1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của chế phẩm ADE selplex đến khả năng sinh sản của lợn nái ngoại và sinh trưởng của lợn con theo mẹ tại trang trại lợn Phùng Xuân Hà tỉnh Yên Bái

101 523 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 620,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HOÀNG VĂN HIỆU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM ADE - SELPLEX ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI NGOẠI VÀ SINH TRƯỞNG CỦA LỢN CON THEO MẸ TẠI TRANG TRẠI LỢN PHÙNG XUÂN HÀ - TỈNH YÊN BÁI LUẬN VĂN

Trang 1

HOÀNG VĂN HIỆU

ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM ADE - SELPLEX ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI NGOẠI

VÀ SINH TRƯỞNG CỦA LỢN CON THEO MẸ TẠI TRANG TRẠI LỢN PHÙNG XUÂN HÀ - TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 2

HOÀNG VĂN HIỆU

ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM ADE - SELPLEX ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN CỦA LỢN NÁI NGOẠI

VÀ SINH TRƯỞNG CỦA LỢN CON THEO MẸ TẠI TRANG TRẠI LỢN PHÙNG XUÂN HÀ - TỈNH YÊN BÁI

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60 62 01 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Thị Hiền Lương

THÁI NGUYÊN - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của chúng tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực, chưa hề sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã

được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được ghi

rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Hoàng Văn Hiệu

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt hai năm học tập, cùng với sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận

được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của nhiều cá nhân và tập thể, đến nay

luận văn của tôi đã hoàn thành Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn và cảm ơn chân thành tới cô giáo TS Phạm Thị Hiền Lương đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ to lớn về cơ sở vật chất của Viện Khoa học sự sống - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và Phòng khám

đa khoa Y cao Hồng Đức - Thành phố Yên Bái

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của cán bộ, công nhân của trang trại lợn Phùng Xuân Hà (Yên Bái) đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè và

đồng nghiệp trong suốt thời gian thực hiện luận văn khoa học này

Tôi xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Hoàng Văn Hiệu

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC THUẬT NGỮ CHUYÊN MÔN v

DANH MỤC CÁC BẢNG vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục đích của đề tài 2

3 Mục tiêu của đề tài 2

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học 4

1.1.1 Đặc điểm về khả năng sinh sản của lợn nái 4

1.1.2 Khả năng sản xuất của lợn nái 5

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của lợn nái 9

1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát dục của lợn 10

1.1.5 Những hiểu biết về vitamin A, D, E và selen 12

1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 21

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 21

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 29

1.2.3 Thông tin về chế phẩm ADE - selplex 31

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33 2.1 Đối tượng nghiên cứu 33

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 33

2.3 Nội dung nghiên cứu 33

2.4 Phương pháp nghiên cứu 33

2.4.1 Chọn đối tượng nghiên cứu 33

Trang 6

2.4.2 Xác định hàm lượng vitamin A, D, E và selen trong thức ăn của lợn nái 33

2.4.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 35

2.4.4 Các chỉ tiêu theo dõi trên lợn nái 36

2.4.5 Các chỉ tiêu theo dõi trên lợn con và phương pháp xác định 38

2.5 Phương pháp xử lý số liệu 41

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42

3.1 Ảnh hưởng của chế phẩm ADE - selplex tới sức sản xuất và khả năng kháng bệnh của lợn nái 42

3.1.1 Ảnh hưởng của chế phẩm ADE - selplex tới sức sản xuất của lợn nái 42

3.1.2 Ảnh hưởng của chế phẩm ADE - selplex tới khả năng kháng bệnh của lợn nái 47

3.1.3 Một số chỉ tiêu sinh lý máu của lợn nái thí nghiệm sau đẻ 20 ngày 49

3.2 Ảnh hưởng của chế phẩm ADE - selplex đến sức đề kháng và khả năng sinh trưởng của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa 51

3.2.1 Ảnh hưởng của chế phẩm ADE - selplex đến sức đề kháng của lợn con 51

3.2.2 Ảnh hưởng của chế phẩm ADE - selplex tới khả năng sinh trưởng của lợn con 57

3.2.3 Ảnh hưởng của chế phẩm ADE - selplex đến khả năng chuyển hóa thức ăn của lợn con thí nghiệm 65

3.3 Hiệu quả của việc bổ sung chế phẩm ADE - selplex cho lợn nái và lợn con 66

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 69

1 Kết luận 69

2 Đề nghị 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 79

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ CÁC THUẬT NGỮ CHUYÊN MÔN

ACTH : Adreno Corticotropin Hormone ATP : Adenosine triphosphate

CP : Charoen Pokphand

ĐC : Đối chứng DPI : Dots per inch FSH : Folliculo Stimulating Hormone

kg : Kilogam

KL : Khối lượng KPCS : Khẩu phần cơ sở

LH : Luteinizing Hormone

mg : Miligam

ml : Mililit

nm : Nanomet NST : Nhiễm sắc thể ppm : parts per million

SS : Sơ sinh

Se : Selen STH : Somatotropin hormone TATA : Thức ăn tập ăn

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Hàm lượng vitamin A, D, E và selen trong 1kg thức ăn của lợn

thí nghiệm 34

Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm (lặp lại 3 lần) 36

Bảng 3.1 Ảnh hưởng của chế phẩm ADE - selplex đến khả năng sinh sản của lợn nái 42

Bảng 3.2 Ảnh hưởng của chế phẩm ADE - selplex tới chất lượng đàn lợn con 45

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của chế phẩm ADE - selplex tới khả năng kháng bệnh của lợn nái 48

Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu sinh lý máu của lợn nái thí nghiệm sau đẻ 20 ngày 49

Bảng 3.5 Một số chỉ tiêu sinh lý máu của lợn con thí nghiệm 20 ngày tuổi 51

Bảng 3.6 Kết quả phòng và trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con thí nghiệm 54

Bảng 3.7 Kết quả phòng và trị hội chứng viêm phổi ở lợn con thí nghiệm 56

Bảng 3.8 Khối lượng lợn con thí nghiệm qua các kỳ cân (kg) 58

Bảng 3.9 Sinh trưởng tuyệt đối của lợn con qua các giai đoạn (g/con/ngày) 62

Bảng 3.10 Sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm (%) 64

Bảng 3.11 Tiêu tốn thức ăn tập ăn/kg tăng khối lượng của lợn con thí nghiệm 65

Bảng 3.12 Chi phí thức ăn + Thuốc thú y + Chế phẩm/kg tăng KL lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa 67

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của lợn con thí nghiệm 60 Hình 3.2 Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con qua các giai đoạn 63

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi Có thể nói, chăn nuôi lợn là nguồn thu nhập quan trọng của mỗi gia đình Phát triển nghề chăn nuôi lợn nhằm tạo ra nhiều sản phẩm, cung cấp cho nhu cầu trong nước, xuất khẩu và đang được chú trọng để đáp ứng xu thế hội nhập của nước ta

Định hướng phát triển chăn nuôi lợn ở Việt Nam đến năm 2015 là phát

triển nhanh quy mô đàn lợn ngoại theo hướng trang trại, công nghiệp ở nơi có

điều kiện về đất đai, kiểm soát dịch bệnh và môi trường; duy trì ở quy mô

nhất định hình thức chăn nuôi lợn lai, lợn đặc sản phù hợp với điều kiện chăn nuôi của nông hộ và của một số vùng Tổng đàn lợn tăng bình quân 2,0% năm, đạt khoảng 33 triệu con, trong đó đàn lợn nuôi trang trại, công nghiệp khoảng 30% (Vũ Trọng Bình và cs, 2014 [2])

Hiện nay, chăn nuôi lợn nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, nhất

là các tỉnh miền núi phía Bắc Nguyên nhân chính là do giá thịt lợn không ổn

định, giá thức ăn cao Đặc biệt, dịch bệnh xảy ra quanh năm, gây tổn thất lớn

cho ngành chăn nuôi Mặt khác, khi chăn nuôi phát triển mạnh, chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm môi trường không ngừng gia tăng

Để góp phần giải quyết những vấn đề trên, cần áp dụng các biện pháp

khoa học kỹ thuật mới vào chăn nuôi Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu và sản xuất các loại chế phẩm sinh học, có tác dụng kích thích sinh trưởng của vật nuôi, tăng sức đề kháng cho cơ thể, ổn định hệ vi sinh vật

có lợi, đồng thời ức chế sinh trưởng, phát triển của một số loại vi sinh vật gây bệnh trong đường tiêu hóa của vật nuôi

ADE - selplex là một chế phẩm sinh học như vậy Với việc bổ sung chế phẩm vào thức ăn, ADE - selplex cung cấp hàm lượng vitamin A, D3, E,

Trang 11

nguyên tố vi lượng selen làm tăng khả năng sinh sản, tăng khả năng tiết sữa, ngừa bại liệt, còi xương và tăng sức đề kháng cho vật nuôi Do vậy, có tác dụng tốt trong phòng bệnh tiêu chảy, đồng thời làm tăng khả năng sinh trưởng của lợn Để đánh giá được vai trò và hiệu quả kinh tế của chế phẩm ADE -

selplex trong thực tiễn chăn nuôi, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Ảnh

hưởng của chế phẩm ADE - selplex đến khả năng sinh sản của lợn nái ngoại và sinh trưởng của lợn con theo mẹ tại trang trại lợn Phùng Xuân

3 Mục tiêu của đề tài

- Xác định được mức độ ảnh hưởng của chế phẩm ADE - selplex đến sức sản xuất và kháng bệnh của lợn nái

- Xác định được mức độ ảnh hưởng của chế phẩm ADE - selplex đến khả năng sinh trưởng và kháng bệnh của lợn con

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Đề tài còn là cơ sở khoa học cho những nghiên cứu tiếp theo, nhằm

ứng dụng rộng rãi các chế phẩm sinh học trong chăn nuôi Đóng góp thêm

những tư liệu khoa học cho giảng dạy và nghiên cứu

Trang 12

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Xác định được ảnh hưởng của chế phẩm ADE - selplex đến sức sản xuất của lợn nái, sinh trưởng và kháng bệnh của lợn con, nhằm nâng cao hiệu quả chăn nuôi, hạ giá thành sản phẩm và giảm thiểu ô nhiễm môi trường

- Sử dụng chế phẩm vào chăn nuôi đại trà, để mở rộng phát triển chăn nuôi lợn theo định hướng, góp phần vào công tác chuyển giao tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong lĩnh vực chăn nuôi lợn, nhằm nâng cao khả năng sản xuất

ở lợn nái, theo hướng tạo ra sản phẩm chăn nuôi an toàn

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học

1.1.1 Đặc điểm về khả năng sinh sản của lợn nái

Quá trình hoạt động sinh sản của gia súc là do hệ thống thần kinh thể dịch của cơ thể điều tiết, chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền và ngoại cảnh (thời tiết, khí hậu, thức ăn, dinh dưỡng ) Trong chăn nuôi, người ta đánh giá lợn là loài gia súc có khả năng sinh sản cao, thành thục sớm, đẻ dễ và ít gặp khó khăn trong khi đẻ Lợn nái nội 3 - 4 tháng tuổi đã động dục Lợn là loài gia súc đa thai, trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý có thể đẻ 1,8 - 2,4 lứa/năm và đạt 10 - 12 con/lứa Lợn nái có số vú nhiều, khả năng tiết sữa cao, các giống nội thường có từ 10 vú trở lên, lợn Móng Cái thường có 12 - 16 vú

Thời gian chửa, đẻ của lợn từ 113 - 114 ngày (Nguyễn Thiện và cs, 1998 [23])

* Một số đặc điểm sinh lý của lợn nái chửa cần lưu ý:

Theo Lê Hồng Mận (2002) [19], lợn nái chửa sau khi phối giống thụ thai, nhau thai phát triển nhờ vào sự cung cấp dinh dưỡng, hô hấp qua hệ thống tuần hoàn máu của lợn mẹ, đồng thời sừng tử cung cũng lớn lên theo nhịp độ phát triển của nhau thai và bào thai Lợn mẹ có bào thai lớn thì lợn con sơ sinh cũng lớn Khối lượng lợn con chiếm 7 - 7,5/10 bào thai

Lê Hồng Mận và Xuân Giao (2001) [20] đã khẳng định, lợn nái thiếu dinh dưỡng sẽ đẻ ra con còi cọc, yếu, chống đỡ với các yếu tố bất lợi của môi trường kém

Theo Sakagami N và cs (2015) [72], có thể đánh giá được chất lượng, khả năng tồn tại và sự phát triển tiếp theo của phôi lợn trong cơ thể lợn nái bằng cách xác định mức tiêu thụ oxy của phôi lợn Phôi được phẫu thuật vào ngày thứ 5 hoặc ngày thứ 6 sau khi thụ tinh nhân tạo và mức tiêu thụ oxy của phôi được xác định bằng dụng cụ chuyên môn: ở ngày thứ 5, mức tiêu thụ oxy

Trang 14

của phôi là 0,56 ± 0,03 mol; ngày thứ 6, phôi có tỷ lệ tiêu thụ oxy là 0,58 ± 0,13 mol Kết quả nghiên cứu mới này sẽ góp phần vào việc đánh giá khả năng thụ thai của lợn nái sau khi phối giống

Nguyễn Quang Linh (2005) [15] cho biết, ở lợn nái 80 ngày chửa đầu tiên của thai kỳ, thai còn bé, nhu cầu dinh dưỡng tăng lên không đáng kể, 34 ngày cuối của thai kỳ, thai phát triển rất nhanh đòi hỏi dinh dưỡng cung cấp cho lợn mẹ phải cao

1.1.2 Khả năng sản xuất của lợn nái

Theo Nguyễn Thiện và cs (1998) [23], việc đánh giá khả năng sản xuất

của lợn nái được thông qua các chỉ tiêu:

1.1.2.1 Khả năng sinh sản

Khả năng sinh sản được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau:

* Số con sơ sinh sống đến 24h/lứa đẻ

Trong vòng 24 giờ sau khi đẻ, những lợn con được sinh ra nếu không

đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, không phát dục hoàn toàn, đầu to

mông bé… thì sẽ bị chết, những lợn con chưa nhanh nhẹn dễ bị mẹ đè chết

- Loại đẻ ra còn sống: số con sơ sinh sống đến 24 giờ = Số con đẻ ra sống - Số con chết trong 24 giờ

- Loại thai non: là loại thai phát triển không hoàn toàn, đẻ ra nhưng còn

non tháng Loại thai non đã chết trong thời gian có chửa và trước khi sinh ra

Do vậy, số thai non cao trong một lứa đẻ sẽ làm cho số lợn con sơ sinh trong lứa thấp

- Loại thai gỗ: là loại thai đã chết trong tử cung lúc 35 - 90 ngày tuổi Thai chết ở giai đoạn này không gây sảy thai mà các bào thai chết thường khô cứng lại

Trang 15

Số lợn con chết lúc sơ sinh, số thai non, số thai gỗ sẽ là nguyên nhân làm giảm số lượng lợn con sơ sinh sống đến 24giờ cho một lứa đẻ

* Số lợn con cai sữa/lứa

Là số lợn con được nuôi sống cho đến khi cai sữa Thời gian cai sữa dài hay ngắn phụ thuộc vào trình độ chế biến thức ăn cho lợn con

Số lợn con cai sữa/lứa là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật rất quan trọng quyết

định năng suất của nghề chăn nuôi lợn Nó phụ thuộc vào khả năng tiết sữa

của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi lợn con theo mẹ cũng như khả năng hạn chế các yếu tố bệnh tật cho lợn con

Tỷ lệ nuôi sống (%) =

Số con sống đến cai sữa

x 100

Số lợn con để lại nuôi

* Số lợn con cai sữa/nái/năm

Chỉ tiêu này đánh giá tổng quát nhất đối với nghề nuôi lợn nái Nghề nuôi lợn nái có thể thu lãi hay không là nhờ số lượng lợn con cai sữa/nái/năm Nếu tăng số lứa đẻ/nái/năm và tăng số lượng lợn con cai sữa trong mỗi lứa thì

số lượng lợn con cai sữa/nái/năm sẽ cao

1.1.2.2 Chất lượng đàn con

Theo Nguyễn Thiện và cs (1998) [23], việc đánh giá chất lượng đàn con dựa vào các chỉ tiêu sau:

* Khối lượng sơ sinh toàn ổ

Là khối lượng được cân sau khi lợn con được đẻ ra, cắt rốn, lau khô và chưa cho bú sữa lần đầu

Khối lượng sơ sinh toàn ổ là chỉ tiêu đánh giá khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc, quản lý và phòng bệnh cho lợn nái chửa

* Khối lượng 21 ngày toàn ổ

Khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi là chỉ tiêu đánh giá tăng trọng của lợn con và là chỉ tiêu đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ

Trang 16

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [5], khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi là chỉ tiêu đánh giá khả năng cho sữa của lợn mẹ Vì sản lượng sữa của lợn mẹ cao nhất lúc 21 ngày tuổi sau khi đẻ Khối lượng toàn ổ cao thì sản lượng sữa của lợn mẹ cao

Khối lượng lợn con lúc 21 ngày tuổi tăng gấp 5 - 8 lần lúc sơ sinh Nó phụ thuộc vào khả năng tiết sữa và chọn làm giống của lợn nái (Hội chăn nuôi Việt Nam, 2004 [10])

* Khối lượng toàn ổ lúc cai sữa

Tùy theo khối lượng lợn con khi cai sữa, thời gian bắt đầu cai sữa: 21,

28, 35 ngày, mà người ta chế biến loại thức ăn cho phù hợp

Khối lượng cai sữa có liên quan chặt chẽ đến khối lượng sơ sinh, làm nền tảng và là điểm xuất phát cho khối lượng xuất chuồng

* Tỷ lệ đồng đều của đàn lợn con

Trong một lứa lợn, sự đồng đều giữa các cá thể trong đàn nói lên khả năng nuôi con của lợn mẹ, kỹ thuật chăm sóc và phòng bệnh cho lợn con Tỷ

lệ đồng đều được tính bằng tỷ lệ phần trăm giữa cá thể có khối lượng thấp nhất trong đàn so với cá thể có khối lượng cao nhất trong đàn Sự chênh lệch khối lượng giữa hai cá thể này càng ít, thì tỷ lệ đồng đều càng cao

1.1.2.3 Khoảng cách lứa đẻ

Là thời gian để hoàn thành một chu kỳ sinh sản

Bao gồm: Thời gian chửa + thời gian nuôi con + thời gian chờ động dục lại sau cai sữa và phối giống có chửa

Trong 3 yếu tố trên, thì thời gian mang thai là không thể thay đổi, còn thời gian nuôi con và thời gian chờ phối giống, có thể rút ngắn khoảng cách giữa hai lứa đẻ

1.1.2.4 Khả năng tiết sữa

Khả năng tiết sữa của lợn mẹ là chỉ tiêu đánh giá khả năng nuôi con của lợn mẹ, đặc điểm của giống Giống khác nhau thì khả năng tiết sữa cũng khác nhau

Trang 17

Ngày nay, người ta dùng phương pháp lấy khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày tuổi hoặc 45 ngày tuổi tùy theo thời gian cai sữa, làm chỉ tiêu đo khả năng tiết sữa của lợn mẹ

Để lợi dụng khả năng tiết sữa của lợn mẹ, người ta thường cho cai sữa

sớm vào ngày thứ 21 hoặc ngày 28, hoặc ngày thứ 42…tùy theo trình độ chăn nuôi của từng cơ sở (Nguyễn Thiện và cs, 1996 [24])

Trần Văn Thịnh (1982) [27] cho rằng, thức ăn đầu tiên của lợn con là sữa đầu Sữa đầu có màu trong, hơi vàng và đặc, được tiết ra trong 2 - 3 ngày

đầu sau khi đẻ Trong sữa đầu, các thành phần hóa học đều đặc hơn sữa

thường: lượng protein gấp 3 lần sữa thường (17 - 18% so với 5 - 6%) Trên 50% protein của sữa đầu là globulin, đặc biệt là γ - globulin Hàm lượng γ - globulin giảm rất nhanh, sau 12 giờ đã giảm đi 3/4, γ - globulin là thành phần quan trọng tạo nên sức đề kháng chống đỡ bệnh tật của lợn con sơ sinh

Theo Trần Văn Cừ và Nguyễn Khắc Khôi (1985) [3], lượng sữa của lợn

mẹ liên quan chặt chẽ đến sự phát triển của tuyến vú, thời kỳ có chửa cũng như sau khi đẻ một thời gian Trong thời kỳ có chửa, sự phát triển của tuyến

vú chịu tác động của một số hormone của các tuyến nội tiết, tuyến sinh dục, tuyến yên, tuyến thượng thận Sau khi đẻ, nó phụ thuộc vào số lượng con

Qua nhiều thí nghiệm nghiên cứu cho thấy, lượng sữa mẹ thay đổi tùy theo mức độ dinh dưỡng, giống lợn, số lợn con…

Trong thời kỳ tiết sữa của lợn mẹ (60 ngày), lượng sữa có sự thay đổi qua các tuần tuổi Lượng sữa cao nhất ở tuần thứ 2 và thứ 3 sau khi đẻ

Lợn nái có thể tiết khoảng 300 kg sữa (60 ngày) trong thời kỳ tiết sữa, lợn con có thể bú được khoảng 30kg sữa, bình quân mỗi ngày lợn con bú

được 550 gam và mỗi lần bú là 20 - 25 gam

Sữa lợn mẹ có chất lượng cao, chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho nhu cầu của lợn con, và đây là loại thức ăn lý tưởng của lợn con

Để đánh giá khả năng tiết sữa của lợn mẹ, người ta dùng công thức sau:

Sản lượng sữa (kg) = Tổng khối lượng tăng của đàn lợn con rồi nhân với 3

Trang 18

Như vậy, để lợn con tăng lên 1kg cần 3kg sữa Người ta thường tính sản lượng sữa của lợn nái 7 ngày nuôi con bằng cách cân khối lượng toàn ổ lợn con

7 ngày tuổi rồi trừ đi khối lượng lợn con sơ sinh toàn ổ rồi nhân với 3 Ngoài

ra, sản lượng sữa của lợn nái khi lợn con 21 ngày tuổi còn bị ảnh hưởng một phần của thức ăn

1.1.2.5 Tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ

Lợn mẹ sau khi đẻ, nuôi con, cơ thể bị gầy sút, do đó ảnh hưởng tới thời gian động dục trở lại sau cai sữa của lợn mẹ và năng suất của lứa tiếp theo Tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ càng thấp càng tốt

Tỷ lệ hao hụt (%) = KL lợn mẹ sau khi đẻ 24

h

- KL lợn mẹ sau khi cai sữa

x 100 Khối lượng lợn mẹ sau khi đẻ 24h

1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của lợn nái

1.1.3.1 Giống và cá thể

- Giống là yếu tố quyết định tới sự sản xuất của lợn nái Giống và đặc tính sản xuất của nó gắn liền với năng suất Các giống khác nhau cho năng suất khác nhau

- Các cá thể khác nhau có sức sản xuất khác nhau tùy thuộc vào cấu tạo

cơ thể, đặc điểm sinh lý của từng cá thể

1.1.3.2 Phương pháp nhân giống

Phương pháp nhân giống khác nhau sẽ cho năng suất khác nhau Cho nhân giống thuần chủng, thì năng suất của chúng cũng chính là năng suất của giống đó

Cho lai giống thì sẽ cho năng suất cao hơn hai giống gốc Các giống gốc càng thuần, thì khi cho lai giống ưu thế lai càng cao

Lai tạo là một biện pháp nhân giống nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi và chất lượng sản phẩm thông qua tận dụng ưu thế lai

1.1.3.3 Tuổi và khối lượng khi phối giống

Đối với lợn nái hậu bị phải thành thục về tính và thể vóc thì mới được

cho phối giống

Trang 19

Lưu ý: Nái hậu bị động dục lần đầu không nên cho phối ngay mà nên cho phối giống vào lần động dục thứ hai hoặc thứ ba

1.1.3.4 Thứ tự lứa đẻ

Khả năng sản xuất của lợn nái ảnh hưởng rất nhiều bởi các lứa đẻ khác nhau Lợn nái hậu bị đẻ lứa thứ nhất có số lượng con trên ổ thấp, từ lứa thứ hai trở đi, số lợn con trên ổ sẽ tăng dần, đến lứa thứ sáu, thứ bảy thì bắt đầu giảm dần

1.1.3.5 Kỹ thuật phối giống

Kỹ thuật phối giống có ảnh hưởng tới số lượng lợn con trên lứa Thời

điểm phối giống thích hợp sẽ làm tăng tỷ lệ thụ thai và số con/lứa

Lee W Y và cs (2013) [51] đã xác định được protein dimethylarginine dimethylaminohydrolase 2 (DDAH2) ở lợn tăng 3,6 lần trong giai đoạn trước

động dục so với trong giai đoạn động dục Vì vậy, tác giả kết luận rằng, protein

DDAH2 được coi như là dấu hiệu phát hiện động dục ở lợn nái sinh sản

Một số biện pháp quản lý, như chế độ ăn uống của lợn nái hậu bị, điều kiện chuồng trại, phương pháp kích thích động dục và thời gian lưu trữ tinh dịch… có ảnh hưởng tới kết quả của các thông số sinh sản như khoảng thời gian từ cai sữa đến động dục và tỷ lệ phần trăm nhân giống lặp lại (Jong de E

và cs, 2013 [49])

1.1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát dục của lợn

1.1.4.1 Yếu tố bên trong

Trần Văn Phùng và cs (2004) [21] cho biết, yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất, ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng, phát dục của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau

Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quá trình trao đổi chất trong cơ thể Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormone Hormone tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi

Trang 20

chất của tế bào và giữ cân bằng các chất trong máu Trong thời kỳ đầu tiên của quá trình sống, kể cả khi chưa có sự hoạt động của tuyến giáp đã có sự tham gia của tuyến ức trong điều khiển quá trình sinh trưởng Về sau điều khiển quá trình sinh trưởng có sự tham gia của tuyến yên STH (somatotropin hormone) của thuỳ trước tuyến yên là loại hormone rất cần thiết cho sinh trưởng của cơ thể

1.1.4.2 Điều kiện sinh trưởng và phát triển của vật nuôi

- Dinh dưỡng:

Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa nếu không có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Khi chúng ta đảm bảo đầy đủ về thức ăn bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong cơ thể

- Nhiệt độ và ẩm độ môi trường

Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khoẻ mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn

ra bình thường, cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể lợn Nhiệt độ thích hợp cho lợn vỗ béo từ 15 - 18oC, cho lợn sinh sản không thấp hơn 10 -

11oC Nhìn chung, khi lợn càng lớn, càng trưởng thành thì cơ quan điều tiết thân nhiệt càng hoàn thiện, lớp mỡ dưới da càng dày và nhu cầu về nhiệt càng giảm xuống

Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm

độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70%

- Ánh sáng:

Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng đối với lợn, người ta thấy rằng, ánh

Trang 21

sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con, lợn hậu bị

và lợn sinh sản hơn là đối với lợn vỗ béo Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt là quá trình trao đổi khoáng Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày nếu không đủ ánh sáng thì tốc

độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12% so với lợn con được vận động dưới

ánh sáng mặt trời

- Các yếu tố khác:

Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lợn đã nêu trên, còn có các yếu tố khác như vấn đề chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi như: không khí, tốc độ gió lùa, nồng độ các khí thải Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của từng loại lợn sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng, phát triển đạt mức tối đa

1.1.5 Những hiểu biết về vitamin A, D, E và selen

1.1.5.1 Những hiểu biết về vitamin A (Retinol)

Vitamin A là hợp chất hữu cơ có khối lượng vô cùng nhỏ, có hoạt tính sinh học cao, nhằm đảm bảo cho các quá trình trao đổi chất trong cơ thể tiến hành được bình thường Đây là yếu tố không thể thiếu đối với mọi sinh vật

Đa số vitamin A được tổng hợp từ thực vật mà động vật thu được trong khẩu

phần ăn hàng ngày Do đó nếu thiếu vitamin A sẽ gây những chứng rối loạn nghiêm trọng trong quá trình trao đổi chất

Vitamin A kết tinh màu vàng nhạt, không tan trong nước, nhưng tan trong dầu mỡ hay dung môi của chất béo Vitamin A dễ bị phân huỷ dưới tác dụng của tia tử ngoại, nhiệt độ cao, dễ bị oxy hoá khi ở ngoài không khí hay trộn lẫn với dầu mỡ bị ôi

Caroten (tiền vitamin A) có nhiều trong thực vật có màu đỏ, nhưng trong dung dịch chuyển thành màu vàng da cam Caroten nhạy cảm với ánh sáng (tia tử ngoại), oxy không khí, nhiệt độ cao, độ ẩm nên trong quá trình

Trang 22

chế biến, dự trữ thì caroten bị mất đi rất nhiều

Để bảo vệ vitamin A trong thức ăn hỗn hợp, có thể dùng 2 phương

pháp: bọc vitamin trong gelatin hoặc dùng hoá chất chống oxy hoá như 1,2 - dihydro - 2,2,4 - trimetyl quinol (etoxiquin)

Đơn vị quốc tế của vitamin A: 1mg vitamin A tương đương với 3.333,3

UI vitamin A

* Vai trò của vitamin A

+ Vitamin A tham gia vào nhóm ghép của men phân huỷ, hấp thu chất dinh dưỡng thông qua các quá trình oxy hoá khử

+ Tăng sức đề kháng cho cơ thể

+ Tăng khả năng sinh sản (sức sống và số lượng tinh trùng, chống sừng hoá các tế bào biểu bì ống dẫn trứng )

+ Bảo vệ và tăng thị lực mắt

+ Làm giảm quá trình dư đọng canxi cho các thành mao mạch hệ tuần hoàn, hạn chế tích mỡ trong cơ thể

* Triệu chứng thiếu vitamin A

Ở lợn: mắt bị đóng vẩy, có thể bị mù Lợn nái thiếu vitamin A sinh con

dị dạng và bị mù Trong chăn nuôi lợn nái, nếu thiếu vitamin A nghiêm trọng cũng xảy ra hiện tượng tiêu thai, sảy thai Phương pháp tốt nhất là cho lợn nái sinh sản ăn đủ thức ăn xanh, đặc biệt trong mùa Đông Đối với lợn được nuôi chủ yếu bằng thức ăn tinh thì cần bổ sung đủ caroten hoặc vitamin A vào khẩu phần

1.1.5.2 Những hiểu biết về vitamin D (Canxiferol)

* Cấu tạo hóa học

Vitamin D gồm có 6 loại: D2, D3, D4, D5, D6 và D7 có công thức hoá học gần giống nhau, trong đó vitamin D2 và D3 có hoạt tính sinh học mạnh nhất Vitamin D2 (Ergocanxiferol) có nguồn gốc thực vật, được tạo thành khi tia cực tím chiếu vào chất ergosterol Vitamin D3 (Cholecanxiferol) có nguồn gốc động vật, được hình thành khi tia cực tím chiếu vào chất 7 - dehydrocholesterol ở da

Trang 23

Hiện nay, vitamin D3 được chiết xuất từ dầu cá dưới tác dụng của tia cực tím Cholecanxiferol kết tinh màu trắng, bị phá huỷ bởi ánh sáng và dầu mỡ bị ôi,

đặc biệt khi hỗn hợp vitamin D với các chất khoáng vi lượng Vitamin E là chất

bảo vệ vitamin D

* Nguồn cung cấp vitamin D

Vitamin D ít có trong thức ăn, trừ trường hợp như cỏ được phơi nắng và lá úa của cây còn non Ở động vật, vitamin D3 có rất nhiều ở cá Dầu gan cá là nguồn vitamin D3 tốt và trứng cũng chứa nhiều vitamin D3 Hàm lượng vitamin D3 trong sữa thường rất ít, còn sữa non chứa nhiều gấp 6 - 10 lần sữa thường

Tuyến phao câu của gà là nơi hình thành và dự trữ vitamin D Nếu cắt

bỏ tuyến này gà sẽ bị bệnh còi xương (Rickets)

Các tiền vitamin D gồm:

- Ergosterol là tiền vitamin của vitamin D2

- 7-Dehydrocholesterol là tiền vitamin của vitamin D3

Đơn vị quốc tế (IU): 1 IU vitamin D tương đương hoạt động của

0,025µg D3 hoặc D2

* Vai trò của vitamin D

Về tính chất và tác dụng của vitamin D2 và D3 hoàn toàn giống nhau nhưng vitamin D3 mạnh hơn và phổ biến hơn Vitamin D hấp thụ chậm trong

đường ruột Khi sử dụng các chế phẩm với khối lượng dư thừa canxi sẽ cản

trở quá trình trao đổi và hấp thu vitamin D

Trong cơ thể, vitamin D tích tụ chủ yếu ở trong gan, tuyến thượng thận, lách, thận, phổi Dưới tác dụng của các hợp chất Ca và P, vitamin D bị ion hoá và nhờ đó vitamin D tích tụ được trong xương

Vitamin D làm tăng hàm lượng ion canxi trong máu, giúp cho sự hấp thu Ca và P từ thức ăn, điều hoà sự cân đối của chúng trong máu

Tăng quá trình thở và trao đổi chất ở mức độ tế bào, tăng cường chức

Trang 24

năng gan và đường tiêu hoá

Vitamin D có tác dụng chống dị ứng

Do vitamin D trực tiếp điều chỉnh quá trình trao đổi Ca và P, nên trong thức ăn phải giữ đúng nguyên tắc tỷ lệ hàm lượng Ca : P (2 : 1) nhằm tránh những rối loạn trao đổi khác mà vitamin tham gia

* Triệu chứng thiếu vitamin D

Gia súc còn non mắc bệnh còi xương Gia súc lớn gọi là bệnh mềm xương (Osteomalacia) Cả hai bệnh trên có thể xảy ra do thiếu Ca và P

Bổ sung vitamin D cho lợn và gà quan trọng hơn trâu bò, vì trâu bò có thể nhận đầy đủ vitamin trong khi chăn thả hoặc từ cỏ khô Có một vài loại thức ăn như ngũ cốc và men bia sống có thể gây ra bệnh còi xương cho động vật có vú; protein đậu nành sống và gan tươi cũng gây ảnh hưởng tương tự trên gia cầm

Để khắc phục nên gia tăng bổ sung lượng vitamin D gấp 10 lần khi có mặt toàn

bộ hạt đậu nành sống

1.1.5.3 Những hiểu biết về vitamin E (Tocoferol)

Có 8 dạng vitamin E trong tự nhiên đang hoạt động, trong đó có 4 vitamin bão hòa α, β, γ và δ-Tocopherol là dạng hoạt động sinh học mạnh nhất và phổ biến nhất

* Nguồn cung cấp vitamin E

Vitamin E chứa nhiều trong thức ăn, cỏ tươi, cỏ non, giá đỗ và mầm của hạt ngũ cốc (lúa) Lá chứa gấp 20 - 30 lần so với cọng

Các sản phẩm của động vật chứa rất ít vitamin E mặc dù số lượng phụ thuộc vào lượng vitamin E khẩu phần

* Vai trò của vitamin E

Vitamin E tham gia vào nhiều quá trình oxy hoá khử (trao đổi chất), là thành phần trực tiếp các loại men hệ hô hấp

Vai trò chủ yếu của vitamin E là thành phần của men NAD -

Trang 25

oxydase và giúp phục hồi chức năng tế bào cơ, tuỷ xương, thần kinh, mạch máu và mô mỡ

Vitamin E kích thích phần đầu tuyến yên (hypophyse) tạo ra các hormone sinh sản như: Gonadotropin, thyreo - tropin và ACTH để điều tiết hoạt động các tuyến dưới thuộc hệ sinh sản và tăng năng suất vật nuôi

Những axit béo chưa bão hoà dễ bị oxy hoá bởi oxy phân tử và tạo ra proxit là một chất độc, nó đầu độc màng ty thể, peroxit lại còn oxy hoá tiếp các axit béo chưa bão hòa khác trong cơ thể, ức chế enzym của ty thể, ngăn cản trao đổi năng lượng và tổng hợp ATP của ty thể Vitamin ngăn cản sự tạo thành peroxit

Thiếu vitamin E làm ứ đọng peroxit, nên nhu cầu vitamin E liên quan

đến lượng axit béo trong khẩu phần

Vitamin E còn tham gia vận chuyển điện tử trong phản ứng oxy hoá khử: nhờ phản ứng biến đổi thuận nghịch giữa dạng quinon và quinol, chất này tham gia vào quá trình oxy hoá - khử giữa những dehydrogenaza và citochrom trong chuỗi hô hấp tế bào của ty thể

Vitamin E loại bỏ quá trình hình thành chất độc và đào thải chúng ra khỏi cơ thể Một mặt, bản thân vitamin E giữ cho khả năng làm việc các cơ bắp liên tục, mặt khác kết hợp với vitamin A giúp cơ bắp, mắt, da không bị thoái hoá Vitamin E giúp cho lòng đỏ trứng có màu đỏ tươi và cân bằng tích lũy vitamin A trong trứng, gan

Vitamin E cần thiết trong quá trình photphoryl oxy hoá, creatin trong

cơ, do đó tham gia chuyển hoá gluxit, lipit, axit nucleic, tổng hợp vitamin C, chuyển hoá các axit amin chứa lưu huỳnh

Tỷ lệ thích hợp nhất giữa vitamin A và vitamin E là (1: 0,001 - 0,002 - 0,003) Nếu tỷ lệ đó bị phá vỡ hoặc mất cân bằng sẽ dẫn đến sự thiếu hụt cả vitamin A lẫn vitamin E trong cơ thể

Vitamin E trực tiếp điều chỉnh quá trình tổng hợp ADN trong cơ và tuỷ

Trang 26

xương, tham gia trực tiếp cấu tạo các axit nucleic để tổng hợp nên các axit amin rất cần cho mọi giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cơ thể như tăng trọng đối với gia súc non, tăng năng suất và chất lượng đối với gia súc chửa

đẻ… tăng khả năng kháng bệnh, chống mệt mỏi, giải độc cho cơ thể

Vitamin E cùng với enzym Glutathione peroxidase có chứa selen là hai

tác nhân quan trọng ngăn cản sự hình thành peroxit Do ngăn cản sự hình thành peroxit nên vitamin E có vai trò bảo vệ màng phospholipid là loại màng cơ bản trong cơ thể sống

Vitamin E cũng tham gia vào chức năng miễn dịch của cơ thể

* Triệu chứng thiếu vitamin E

Vitamin E và selen có quan hệ với nhau, đa số các chứng bệnh do thiếu vitamin E có thể chữa được bằng selen

Thiếu vitamin E gây ảnh hưởng xấu đến chuyển hoá sắt Các thí nghiệm trên khỉ và động vật khác cho thấy, khi thiếu vitamin E gây thiếu máu, giảm hàm lượng hemoglobin và giảm thời gian sống của hồng cầu

Đối với gia súc cái mang thai, vitamin E góp phần thuận lợi cho quá

trình mang thai, sự phát triển của thai non và giảm được tỷ lệ sảy thai hoặc sinh non do trung hòa hoặc làm mất hiệu lực của gốc tự do trong cơ thể

Vitamin E giúp làm giảm tiến trình lão hóa của da và lông, cải thiện tình trạng da khô sần sùi, lông gãy rụng làm giảm giá trị thương phẩm của gia súc, gia cầm

Ở lợn, khi thiếu vitamin E nghiêm trọng sẽ gây loét dạ dày, gan bị hoại

tử, mỡ bị nâu vàng, viêm thận, thở khó và viêm da Đồng thời cũng gây chết

đột ngột do cơ tim quá yếu không đẩy được máu đi nuôi cơ thể Nếu thiếu

vitamin E ở giai đoạn có chửa của lợn mẹ sẽ dẫn đến chết phôi, lợn con đẻ ra không hoàn thiện Độc tính của vitamin E chưa thấy khi cho ăn liều lượng tới 550mg vitamin E/kg thứa ăn

Trang 27

* Nguyên nhân gây thiếu hụt vitamin trong chăn nuôi công nghiệp

- Cho con vật ăn quá đơn điệu một vài loại thức ăn mà không bổ sung premix-vitamin

- Do thức ăn dự trữ quá lâu, các vitamin bị hư hỏng

- Do trong thức ăn có các chất kháng vitamin (Antivitamin)

- Do sức sản xuất và điều kiện chăn nuôi thay đổi theo hướng thâm canh cũng gây thiếu vitamin cho vật nuôi

* Các giải pháp cung cấp vitamin hợp lý cho vật nuôi

Bổ sung premix vitamin vào thức ăn hỗn hợp pha trộn sẵn

Sử dụng vitamin hòa tan trong nước để cung cấp cho vật nuôi

Cung cấp vitamin cho vật nuôi bằng đường tiêm

(Theo Dương Thanh Liêm (2012) [85])

1.1.5.4 Những hiểu biết về selen (Selenium - Se)

* Nguyên tố selen trong bảng hệ thống tuần hoàn

Selen (theo tiếng La tinh là selenium, theo tiếng Hylạp - Mặt trăng) - Se

là nguyên tố hoá học với số nguyên tử là 34, khối lượng nguyên tử 78,96 Selen tự nhiên bao gồm 6 đồng vị ổn định: 74Se, 76Se, 77Se, 78Se, 80Se và 82Se

Selen nằm trong nhóm 4 của bảng tuần hoàn Lớp điện tử ngoài cùng 4s24p4

Độ oxy hoá: -2, +2, +4, +6 (hoá trị II, IV, VI) Điện tích âm 2,40 (Từ điển

Hóa học Anh Việt, 2000 [29])

* Selen đối với cơ thể người và động vật

Selen đã được xác định là một nguyên tố vi lượng không thể thiếu cho

sự sống Selen có trong thành phần của đạm thực vật và động vật, đặc biệt là nhóm - S - SeH được coi là nhóm hoạt động của rất nhiều men trong cơ thể

Selen là nguyên tố vi lượng (chiếm 10-5 - 10-7% khối lượng cơ thể) Cùng với thức ăn, một người nhận được 55 - 110mg selen mỗi năm Selen tập trung chủ yếu trong gan, thận Khi dùng liều lượng cao, trước tiên

Trang 28

nó tập trung ở lông, móng, vì protein của chúng chứa nhiều axit amin chứa lưu huỳnh

Selen là thành phần tâm hoạt động của các men: phormiatdehydrogenasa,

glutationreductasa và glutationperoxydasa Tâm hoạt động của chúng có

chứa gốc axit amin - Selenocysteine

Selen có khả năng bảo vệ cơ thể khỏi nhiễm độc thuỷ ngân, cadimi, bởi

nó liên kết với chúng Người ta thấy, có mối quan hệ giữa khẩu phần chứa nhiều selen với tỷ lệ chết thấp do ung thư

* Độc tính của selen

Mặc dù selen là vi chất dinh dưỡng thiết yếu, nhưng nó lại có độc tính nếu dùng thái quá Việc sử dụng vượt quá giới hạn 400 µg/ngày có thể dẫn tới ngộ độc selen Các triệu chứng ngộ độc selen bao gồm: mùi hôi của tỏi trong hơi thở, các rối loạn đường tiêu hóa, rụng tóc, bong, tróc móng tay chân, mệt mỏi, kích thích thần kinh và dễ bị tổn thương Các trường hợp ngộ

độc selen nghiêm trọng có thể gây ra bệnh xơ gan, phù phổi và tử vong

Qua những nghiên cứu trên cho thấy, việc bổ sung selen vào khẩu phần

ăn trong chăn nuôi là hết sức cần thiết, nhưng phải theo nồng độ nhất định

phù hợp với nhu cầu của từng đối tượng vật nuôi

* Thiếu hụt selen

Thiếu hụt selen ít xảy ra ở người có chế độ dinh dưỡng đầy đủ Nó có thể xảy ra ở các bệnh nhân bị tổn thương đường ruột nghiêm trọng hay ở những người phải trải qua chế độ dinh dưỡng ngoài ruột Ngoài ra, những người phụ thuộc vào thực phẩm gieo trồng trên các vùng đất thiếu hụt selen cũng có thể gặp phải rủi ro này Tại Vương quốc Anh là 75µg/ngày cho đàn ông và 60µg/ngày cho phụ nữ Khuyến cáo 55µg/ngày dựa trên sự thể hiện

đầy đủ của glutathione peroxidase huyết tương

Trang 29

Thiếu hụt selen có thể dẫn tới bệnh Keshan, là bệnh có tiềm năng gây

tử vong Thiếu hụt selen cũng góp phần (cùng thiếu hụt iốt) vào bệnh Beck (Mahan D.C và cs, 2004 [56]) Triệu chứng chính của bệnh Keshan

Kashin-là hoại tử cơ tim, dẫn tới sự suy yếu của tim Bệnh Kashin-Beck tạo ra sự teo dần đi, thoái hóa và hoại tử các mô sụn Bệnh Keshan cũng làm cho cơ thể dễ

bị mắc các bệnh do dinh dưỡng, hóa sinh hay nhiễm trùng

* Vai trò của selen

Selen có vai trò làm tăng khả năng miễn dịch của cơ thể, do nó là chất xúc tác cho quá trình tổng hợp các globulin miễn dịch, làm tăng miễn dịch tế bào, đảm bảo chức năng tiêu hóa lipit của tuyến tụy, tham gia điều khiển sự vận chuyển ion qua màng tế bào Selen có tác dụng bảo vệ màng tế bào chống lại các hiện tượng oxy hóa, ngăn cản sự tạo thành các lipoperoxit, làm chậm quá trình lão hóa và chống lại sự tổn hại của hệ tim mạch Cho tới nay, nhiều nghiên cứu đã chứng minh, thiếu selen sẽ gây nên nhiều bệnh đối với động vật Có thể kể tới một số bệnh như bệnh Keshan, bệnh cơ trắng, bệnh kashin-beck, ung thư, rối loạn nội tiết,… Selen tham gia trong hệ vận chuyển điện tử trong hô hấp tế bào và có tác dụng đệm oxy hóa khử trong tế bào Thiếu selen, cơ thể không tổng hợp được vitamin C

* Nhu cầu selen của gia súc

Các thức ăn hỗn hợp trước đây không bắt buộc phải có tiêu chuẩn về bổ sung selen trong khẩu phần cho gia súc Hơn nữa, quy trình chế biến, vận chuyển, dự trữ thức ăn cũng làm hao hụt một số thành phần dinh dưỡng, đặc biệt

là khoáng và vitamin

Hàm lượng selen trong cơ thể súc vật cũng như trong cơ thể người không ổn định, nhưng nó chỉ dao động trong một giới hạn nhỏ và nó có thể thay đổi ít nhiều tùy thuộc vào khẩu phần selen Đối với vật nuôi, hàm lượng này có thể từ 0,1 - 1mg/kg thức ăn, còn đối với súc vật hoang dã, thì hàm lượng này có thể cao hơn

Trang 30

1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.2.1.1 Tình hình nghiên cứu về vitamin A

Brief S và Chew B P (1985) [36] cho rằng, β - caroten đóng vai trò trong sinh sản độc lập với vitamin A Tác giả đã làm thí nghiệm bằng cách tiêm

β - caroten và thấy rằng việc tăng vitamin A trong huyết tương ở lợn mẹ làm

tăng khả năng sống của bào thai là do nhiều protein đặc hiệu của tử cung được tiết ra (uterine-specific proteins) Bổ sung β - caroten vào khẩu phần ăn không có kết quả có thể do lợn kém hấp thụ β - caroten (Poor C L và cs, 1987 [68])

Lợn có thể dự trữ vitamin A ở gan và sử dụng nó khi nào khẩu phần ăn thiếu vitamin A

Nhu cầu vitamin A phụ thuộc vào nồng độ trong huyết tương, hàm lượng dự trữ trong gan Trong 8 tuần tuổi đầu tiên, lợn cần 75 - 605µg retinol acetat/kg thức ăn tùy thuộc vào chỉ tiêu đáp ứng được sử dụng (Frape D L và

cs, 1959 [40]) Đối với lợn choai đến xuất chuồng, nhu cầu vitamin A biến

động từ 35 - 130µg/kg thức ăn khi chú trọng tới tăng trọng hàng ngày và từ

344 - 930µg/kg thức ăn khi chú trọng đến dự trữ ở gan và áp lực dịch não tủy sống (Ullrey D E và cs 1965 [79]) Sự hiện diện của NO2- hoặc NO3- trong thức ăn hoặc nước uống có thể làm tăng nhu cầu vitamin A (Hutagalung và

cs, 1968 [48]) Braude R và cs (1941) [35] thông báo rằng, lợn nái trưởng thành có thể đẻ 3 lứa bình thường không cần bổ sung vitamin A, chỉ tới lứa thứ tư mới bắt đầu xuất hiện thiếu vitamin Parrish D B và cs (1951) [63] cho rằng, 2100 UI vitamin A/ngày cho lợn nái chửa và nuôi con là đủ để duy trì nồng độ bình thường trong huyết thanh và gan

Thiếu vitamin A ở lợn dẫn đến giảm tăng trọng, mất sự phối hợp đồng

bộ, liệt chi sau, mù, áp lực dịch não tủy sống tăng, hàm lượng vitamin trong huyết tương và dự trữ ở gan giảm (Braude R và cs, 1941 [35])

Trang 31

Các dấu hiệu ngộ độc khi thừa vitamin A gồm lông da xù xì, da đóng vảy, bị kích động mạnh và nhạy cảm khi va chạm, da nứt chảy máu ở móng,

có máu trong nước tiểu và phân, mất khả năng kiểm soát, cơ giật theo chu kỳ (Anderson M D và cs, 1966 [31])

1.2.1.2 Tình hình nghiên cứu về vitamin D

Bethke R M và cs (1946) [32] đã chỉ ra rằng, vitamin D2 và D3 có tác dụng như nhau trong đáp ứng nhu cầu vitamin D ở lợn

Nhu cầu vitamin D của lợn con dùng khẩu phần casein-glucose là 100 UI/kg thức ăn (Miller E R và cs, 1965 [61]) Tác giả cho biết thêm, thiếu vitamin D làm giảm tích lũy Ca, P

Bethke R M và cs (1946) [32] đề xuất nhu cầu vitamin D tối thiểu là

200 UI/kg thức ăn cho lợn choai

Chưa có nghiên cứu về nhu cầu vitamin D ở lợn nái chửa và nái nuôi con Pike W J và cs (1979) [67] đã chứng minh rằng, vitamin D tham gia trong sinh sản và tiết sữa của chuột Tiêm cholecalciferol cho lợn nái trước khi đẻ là cách hữu hiệu để bổ sung cholecalciferol (qua sữa mẹ) truyền cho lợn con qua nhau thai (Goff J P và cs, 1984 [43])

Ở lợn con, thiếu vitamin D gây còi cọc, ở lợn trưởng thành, làm giảm

hàm lượng khoáng trong xương Lợn con cai sữa ngộ độc vitamin D khi hàng ngày ăn 6250µg D3 trong 4 tuần (Quarterman J và cs, 1964 [69]) Mức vitamin D3 này làm giảm lượng thức ăn ăn vào, giảm tăng trọng, khối lượng gan, xương quay, xương trụ Mổ khám thấy canxi hóa ở động mạch chủ, tim, thận, phổi

1.2.1.3 Tình hình nghiên cứu về vitamin E

Trong những năm 1970 đã có nhiều tác giả nghiên cứu về nhu cầu vitamin E ở lợn

Michel R L và cs (1969) [60] đã phòng được cho lợn khỏi bị chết khi cho lợn ăn khẩu phần ngô - khô dầu đậu tương có chứa 5 - 8mg vitamin E/kg

Trang 32

và 0,04 - 0,06mg selen/kg thức ăn Các nghiên cứu trên lợn choai đến xuất chuồng cho thấy, 5mg vitamin E/kg và 0,04mg selen/kg là không đủ cho nhu cầu của lợn và có thể gây tổn thương và chết Tuy nhiên, khi khẩu phần đủ selen, việc bổ sung thêm 10 - 15mg vitamin E/kg đã phòng được tổn thương

và chết, đồng thời giữ được năng suất bình thường (Meyer W R và cs, 1981 [59]) Lượng vitamin E cần thiết để phòng các triệu chứng thiếu vitamin E biến

đổi đáng kể do sự biến động về mức selen (Ullrey D E., 1981 [78]), chất chống

oxy hóa (Simesen M G và cs, 1982 [74]), chất béo (Tiege J 1977 [76]) có trong khẩu phần

Việc bổ sung vitamin E liều cao trong khẩu phần có thể tăng phản ứng miễn dịch (Tiege J., 1977 [76]), mặc dù Bonnette E D và cs (1990) [33] thấy rằng, không có sự tăng phản ứng miễn dịch dịch thể hoặc tế bào ở lợn con khi

ăn vitamin liều cao

Thiếu vitamin E dẫn đến hàng loạt các điều kiện bệnh lý như suy thoái khung xương, cơ tim, tắc nghẽn mạch, sừng hóa dạ dày, loét dạ dày, thiếu máu, hoại tử gan, mỡ vàng và chết bất ngờ (Simesen M G và cs, 1982 [74]) Ngoài ra, vitamin E có thể liên quan đến bệnh viêm vú - tử cung - mất sữa ở lợn nái (Whitehair C K và cs, 1984 [80])

Có các số liệu về nhu cầu vitamin E ở lợn sinh sản Việc truyền tocopheryl từ nhau thai mẹ qua thai rất ít, vì thế đàn con phải dựa vào sữa đầu

và sữa để đáp ứng nhu cầu hàng ngày Lượng vitamin E có trong sữa đầu và sữa phụ thuộc vào vitamin E có trong khẩu phần ăn của lợn mẹ (Mahan D C.,

1991 [54]) Trong đa số các nghiên cứu, khẩu phần có 5 - 7mg vitamin E/kg

và 0,1mg selen vô cơ/kg phòng được thiếu hụt và đảm bảo năng suất sinh sản bình thường Tuy nhiên, nghiên cứu của Mahan D C (1991) [54] cho thấy, lợn nái chửa và nuôi con cần mức vitamin E 44 - 60mg/kg thức ăn để có số con đẻ

ra nhiều nhất và khả năng miễn dịch tối đa

Trang 33

1.2.1.4 Tình hình nghiên cứu về selen

Năm 1971, vai trò của selen trong men glutathione peroxydase được

phát hiện, đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong lịch sử y học

Glutathione peroxydase là men quan trọng trong nhiều quá trình sinh

hóa: trong quá trình chuyển hóa bình thường, tế bào sản xuất các hình thức phản ứng của oxy (peroxit), nếu không thay đổi nó sẽ làm hỏng các axit béo chưa no trong màng tế bào, dẫn đến phá vỡ màng và chức năng tế bào, ảnh hưởng đến sức khỏe động vật (Gates N L và Johnson K A., 1995 [42])

Theo Jeal Paul Cortay Josette Lyon (2003) [12], sự tham gia của selen

vào hoạt động của men glutathione peroxydase khiến nó trở nên có vai trò

sáng chói:

2GSH + H2O2 GSSG + 2H2O Như vậy, enzym này trung hòa nước có oxy (peroxit) trước khi tạo thành các gốc tự do có hại Nó cũng là enzym duy nhất có khả năng tái sử dụng axit béo hư hỏng do các gốc tự do, đặc biệt ở mặt ngoài màng tế bào

Từ các axit béo bị oxy hóa này mà các chất trung gian của quá trình viêm, dị ứng được tạo thành Do đó, selen cũng có vai trò trong hoạt động thay đổi thể dịch của máu và các đáp ứng miễn dịch Trong những chức

năng chống viêm, nó có tác dụng hiệp đồng với glutathione, vitamin E và

các axit béo không no

Những công trình nghiên cứu của Piatkowski và cs (1979) [65] trên lợn

đã khẳng định mối tương quan giữa hoạt độ men với hàm lượng selen trong

máu: hàm lượng selen trong máu ở trong một ngưỡng nhất định, từ 0,1 - 2mg Se/ngày, đến hàm lượng đó thì hoạt động của men đạt cực đại, dưới ngưỡng

đó, hoạt động của men giảm Nếu hàm lượng selen trong máu vượt quá

ngưỡng thì hoạt động của men không tăng

Selen có vai trò quan trọng đối với con người và động vật

GPX

Trang 34

Năm 1996, mối tương quan thực sự giữa nhu cầu bổ sung selen và ngăn ngừa ung thư ở người đã được nghiên cứu Các nghiên cứu của Fleet J C (1997) [38] đã chỉ ra rằng, hàm lượng selen trong chế độ ăn uống của người thấp có liên quan với tỷ lệ ung thư cao hơn

Qua 25 nghiên cứu, Flores-Mateo G và cs (2006) [39] báo cáo rằng, những người có nồng độ selen trong máu thấp có nguy cơ mắc bệnh tim mạch cao

Một kết quả nghiên cứu mới công bố của Đại học Y tế Công cộng Harvard - Hoa Kỳ cho thấy, một loại vitamin tổng hợp (Multivitamin) chứa selen có thể giúp làm chậm quá trình phát triển của bệnh HIV thành AIDS ở những người nhiễm HIV mà chưa được điều trị bằng thuốc kháng virus (ARV) (Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ, ACĐ0214, 2014 [84])

Leite H P và cs (2015) [52] đã nghiên cứu và đánh giá các tác động của selen trong huyết tương vào kết quả điều trị của những trẻ em bị viêm cấp tính nặng Tác giả cho rằng, việc bổ sung selen có thể có lợi cho trẻ em trong trường hợp mắc bệnh nặng

Điều tra dịch tễ học đã chứng minh rằng, thiếu hụt selen trong cơ thể

người có thể góp phần làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư đại tràng, ung thư

dạ dày, ung thư phổi và ung thư tuyến tiền liệt cũng như các bệnh của hệ thống tim mạch, xương và thần kinh Ngoài các hoạt động chống oxy hóa ngăn ngừa bệnh ung thư, selen giúp bảo vệ cơ thể chống lại tác động có hại của các kim loại nặng và tăng cường các hoạt động của hệ thống miễn dịch

Trang 35

Salimian J và cs (2014) [73] cho biết, độc tố T-2 toxin là loại độc tố mạnh, có ảnh hưởng nghiêm trọng tới hệ thống miễn dịch của cơ thể người và

động vật Do đó, tác giả đã nghiên cứu tác dụng điều hòa miễn dịch của selen

và vitamin E vào sự thay đổi của hệ thống miễn dịch ở chuột gây ra bởi T-2 toxin Tác giả kết luận rằng, so với vitamin E, selen có ảnh hưởng tốt hơn trong việc chống lại tác động có hại của T-2 toxin đối với các tế bào lympho T của hệ thống miễn dịch

He Y và cs (2014) [46] cho biết, ở gà thịt, 0,3mg aflatoxin B1/kg thức

ăn có thể làm giảm chức năng miễn dịch tế bào của niêm mạc hồi tràng,

nhưng khi bổ sung 0,4mg Se/kg thức ăn đã cho thấy tác dụng bảo vệ các tế bào miễn dịch trước tác hại của aflatoxin B1 gây ra

Các thử nghiệm trên gà thịt của Lee S H và cs (2014) [50] đã chỉ ra rằng, nếu tiêm selen vào khoang ối của phôi trứng đang phát triển có thể có lợi cho việc tăng cường phản ứng miễn dịch và chống oxy hóa cho gà mới nở khi tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh hoại tử ruột

Các kết quả của nghiên cứu của El-Boshy M E và cs (2015) [37] đã chứng minh được tác dụng bảo vệ của selenium chống ngộ độc cadmium ở chuột

O'Brien T và cs (2015) [62] đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung vitamin E hoặc selen đối với hệ thống miễn dịch của mèo Tác giả cho biết, khi

bổ sung 0,225mg vitamin E/kg thức ăn hoặc 0,2mg Se/kg thức ăn cho mèo sẽ

có tác dụng tốt đối với chức năng miễn dịch ở mèo bằng cách tăng hoạt động thực bào của cơ thể

Ảnh hưởng của việc bổ sung selen vào thức ăn cho gia cầm đã được

Habibian M và cs (2015) [45] nghiên cứu và công bố: selen có ảnh hưởng rất tốt trong việc cải thiện quá trình thu nhận thức ăn của gia cầm, tăng khối lượng, tăng hiệu quả của thức ăn, tăng năng suất và chất lượng trứng và cải thiện đáng kể tình trạng gia cầm bị stress nhiệt Đồng thời, hợp chất selen cũng cải thiện phản ứng miễn dịch bằng cách thay đổi việc sản xuất các

Trang 36

cytokine nào đó được tiết ra bởi các tế bào của hệ thống miễn dịch và tăng cường sức đề kháng của tế bào miễn dịch

Selen có vai trò quan trọng trong các hoạt động của hệ thống sinh sản Reid S M và cs (2010) [70] cho biết, ở người, việc bổ sung

selenomethionine cho phụ nữ mang thai có hiệu quả trong việc giảm viêm

tuyến giáp sau sinh Theo Pieczyńska J và Grajeta H (2015) [66], thiếu selen

có thể dẫn đến các biến chứng cho thai nhi, sảy thai và ảnh hưởng không tốt tới hệ thống thần kinh và hệ miễn dịch của thai nhi Sự thiếu hụt selen cũng

có thể gây vô sinh ở nam giới bằng cách gây suy giảm chất lượng của tinh dịch và hoạt động của tinh trùng Vì vậy, cần phải bổ sung một lượng selen hợp lý trong thời kỳ sinh sản của cả phụ nữ và nam giới

Khi nghiên cứu trên chuột, Zhang Z và cs (2015) [81] kết luận rằng, thiếu hụt selen làm cho tỷ lệ viêm nhiễm tử cung ở chuột sinh sản tăng lên

Do đó, việc bổ sung hàm lượng selen thích hợp có thể tăng cường miễn dịch

đối với tử cung của chuột

Hidiroglou (1970) [47] cho biết, selen rất dễ qua nhau thai vào bào thai Khi nghiên cứu sự phân bố selen trong từng bộ phận của thai bò, thấy hàm lượng nguyên tố này phân bố cũng tương tự như đối với súc vật trưởng thành Selen qua được nhau thai vào bào thai, nhưng chính nhau thai lại có hàm lượng thấp

Một công trình nữa đã chứng minh sự vận chuyển của selen qua nhau thai vào bào thai là nghiên cứu của Bou-Reslimn và cs (2001) [34] trên thai chuột cho thấy, có sự tăng liên tục về nồng độ selen trong nhau thai và đầu thai, mặc dù không có ý nghĩa thống kê nhưng có thể thấy, thai được cung cấp selen từ máu mẹ và một phần vào việc cung cấp hormone tuyến giáp, đây là hormone quan trọng trong sự phát triển của não bộ

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, với hàm lượng selen ở mức 10 - 15mg/kg thức ăn cho lợn thì tỷ lệ đậu thai giảm xuống, số lợn con chết yểu

Trang 37

và số bào thai chết tăng lên Khi thêm 1 - 25mg selen, Khartlei (1997) đã xác định giảm tỷ lệ đậu thai ở cừu, cùng thời gian đó Glenn và nhiều tác giả khác không ghi nhận được hiện tượng vô sinh với liều cận gây độc của chất này Ở gia cầm đẻ trứng, hàm lượng selen trong khẩu phần ăn là 5mg/kg thức ăn sẽ làm giảm tỷ lệ nở, còn nếu trong khẩu phần ăn hàm lượng selen là 10mg/kg cho gà ăn trong vài tuần sẽ xảy ra hiện tượng 100%

gà không nở được (Э.Bизнер, 1976 [82])

Sau rất nhiều nghiên cứu, Piatkowski năm 1979 [65] đã đưa ra kết luận: Khi con vật có chửa, hàm lượng selen giảm nhiều trong máu, sau đó là trong gan, tình trạng này làm giảm sức chống đỡ của cơ thể đối với bệnh tật Trong ngành chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn, rất cần bổ sung thêm selen vào khẩu phần ăn của gia súc có chửa

Simesen M G và cs (1982) [74] cho biết bổ sung selen hợp lý sẽ điều trị rối loạn sinh sản, tăng sản lượng sữa, nâng cao khả năng miễn dịch

Lutter (1993) [16] thông báo: chế phẩm Orgamin có chứa selen với hàm lượng 5g/con có tác dụng tốt tới việc phòng bệnh đường tiêu hóa

Jean Paul Cortay và Josette Lyon (2003) [12] đã phát hiện ra vai trò của selen trong quá trình chống lại các gốc tự do, biến nó trở thành ngôi sao mới của nhu cầu bổ sung muối khoáng Tuy nhiên, trên nguyên tắc, nó cũng có trong danh sách những chất độc Điều này chỉ xảy ra khi sử dụng với liều rất cao

Liu G và cs (2015) [53] cho biết, khi bổ sung selen vào khẩu phần ăn cho lợn sẽ làm giảm đáng kể tổn thương do Porcine circovirus type 2 gây ra

Nghiên cứu của Mahan D C và cs (2004) [56] chỉ ra rằng, việc bổ sung selen hữu cơ cho lợn nái sẽ có sự chuyển giao selen cho sữa non, mô

và lợn con sơ sinh nhiều hơn so với lợn nái được bổ sung selen vô cơ

Greg Simpson (2003) [44] đã chỉ ra rằng, các triệu chứng điển hình khi thiếu hụt selen của lợn cũng giống như các triệu chứng do thiếu vitamin E, bao gồm các chứng loạn dưỡng cơ, bắp thịt xanh tái, xuất huyết nhỏ trong cơ tim và hoại tử gan

Trang 38

John C Rea (1996) [13] ghi rõ: nhu cầu bổ sung selen do Cục quản lý

Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) có quy định: 0,3ppm selen cho lợn

cai sữa đến 40kg, 0,1ppm selen cho lợn từ 40kg đến xuất chuồng và lợn sinh sản

Theo Hội đồng nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ (2000) [11], nhu cầu selen của lợn nái chửa là 0,46ppm/ngày, của lợn nái nuôi con là 0,8ppm/ngày

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Lâm Trần Khanh và cs (2011) [14] cho biết, vitamin đóng vai trò rất quan trọng trong dinh dưỡng lợn nái nuôi con Thiếu chúng thì quá trình trao

đổi chất bị trở ngại, lợn mẹ dễ mắc bệnh, sản lượng và chất lượng sữa kém

Ngọc Hạnh (2014) [83] đã nêu rõ, vitamin E có tác dụng chống oxy hóa

và có tác dụng trong việc hỗ trợ prostaglandin Đối với lợn nái từ lứa thứ 5

được bổ sung vitamin E với liều lượng thích hợp sẽ giúp tăng số lợn con đẻ

ra/lứa, giảm số lợn nái mắc hội chứng MMA, giúp lợn nái tăng khả năng miễn dịch và hỗ trợ lợn con chống lại chứng thiếu vitamin thông qua sữa mẹ Tác giả nêu thêm, bổ sung vitamin A có tác dụng trong việc duy trì các tế bào biểu

mô, tăng trọng, hỗ trợ tiết các chất đạm đặc biệt trong tử cung, duy trì ổn định trong suốt quá trình lợn nái mang thai Việc tiêm bổ sung vitamin A và β-caroten sẽ làm tăng số lợn con đẻ ra/lứa và giàm số lợn con chết/lứa

Đàm Trung Bảo, Đặng Hồng Thúy (1983) [1] đã nghiên cứu hàm lượng

selen trong máu người Việt Nam và đưa ra kết luận: hàm lượng selen trong máu người Việt Nam khỏe mạnh khoảng 0,4mg/kg Nhưng hàm lượng selen trong máu các sản phụ chỉ bằng một nửa so với người khỏe mạnh Đây có thể được coi là nghiên cứu đầu tiên về selen trong cơ thể người ở Việt Nam

Tại Việt Nam, một số nghiên cứu của Lê Văn Giang trên trẻ em từ 7

-10 tuổi cho thấy, trẻ có hàm lượng selen huyết thanh thấp chiếm 75,6% Các nghiên cứu đều cho thấy, có mối liên quan giữa hàm lượng selen huyết thanh

Trang 39

thấp và tình trạng thiếu máu ở trẻ (Lê Văn Giang và cs, 2014a [7]; Lê Văn Giang và cs, 2014b [8])

Theo Nguyễn Ý Đức (2005) [6], selen là một chất chống oxy hoá giúp

cơ thể ngăn chặn được ung thư, trì hoãn tiến trình lão hoá và các bệnh thoái hoá Selen rất cần thiết cho hệ thống miễn dịch và hoạt động của cơ tim, giúp cân bằng hormone và tạo ra chất prostaglandin, làm da và tóc khoẻ mạnh

Theo Lê Thị Ngọc Diệp và Bùi Thị Tho (2006) [4], cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc của Mỹ (FDA) (năm 1974) cho phép bổ sung 0,1ppm selen trong khẩu phần ăn của lợn Năm 1982, FDA chấp nhận cho phép bổ sung 0,3ppm với lợn con đến 40kg/con Điều luật hiện hành của FDA (1987) vẫn cho phép bổ sung 0,3ppm cho mọi loại lợn Để tránh ô nhiễm môi trường, Ullrey D E (1992) [77] đề nghị giảm mức selen xuống còn 0,1ppm, song mức 0,3ppm vẫn đang được sử dụng ở nhiều nước

Nghiên cứu của Nguyễn Phước Tương (1994) [30]: yêu cầu bổ sung hàm lượng selen vào khẩu phần ăn hàng ngày của vật nuôi như sau: với gia súc là 0,1ppm, với gà là 0,25ppm để phòng bệnh do thiếu selen

Khi nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Phar - selenzym trong khẩu phần ăn đến khả năng sản xuất của lợn nái và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt, Hoàng Thị Giang (2010) [9] cho biết, bổ sung chế phẩm cho lợn nái mang thai từ ngày chửa thứ 85 và ngày chửa thứ 100 đến khi đẻ, nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái, giảm tỷ lệ mắc bệnh sản khoa sau đẻ, rút ngắn thời gian động dục trở lại sau cai sữa Tác giả cũng cho biết thêm, chế phẩm còn

có tác dụng tăng sức đề kháng, tăng khả năng sinh trưởng của lợn con, giảm tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng lợn và giảm được chi phí chăn nuôi

Kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Hiền Lương và Hoàng Thị Giang (2010) [17] cho thấy, lợn nái được bổ sung chế phẩm sinh học Phar - selenzym tăng khả năng sinh sản: khối lượng lợn con sơ sinh tăng 0,12 -

Trang 40

0,16kg/con, khối lượng lợn con cai sữa/ổ tăng 7,08 - 7,88kg, lợn nái động dục trở lại sau cai sữa sớm hơn đối chứng 2,2 - 3,5 ngày Tác giả cũng đã kết luận rằng, lợn con sinh ra từ những lợn nái được bổ sung chế phẩm tăng trưởng nhanh hơn Cụ thể, khối lượng lợn con lúc 60 ngày tuổi ở lô thí nghiệm cao hơn lô đối chứng 1,05 - 1,21kg/con (P < 0,05), tỷ lệ lợn con mắc bệnh tiêu chảy thấp hơn đối chứng 21,23 - 30,24% (P < 0,05)

Phạm Thị Hiền Lương và Phan Đình Thắm (2012) [18] cho biết, bổ sung chế phẩm sinh học Phar - selenzym vào khẩu phần ăn cho lợn con cai sữa 21 ngày tuổi, giống CP 909 với mức 1g/5kg khối lượng, trong 15 - 30 ngày có tác dụng tăng khả năng sinh trưởng của lợn 4,51 - 6,19% (P < 0,05), giảm tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng từ 0,07 - 0,1kg, tăng khả năng kháng bệnh của lợn từ 10 - 40%, giảm 5,23 - 6,23% chi phí thức ăn và thuốc thú y so với đối chứng

1.2.3 Thông tin về chế phẩm ADE - selplex

Chế phẩm ADE - selplex do Công ty TNHH Thuốc Thú y Việt Nam sản xuất Đây là một công ty có uy tín trên thị trường không chỉ bởi các sản phẩm sản xuất ra, tiêu thụ mạnh mà còn do công ty có nhiều hoạt

động phổ biến kiến thức, điều trị thú y cho bà con chăn nuôi Năm 2013,

công ty đã cho ra đời chế phẩm ADE - selplex nhằm phục vụ công tác chăn nuôi lợn, đáp ứng những tiến bộ của nền nông nghiệp Tuy nhiên, một chế phẩm mới ra đời đòi hỏi phải có sự kiểm chứng trong chăn nuôi

để tạo chỗ đứng trên thị trường

Ngày đăng: 24/03/2016, 09:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đàm Trung Bảo, Đặng Hồng Thúy (1983), Selen trong y học, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Selen trong y học
Tác giả: Đàm Trung Bảo, Đặng Hồng Thúy
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 1983
2. Vũ Trọng Bình, Đào Đức Huấn, Nguyễn Mạnh Cường (2014), “Chính sách phát triển chăn nuôi ở Việt Nam, thực trạng, thách thức và chiến lược đến 2020”, Trung tâm Phát triển nông thôn - Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển NNNT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách phát triển chăn nuôi ở Việt Nam, thực trạng, thách thức và chiến lược đến 2020”
Tác giả: Vũ Trọng Bình, Đào Đức Huấn, Nguyễn Mạnh Cường
Năm: 2014
3. Trần Văn Cừ, Nguyễn Khắc Khôi (1985), Cơ sở sinh học và biện pháp nâng cao năng suất của lợn, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở sinh học và biện pháp nâng cao năng suất của lợn
Tác giả: Trần Văn Cừ, Nguyễn Khắc Khôi
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 1985
4. Lê Thị Ngọc Diệp và Bùi Thị Tho (2006), Độc chất học thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độc chất học thú y
Tác giả: Lê Thị Ngọc Diệp và Bùi Thị Tho
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
5. Phạm Hữu Doanh và Lưu kỷ (2003), Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Phạm Hữu Doanh và Lưu kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
7. Lê Văn Giang, Nguyễn Văn Nhiên và Nguyễn Công Khẩn (2014a), “Tình trạng dinh dưỡng và thiếu máu ở học sinh tiểu học 7 - 10 tuổi thuộc 4 trường tiểu học huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí Y học Thực hành, 922: 5 - 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng và thiếu máu ở học sinh tiểu học 7 - 10 tuổi thuộc 4 trường tiểu học huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên”, "Tạp chí Y học Thực hành
8. Lê Văn Giang, Nguyễn Văn Nhiên và Nguyễn Công Khẩn (2014b), “Hiệu quả của bổ sung phối hợp sắt với selen trên học sinh tiểu học 7 - 10 tuổi bị thiếu máu tại 2 xã thuộc tỉnh Thái Nguyên”, Tạp chí Y học Thực hành, 923: 102 - 105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả của bổ sung phối hợp sắt với selen trên học sinh tiểu học 7 - 10 tuổi bị thiếu máu tại 2 xã thuộc tỉnh Thái Nguyên”, "Tạp chí Y học Thực hành
9. Hoàng Thị Giang (2010), “Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Pharselenzym trong khẩu phần ăn đến khả năng sản xuất của lợn nái và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt”, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Nông nghiệp - Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Pharselenzym trong khẩu phần ăn đến khả năng sản xuất của lợn nái và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt”
Tác giả: Hoàng Thị Giang
Năm: 2010
10. Hội chăn nuôi Việt Nam (2004), Cẩm nang chăn nuôi gia súc - gia cầm, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi gia súc - gia cầm
Tác giả: Hội chăn nuôi Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
11. Hội đồng nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ, Nhu cầu dinh dưỡng của lợn (2000), Dịch giả Trần Trọng Chiển, Lã Văn Kính, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu dinh dưỡng của lợn
Tác giả: Hội đồng nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ, Nhu cầu dinh dưỡng của lợn
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2000
12. Jeal Paul Cortay Josette Lyon (2003), Bách khoa toàn thư về vitamin, muối khoáng và các yếu tố vi lượng, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bách khoa toàn thư về vitamin, muối khoáng và các yếu tố vi lượng
Tác giả: Jeal Paul Cortay Josette Lyon
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2003
13. John C. Rea (1996), Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp
Tác giả: John C. Rea
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
14. Lâm Trần Khanh, Nguyễn Danh Phương, Lê Công Hùng (2011), Giáo trình Mô đun xác định nhu cầu dinh dưỡng vật nuôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tr. 67 - 72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Mô đun xác định nhu cầu dinh dưỡng vật nuôi
Tác giả: Lâm Trần Khanh, Nguyễn Danh Phương, Lê Công Hùng
Năm: 2011
15. Nguyễn Quang Linh (2005), Giáo trình Kỹ thuật chăn nuôi lợn, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguyễn Quang Linh
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2005
16. Lutter (1993), “ Sử dụng Ogramin cho lợn con phân trắng”, Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y, (3), tr. 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sử dụng Ogramin cho lợn con phân trắng”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Lutter
Năm: 1993
17. Phạm Thị Hiền Lương và Hoàng Thị Giang (2010), “Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Pharselenzym trong khẩu phần ăn đến một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Yorkshire nuôi tại nông hộ”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 76 (14): 84 - 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Pharselenzym trong khẩu phần ăn đến một số chỉ tiêu sinh sản của lợn nái Yorkshire nuôi tại nông hộ”, "Tạp chí Khoa học và Công nghệ
Tác giả: Phạm Thị Hiền Lương và Hoàng Thị Giang
Năm: 2010
18. Phạm Thị Hiền Lương và Phan Đình Thắm (2012), “Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Pharselenzym đến khả năng sinh trưởng của lợn và thành phần hóa học sản phẩm thịt”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi, số 12: 11 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của chế phẩm sinh học Pharselenzym đến khả năng sinh trưởng của lợn và thành phần hóa học sản phẩm thịt”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi
Tác giả: Phạm Thị Hiền Lương và Phan Đình Thắm
Năm: 2012
19. Lê Hồng Mận (2002), Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ, Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ
Tác giả: Lê Hồng Mận
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2002
20. Lê Hồng Mận, Xuân Giao (2001), Chăn nuôi nái siêu nạc, Nxb Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi nái siêu nạc
Tác giả: Lê Hồng Mận, Xuân Giao
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2001
21. Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo (2004), Giáo trình Chăn nuôi lợn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chăn nuôi lợn
Tác giả: Trần Văn Phùng, Từ Quang Hiển, Trần Thanh Vân, Hà Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Hàm lượng vitamin A, D, E và selen   trong 1kg thức ăn của lợn thí nghiệm - Ảnh hưởng của chế phẩm ADE  selplex đến khả năng sinh sản của lợn nái ngoại và sinh trưởng của lợn con theo mẹ tại trang trại lợn Phùng Xuân Hà  tỉnh Yên Bái
Bảng 2.1. Hàm lượng vitamin A, D, E và selen trong 1kg thức ăn của lợn thí nghiệm (Trang 43)
Bảng 2.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (lặp lại 3 lần) - Ảnh hưởng của chế phẩm ADE  selplex đến khả năng sinh sản của lợn nái ngoại và sinh trưởng của lợn con theo mẹ tại trang trại lợn Phùng Xuân Hà  tỉnh Yên Bái
Bảng 2.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm (lặp lại 3 lần) (Trang 45)
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của chế phẩm ADE - selplex đến - Ảnh hưởng của chế phẩm ADE  selplex đến khả năng sinh sản của lợn nái ngoại và sinh trưởng của lợn con theo mẹ tại trang trại lợn Phùng Xuân Hà  tỉnh Yên Bái
Bảng 3.1. Ảnh hưởng của chế phẩm ADE - selplex đến (Trang 51)
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của chế phẩm ADE - selplex - Ảnh hưởng của chế phẩm ADE  selplex đến khả năng sinh sản của lợn nái ngoại và sinh trưởng của lợn con theo mẹ tại trang trại lợn Phùng Xuân Hà  tỉnh Yên Bái
Bảng 3.2. Ảnh hưởng của chế phẩm ADE - selplex (Trang 54)
Bảng 3.4. Một số chỉ tiêu sinh lý máu của lợn nái thí nghiệm sau đẻ 20 ngày - Ảnh hưởng của chế phẩm ADE  selplex đến khả năng sinh sản của lợn nái ngoại và sinh trưởng của lợn con theo mẹ tại trang trại lợn Phùng Xuân Hà  tỉnh Yên Bái
Bảng 3.4. Một số chỉ tiêu sinh lý máu của lợn nái thí nghiệm sau đẻ 20 ngày (Trang 58)
Bảng 3.6. Kết quả phòng và trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con thí nghiệm  STT  Chỉ tiêu theo dõi  ĐVT  Lô ĐC  Lô TN1  Lô TN2 - Ảnh hưởng của chế phẩm ADE  selplex đến khả năng sinh sản của lợn nái ngoại và sinh trưởng của lợn con theo mẹ tại trang trại lợn Phùng Xuân Hà  tỉnh Yên Bái
Bảng 3.6. Kết quả phòng và trị hội chứng tiêu chảy ở lợn con thí nghiệm STT Chỉ tiêu theo dõi ĐVT Lô ĐC Lô TN1 Lô TN2 (Trang 63)
Bảng 3.8. Khối lượng lợn con thí nghiệm qua các kỳ cân (kg) - Ảnh hưởng của chế phẩm ADE  selplex đến khả năng sinh sản của lợn nái ngoại và sinh trưởng của lợn con theo mẹ tại trang trại lợn Phùng Xuân Hà  tỉnh Yên Bái
Bảng 3.8. Khối lượng lợn con thí nghiệm qua các kỳ cân (kg) (Trang 67)
Đồ thị hình 3.1. - Ảnh hưởng của chế phẩm ADE  selplex đến khả năng sinh sản của lợn nái ngoại và sinh trưởng của lợn con theo mẹ tại trang trại lợn Phùng Xuân Hà  tỉnh Yên Bái
th ị hình 3.1 (Trang 69)
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con qua các giai đoạn - Ảnh hưởng của chế phẩm ADE  selplex đến khả năng sinh sản của lợn nái ngoại và sinh trưởng của lợn con theo mẹ tại trang trại lợn Phùng Xuân Hà  tỉnh Yên Bái
Hình 3.2. Biểu đồ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con qua các giai đoạn (Trang 72)
Bảng 3.10. Sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm (%) - Ảnh hưởng của chế phẩm ADE  selplex đến khả năng sinh sản của lợn nái ngoại và sinh trưởng của lợn con theo mẹ tại trang trại lợn Phùng Xuân Hà  tỉnh Yên Bái
Bảng 3.10. Sinh trưởng tương đối của lợn con thí nghiệm (%) (Trang 73)
Bảng 3.11. Tiêu tốn thức ăn tập ăn/kg tăng khối lượng - Ảnh hưởng của chế phẩm ADE  selplex đến khả năng sinh sản của lợn nái ngoại và sinh trưởng của lợn con theo mẹ tại trang trại lợn Phùng Xuân Hà  tỉnh Yên Bái
Bảng 3.11. Tiêu tốn thức ăn tập ăn/kg tăng khối lượng (Trang 74)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w