

Do nhu cầu nuôi cá khoang cổ trong nước và thế giới tăng cao trong vài năm trở lại đây trong khi nguồn cung cấp con giống chủ yếu khai thác từ tự nhiên dẫn đến nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi [8], [28], [101], [109] Việc áp dụng các hình thức khai thác mang tính hủy diệt như dùng mìn hay dùng chất độc đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn lợi cá cảnh rạn san hô nói chung và cá khoang cổ nói riêng [12]

Trang 13

Trong sản xuất nhân tạo giống cá khoang cổ cam, việc xác định loại thức ăn và mật độ ương phù hợp đóng vai trò rất quan trọng góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống loài cá này Tuy nhiên ở Việt Nam, các vấn đề này chưa được nghiên cứ

Xuất phát từ thực tế trên, tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thức

ăn và mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam

(Amphiprion percula Lacepede, 1802) giai đoạn từ mới nở đến 60 ngày tuổi”

MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Nâng cao tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng trong ương giống cá khoang cổ cam giai đoạn từ mới nở đến 60 ngày tuổi

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

(1) Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ

cam giai đoạn từ mới nở đến 30 ngày tuổi

(2) Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ

cam giai đoạn từ 30 đến 60 ngày tuổi

(3) Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá

khoang cổ cam giai đoạn từ mới nở đến 30 ngày tuổi

(4) Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá

khoang cổ cam giai đoạn từ 30 đến 60 ngày tuổi

Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Đề tài hoàn thành sẽ cung cấp thêm những thông tin khoa học về ảnh hưởng của thức ăn và mật độ lên kết quả ương ấu trùng góp phần hoàn thiện quy trình sản xuất giống nhân tạo loài cá này Thành công của đề tài còn góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi, giảm áp lực khai thác nguồn lợi cá cảnh biển tự nhiên

Trang 14

CHƯƠNG 1

1.1 Đặc điểm sinh học của cá khoang cổ cam và cá khoang cổ nói chung

1.1.1 Đặc điểm phân loại, hình thái và phân bố

1.1.1.1 Vị trí phân loại của cá khoang cổ cam

Allen (1991)

giống Amphiprion và 1 loài thuộc giống Premnas [23]

8Pomacentrinae và Amphiprioninae Pomacentridae gồ oài

[85]

Gần đây, các nhà khoa học đã phát hiện thêm hai loài mới thuộc giống

Amphiprion, A barberi [20] và A pacificus [24] đưa tổng số loài cá khoang cổ lên 30 loài Ở Việt Nam đã xác định được 7 loài gồm: A clarkii, A frenatus, A perideraion,

A polymnus, A Sandaracinos, A melanopus và A.ocellaris [8], [9]

Theo hệ thống phân loại của Allen (2001) và Nelson (1994) cá khoang cổ cam

(Amphiprion percula) được xác định vị trí phân loại [26], [84]:

Ngành: Chordata (

Họ: Pomacentridae ( ) Giống: Amphiprion (giống

Loài: Amphiprion percula (Lacepede, 1802) : Lutjanus percula

Tiếng Anh: blackfinned clownfish, true pecular clownfish, orange clownfish Tiếng Việt: Cá khoang cổ cam, cá hải quì cam

1.1.1.2 Đặc điểm hình thái

Tuỳ thuộc vào từng loài, cá khoang cổ có màu vàng, cam, đỏ nhạt, hay màu đen nhạt Nhiều loài có những vạch trắng hay đốm hai bên thân (còn được gọi là cá khoang cổ) Loài có kích cỡ lớn nhất có thể đạt chiều dài 18 cm

Trang 15

Cá khoang cổ cam con lớn nhất có thể đạt 11 cm về chiều dài và kích thước trung bình của con trưởng thành có 8 cm chiều dài [74]

với 3 khoang trắng trên cơ thể, khoang trắng ở giữa lồi về phía trước, mỗi khoang đều được viền bởi màu đen dày Công thức vây của cá như sau: có một đường

– – 38; vây lưng có 9–10 tia vây cứng và 14 – 17 tia vây mềm; vây hậu môn có 2 tia vây cứng và 11 – 13 tia vây mềm; vây ngực có 15 – 17 tia vây mềm [22], [56]

Cá khoang cổ cam (A pecular) có hình dạng bên ngoài rất giống với cá khoang

cổ nemo (A ocelaris), thoạt nhìn ban đầu chúng ta rất khó phân biệt và dễ nhầm lẫn

giữa hai loài này [23] Một số dấu hiện để phân biệt chúng: (i) Dựa vào vây lưng: đối

với loài A pecular số tia vây cứng là 9–10 (hiếm khi 9), loài A ocelaris số tia vây cứng là 11 hơn nữa phần sau của vây lưng có phần nhô cao hơn so với loài A pecular

(ii) Dựa vào đường viề đen) giữa các khoang thân: loài A pecula có đường viền đen và rất đậm trong khi đó loài A ocelaris lại có đường viền nhạ

ấy nó nế (iii) Dựa vào mắt: loài A pecular có viền măt màu vàng tươi còn loài A ocelaris lại có mùa đen nâu

1.1.1.3 Đặc điểm phân bố

Phân bố sinh thái

Các loài cá khoang cổ và cá khoang cổ cam thường sống ở các rạn san hô Sống thành từng tổ cộng sinh với hải quỳ và không di cư, phân bố ở độ sâu 1–15 m [74] Sự

có mặt của các loài hải quỳ là một trong những yếu tố chi phối đến sự phân bố của cá khoang cổ [22]

Phân bố địa lí

thuộc 3 vùng khác nhau gồm: vùng có sự phân bố rộng, phân bố hạn chế và phân bố

Trang 16

rất hạn chế A.clarkii được xem là loài có phân bố rộng nhất Cá khoang cổ phân bố

rộng, kéo dài từ vùng biển Thái Bình Dương đến Ấn Độ Dương Nó cũng được tìm thấy ở phía tây bắc Australia, Đông Nam Á, Nhật Bản và khu vực phía Đông Malaysia Và chúng không được tìm thấy ở vùng biển Caribbean [23], [92] Ở Việt Nam, cá khoang cổ phân bố chủ yếu ở vùng biển miền Trung như Quảng Nam, Đà Nẵng, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận [8]

Vanuatu) [49]

Hình 1.3 Phân bố địa lý của cá khoang cổ cam [27]

1.1.2 Đặc điểm cộng sinh với hải quỳ

Cá khoang cổ có một khả năng đặc biệt là có thể sống cộng sinh được với các loài hải quỳ Chúng thường nằm trên cơ thể hải quỳ vào ban đêm mà không bị thương tổn mặc dù các xúc tu của hải quỳ có chứa độc tố Nematocyst có thể gây tê liệt các loài cá khác [47], [77] Hai nhân tố đóng góp vào sự miễn dịch của cá đó là do tập tính bơi đặc trưng của cá và do c

trung hoà được các độc tố trên bề mặt xúc tu của hải quỳ [49], [60] Thành phần hoá sinh của hai loại chất nhầy cũng khác nhau, trong thành phần chất nhầy của cá khoang

cổ có chứa hàm lượng lớn glycoprotein chứa trong polysaccharide, nghiên cứu thấy rằng độc tố của hải quỳ có thể gây giảm lượng hồng cầu trên cơ thể người; chúng tác

Trang 17

động lên các tơ mang của cá và với liều lượng 0,5 MUg/mL nước sẽ gây chết những loài cá khác sau 2 giờ [77]

Cá khoang cổ tránh được sự tấn công của các loài cá ăn thịt khác do được sự che chở của các loài hải quỳ Ngoài ra cá khoang cổ còn làm sạch những vật bẩn ra khỏi hải quỳ và những thí nghiệm cho thấy cá khoang cổ thường xuyên vệ sinh những xúc

tu hải quỳ, giữ chúng luôn ở trong tình trạng sạch sẽ và khoẻ mạnh [41] Tuy nhiên, đôi khi có những cụm hải quỳ không có cá và chúng vẫn có thể sống mà không cần đến cá khoang cổ [46] Ngược lại, đời sống của cá khoang cổ lại hoàn toàn lệ thuộc vào hải quỳ và không bao giờ tìm thấy cá khoang cổ sống ngoài tự nhiên mà không có hải quỳ [36], [49, [53] Theo nghiên cứu của Godwin (1994) lợi thế của cá khoang cổ khi sống chung với hải quỳ là độc tố trong các xúc tu hải quỳ có thể diệt khuẩn và diệt các ký sinh trùng ngoài da cá [54] Mariscal (1970) đã chỉ ra rằng những cá khoang cổ nuôi nhốt không có hải quỳ thường dễ bị nhiễm bệnh [75] Mariscal (1996) cho rằng các xúc tu của hải quỳ thường xuyên kích thích lên cơ quan cảm giác của cá khoang cổ

và điều này ảnh hưởng tốt đến sức khoẻ chúng Tác giả thấy rằng khi trong bể nuôi không có hải quỳ, cá đã cố gắng tạo những cảm giác tương tự như ẩn mình trong các bọt sục khí, trốn trong các bụi rong biển hoặc các vật thể tương tự [76]

Verwey (1930) nhận thấy rằng đời sống cá khoang cổ bị lệ thuộc vào hải quỳ nhiều hơn là hải quỳ lệ thuộc vào cá khoang cổ [102] Allen (1972) khi tiến hành thí

nghiệm chuyển tất cả cá khoang cổ ra khỏi loài hải quỳ Stichodactyla gigantean (một

loài hải quỳ luôn luôn sống cộng sinh với cá khoang cổ) Qua ba tháng theo dõi, tác giả nhận thấy, hải quỳ vẫn phát triển tốt mà không có cá khoang cổ Một loài cá

khoang cổ có thể sống cộng sinh với nhiều loài hải quỳ như loài cá A.clarkii có thể sống cộng sinh với 10 loài hải quỳ, A chrysopterus có thể sống cộng sinh với 6 loài hải quỳ, A peryderaion sống cộng sinh với 4 loài hải quỳ Nhưng cũng có loài sống với một loài hải quỳ nhất định, như loài A frenatus chỉ sống chung với loài hải quỳ Entacmaea quadricolor [21], [75]

Trong tự nhiên, cá khoang cổ cam sống cộng sinh với các loại hải quỳ như:

Stichodactyla gigantea, Stichodactyla mertensii Nhưng phổ biến nhất là loài Heteractis magnifica [102] Tuy nhiên, trong điều kiện nuôi nhốt cá không cần có sự

hiện diện của hải quỳ mà vẫn sinh trưởng và sinh sản bình thường [75]

Trang 18

Sự phân cấp bậc trong “cộng đồng” cá khoang cổ

Ngoài môi trường tự nhiên, các ổ hải quỳ thường có cá khoang cổ sống chung Mỗi ổ thường chứa một cặp cá lớn và

ổ Con lớn nhất luôn luôn là một con cái, dài khoảng 65 mm (khi được chuyển lên thứ bậc cao hơn kích cỡ cùng giới tính của cá khoang cổ sẽ thay đổi) Sự thống trị của cá lớn sẽ tồn tại cho đến khi đột ngột nó chết đi hay chuyển ổ, khi đó những con cá mới lớn sẽ tăng

nhanh về kích thước và thay thể vị trí thống trị Buston (2003) nhận xét: “Không con nào nhảy cách vị trí cả, và cũng không có con cá nhỏ nào chuyển chỗ ở, bởi chúng chờ đợi kẻ mạnh hơn bỏ đi mà thôi" [37]

Việc thiết lập các nhóm cá hải quỳ trong điều kiện thí nghiệm được Buston (2003) thực hiện, ông nhận thấy tổ cá sẽ được thống trị bởi một cặp đực cái có kích thước lớn, những cá thể có kích thước tương đương sẽ bị cặp này tấn công đuổi ra khỏi

tổ Tuy nhiên, những cá thể khác có kích thước nhỏ bằng khoảng 80% so với cặp thống trị thì xác suất ở lại tổ sẽ cao hơn Để giải thích vấn đề này n

: "Nếu những cá thể ở trong một đàn lớn, việc di di chuyển

nó nhỏ thường chấp nhận sống trong những tổ có sự thống trị của cặp cá lớn" [37]

1.1.3 Đặc điểm sinh trưởng

Cá khoang cổ nhìn chung sinh trưởng tương đối chậm Sự sinh trưởng của cá khác nhau tùy từng loài, nhưng ngay những cá thể cùng loài cũng có sự khác biệt Giai đoạn cá còn non và tiền trưởng thành, cá có tốc độ tăng trưởng nhanh [47]

Allen (1972) khi tiến hành thí nghiệm trên đàn cá nuôi cho thấy, những con cá lớn sẽ tăng trưởng nhanh hơn những con cá nhỏ trong cùng một đàn do chúng cạnh tranh thức ăn mạnh mẽ hơn Kích thước của vật cộng sinh hải quỳ cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá khoang cổ, cá sống cùng hải quỳ có kích thước lớn sẽ tăng trưởng nhanh hơn cá sống trong hải quỳ có kích thước nhỏ [21]

Trang 19

Tốc độ tăng trưởng tố loài A pecular

khối lượng cơ thể mỗi ngày [69] ịu áp lực đáng

kể từ cấu trúc phân cấ

thờ

ều hơn thờ[49]

1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Sinh vật phù du là nguồn thức ăn quan trọng bậc nhất đối với cá khoang cổ cũng như những loài cá rạn san hô khác [8] Ngoài tự nhiên, cá khoang cổ dành phần lớn thời gian vào việc tìm kiếm thức ăn [61

loài Schizothrix mexicana ngành tảo lục Các động vật chân chèo Paracaudacia truncata và Tisbe furcata Sau đó là nhóm Tunicate, Amphipoda, Isopoda, Mollusca,

trứng cá, giun… thỉnh thoảng còn gặp cả trứng cá khoang cổ [49]

Theo Allen (1972) trứng cá khoang cổ cũng thỉnh thoảng bắt gặp trong dạ dày của những cá bố mẹ đang chăm sóc ổ trứng Sau khi cá đẻ trứng, cá đực chăm sóc trứng và ăn những trứng không thụ tinh hoặc bị hư

trong điều kiện nuôi cho sinh sản nhân tạo, cá bố mẹ sẽ ăn trứng cá của mình nếu

người nuôi không cách ly chúng ra khỏi ổ trứng [21]

Khi nghiên cứu về thành phần thức ăn trong dạ dày cá khoang cổ đỏ (A fenatus)

ở vùng biển Khánh Hòa Hà Lê Thị Lộc (2004) cho thấy,

Copepoda (chiếm 34,61%), sau đó là trứng cá các loại (11,2%)

Ngoài ra, có nhiều chủng loại thức ăn khác nhau được tìm thấy trong dạ dày như nhóm hai mảnh vỏ Bivalvia, chân bụng Gastropoda, giun tròn Nematoda Isopoda, chân đốt Amphipoda, trứng và phôi c

đối rộng và chuỗi thức ăn ngắn nên năng lượng có ích là khá cao [7]

Theo Hoff (1996), cá khoang cổ cam

Artemia

Trang 20

ăng tỷ lệ sống và tăng trưởng ở cá nhỏ khi cho ăn Artemia

trưởng không có sự khác biệt so với cho ăn hoàn toàn thức ăn sống [55], [64]

1.2 Các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá khoang cổ

1.2.1 Đặc điểm sinh sản

1.2.1.1 Sự chuyển đổi giới tính

Cá khoang cổ thuộc nhóm cá chuyển đổi giới tính với tính đực có trước và tất cả

các con cá khoang cổ nhỏ đều là đực, tính cái có sau tùy thuộc vào kích thước cơ thể

và sự phân bố xã hội trong một quần đàn, đến một kích thước và một điều kiện thích hợp thì một số cá thể đực sẽ chuyển sang cá cái [23], [49] Tuyến sinh dục của cá đực bao gồm cả tinh sào và noãn bào, trong khi đó con cái chỉ có mô buồng trứng [54] Trong một đàn cá thì cá thể lớn nhất là cá cái có buồng trứng gồm các noãn bào và một số mô của tinh sào đã bị thoái hoá [21] Khi con cái bị chết hay biến mất vì một lý

do nào đó thì con đực thành thục sinh dục (lớn nhất trong đàn cá) sẽ chuyển đổi giới tính để trở thành con cái, con đực lớn thứ hai trong đàn cá chưa thành thục sinh dục sẽ nhanh chóng phát triển thành con đực thành thục sinh dục và kết cặp với con cái đó Những con đực còn lại trong đàn sẽ bị ức chế bởi cặp đực cái thành thục này, chúng thường không thành thục và tốc độ tăng trưởng cũng bị kìm hãm [51]

Theo Fricke (1983) và Hattori (1991) sự chuyển đổi giới tính của cá khoang cổ diễn ra theo ba chiều hướng sau: (i) Con đực chưa trưởng thành  con cái chưa trưởng thành  con cái trưởng thành; (ii) Con đực chưa trưởng thành  con đực trưởng thành  con cái trưởng thành; (iii) Con đực chưa trưởng thành  con đực trưởng thành [52], [62]

Sukjai (2006), sự chuyển đổi giới tính trên cá khoang cổ yên ngựa (A polymnus)

khác với cá chình Châu Âu khi sinh ra thì toàn bộ chúng là cái [39], [99] Trong khi đó

loài A polymnus là những cơ thể lưỡng tính (vì trong cơ thể chúng có cả tế bào sinh

dục đực và cái) Bắt đầu từ tháng thứ 4 thì trong tuyến sinh dục các mô tinh hoàn bao gồm các tế bào sinh tinh có trong tất cả các giai đoạn phát triển và đến tháng thứ 12 thì quá trình chuyển đổi giới tính mới có thể xảy ra từ con đực sang cái mà không có chiều ngược lại

Trang 21

1.2.1.2 Mùa vụ sinh sản cá khoang cổ

mùa hè khi nhiệt độ nước lên cao nhất [73]

Hình 1.3 Vòng đời cá khoang cổ [73]

Theo Allen (1972) và Ochi (1985)

mat trăng có thể là một tín hiệu cho chu kỳ sinh sản của cá khoang cổ Ấu trùng mới nở có tính hướng quang nên ánh sáng mặt

đẻ trứng Trong tự nhiên, cá thường làm tổ ở những nơi có số lượng hải quỳ đủ lớn để

Trang 22

bảo vệ trứng Khi con đực chuẩn bị xong nơi đẻ thì con cái tiến hành đẻ trứng, con đực tiến hành thụ tinh ngay phía sau [81]

Wilkerson (2001) nhấn mạnh một số đặc trưng của cá khoang cổ có thể thích nghi được trong điều kiện nuôi nhốt, cụ thể là: chúng có thể sống từ 15 đến 20 năm trong bể nuôi; có thể đẻ trứng đều đặn 2 tuần 1 lần; trải qua giai đoạn phát triển ấu trùng với thời gian ngắn nhất so

óc cá bố mẹ

thường khoảng 70 – 80 lít cho loài A percula Trong điều kiện nhân tạo, không nhất

thiết phải có hải quỳ là sinh vật cộng sinh Không nên lựa chọn cặp bố mẹ có cùng kích cỡ và được thu ngoài tự nhiên [64], [107] Để kết cặp đực cái với nhau cần ít nhất

từ một đến vài tháng và thậm chí có thể chúng chẳng bao giờ có thể kết cặp và đẻ trứng

Quá trình đẻ trứng sẽ diễn ra nếu các điều kiện môi trường ổn định như: ánh sáng, nhiệt độ, nguồn thức ăn [107] Một loại giá thể giúp cá cái đẻ trứng lên bề mặt nên được đặt vào bể nuôi khi chúng bắt đầu chuẩn bị tổ như: miếng gốm, chậu hoa xi măng, miếng đá cuội Trứng được đẻ lên bề mặt của giá thể và được sự chăm sóc chu đáo bởi con đực Quá trình đẻ trứng thường xảy ra vào ban ngày, kéo dài từ 30 phút đến 60 phút Trứng được đẩy ra khỏi ống dẫn trứng khi con cái bơi chậm theo đường dích dắc và bụng con cái chà xát lên bề mặt tổ, theo sát là con đực làm nhiệm vụ tưới tinh cho trứng Số lượng trứng mỗi lần đẻ dao động từ 100 đến hơn 1.500 tùy thuộc vào kích cỡ cá bố mẹ và các lần đẻ trước đó Trứng của các loài thuộc giống

Amphiprion và Premnas đầu có hình elip, chiều dài khoảng 3 – 4 mm, có cuống ngắn

dính vào ổ [49], [107]

Trong suốt thời gian ấp trứng, tổ được chăm sóc và bảo vệ bởi con đực Chúng thường xuyên mút từng trứng bằng miệng và sử dụng vây ngực để quạt trứng, đồng thời sử dụng miệng loại bỏ trứng chết và những vật chất bẩm ra khỏi tổ Trong khi đó, con cái chủ yếu tăng cường hoạt động ăn sau khi đẻ, đôi khi con cái cũng trợ giúp con đực trong việc chăm sóc và bảo vệ tổ [14]

1.2.2 Quá trình phát triển phôi

Theo Fautin và Allen (1992)

6–8 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ, các yếu tố vô sinh và hữu sinh Trong giai đoạn này,

Trang 23

có một sự biến đổi rõ rệt của màu sắc trứng từ cam sáng đến hồng nhạt và xám hồng hay xám ở ngày thứ 6 của quá trình phát triển phôi Vào ngày thứ 7 hoặc 8 phôi cá trong suốt thấy từ các tế bào thần kinh màu đen, túi noãn hoàng mờ nhạt đi và 2 mống mắt có màu ánh bạc Trước ngày nở, phôi cá đã trải qua một quá trình biến thái rất nhanh và có thể nhìn thấy từ mắt thường qua màng trong suốt bao bên ngoài phôi Quá trình nở diễn ra vào ban đêm trong khoảng 1 giờ Nếu hơn 2/3 số trứng xuất hiện mống mắt có màu ánh bạc sáng thì hầu như toàn bộ trứng sẽ nở vào tối hôm đó [49]

như loài A polynus khoang cổ yên , loài A nigripes ( maldives)

loài A fenatus (cá khoang cổ đỏ

phôi c [50]

1.2.3 Thức ăn và dinh dưỡng giai đoạn ấu trùng cá khoang cổ

Trước khi nở, nguồn thức ăn sống gồm luân trùng và vi tảo cần được chuẩn bị trước để đáp ứng kịp thời cho ấu trùng mới nở Kỹ thuật nuôi các loại thức ăn sống được xem là rất quan trọng hàng đầu trong sản xuất giống cá biển quy mô công nghiệp

[48] Năm 1999, Hoff và Snell đã xuất bản một cẩm nang hướng dẫn khá toàn diện về

Trang 24

nuôi trồng các sinh vật phù du cho những nhà nuôi trồng mới khởi nghiệp Nguồn thức

ăn cho ấu trùng mới nở đòi hỏi 3 tính chất quan trọng sau: kích thích sự thèm ăn, đầy

đủ chất dinh dưỡng và sử dụng với một lượng vừa đủ [63]

Trở ngại chính khi chuyển từ dinh dưỡng nội bào (noãn hoàng) sang dinh dưỡng

ngoại bào là kích cỡ của con mồi [66] Luân trùng và Artemia là hai loại được sử dụng rộng rãi nhất, trong khi đó trứng và nauplinus của Copepoda tuy là nguồn thức ăn ở

ngoài tự nhiên của các loài cá biển nhưng lại không được dùng nhiều trong nuôi trồng thủy sản vì chúng khác nhau về chất lượng dinh dưỡng ở các loài khác nhau, hơn nữa việc nuôi trồng chúng trong điều kiện nhân tạo rất khó khăn [66]

Watanable và Kiron (1994)

cầu dinh dưỡng của ấu trùng, tác giả nhấn mạnh đến vai trò của lipid đặc biệt là các axit béo không no cao phân tử (HUFA) giúp cho ấu trùng tăng trưởng nhanh và nâng cao được tỷ lệ sống [105] Theo Naas và cộng sự (1992) “màu nước xanh” rất quan trọng trong sản xuất nhân tạo các loài cá biển Phương pháp gây màu nước xanh nhằm duy trì chất lượng nước ổn định trong bể ương đồng thời cung cấp thức ăn cho luân

trùng B plicatilis là loại thức ăn đầu tiên của ấu trùng [83] Reitan và cộng sự (1993) chứng minh được sự có mặt của các loài vi tảo I galbana hoặc tảo Tetraselmis sp cùng với luân trùng B plicatilis và Artemia thì tỷ lệ sống của ấu trùng cá được cải

thiện đáng kể [89]

Theo Green và Fisher (2004), nhiệt độ thấp trong thời kỳ ương nuôi ấu trùng sẽ kéo dài thời gian sống trôi nổi của ấu trùng Ông cho biết, tốc độ phát triển của ấu

trùng loài A melanopus sẽ chậm lại và cần thêm 25% thời gian nữa để tiến đến giai

đoạn biến thái khi ương nuôi ở nhiệt độ 25oC Nếu nhiệt độ là 28ºC thời gian biến thái chỉ oC sẽ mất đến 12 – 13 ngày sau khi nở Ương

ở nhiệt độ cao hơn trong khoảng thích hợp, ấu trùng sẽ có kích cỡ lớn hơn so với những ấu trùng cùng tuổi [58]

Green và Cormick (1999), đã đưa ra mối liên quan trực tiếp giữa chế độ cho ăn

và sự phát triển của ấu trùng A melanopus: giai đoạn ấu trùng sẽ bị kéo dài nếu không

được ăn thường xuyên Cho ấu trùng ăn theo nhu cầu của chúng sẽ rút ngắn được thời gian của giai đoạn này so với các nghiệm thức cho ăn ít hơn Chiều dài chuẩn

Trang 25

(standard length – SL) ở cá được cho ăn theo nhu cầu là 7 mm (giai đoạn chuyển xuống sống đáy), trong khi cho ăn chỉ bằng1/2 thì SL là 6 mm, và cho ăn 1/3 thì SL là 5– 8 mm [57]

Luân trùng Brachionus spp được xem là loại thức ăn đầu tiên cho cá khoang cổ,

đồng thời có sự kết hợp với màu nước xanh vi tảo) được duy trì trong suốt giai đoạn ương nuôi ấu trùng Muthuwan và cộng sự (2001) khi tiến hành thí nghiệm trên cá khoang cổ yên ngựa với mật độ 10 ấu trùng/L với khẩu phần thức ăn là 5 luân

trùng/mL và vi tảo Isochrysis sp cho đến 22 ngày tuổi Kết quả trong tuần đầu tiên là

50% tỷ lệ ấu trùng chết và sau đó giảm

từ ngoài tự nhiên theo cặp (đã kết đôi) được xem là phương án tốt nhất và tiết kiệm thời gian cho việc sản xuất giống cá cảnh Nếu được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt, tỷ lệ thành công rất cao lên đến 90% Trong khi đó, cá thu ngoài tự nhiên chưa được kết cặp

sẽ mất thời gian khá dài kết cặp sinh sản, tỷ lệ thành công thấp và đôi khi không kết

cặp trong điều kiện nuôi nhốt [65], [106, [108]

Cá khoang cổ bố mẹ có thể được nuôi dưỡng ở nhiệt độ từ 22 – 31oC, tuy nhiên, nhiệt độ tốt nhất cho quá trình thành thục sinh dục của nhóm cá này dao động từ 26 – 29,5oC (ngoại trừ cá khoang cổ A latezonatus ở xứ lạnh được nuôi ở nhiệt độ thấp

hơn) Các chỉ số môi trường khác, độ mặn 28 – 35‰ và pH 7, 8 – 8,

[11] ,

ỷ lệ DHA: EPA (6:

ỷ lệ thụ tinh và tỷ lệ nở trên loài A sebae [34] –ă

Trang 26

i , c được nhiều trong thịt mự [80], [67], [91]

,

Theo Binu và cộng sự (2009) khi nghiên cứu

ảnh hưởng của thức ăn cho cá bố mẹ lên chất lượng trứng và ấu trùng loài A sebae cho

thấy, cá bố mẹ cho ăn thịt mực ống cho kích thước trứng và chiều dài ấu trùng cao nhất so với cho cá ăn thịt vẹm, thịt mực nang và thịt tôm biển Như vậy, cá bố mẹ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng trứng, ấu trùng cá khoang cổ Chất lượng cá bố mẹ không tốt chính là nguyên nhân sau khi trứng cá đẻ con đực sẽ ăn những quả trứng chất lượng thấp này, ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sản xuất [34]

1.2.4.2

 Ảnh hưởng của n

Nhiệt độ ương là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến kết quả ương nuôi ấu trùng cá khoang cổ, đặc biệt là tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng [110] Cá là động vật biến nhiệt nên cơ thể chịu ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường rất lớn Quá trình hấp thụ thức ăn

và trao đổi chất chịu ảnh hưởng của nhiệt độ Trong một phạm vi giới hạn, nhiệt độ càng lớn thì tốc độ hấp thụ chất dinh dưỡng và quá trình trao đổi chất diễn ra càng nhanh [17] Trong quá trình ấp trứng việc kiểm soát nhiệt độ có ý nghĩa rất lớn trong việc nâng cao tỷ lệ nở của phôi và tỷ lệ sống của ấu trùng

Theo Le và cộng sự (2011), ấu trùng cá khoang cổ A clarkia tăng dần tốc độ

sinh trưởng và tỷ lệ sống ở nhiệt độ 23–29oC, từ đó điều chỉnh chế độ chăm sóc phù

hợp Tuy nhiên, ở giới hạn cao nhất trên mức đó không có sự sinh trưởng và dẫn đến

cá chết [110] Cá khoang cổ sinh trưởng tốt nhất ở điều kiện nhiệt độ trong khoảng 26 – 28oC [69] Nhiệt độ không thích hợp là một trong những nguyên nhân chính gây chết cho cá bột Một vài nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy sự thay đổi nhiệt độ thậm chí 1oC

có thể gây sốc và dẫn đến cá chết ở giai đoạn con non [90], [97]

Ở Việt Nam, rất ít có tài liệu nghiên cứu nào về ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển giai đoạn giống của nhóm cá khoang cổ nói riêng và cá biển nói chung Cho nên những dẫn liệu về ảnh hưởng của nhiệt độ lên giai đoạn giống của đối tượng này còn nhiều hạn chế

Trang 27

 Ảnh hưởng của độ mặn

Độ mặn là một yếu tố sinh thái có mối quan hệ mật thiết với đời sống của thủy sinh vật Mỗi loài sinh vật có thể sống và sinh trưởng trong phạm vi giới hạn độ mặn

thích hợp [17] Nghiên cứu về ảnh hưởng của độ mặn lên ương nuôi cá khoang cổ có ý

nghĩa lớn trong việc thuần hóa và nuôi rộng rãi loài cá cảnh này

Boeuf và cộng sự (2001) nhận thấy, độ mặn có ảnh hưởng đến tất cả các giai đoạn của cá nói chung liên quan đến quá trình điều hòa áp suất thẩm thấu, năng lượng

và các hoạt động trao đổi chất khác do vậy chúng ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống Nhìn chung, tùy giai đoạn phát triển mà cá khoang cổ có khả năng thích ứng với

độ mặn khác nhau, trong đó giai đoạn trưởng thành (32 – 35‰) thích ứng với biên độ

độ mặn hẹp hơn so với giai đoạn ấu trùng (25 – 40‰) [35] Theo Monica và cộng sự

(2014), các điều kiện tối ưu để ương ấu trùng loài A clarkii là nhiệt độ 30°C và độ

mặn không được thấp hơn (20‰) [79]

Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Kumar và cộng sự (2009), quy trình sản xuất cá khoang cổ nemo tại Ấn Độ khi sử dụng nước của sông (độ mặn dao động 15 ‰ đến

34 ‰) nhưng tỷ lệ sản xuất rất thành công với tỷ lệ nở đặt 90 –95% Điều này chứng

tỏ khả năng thích nghi độ mặn thấp của cá khoang cổ nói chung rất tốt [71]

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về độ mặn mới chỉ dừng lại ở hai loài cá khoang cổ

đỏ và khoang cổ ứu cho thấy, tùy giai đoạn khác nhau mà khả năng thích ứng với độ mặn của 2 loài cá này khác nhau Nhìn chung, cá khoang cổ có thể thích ứng với độ mặn dao động từ 10 – 40‰, trong đó tốt nhất là độ mặn 30 – 35‰ Độ mặn trong khoảng 20 – 40‰ tỷ lệ sống đạt trên 75% nhưng tốc độ sinh trưởng có khuynh hướng giảm Kết quả này đều được ghi nhận trên các loài cá khoang cổ đỏ, khoang cổ nemo, khoang cổ đen đuôi vàng Độ mặn dưới 10‰, cá sinh trưởng kém, chết sau 2 ngày thí nghiệm được ghi nhận ở loài cá khoang cổ đen đuôi vàng [4], [8]

 Ảnh hưởng của ánh sáng

Ánh sáng cũng là một yếu tố môi trường ảnh hưởng đến kết quả ương nuôi ấu trùng cá biển Theo Dhaneesh và cộng sự (2102) khi đánh giá cường độ ánh sáng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của ấu trùng cá khoang cổ cam, trong số ba cường độ ánh sáng

Trang 28

(100, 500, và 900 lux) cho thấy, cường độ ánh sáng tối ưu cho ương nuôi ấu trùng cá

là 900 lux cho thấy tỷ lệ sống cao nhất (65,5%) [45]

Màu sắc của ánh sáng cũng ảnh hưởng đến hoạt động sống của ấu trùng nếu màu sắc của ánh sáng không phù hợp cá sẽ bị stress và bỏ ăn Shin (2012) chỉ ra rằng, đối

với loài A clarkia, khi được chiếu đèn LED bước sóng ngắn làm tăng tốc độ tăng

trưởng của cá lớn hơn bước sóng dài và sử dụng đèn ánh sáng có màu xanh lá cây có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với bóng đèn huỳnh quang trắng [95]

Tại các trang trại sản xuất giống cá cảnh việc sử dụng các bể kính để sản xuất có rất nhiều lợi ích như dễ dàng quan sát các hoạt động của cá hay dễ dàng lắp đặt… Tuy nhiên các bể kính đó lại cho ánh sáng trực tiếp xuyên qua vào các bể gây nên hiện tượng đóng rêu lúc đó bể cá rất dơ đây chính là các giá thể cho các vi sinh vật có hại lưu trú ảnh hưởng xấu đến cá nuôi Ngoài ra, tập tính hướng quang của cá ở giai đoạn đầu của ương nuôi làm chúng bám vào thành bể làm chúng bị sốc và không có khả năng bắt mồi Chính vì thể, ở giai đoạn đầu ương cá cần bổ sung tảo nhằm tạo môi trường nước xanh cho cá hoạt động tốt nhất và che những phần bể có ánh sáng xuyên vào

 Ảnh hưởng của d

Trong ương nuôi ấu trùng cá khoang cổ, mặc dù hệ thống ương nuôi và chất lượng nước nuôi được đảm bảo tốt, trên thực tế, kết quả cuối cùng về tỷ lệ sống vẫn chưa thể đạt được như mong đợi mà nguyên nhân chính là vấn đề dinh dưỡng Cho đến nay các thông tin khoa học về nhu cầu dinh dưỡng cá của cảnh biển nói chung còn rất nhiều hạn chế [93]

Nhiều nghiên cứu chỉ ra sự cần thiết phải cung cấp thức ăn ngoài (thức ăn sống) cho cá ngay sau khi nở mặc dù chúng có khả năng dinh dưỡng trong bằng noãn hoàng

đã thử nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá khoang cổ

đỏ giai đoạn giống [94], [10] Cá ăn luân trùng (B plicatilis) kết hợp với tảo N oculata ngay từ 1 ngày tuổi và Artemia khi cá 3 ngày tuổi, có tỷ lệ sống cao hơn đáng

kể so với cá sử dụng Artemia thay vì luân trùng Thêm nữa, cá được ăn luân trùng ngay từ 1 ngày tuổi ít bị phân đàn hơn so cá sử dụng Artemia thay vì luân trùng Giai

đoạn thích hợp để tập cho cá ăn thức ăn tổng hợp từ 15 đến 20 ngày tuổi đồng thời vẫn

Trang 29

phải cung cấp thức ăn tươi sống, từ ngày tuổi thứ 32 trở đi có thể cho cá ăn hoàn toàn bằng thức ăn tổng hơp [68]

Các nghiên cứu ảnh hưởng của các thành phần dinh dưỡng các nguyên tố đa lượng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của cá khoang cổ ở giai đoạn giống cũng được quan tâm Phạm Phương Linh (2011), đánh giá ảnh hưởng của protein (các mức 45%, 50%, 55%, 60%) và lipid (các mức 12%, 15%, 18%) không ảnh hưởng đến

sự tích lũy chất hữu cơ trong loài A ocellaris giai đoạn giống từ đó xây dựng một chế

độ dinh dưỡng phù hợp [6] Đối với cá cảnh biển nói chung không có khả năng tổng hợp các loại acid béo thiết yếu mà phải đưa vào từ thức ăn, như vậy việc nghiên cứu

bổ sung hay làm giàu thức ăn cho cá là vấn đề đáng quan tâm [3] Khoáng và vitamin

là những chất vi lượng cần thiết cho quá trình trao đổi chất và điều hòa cơ thể, tuy nhiên các nghiên cứu về chúng còn hạn chế bởi vì khả năng hấp thụ của cá trong môi trường nước không tốt nên kết quả nghiên cứu khó đánh giá chính xác [93]

ện nay, trong công nghệ nuôi cá cảnh, để nhuộm màu cho cơ, da hay làm cho cá chuyển màu vàng cam, màu đỏ, trong thức ăn

cá cảnh thường được bổ sung astaxanthin hay canthaxanthin để cá có màu sắc đẹp hơn

và dễ tiêu hóa hơn [32] Ngoài ra, chất tạo màu astaxanthin còn giúp tăng hoạt động sinh trưởng, phát triển tuyến sinh dục, tăng khả năng chịu sốc, nâng cao giá trị thương phẩm của vật nuôi Do vậy, astaxanthin chính là nhân tố vi lượng khá quan trọng đối với động vật thủy sinh

1.2.4.3

hoànNước biển được bơm vào bể chứa sau đó được bơm qua hệ thống lọc cơ học và đèn cực tím diệt khuẩn Nước sau khi được xử lý sẽ đưa vào bể phân phối trước khi đưa tới các hệ thống bể nuôi Mỗi bộ phận của từng hệ thống sản xuất cá sử dụng một bộ lọc sinh học riêng để hạn chế khả năng lây nhiễm bệnh giữa các bộ phận Hệ thống sản

xuất giống và nuôi thương phẩm loài A ocellaris được thiết kế gồm 3 bộ phận: nuôi

phát dục và cho đẻ, ương nuôi ấu trùng, và nuôi thương phẩm Quy trình công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá khoang cổ nemo đã thành công với tỷ lệ sống

Trang 30

của cá ở giai đoạn 1 tháng tuổi đạt 35% và giai đoạn cá kích thước thương phẩm đạt tỷ

lệ sống 70% [9]

Hinh 1.5 Hệ thống bể nuôi cá khoang cổ nemo [9]

sTrung

Theo Mai Thị Yến (2010), mật độ ương có ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ

sống của loài A ocellaris giai đoạn 60 – 120 ngày tuổi, trong khoảng mật độ 1 – 4

con/L, tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng tỷ lệ nghịch với sự gia tăng mật độ nuôi [18]

Thái Quốc Đại (2010) ở giai đoạn sau 5 tháng tuổi, mật độ ương 1 con/L cho tỷ lệ

sống và tốc độ sinh trưởng cao hơn so với mật độ 3 và 4 con/L Nhìn chung, mật độ ương dao động từ 1 – 10 con/L tùy theo giai đoạn phát triển [2]

Trang 31

Theo Chambel (2015) mật độ ương cá khoang cổ cam (0,5; 1; 2; 3 con/L) cho thấy, ở mật độ ương 0,5 con/L cho tỷ lệ sống cao 100% và SGR (0,459 ± 0,023% cm/ngày) Tuy nhiên các thí nghiệm này được thực hiện nhằm đánh giá sự tương quan giữa mật độ ương và tỷ lệ phần trăm protein trong thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam Từ đó có thể nhận thấy rằng, mật độ ương thích hợp còn ảnh hưởng đến rất nhiều yếu tố đặc biệt là dinh dưỡng, việc tìm mật độ nuôi tối ưu cần phải phù hợp với cách chăm sóc quản lý và công nghệ nuôi ương cá nhất định [38]

 Thời điểm chuyển đổi thức ăn

Chuyển đổi thức ăn ở cá bột là sự chuyển từ thức ăn sống như luân trùng, Artemia hoặc các động vật nổi làm thức ăn khác sang thức ăn tổng hợp Chuyển đổi thức ăn là biện pháp kỹ thuật quan trọng khi sản xuất giống nhân tạo cá biển, nhằm mục đích làm cho cá quen với thức ăn tổng hợp trước khi đưa ra nuôi thương phẩm, góp phần tăng tỷ lệ sống cho các giai đoạn nuôi sau Chuyển đổi thức ăn, nhất là chuyển đổi thức ăn sớm, còn có ý nghĩa trong việc giảm đi sự phụ thuộc vào thức ăn sống, nguồn thức ăn phải tốn chi phí lớn để sản xuất, tính ổn định thấp, yêu cầu điều kiện nuôi phức tạp và khó có thể giải quyết đủ số lượng lớn, nhất là khi cá đạt đến giai đoạn lớn cần tiêu thụ rất nhiều thức ăn [42], [96]

ằm nâng cao hiệu quả và chủ động trong sản xuất [45] Thực tiễn nghiên cứu đã cho thấy, giai đoạn đầu (trước 2 tuần tuổi), ấu trùng chưa quen với tập tính bắt mồi tĩnh, các cơ quan cảm giác chưa phát triển, đặc biệt là

hệ tiêu hóa, tuyến tiêu hóa và hệ enzyme chưa hoàn thiện để có thể tiêu hóa được các đại phân tử như protein, lipid, carbonhydrat có trong thức ăn tổng hợp và thức ăn chế biến [55], [ 7] Thức ăn tổng hợp và thức ăn chế biến nên được sử dụng cho cá khoang

cổ cam ở giai đoạn giống trở đi (từ 15 ngày tuổi) để đảm bảo tốc độ sinh trưởng, tỷ lệ sống và hiệu quả trong ương loài cá này [55], [14]

Trang 32

ễ bị

Brooklynellosis Uronema marinum gây nên bệnh đố [29] Theo Klinger và

Floyd (1996) Ichthyophonus hoferi là loài nấm thường gây bệ

Một số triệu chứng xuất hiện dạng bông tủa từ trắng đến xám trên da và vây, vùng mà nấm bám đó sẽ ngày càng lan rộng ra trên khắp cơ thể cá Ngoài ra, nấm còn xâm nhập vào sâu cơ thể, phá hủy các bộ phận chức năng như thận, gan và não [70]

Hà Lê Thị Lộc (2011) sản xuất loài

dạng sợi (Dinoflagelate): Amyloodinium ocellatum đã làm đàn cá nuôi chết hàng loạt

Mẫu ký sinh đã thu được ở giai đoạn ấu trùng Trophonts, chúng bám vào mang của cá khoang cổ nemo phá huỷ các tơ mang làm mang cá phồng lên, cá thở gấp, biếng ăn, bơi lội không bình thường, toàn thân trầy xước và cá chết sau 4 – 5 ngày nhiễm bệnh

Ký sinh do trùng lông tơ (Ciliata): Cryptocaryon irritans một loại nguyên sinh động vật (Protozoa) ký sinh có kích thước 450µm chiều dài với các lớp lông tơ trên bề mặt

dùng để vận động cơ thể, khi di chuyển chúng có hình quả lê và xoáy tròn xâm nhập sâu vào lớp tế bào dưới da huỷ hoại và tiêu hoá lớp tế bào, chúng bám vào mang cá phá huỷ các tơ mang gây ảnh hưởng đến hô hấp cá Khi nhiễm bệnh, cơ thể cá bạc màu, 2 bên thân cá xuất hiện các đốm màu trắng nên còn gọi là bệnh đốm trắng (White spot) Cá bỏ ăn, tỏ ra ngứa ngáy khó chịu, thường cọ mình vào các vật rắn có trong bể gây nhiễm trùng thứ cấ ắm 0,5 ppm Sulphat

đồ ến 7 ngày liên tục, sục khí mạnh, thay nước đã xử

lý hoá chất hằng ngày, n cần giảm mật độ cá trong bể ương

Binesh và cộng sự ệnh hoại tử thần kinh do vi rút

RGNNV dẫn đến tỷ lệ chết 80% trên ấu trùng loài A sebae ở Ấn Độ Cá nhiễm bệnh

có các dấu hiệu đặc trưng như bơi xoắn ốc, mẫn cảm với các kích thích, cơ thể hình thành những khối u lớn như chùm nho [33] ệ

vi rút IPNV) tuy hiếm gặp ở nhóm cá biển nhưng hậu quả của nó gây ra lại rất nghiêm trọng Khi bị nhiễm vi rút, cá có các biểu hiện chán ăn, tối sẫm màu ở phần sau cơ thể, đầu sưng, bụng phình to, dị hình và xuất huyết ở các vây Nếu mổ cá sẽ thấy tụy, dạ dày, thực quản bị xuất huyết và lở loét Sau một thời gian cá sẽ trở nên mất phương hướng, hôn mê và chết [104] ệc ứng dụng công nghệ phòng bệnh bằng vắc

Trang 33

xin còn nhiều hạn chế

ộng sự (2004) khi nghiên cứu việc sử dụng chế phầm sinh học Probiotics có khả năng ức chế những vi khuẩn có bệnh Vi khuẩn được phân lập từ ruột cá khoang cổ ử dụ

Probioics tồn tại 7 tác nhân gây bệnh thủy sản, trong khi cá sử dụ

Probiotics chỉ có hai tác nhân gây bệnh (Aeromonas hydrophila và Vibrio alginolyticus) Điều này chứng tỏ khả năng phòng và chữa các bệnh nhiễm khuẩn nhờ

sử dụng chế phẩm sinh học [87]

Thực tiễn cho thấy, các loài cá cảnh biển khi mới được bắt ngoài tự nhiên về thường có những dấu hiệu của lở loét, lồi mắt, mù mắt, mòn vây, nhạt màu đặc biệt có nhiều vết xây sát… Nguyên nhân của các triệu chứng trên chủ yếu là do quá trình đánh bắt và vận chuyển khiến chúng bị trầy xước, hay là do giảm áp suất khi cá mới đưa lên bờ khiến chũng bị lồi mắt hoặc thậm chí việc chúng bị sốc khi thay đổi nơi ở mới cũng làm cho chũng dễ nhiễm bệnh hơn Theo kinh nghiệm của những người nuôi cá cảnh, cá mới bắt về cần tắm, có thể tắm bằng nước ngọt đối (với cá biển), thuốc tím, dầu tràm nồng độ và thời gian tùy vào loài và thể trạng cá, thường phổ biến

là tắm từ 1,5 – 2,0 phút Sau đó nuôi dưỡng chúng ở một bể cách lý theo dõi hành vi hoạt động, các dấu hiệu bên ngoài rồi thả chúng chung vào hệ thống Cần tuân thủ iện pháp phòng bệnh tổng hợp hơn là trị bệnh khi cá mắc phải: các yếu tố môi trường đảm bảo ở điều kiện tối ưu, tăng sức đề kháng cho cá bằng cách bổ sung khoáng và vitamin, kiểm soát thức ăn, siphon thức ăn thừa, phân và chất thải của cá ra khỏi hệ thống nuôi nhằm giảm nguy cơ phát sinh mầm bệnh

1.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Trên thế giới

Cá khoang cổ được nuôi làm cảnh đã bắt đầu từ năm 1881, nhưng những hiểu biết về đặc điểm sinh học của chúng đến gần giữa thế kỷ XX mới được nghiên cứu [86] Từ đó, các nhà khoa học đã nuôi chúng trong bể kính với mục đích vừa làm cảnh

Trang 34

vừa làm thí nghiệm Đã có nhiều công trình nghiên cứu về đối tượng này, trong đó công trình công bố hoàn thiện nhất về cá khoang cổ là của Fautin và Allen (1992) [49]

Từ năm 1980 đến nay, một số nước đã cho sinh sản nhân tạo thành công các loài cá khoang cổ trong hệ thống bể nuôi có sinh vật cộng sinh hải quỳ nhưng một số nước cũng đã nghiên cứu cho cá khoang cổ sinh sản thành công mà không có sự hiện diện của hải quỳ

Tại Đức đã cho sinh sản loài Amphiprion akallopisos và loài Amphiprion ephippium Thể tích bể nuôi 400 lít với sự hiện diện của hải quỳ Stichodactyla giganteum Nhiệt độ nước thích hợp là 24 – 26 C Trong 6 tháng, một cặp A akallopisos sinh sản 14 lần và cặp A ephippium sinh được 10 lần [86] Đến năm 1985, tại Berlin, các nhà khoa học cũng đã thành công cho sinh sản thêm 3 loài A clarkii, A frenatus và A ocellaris mà không có hải quỳ trong hệ thống nuôi với tỷ lệ sống cá con

thấp (khoảng 10%) và đã ương nuôi đàn cá con đạt kích thước lớn [72]

Tại Pháp, Garnaud (1983) cũng đã cho sinh sản nhân tạo loài A ocellaris thành

công mà không có sự hiện diện của hải quỳ Tác giả đặt một lọ hoa nhỏ ở đáy bể và cá

đã đẻ trứng lên mặt trong của lọ hoa này Tương tự Alayse (1983) cũng đã nuôi ấu

trùng cá A ocellaris bằng luân trùng (B plicatilis) và n-Artemia Chất lượng dinh

dưỡng của luân trùng được nâng lên bằng cách bổ sung thức ăn khô vào bể nuôi Phương pháp này đã cải thiện tỷ lệ sống của ấu trùng từ 5-40% sau 30 ngày nuôi [19]

Ở Bỉ, Trường Đại học Tổng hợp Rhodes cũng đã thành công cho sinh sản nhân

tạo 4 loài cá khoang cổ A ocellaris, A percula, A clarkii và A biaculeatus với chu kỳ

tái sinh sản là 14 ngày [28]

Tại Nga, người ta đã cho sinh sản nhân tạo thành công 5 loài cá khoang cổ: A ephippium; A melanopus; A ocellaris; A polymnus; A frenatus có sự hiện diện hải quỳ Luân trùng B plicatilis đã được dùng làm thức ăn cho giai đoạn đầu tiên của cá con Các loài tảo được sử dụng để nuôi luân trùng là Nannochloropsis sp., Dunaliella tertiolecta, Phaeodactylum tricornutum, Rhodomonas salina Theo kết quả nghiên

cứu, việc làm giàu dinh dưỡng của luân trùng bằng nhiều loài tảo đã nâng cao tỷ lệ

sống của cá con so với chỉ sử dụng một loài tảo Nannochloropsis sp Tỷ lệ sống tăng

từ 12,5% đến 52% [31]

Trang 35

Từ năm 2000 đến nay, Thái Lan cũng đã tiến hành sinh sản nhân tạo 7 loài cá

khoang cổ: A frenatus, A clarkii, A polymnus, A perideraion, A sandaracinos, A ocellaris và A pecula [14], [30] Mặc dù những nước trên đã nghiên cứu sinh sản nhân

tạo và ương nuôi thành công một số loài cá khoang cổ bằng những phương pháp khác nhau nhưng nhìn chung tỷ lệ sống của đàn cá con vẫn còn thấp do nhiều nguyên nhân

và cũng chưa khép kín được vòng đời của chúng trong hệ thống nuôi

Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN A.pecula A ocellaris

5 loài cá khoang cổ, 8 loài hải quỳ và khả năng cộng sinh giữa chúng

Năm 2000 – 2001, phòng Công nghệ Nuôi trồng của Viện Hải dương học Nha

Trang đã tiếp tục triển khai đề tài “Nghiên cứu cơ sở sinh thái phục vụ cho sinh sản nhân tạo cá khoang cổ (Amphiprion sp.) vùng biển Nha Trang” thuộc cấp Trung tâm

Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia Kết quả đã thử nghiệm cho sinh sản nhân

tạo loài cá khoang cổ đỏ (A frenatus) thành công và sản xuất được một ít con giống

Năm 2006 – 2008, viện Hải dương học được sự hỗ trợ kinh phí của địa phương,

tiếp tục nghiên cứu: “Hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm loài cá khoang cổ đỏ A frenatus” kết quả đã sản xuất được hơn 10.000 con cá

kích thước thương mại, xuất khẩu sang châu Âu và thả phục hồi nguồn lợi tại địa phương, đóng góp thêm một đối tượng nuôi mới cho nghề nuôi trồng hải sản ở nước

ta Từ năm 2008, Viện Hải dương học chủ trì đề tài Khoa học Công nghệ Trọng điểm

Trang 36

cấp Nhà nước (mã số KC 06.05/06 – 10), đã cho sinh sản nhân tạo thành công loài A ocellaris

5 cặp cá bố mẹ và 500 cá con giai đoạn 1 đến 2 tháng tuổi [15]

Nghiên Ven –

A polymus và đã đạt được một số thành công bước đầu [16]

Đại học UIT Na Uy

[114]

Ngày đăng: 24/03/2016, 12:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Thái Quốc Đại. Nghiên cứu ảnh hưởng của độ muối, mật độ và thức ăn đến tỷ lệ sống, tốc độ sinh trưởng và màu sắc của cá khoang cổ nemo (Amphiprion ocellaris, 1830) thương mại. Luận văn thạc sỹ, Đại học Nha Trang; 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Amphiprion ocellaris
4. Hồ Ngọc Huỳnh.Mô tả quá trình phát triển phôi, biến thái ấu thể của cá khoang cổ nemo (Amphiprion ocellaris Cuvier, 1830) và nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ dinh dƣỡng, độ muối đối với cá con từ 15 đến 60 ngày tuổi. Luận văn thạc sỹ, Đại học Nha Trang; 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Amphiprion ocellaris
6. Phạm Phương Linh, V Muthuwan, Lại Văn Hùng. Ảnh hưởng của các mức protein lên sinh trưởng cá hề (Amphiprion ocellaris Cuvier 1830) giai đoạn giống”, Tạp chí khoa học và công nghệ Thủy sản Đại học Nha Trang 2011 (4):104- 109 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Amphiprion ocellaris" Cuvier 1830) giai đoạn giống"”
7. Hà Lê Thị Lộc. Một số đặc điểm dinh dƣỡng của cá khoang cổ đỏ (Amphiprion frenatus Brevoort, 1856) vùng biển Nha Trang – Khánh Hòa; 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Amphiprion frenatus
8. Hà Lê Thị Lộc. Nghiên cứu cơ sở sinh học phục vụ cho sinh sản nhân tạo cá khoang cổ (Amphirion sp.) vùng biển Khánh Hòa, Luận án Tiến sĩ Ngƣ Loại học, Viện Hải dương học, Nha Trang; 200. 174 trang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Amphirion sp
10. Hà Lê Thị Lộc, Nguyễn Thị Thanh Thủy. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của cá khoang cổ đỏ (Amphiprion frenatus Brevoort, 1856) giống.Tạp chí khoa học công nghệ biển 2008; 2(T9): 81 - 89.11. Th .Amphiprion frenatus Brevoort, 1856. 20093(T9): 67 – 77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Amphiprion frenatus" Brevoort, 1856) giống. Tạp chí khoa học công nghệ biển 2008; 2(T9): 81 - 89. 11. Th . "Amphiprion frenatus
14. Trần Thị Lê Trang. Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm chuyển đổi thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá khoang cổ cam (Amphiprion percula Lacepede, 1802) tại Thái Lan. Luận văn Thạc sỹ, Đại học Nha Trang; 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Amphiprion percula
15. Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá khoang cổ cam Amphiprion percula (Lacepede, 1802), phục vụ nhu cầu nuôi cá cảnh trong nước và xuấtkhẩu. Bá ề tài cấp Trườ , Nha Tran, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Amphiprion percula
18. Mai Thị Yến. Ảnh hưởng của mật độ và thức ăn lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ Nemo (Amphiprion ocellaris Cuvier, 1830) giai đoạn 60 – 120 ngày tuổi”, Luận văn Thạc sỹ, Đại học Nha Trang; 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: (Amphiprion ocellaris "Cuvier, 1830) giai đoạn 60 – 120 ngày tuổi
1. Báo Nông nghiệp Việt Nam. Nuôi kinh doanh cá biển: Nghề mới ở Khánh Hòa. [Online] Cập nhật 25/04/2014 tại URL:http:// www.nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vivn/72/2/75/30104/NuoikinhdoanhcabienNghemoiKhanhHoa.aspx Link
12. San hô biển Việt Nam đang bị hủy diệt nghiêm trọng.[Online], 25/4/2014. Truy cập tại địa chỉ URL:http://www.vietnamplus.vn/san-ho-bien-viet-nam-dang-bi-huy-diet-nghiem-trong/266004.vnp Link
16. Viện NTTS – Đại học Nha Trang. NCS Nguyễn Thị Hải Thanh bảo vệ đề cương nghiên cứu và tiểu luận tổng quan. [Online], 12/01/2015. Truy cập tại địa chỉ URL: http://ntu.edu.vn/khoanuoi/ViewTin.aspx?idcd=342&amp;idnews=5765 Link
3. Lại Văn Hùng. Dinh dƣỡng và thức ăn trong nuôi trồng thủy sản. Thành phố Hồ Chí Minh: NXB Nông nghiệp; 2004 Khác
5. . Ảnh hưởng của các mức protein lên sinh trưởng cá hề (Amphiprion ocellaris Cuvier 1830) giai đoạn giống. Luận văn Thạc sỹ, Đại học Nha Trang; 2010 Khác
9. Hà Lê Thị Lộc. Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm một số loài cá cảnh có giá trị xuất khẩu. Báo cáo tổng hợp kết quả khoa học công nghệ đề tài cấp nhà nước KC.06/06 – 10, , Nha Trang; 2011 Khác
13. Vũ Trung Tạng. Ngƣ loại học. Hà Nội: Nhà xuất Bản – Đại học và Trung học chuyên nghiệp; 1997 Khác
17. Mai Đình Yên và cs. Ngƣ loại học. Hà Nội: Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp; 1979 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3. Phân bố địa lý của cá khoang cổ cam [27] - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam (amphiprion percula lacepede, 1802) giai đoạn từ mới nở đến 60 ngày tuổi
Hình 1.3. Phân bố địa lý của cá khoang cổ cam [27] (Trang 16)
Hình 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam (amphiprion percula lacepede, 1802) giai đoạn từ mới nở đến 60 ngày tuổi
Hình 2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (Trang 37)
Đồ thị 3.1. Ảnh hưởng thức ăn đến SGR L  của  n - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam (amphiprion percula lacepede, 1802) giai đoạn từ mới nở đến 60 ngày tuổi
th ị 3.1. Ảnh hưởng thức ăn đến SGR L của n (Trang 42)
Đồ thị 3.3. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống cá - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam (amphiprion percula lacepede, 1802) giai đoạn từ mới nở đến 60 ngày tuổi
th ị 3.3. Ảnh hưởng của thức ăn đến tỷ lệ sống cá (Trang 43)
Đồ thị 3.2. Ảnh hưởng của thức ăn đến chiều dài cá - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam (amphiprion percula lacepede, 1802) giai đoạn từ mới nở đến 60 ngày tuổi
th ị 3.2. Ảnh hưởng của thức ăn đến chiều dài cá (Trang 43)
Đồ thị 3.4. Ảnh hưởng thức ăn đến SGR L  của ấ - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam (amphiprion percula lacepede, 1802) giai đoạn từ mới nở đến 60 ngày tuổi
th ị 3.4. Ảnh hưởng thức ăn đến SGR L của ấ (Trang 45)
Đồ thị 3.5. Ảnh hưởng thức ăn đến chiều dài của cá - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam (amphiprion percula lacepede, 1802) giai đoạn từ mới nở đến 60 ngày tuổi
th ị 3.5. Ảnh hưởng thức ăn đến chiều dài của cá (Trang 46)
Đồ thị 3.8: Ảnh hưởng mật độ ương đến chiều dài - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam (amphiprion percula lacepede, 1802) giai đoạn từ mới nở đến 60 ngày tuổi
th ị 3.8: Ảnh hưởng mật độ ương đến chiều dài (Trang 49)
Đồ thị 3.10. Ảnh hưởng mật độ ương đến SGR L - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam (amphiprion percula lacepede, 1802) giai đoạn từ mới nở đến 60 ngày tuổi
th ị 3.10. Ảnh hưởng mật độ ương đến SGR L (Trang 51)
Đồ thị 3.11. Ảnh hưởng của mật độ ương đến chiều dài - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam (amphiprion percula lacepede, 1802) giai đoạn từ mới nở đến 60 ngày tuổi
th ị 3.11. Ảnh hưởng của mật độ ương đến chiều dài (Trang 52)
Đồ thị 3.12. Ảnh hưởng của - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam (amphiprion percula lacepede, 1802) giai đoạn từ mới nở đến 60 ngày tuổi
th ị 3.12. Ảnh hưởng của (Trang 52)
Bảng 3e ấu trùng - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam (amphiprion percula lacepede, 1802) giai đoạn từ mới nở đến 60 ngày tuổi
Bảng 3e ấu trùng (Trang 68)
Bảng 5a. Công thức môi trường f/2 nuôi sinh khối tảo - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam (amphiprion percula lacepede, 1802) giai đoạn từ mới nở đến 60 ngày tuổi
Bảng 5a. Công thức môi trường f/2 nuôi sinh khối tảo (Trang 70)
Bảng 5c. Kích thước, thành phần dinh dưỡng thức ăn tổng hợp INVE - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, mật độ nuôi lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá khoang cổ cam (amphiprion percula lacepede, 1802) giai đoạn từ mới nở đến 60 ngày tuổi
Bảng 5c. Kích thước, thành phần dinh dưỡng thức ăn tổng hợp INVE (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w