1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò rachycentron canadum (linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi

86 616 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 5,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG ------ CAO MINH NGỰ NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN, ĐỘ MẶN VÀ MẬT ĐỘ ĐẾN SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ GIÒ RACHYCENTRON CANADUM L

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

- -

CAO MINH NGỰ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN, ĐỘ MẶN VÀ MẬT ĐỘ ĐẾN SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ GIÒ

RACHYCENTRON CANADUM (LINNAEUS, 1766)

GIAI ĐOẠN MỚI NỞ ĐẾN 30 NGÀY TUỔI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

KHÁNH HÒA - 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG

- -

CAO MINH NGỰ

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN, ĐỘ MẶN VÀ MẬT ĐỘ ĐẾN SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG CỦA CÁ GIÒ

RACHYCENTRON CANADUM (LINNAEUS, 1766)

GIAI ĐOẠN MỚI NỞ ĐẾN 30 NGÀY TUỔI

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Các thông tin tham khảo trong và ngoài nước được chú thích đầy đủ

và trích dẫn rõ ràng khi sử dụng

Nha Trang, Ngày 14 tháng 10 năm 2015

Tác giả

Cao Minh Ngự

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước hết, tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến Ban Giám hiệu, Viện Nuôi trồng Thủy sản Trường Đại học Nha Trang, là nơi tôi đã được học tập, rèn luyện và tu dưỡng trong suốt những năm tháng học Đại học và Cao học vừa qua

Xin bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy giáo hướng dẫn TS Nguyễn Địch Thanh về sự dìu dắt, động viên và những lời khuyên quý báu trong suốt thời gian tôi học tập cũng như tiến hành thí nghiệm và hoàn thành luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng tri ân các Thầy Cô trong Viện Nuôi trồng Thủy sản- Trường Đại học Nha Trang đã tận tâm giảng dạy, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập ở lớp cao học nuôi trồng thủy sản 2013-2015

Xin được cám ơn tới ban lãnh đạo và đồng nghiệp ở Thanh tra Sở Nông Nghiệp

và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Khánh Hòa đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi có thể hoàn thành khóa học

Đặc biệt là lời biết ơn đến gia đình đã động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều cả về vật chất và tinh thần trong suốt những năm tháng học tập cũng như nghiên cứu thực hiện

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN iii

LỜI CẢM ƠN iv

MỤC LỤC v

DANH MỤC BẢNG viii

DANH MỤC HÌNH ix

CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT x

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN xi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số đặc điểm sinh học chủ yếu của cá giò 4

1.1.1 Đặc điểm hình thái và vị trí phân loại 4

1.1.1.1 Đặc điểm sinh thái 4

1.1.1.2 Vị trí phân loại .5

1.1.2 Đặc điểm phân bố 5

1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng 6

1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng 6

1.1.5 Đặc điểm sinh sản 7

1.1.6 Khả năng thích ứng với điều kiện môi trường 8

1.1.6.1 Nhiệt độ 8

1.1.6.2 Độ mặn 8

1.1.6.3 Các yếu tố môi trường khác 9

1.2.Tình hình sản xuất giống cá giò trên thế giới và Việt Nam 9

1.2.1 Trên thế giới 9

1.2.2 Ở Việt Nam 11

1.2.2.1 Sản xuất giống cá giò trong bể xi măng 12

1.2.2.2 Ương nuôi giống cá giò trong ao đất 12

1.3 Những nghiên cứu về khả năng thích nghi của cá giò với độ mặn .13

1.4 Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn 14

1.4.1 Nhu cầu về protein 14

1.4.2 Nhu cầu Lipit và các acid béo không no 15

Trang 6

1.4.3 Nhu cầu về tỷ lệ protein/lipid của cá 18

1.4.4 Nghiên cứu về thức ăn ương nuôi của cá giò 18

1.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đối với ương nuôi cá giống 21

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu 22

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 22

2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 24

2.3 Quản lý và chăm sóc 25

2.3.1 Thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn 25

2.3.1.1 Nguồn cung cấp thức ăn tươi sống 27

2.3.1.2 Phương pháp làm giàu thức ăn sống 28

2.3.2 Thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn 29

2.3.3 Thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ 29

2.4 Xác định các yếu tố môi trường và một số tiêu chí khác 30

2.4.1 Xác định các yếu tố môi trường 30

2.4.2 Xác định một số chỉ tiêu 31

2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 31

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32

3.1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá giò trong giai đoạn từ mới nở đến 30 ngày tuổi 32

3.1.1 Kết quả quản lý môi trường trong bể thí nghiệm 32

3.1.2 Kết quả thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá giò 32

3.2 Ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá giò giai đoạn mới nở đên 30 ngày tuổi 36

3.2.1 Các yếu tố môi trường bể ương thí nghiệm độ mặn 36

3.2.2 Thức ăn cho ấu trùng cá giò trong thí nghiệm độ mặn 37

3.2.3 Ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng của cá giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi 37 3.3 Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá giò giai đoạn mới nở

Trang 7

3.3.1 Các yếu tố môi trường, thức ăn và chế độ cho ăn trong thời gian thí nghiệm 41

3.3.2 Tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá giò gia đoạn mới nở đến 10 ngày tuổi ở các nghiệm thức ảnh hưởng của mật độ 41

3.3.3 Tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá giò gia đoạn 10 ngày đến 20 ngày tuổi ở các nghiệm thức ảnh hưởng của mật độ 43

3.3.4 Tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá giò gia đoạn 20 ngày đến 30 ngày tuổi ở các nghiệm thức ảnh hưởng của mật độ .44

CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 48

4.1 Kêt Luận 48

4.2 Đề xuất ý kiến 48

DANH MỤC TÀI IỆU THAM KHẢO 49 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Ương cá giò trong bể xi măng tại Cát Bà 12

Bảng 1.2: Kết quả ương cá giò ở một số trại nuôi 13

Bảng 1.3 Nhu cầu dinh dưỡng cá giò 15

Bảng 3.1 Diễn biến các yếu tố môi trường nghiệm thức thức ăn 32

Bảng 3.2 Tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá giò gia đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi ở các nghiệm thức ảnh hưởng của thức ăn 34

Bảng 3.3: Diễn biến các yếu tố môi trường bể thí nghiệm độ mặn 36

Bảng 3.4 Tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá giò gia đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi ở các nghiệm thức ảnh hưởng của độ mặn 38

Bảng 3.5 Một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm 41

Bảng: 3.6 Tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá giò gia đoạn mới nở đến 10 ngày tuổi ở các nghiệm thức ảnh hưởng của mật độ 41

Bảng: 3.7 Tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá giò gia đoạn 10 ngày đến 20 ngày tuổi ở các nghiệm thức ảnh hưởng của mật độ 43

Bảng: 3.8 Tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá giò gia đoạn 20 ngày đến 30 ngày tuổi ở các nghiệm thức ảnh hưởng của mật độ 45

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Hình dạng ngoài của cá giò 4

Hình 1.2: Phân bố tự nhiên của cá giò trên thế giới 5

Hình 1.3: Cá giò giống ăn thịt lẫn nhau 6

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 22

Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung thí nghiệm thức ăn 23

Hình 2.3: Sơ đồ khối nội dung thí nghiệm độ mặn 23

Hình 2.4: Sơ đồ khối nội dung thí nghiệm mật độ 24

Hình 2.5 Phân loại cá dùng cho thí nghiệm 24

Hình 2.6: Đo chiều dài cá trước và sau thí nghiệm 25

Hình 2.7:Cá bị dị hình và cá ăn nhau 25

Hình 2.8: Sơ đồ cung cấp thức ăn ở các nghiệm thức thí nghiệm 26

Hình 3.1 Tăng trưởng của ấu trùng cá giò trong các nghiệm thức thức ăn 33

Hình 3.2 Tỷ lệ sống của cá ở thí nghiệm thức ăn 35

Hình 3.3 Tỷ lệ sống của cá giò ở thí nghiệm độ mặn 39

Hình 3.4 Tỷ lệ sống của cá giò gia đoạn mới nở đến 10 ngày tuổi ở các nghiệm thức ảnh hưởng của mật độ 42

Hình: 3.5 Tỷ lệ sống của cá giò gia đoạn 10 ngày đến 20 ngày tuổi ở các nghiệm thức ảnh hưởng của mật độ 44

Hình 3.6 Tỷ lệ sống của cá giò gia đoạn 20 ngày đến 30 ngày tuổi ở các nghiệm thức ảnh hưởng của mật độ 46

Trang 10

CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DHA : Docosahexaenoic acid (22:6n-3)

DLG : Daily Length Gain (Tốc độ sinh trưởng hàng ngày về chiều dài)

DWG : Daily Weight Gain (Tốc độ sinh trưởng hàng ngày về khối lượng) EPA : Eicosapentaenoic acid (20:5n-3)

FAO : Food and Agriculture Organization (Tổ chức Nông Lương của LHQ) HUFA : Highly Unsaturated Fatty Acid (Acid béo không no trong mạch có từ 4-6 nối đôi)

L1, L2 : Chiều dài của cá lúc bắt đầu và kết thúc thí nghiệm

mm : Milimet

NT : Nghiệm thức

ppt : Phần ngàn

SD : Standard Deviation (Độ lệch chuẩn)

SE : Standard Error (Sai số chuẩn)

SGR : Specific Growth Rate (Tốc độ tăng trưởng đặc trưng)

TATH : Thức ăn tổng hợp

TB : Trung bình

TLS : Tỷ lệ sống

Trang 11

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống

của cá giò Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày

được thức hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2015 đến ngày 01 tháng 8 năm 2015 nghiên cứu nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá giò trong bể xi măng Các thí nghiệm được bố trí như sau:

Thí nghiệm thức ăn với 03 nghiệm thức như sau: nghiệm thức 1 Tảo + Luân

trùng + Artermia + TATH, nghiệm thức 2 Tảo + Luân trùng + Artermia + copepoda + TATH, nghiệm thức 3 Tảo + ấu trùng copepoda + copepoda + TATH Mỗi nghiệm

thức lặp lại 03 lần, cá đưa vào thí nghiệm có chiều dài trung bình 4,18 ± 0,25 mm, mật

độ 5 cá thể/lít Trong quá trình thí nghiệm các yếu tố môi trường ổn định và thuận lợi cho ấu trùng cá giò phát triển Kết thúc thí nghiệm thu được kết quả như sau: Ấu trùng

cá giò giai đoạn từ mới nở đến 30 ngày tuổi khi sử dụng thức ăn là Tảo, Luân trùng,

Artermia, Copepoda, THATH là tốt nhất, chiều dài thân sau 30 ngày ương nuôi 82,17

± 0,79 mm (P<0,05) và tỷ lệ sống đạt 10,17 ± 0,76%

Thí nghiệm độ mặn với 05 nghiệm thức như sau: 15ppt, 20ppt, 25ppt, 30ppt, 35ppt Mỗi nghiệm thức lặp lại 03 lần, cá đưa vào thí nghiệm có chiều dài trung bình 4,18 ± 0,25 mm, mật độ 5 cá thể/lít, thức ăn là thức ăn được lấy từ nghiệm thức có kết

quả tốt nhất của thí nghiệm thức ăn là Tảo + Luân trùng + Artermia + copepoda +

TATH Trong quá trình thí nghiệm các yếu tố môi trường ổn định và thuận lợi cho ấu trùng cá giò phát triển, riêng yếu tố độ mặn theo từng nghiệm thức Kết thúc thí nghiệm thu được kết quả như sau: ấu trùng cá giò chết ở độ mặn 15ppt sau 5 ngày ương, ấu trùng cá giò ương trong bể xi măng với điều kiện độ mặn tốt nhất 30 – 35ppt

Ở độ mặn 30-35ppt, sau 30 ngày ương ấu trùng cá giò có chiều dài 74,37±1,03 - 74,44±1,14 mm và có tỷ lệ sống đạt 10,61±0,69% - 11,39±0,84%

Thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ với 04 nghiệm thức chia làm 03 giai đoạn:

 Giai đoạn 1-10 ngày tuổi mật độ 5, 10, 15, 20 cá thể/lít Mỗi nghiệm thức lặp lại

03 lần, cá đưa vào thí nghiệm có chiều dài trung bình 4,18 ± 0,25 mm, độ mặn được chọn từ nghiệm thức có kết quả tốt nhất của thí nghiệm độ mặn là 30-35ppt, thức ăn là thức ăn được lấy từ nghiệm thức có kết quả tốt nhất của thí nghiệm thức ăn Trong quá

Trang 12

trình thí nghiệm các yếu tố môi trường ổn định và thuận lợi cho ấu trùng cá giò phát triển Kết thúc thí nghiệm thu được kết quả như sau: Ương ấu trùng cá giò ở giai đoạn mới nở đến 10 ngày tuổi trong bể xi măng ở mật độ 5 cá thể/lít ấu trùng cá phát triển tốt nhất, sau 10 ngày ương ấu trùng cá đạt chiều dài thân 6,00 ± 0,06 mm với tốc độ phát triển đặc trưng theo ngày 0,183±0,006 mm/ngày, tốc độ phát triển đặc biệt theo ngày là 3,646±0,1%/ngày Tỷ lệ sống của ấu trùng cá cao nhất đạt 62,05±0,94%

 Giai đoạn 10-20 ngày tuổi, mật độ ở các nghiệm thức lần lượt là : 2, 4, 6, 8 cá thể/lít Trong quá trình thí nghiệm các yếu tố môi trường ổn định và thuận lợi cho ấu trùng cá giò phát triển Thức ăn là thức ăn được lấy từ nghiệm thức có kết quả tốt nhất

của thí nghiệm thức ăn là Tảo + Luân trùng + Artermia + copepoda + TATH Kết thúc

thí nghiệm thu được kết quả như sau: Giai đoạn ấu trùng cá giò 10 ngày tuổi đến 20 ngày tuổi ương ấu trùng cá với mật độ tốt nhất trong bể xi măng là 2 cá thể/lít, ấu trùng cá đạt chiều dài thân sau 10 ngày ương là 44,09 ± 0,38 mm, tốc độ phát triển đặc trưng theo ngày 3,66±0,04 mm/ngày và tốc độ phát triển đặc biệt theo ngày đạt 17,74±0,09%/ngày, tỷ lệ sống là 19,29±0,76%

 Giai đoạn 20-30 ngày tuổi, mật độ ở các nghiệm thức lần lượt là: 1, 2, 3, 4 cá thể/lít Trong quá trình thí nghiệm các yếu tố môi trường ổn định và thuận lợi cho ấu trùng cá giò phát triển Thức ăn là thức ăn được lấy từ nghiệm thức có kết quả tốt nhất

của thí nghiệm thức ăn là Tảo + Luân trùng + Artermia + copepoda + TATH Kết thúc

thí nghiệm thu được kết quả như sau: Giai đoạn cá 20 đến 30 ngày tuổi ương trong bể

xi măng với mật độ 1 cá thể/lít, ấu trùng cá đạt chiều dài sau 10 ngày ương có chiều dài 86,75 mm, tốc độ tăng trưởng đặc trưng là 4,01±0,14 mm/ngày, tốc độ tăng trưởng đăc biệt là 6,20±0,16 %/ngày

Kết quả có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện kỹ thuật ương ấu trùng cá giò trong bể xi măng

Từ khóa: cá giò, Rachycentron canadum, thức ăn, độ mặn, mật độ, tăng trưởng,

tỷ lệ sống

Trang 13

MỞ ĐẦU

Cá giò, Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766), loài cá nổi có tập tính dư cư

Cá phân bố rộng, từ vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới đến các vùng nước ấm của biển ôn đới Vùng sinh thái sống của cá tương đối đa dạng: ở ven biển, các rạn san hô đến vùng biển khơi (Shaffer, 1989) Cá có tốc độ tăng trưởng nhanh và có giá trị thương phẩm cao (Liao et al., 2004; Holt et al., 2007 và Nguyen et al., 2008) Cá giò được nuôi ở nhiều nước trên giới như Đài Loan, Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Việt Nam,… với mô hình nuôi trong lồng là chủ yếu (Liao et al., 2004) Theo FAO (2012), sản lượng nuôi cá giò của thế giới năm 2010 trên 40.000 tấn, trong đó Đài Loan và Trung Quốc chiếm trên 80% Trong sản xuất giống cá giò, gần đây đã có nhiều nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau trong ương nuôi cá bột, cá giống và đã đạt được những tiến bộ lớn góp phần phát triển nghề sản xuất giống ở một số nơi trên thế giới (Arnold et al, 2002; Hitzfelder et al, 2006; Benetti et al, 2008; Resley et al., 2006; Webb et al., 2007; Chou et al., 2001)

Đối với nghề nuôi biển, cá giò là đối tượng nuôi tương đối mới nhưng có nhiều

ưu điểm quan trọng để phát triển thành đối tượng nuôi biển công nghiệp có giá trị thương phẩm cao, tương tự như cá hồi của châu Âu Cá sinh trưởng nhanh, từ cỡ cá giống 30 g (70-75 ngày) có thể đạt 6-8 kg sau 1 năm nuôi (Su và ctv, 2000) Hệ số thức ăn của cá khi sử dụng cá tạp dao động từ 8-10 (Huy, 2002), khi sử dụng thức ăn công nghiệp đạt từ 1,02 đến 1,8 tuỳ theo cỡ cá (Su và ctv ,2000) Ngoài ra, so với một

số loài cá nuôi khác cá giò có khả năng chống chịu với các điều kiện bất lợi của môi trường tốt , có tiềm năng phát triển nuôi xa bờ, ở những vùng biển hở Thịt cá giò trắng, ngon và bổ dưỡng Hàm lượng acid béo không no EPA và DHA cao hơn so với nhiều đối tượng nuôi khác (Shiau, 1990, theo Su và ctv, 2000)

Nuôi cá giò đã phát triển khá nhanh ở Đài Loan, Trung Quốc trong những năm gần đây Có thể nói Đài Loan là nước dẫn đầu trong sản xuất giống nhân tạo và nuôi

cá giò Sản xuất giống đại trà cá giò ở Đài Loan thành công từ năm 1997 Trong nuôi

cá thịt năm 1998 đã sản xuất được 2.673 tấn, tăng gấp hai mươi lần so với năm 1990 (103 tấn), năm 2003 đạt 2500 tấn Với chi phí sản xuất tương đối thấp (xấp xỉ 2,4 USD/kg cá thương phẩm ) và giá bán hấp dẫn 5-6 USD/kg (xuất sang Nhật), cá giò nhanh chóng trở thành đối tượng nuôi phổ biển ở Đài loan, chiếm 80% số lồng nuôi

Trang 14

trên biển Loài cá này được xem là đối tượng tiềm năng cho phát triển nghể nuôi lồng biển của Đài Loan và được dự báo là bộ phận quan trọng đối với ngành thuỷ sản của nước này (Su và ctv,2000) Ngoài Đài loan, Trung Quốc, cá giò đã được nuôi ở Việt Nam, Philiphine với quy mô nhỏ Ngoài ra ở một số nước khác như Australia và Mỹ,

cá giò trước đây vốn chỉ là cá phục vụ thể thao, giải trí nay đã có những dự án nghiên cứu sản xuất giống và nuôi đối tượng này

Việt Nam được xem là nước đứng ‘’hàng thứ 3’’ trên thế giới về sản xuất giống

và nuôi cá giò (Svennevig, 2001) Những năm gần đây, bên cạnh các đối tượng nuôi

biển khác như cá song (Epinephelus spp), cá hồng (Lutjanus spp), cá cam (Seriola

dummerili), tôm hùm (Panurilus spp), trai ngọc (Pinctada spp)…, cá giò là đối tượng

nuôi hấp dẫn và được nuôi khá phổ biển ở các vùng kín sóng gió ở các tỉnh Quảng Ninh, Hải phòng, Nghệ An ở phía Bắc và Vũng tàu, Kiên Giang ở khu vực phía nam Hiện nay, nghề nuôi cá biển đang rất phát triển ở nước ta, chú trọng nhiều đến những loài cá có giá trị kinh tế trong đó có cá giò là đối tượng đang đang được ưa chuộng Chính vì vậy nhu cầu giống cá giò ngày càng cao, việc hoàn thiện quy trình sản xuất giống cá giò nhằm tăng tỷ lệ sống, nâng cao chất lượng, góp phần giải quyết nhu cầu con giống cho nuôi thương phẩm đối tượng này

Thời gian gần đây có một số công trình nghiên cứu về ương nuôi ấu trùng cá giò trên bể ương cũng như ương dưới các hồ, đìa nhưng kết quả thu được là chưa cao Đặc biệt cá giống ương nuôi tại các ao đìa cho tỷ lệ sống thấp, cá dễ nhiễm ký sinh trùng, tốc độ phát triển chậm Do đó, cá ương tại các ao đìa ít được người nuôi lựa chọn Được sự đồng ý của Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang tôi

thực hiện đề tài:

“ Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ

lệ sống của cá giò Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến

30 ngày tuổi ”

Mục tiêu của đề tài

Nghiên cứu nhằm hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá giò trong bể

xi măng

Trang 15

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Nghiên cứu xác định loại thức ăn, mật độ, độ mặn tối ưu làm cơ sở cho việc hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất giống cá giò trong bể xi măng

- Ứng dụng để nâng cao tỷ lệ sống, chất lượng giống cá giò sản xuất trong bể xi măng

Nội dung nghiên cứu

1 Ảnh hưởng của thức ăn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá giò

2 Ảnh hưởng của độ mặn đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá giò

3 Ảnh hưởng của mật độ ương đến tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá giò

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Một số đặc điểm sinh học chủ yếu của cá giò

1.1.1 Đặc điểm hình thái và vị trí phân loại

1.1.1.1 Đặc điểm sinh thái

Ấu trùng cá giò một ngày tuổi dài 3 mm, dọc sống lưng có một mảng màu xanh nhạt và điểm mắt màu đen, vận động tích cực trên mặt nước Ở ngày tuổi thứ 4- 5 cá đạt kích cỡ 4- 5 mm, cơ thể màu nâu đen, hơi vàng và có các chấm đen rải rác Ngày thứ 10 thì miệng, đầu, mắt bắt đầu hoàn thiện, vây ngực xuất hiện, chưa có vây bụng,

cơ thể mầu nâu nhạt và dài từ 5- 10 mm Sau 30 ngày tuổi, cá đã giống cá trưởng thành, vây đuôi xòe rộng dạng nan quạt, xuất hiện hai dải sắc tố dài bên thân chạy từ đầu đến đuôi Sau 59 ngày tuổi thì cá giống hệt với cá trưởng thành và đạt kích thước

1,26- 5,5 cm (Shaffer, R.V và E.L.nakamura, 1989)

Cá giò trưởng thành là loài có kích thước lớn, thân thuôn dài có hình ngư lôi với đầu dài, lưng và hai bên sườn có mầu nâu đậm Dọc thân có hai dải sáng bạc và một dải mầu nâu đen chạy từ mút hàm trên tới cuống đuôi Bụng mầu trắng bạc hoặc hơi xám

Miệng cá rộng, hàm dưới nhô ra dài hơn hàm trên, răng dạng lông nhung phân đều cả hai hàm, lưỡi và vòm miệng Mắt cá nhỏ không có mí Có hai vây lưng, vây lưng thứ nhất có 6-9 tia vây cứng ngắn và khỏe, nhọn, giữa các tia vây không có màng liên kết Vây lưng thứ hai có màng liên kết với các tia mềm Vây ngực nhọn và dài Vây đuôi cá con tròn, khi trưởng thành thì lõm vào hình trăng khuyết, thùy trên dài hơn thùy dưới Vẩy tấm nhỏ nằm sâu dưới lớp da dày, hầu hết các vây đều có màu nâu đậm và xám tro ở vây hậu môn Công thức tia vây: D1 VII- IX; D2 28-33; A I- III, 23-

27; V II, 14; C 13 (Shaffer, R.V và E.L.nakamura, 1989)

Trang 17

1.1.1.2 Vị trí phân loại

Cá giò Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766) hay còn gọi là cá bớp (tên tiếng

Anh là Cobia hay Black kingfish) Cá giò ban đầu được Linneaus (1766) đặt tên là

Gasterosteus canadus Linnaeus, 1766, sau đó được đặt lại là Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766) và nằm trong hệ thống phân loại sau:

Ấn Độ Dương (Shaffer, R.V và E.L.nakamura, 1989)

Ở Việt Nam chúng phân bố từ Bắc vào Nam, ở cả vùng biển ven bờ và ngoài khơi (Chesapeake Sci 1967) Cá giò là loài cá sống nổi, giai đoạn trứng và ấu trùng sống ngoài khơi, khi trưởng thành chúng sống gần bờ, thềm lục địa, các rạn đá ngoài khơi, các rạn san hô, vịnh nông hoặc những nơi có độ mặn thích hợp Cá giò sống ở độ sâu 50-120m (Đỗ Văn Minh, 2003) Đây là loài có khả năng thích ứng rộng với sự thay đổi của độ mặn nên rất thích hợp cho việc phát triển nuôi trong các môi trường khác nhau (Matthew J Resley et al, 2006)

Hình 1.2: Phân bố tự nhiên của cá giò trên thế giới

Trang 18

1.1.3 Đặc điểm dinh dưỡng

Cá giò là loài cá dữ, phàm ăn và chúng ăn động vật Chúng có thể ăn nhiều lần trong ngày và khả năng tiêu hóa tương đối nhanh (Trích Nguyễn Quang Huy, 2002) Phổ thức ăn của cá giò giống và cá trưởng thành rất rộng, thức ăn của chúng là các loại

cá nhỏ, giáp xác và các loại động vật không xương sống phân bố ở tầng đáy Thức ăn

ưa thích nhất của chúng là cua nên còn có tên gọi khác là ‘Crabeater’ (Randall, 1983) Meyer và Franks (1996) khi phân tích thành phần thức ăn trong dạ dày của cá giò cho thấy giáp xác chiếm tới 77,6%- 84% (đối với cỡ cá từ 3,73cm - 15,3cm) Knapp (1951) cho biết cụ thể hơn là có tới 40% thức ăn của cá là cua lột, 46% là các loại tôm khác nhau và 100% cá giò được kiểm tra đều có sự xuất hiện của các loài giáp xác Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với nghiên cứu của Miles (1949) và Shaffer (1989) Mỗi giai đoạn khác nhau tập tính ăn của cá cũng khác nhau Cường độ bắt mồi của cá giảm khi nhiệt độ giảm và ngừng bắt mồi ở nhiệt độ 17- 18o C (Trích Đỗ Văn Minh, Vũ Hồng Sơn, Bùi Thị Ngọc Hoa, 2003) Trong điều kiện nuôi, đặc biệt là giai đoạn giống nhỏ, chúng có thể ăn lẫn nhau Hiện tượng ăn thịt lẫn nhau trong quần đàn

là một trong những vấn đề rất cần được sự quan tâm của người nuôi vì nó làm giảm tỷ

lệ sống trong giai đoạn đầu của quá trình nuôi và liên quan đến mức độ đồng đều của con giống, mật độ thả, chế độ dinh dưỡng và chăm sóc

Hình 1.3: Cá giò giống ăn thịt lẫn nhau 1.1.4 Đặc điểm sinh trưởng

Cá giò là loài có khả năng tăng trưởng rất nhanh, chúng có thể tăng tới 6- 8kg trong năm đầu tiên, năm thứ 2 có thể đạt 15kg Sau năm thứ hai trở đi tăng trưởng của chúng chậm lại (Frank et al, 1999) Trong điều kiện tự nhiên khi đánh bắt, cá thường

Trang 19

Tuy nhiên cá giò có tuổi thọ vừa phải Cá giò già nhất được tìm thấy ở vịnh Mexico là 9 tuổi với cá đực và 11 tuổi đối với cá cái Smith (1995) đã ghi nhận bắt gặp

ở ngoài khơi bắc Carolina, cá cái già nhất là 14 tuổi và cá đực là 13 tuổi Franks và ctv (1999), đã báo cáo rằng ở Gulf thuộc vịnh Mexico con cái già nhất là 11 tuổi và con đực là 9 tuổi

Richards (1977), Kaiser và ctv (2005) đã cho biết ở vịnh Chesapake cá cái lớn nhanh hơn cá đực và đây là đối tượng có giá trị xuất khẩu rất lớn tương tự như đối với các loài cá như cá hồi và cá vùng cực (polar) của Alaska

Đỗ Văn Minh(2003) khi nghiên cứu cá giò giống cỡ 2,5-3cm trong điều kiện nuôi, sau thời gian ương 30 ngày có thể đạt cỡ 7-9cm Nhìn chung tốc độ tăng trưởng của cá khác nhau tùy thuộc vào điều kiện nuôi, giai đoạn phát triển, môi trường sống, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc cũng như tình trạng sức khỏe của cá

1.1.5 Đặc điểm sinh sản

Cá giò là loài phân tính nhưng rất khó phân biệt đực cái Chỉ có thể phân biệt đực cái của cá giò vào mùa sinh sản Cá giò đực thường nhỏ hơn và thành thục sớm hơn cá giò cái Tuổi thành thục ở cá giò đực là 2+ và cá cái là 3+ Tuy nhiên cá ở độ tuổi 3+ cho sinh sản là tốt nhất

Trong báo cáo của Richards (1967), những con đực ở vịnh Chesapeake thành thục sớm nhất ở 2 tuổi, có kích thước (FL) đạt 51,8 cm và có khối lượng1,14 kg Con cái thành thục sớm nhất ở 3 tuổi, có kích thước (FL) đạt 69,6 cm và khối lượng 3,27

kg Nhưng Burns và ctv, (1998) lại báo cáo rằng có một số con đực ở Gulf thuộc vịnh Mexico có thể thành thục sớm hơn ở 1 tuổi và có kích thước 64 cm Mặc dù hầu hết con đực đều thành thục ở 2 tuổi Những con cái ở Gulf thuộc vịnh Mexico bắt đầu thành thục ở 3 tuổi và kích thước là 83 cm chiều dài Ở Đài Loan, cá giò một tuổi đã

có thể thành thục và có thể sinh sản tốt ở 1,5 tuổi Mùa sinh sản bắt đầu từ tháng thứ 2 đến tháng 5 và kéo dài đến tháng 10 (Liao và ctv, 2003)

Mùa sinh sản: Trong mùa vụ sinh sản, ở ngoài tự nhiên, cá giò thường tập trung thành đàn lớn và đẻ trứng vào ban ngày Cá đẻ từ tháng 6 đến tháng 8 ở Đại Tây Dương, gần vịnh Chesapeake Ngoài khơi Bắc Carolina cá lại đẻ từ tháng 5 đến tháng

6 và ở Vịnh Mexico từ tháng 4 đến tháng 9 Mỗi lần cá đẻ từ 9- 12 ngày và khoảng 12-

Trang 20

15 lần trong một mùa Ở Việt Nam cá đẻ 2 lần trong năm từ tháng 4- 5 và từ tháng 9-

10 Ở Đài Loan cá thường đẻ từ tháng 2- 10 (Xan, L, 2005; Liao và ctv, 2003)

Sức sinh sản của cá giò khá lớn từ 1,9-5,4 triệu trứng/kg cá cái, tùy thuộc vào kích thước và tuổi cá Cá càng lớn thì sức sinh sản càng cao Trứng cá giò là trứng nổi

có khối lượng 2300-3800 trứng/g Trứng cá thụ tinh trong suốt, hình cầu, có màu kem, trứng thường có đường kính khoảng 1,35 -1,4mm Ở nhiệt độ 24-26o C, trứng thụ tinh

sẽ nở sau 24-36 giờ Ấu trùng mới nở dài 2,3-3mm và chưa có sắc tố (Liao và ctv, 2003; Kaiser & Holt, 2005) Ấu trùng cá giò sinh trưởng nhanh và có khả năng chịu đựng với môi trường khắc nghiệt cao hơn so với ấu trùng của một số loài cá biển khác (Liao và ctv, 2004)

1.1.6 Khả năng thích ứng với điều kiện môi trường

1.1.6.1 Nhiệt độ

Cá Giò là loài bị ảnh hưởng rất lớn bởi nhiệt độ Đây là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng lên sinh trưởng của cá Tùy theo giai đoạn phát triển mà khoảng nhiệt độ tối ưu cho sinh trưởng và phát triển cũng khác nhau Cá giò có thể thích ứng với nhiệt

độ từ 16,8oC – 32oC (Dawson 1971, Milstein và Thomas 1976), nhưng nhiệt độ thích hợp cho trứng cá phát triển và nở là 26,5oC (Hassler and Rainville, 1975) Cá giống có thể bị chết ở nhiệt độ nước 17,7oC và ngừng bắt mồi khi nhiệt độ nước ở mức 18,3oC (Richards, 1976)

1.1.6.2 Độ mặn

Christesen (1965), Rossler (1967) khi nghiên cứu trên cá giò trưởng thành đã nhận thấy chúng có thể sống được ở độ mặn từ 22,5- 44,5‰ và có khả năng chịu đựng tốt đối với sự thay đổi đột ngột của độ mặn Matthew và ctv (2006) khi tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn tới tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá giò giai đoạn cá hương trong hệ thống tuần hoàn, có nhận xét cá vẫn sinh trưởng và phát triển tốt ở độ mặn 5‰, tuy nhiên tỷ lệ sống ở độ mặn này thấp (68,3%) so với độ mặn 15‰ (90%) và 30‰ (92,5%) Thân Trọng Ngọc Lan (2005) cho rằng ở độ mặn 35‰ trứng

cá giò nở nhanh, tỷ lệ nở đạt 83%, tỷ lệ dị hình thấp (5%), ở độ mặn <25‰ trứng cá giò bị chìm xuống dưới đáy

Trang 21

1.1.6.3 Các yếu tố môi trường khác

Đối với các yếu tố như pH, oxy hòa tan, NO2- và NO3- khi vượt quá ngưỡng cho phép đều ảnh hưởng đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá pH thích hợp cho cá giò sinh trưởng và phát triển tốt là 7,5-8,3, ngưỡng oxy hòa tan (DO) >4mg/lít, NH3

<1mg/lít, NO2- <1,5mg/lít (Trích Thân Trọng Ngọc Lan, 2005)

1.2.Tình hình sản xuất giống cá giò trên thế giới và Việt Nam

1.2.1 Trên thế giới

Đài Loan là vùng lãnh thổ dẫn đầu trong lĩnh vực sản xuất giống và nuôi cá giò thương phẩm (Su, Chen & Liao 2000) Năm 1992, Đài Loan cho sinh sản nhân tạo lần đầu tiên và thành công năm 1994, đến năm 1997 đã đưa ra quy trình sản xuất giống đại trà Từ năm 1999, Đài Loan đã sản xuất được 5 triệu cá giò giống, ngoài phục vụ nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu 2 triệu cá giống sang các nước khác như Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam

Trung Quốc từ năm 1997 đã có được công nghệ sản xuất giống cá giò hàng loạt Năm 1999, Trung Quốc có 4 trại sản xuất giống cá giò Năm 1998, Trung Quốc cho ra được1,4 triệu cá giống Ở Mỹ các nhà nghiên cứu đã sử dụng hormone để thúc đẩy sự thành thục của cá giò bố mẹ trong mùa sinh sản và thấy khi sử dụng cả HCG (275 UI/

kg cá) và GnRha đều cho kết quả tốt (Arnold, R.L., Kaiser, J.B, Holt, G.J 2002)

Thức ăn sử dụng cho ương nuôi cá giống rất đa dạng và phong phú Ở Đài Loan,

thức ăn sử dụng cho cá ở giai đoạn đầu chủ yếu là Copepoda Cá 75 – 180 ngày tuổi

(30- 100g) sử dụng thức ăn viên với hàm lượng dinh dưỡng 48% protein và 12% lipid với FCR từ 1,02- 1,48 (Niels Svennevig, 2003) Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều

sử dụng thức ăn sống: tảo, luân trùng, Artemia và Copepoda cho cá từ 3 đến 30 ngày

tuổi và sau đó thì cá được sử dụng thức ăn dạng viên ẩm (Nguyễn Quang Huy, Như Văn Cẩn, Đỗ Văn Minh và ctv 2003)

Ở Mỹ, những nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá giò thành công đầu tiên vào năm 1996 ở phòng nghiên cứu thực nghiệm vùng ven vịnh của trường đại học nam Mississippi Giữa những năm 2000-2006, Virginia, Texas, Nam Califonia và Florida

đã báo cáo thành công trong sinh sản nhân tạo cá giò bằng hormone hoặc cường độ ánh sáng, nhiệt độ nước để kích thích sinh sản Orhun (2005), đã thành công trong sinh

Trang 22

sản nhân tạo cá giò, tỷ lệ sống từ cá bột đến cỡ cá 2,5 cm đạt được tỷ lệ sống khoảng 10% Schwarz và cộng sự (2005) cũng đã báo cáo kết quả thành công bước đầu trong nghiên cứu quy trình sản xuất giống cá giò Tác giả đã sản xuất được con giống cá giò (0,42 g) sau 28 ngày tuổi từ khi nở với tỷ lệ sống 24,4% Năm 2006 hai trung tâm nghiên cứu của Mỹ (Viện nghiên cứu thủy sản và Phòng thí nghiệm nuôi trồng thủy sản ở Port Aransas; Trung tâm nghiên cứu thủy sản ở Marathon, Florida ) đã công bố nghiên cứu thành công sản xuất trứng và giống cá giò từ năm 2002

Sự phát triển khá nhanh của nghề nuôi cá giò đã thúc đẩy những nghiên cứu về sinh sản và cải tiến kỹ thuật ương nuôi cá giò giống Kỹ thuật sinh sản cá giò đã được nhiều tác giả nghiên cứu như: sử dụng hormone (Franks và cộng sự, 2001), dựa vào sự thay đổi mùa vụ sinh sản để cho cá đẻ trong bể (Amold và cộng sự, 2002) hay trong ao (Liao và cộng sự, 2004), hoặc sử dụng sự thay đổi điều kiện nhiệt độ và sánh sáng (Kaiser và Holt, 2004)

Hassler và cộng sự (1975) đã đề xuất cá giò như là một đối tượng tiềm năng cho nuôi trồng thủy sản bởi vì tốc độ sinh trưởng nhanh, chất lượng thịt ngon và thị trường xuất khẩu lớn Họ đã mô tả quá trình sinh trưởng và phát triển của cá bột từ sau khi trứng nở Sinh trưởng của cá bột nhanh hơn khi sử dụng thức ăn là ấu trùng động vật

nổi vớt từ tự nhiên ( chủ yếu là copepoda) so với khi sử dụng thức ăn là luân trùng hay

Artermia Sau đó cá được ương nuôi trong ao đất, có tốc độ sinh trưởng đặc trưng 12,5

– 19,2 %/ngày Weirich và cộng sự (2004) đưa ra kết quả thí nghiệm cá giò đạt được 0,5 g (6 cm) sau 20 ngày nuôi Liao và cộng sự (2004) cũng đã công bố cá giò có thể đạt được 2 – 5 g sau 45 ngày nuôi ở Đài Loan và trong hệ thống thâm canh cũng đã đạt được tốc độ sinh trưởng đặc trưng tương tự như kết quả của Hasler (1975) Nuôi trong

bể tuần hoàn 1000 lít (nhiệt độ 25 – 26oC) cá giò bột sinh trưởng từ 0,35 cm sau 1 ngày nở đến 4 – 5 cm( 260 mg) sau 30 ngày tuổi với tốc độ sinh trưởng đặc trưng là 27%/ngày Thí nghiệm được lặp lại nhiều lần trong hệ thống bể 1.100 lít (ở nhiệt độ 28,5oC) cho kết quả cá bột đạt được 6,7 cm (850 mg) sau 32 ngày nuôi với tốc độ đặc trưng 31%/ngày Cá bột được cho ăn bằng luân trùng từ khi hết noãn hoàng cho đến 7

ngày tuổi Artermia nauplii được sử dụng để cho cá bột ăn từ ngày thứ 6 đến ngày thứ

9 sau khi nở cho đến khi cá sử dụng thức ăn tổng hợp

Trang 23

Quy trình sản xuất giống cá giò được nhiều tác giả công bố Kaiser (2005) đã đưa

ra quy trình nước xanh để sản xuất giống cá giò Trứng sau khi được thụ tinh, vớt ra chuyển vào ao ương, đã được gây nuôi luân trùng và giáp xác chân chèo Cá bột được nuôi trong ao đến 20 ngày tuổi, với tỷ lệ sống 5 – 10% Cá được chuyển sang giai đoạn ương giống, gồm có 3 giai đoạn nhỏ Giai đoạn thứ nhất từ 20 – 45 ngày tuổi, cá được luyện để sử dụng thức ăn tổng hợp dạng viên nổi Kết thúc giai đoạn này, cá được 2 –

5 g Giai đoạn hai, cá từ 45 – 75 ngày tuổi, cá được ương trong ao đất, mỗi ngày cho

ăn từ 5 – 6 lần Kết thúc giai đoạn này cá đạt khối lượng 30 g Giai đoạn cuối cùng của ương giống là từ ngày thứ 75 đến ngày thứ 150, cá được ương trong ao đất hoặc lồng trên biển

1.2.2 Ở Việt Nam

Việt Nam nằm trong khu vực phân bố tự nhiên và được xem là nước đứng thứ 3 trên thế giới về sản xuất giống và nuôi cá giò (trích Nguyễn Quang Huy, Như Văn Cẩn, Đỗ Văn Minh và ctv 2003; Svennevig, N., 2001) Nhận thức được tầm quan trọng của việc sản xuất giống đối với nghề nuôi biển nói chung và nghề nuôi cá giò nói riêng, ngành Thủy sản của nước ta quan tâm đến việc này từ rất sớm Các đề tài, dự án nghiên cứu về sinh sản được tiến hành và từng bước hình thành nên quy trình sản xuất giống cá giò thâm canh

Nghiên cứu sinh sản nhân tạo cá giò được Viện Nghiên cứu Hải sản tiến hành từ

năm 1992- 1999, trong đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống nhân tạo một số

loài cá biển” Năm 1998- 2000 đã sản xuất được đợt cá đầu tiên là 12.000 con cá giò

giống

Năm 2002- 2003, Đỗ Văn Minh và ctv với sự tài trợ của dự án SUMA đã thực

hiện đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiện quy trình sản xuất giống và nuôi thịt cá giò”, tại

Trạm nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản nước mặn Cát Bà, Trạm nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản nước lợ Quý Kim thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I (trích Nguyễn Đình Mão, 2008)

Năm 2002, dự án NORAD đã triển khai quy trình sản xuất giống cá giò tại Phân Viện Nghiên cứu giống hải sản Bắc Trung Bộ - Cửa Hội- Cửa Lò- Nghệ An Tại đây

đã sử dụng hệ thống tuần hoàn kết hợp khử trùng bằng tia cực tím và bộ lọc sinh học

để sản xuất giống cá giò (Nguyễn Đình Mão, Lê Anh Tuấn, 2007)

Trang 24

Dự án NORAD của Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, kết hợp với sự tài trợ của dự án SUMA, đã sản xuất được 13.000 con giống cá giò cỡ 8- 12 cm tại Cát

Bà, Hải Phòng vào năm 2001 Tuy nhiên lượng giống cá giò sản xuất ra chưa nhiều do quy mô trại sản xuất nhỏ và còn tồn tại một số vấn đề về kỹ thuật cần được nghiên cứu tiếp Quy trình ương thâm canh không phụ thuộc vào thức ăn tự nhiên cũng đã được hình thành trên cơ sở các nghiên cứu trên với tỷ lệ sống 25% sau 35 ngày với cỡ

cá đạt 6- 9 cm (Nguyễn Quang Huy, 2002)

Ở Việt Nam phổ biến hai phương pháp sản xuất giống cá giò sau:

1.2.2.1 Sản xuất giống cá giò trong bể xi măng

Bảng 1.1: Ương cá giò trong bể xi măng tại Cát Bà

Ngày

tuổi

Lượng cá (con)

Tỷ lệ sống (%)

Lượng cá (con)

Tỷ lệ sống (%)

Lượng cá (con)

Tỷ lệ sống (%)

Nguồn: Đỗ Văn Minh, Vũ Hồng Sơn, Bùi Thị Ngọc Hoa, 2003

Phương pháp Sản xuất giống cá giò theo phương pháp ương trong bể xi măng thường được áp dụng với những cơ sở sản xuất có điều kiện tốt, có thể lưu giữ và ương nuôi được thức ăn tự nhiên cho cá giò

1.2.2.2 Ương nuôi giống cá giò trong ao đất

Dùng cho cơ sở ít có điều kiện đầu tư về trang bị kỹ thuật nhưng có hệ thống ao đất nước lợ mặn để ương nuôi thức ăn tươi sống Phương pháp này đơn giản, chi phí thấp, lại tận dụng được cơ sở hạ tầng nhưng lại cho tỷ lệ sống thấp hơn và kém ổn định hơn so với phương pháp thâm canh Phương pháp này có nguy cơ nhiễm bệnh rất cao

và rất khó kiểm soát

Trang 25

Bảng 1.2: Kết quả ương cá giò ở một số trại nuôi

Địa điểm ương Số cá

bột (con)

Số cá giống 8- 10 cm (con)

Tỷ lệ sống (%)

Số cá bột (con)

Số cá giống 8-10 cm (con)

Tỷ lệ sống (%)

Trạm NCNTS

nước lợ (Viện I) 350.000 6500 1,86 1000000 8500 0,85 Trại Hạ Long

Trại tôm Trung

Hiếu (Đồ Sơn) 200.000 1200 0,6 250000 6000 2,4 Trại tôm ông Cự

Nguồn: Lê Xân,2003

1.3 Những nghiên cứu về khả năng thích nghi của cá giò với độ mặn

Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới về khả năng thích nghi của cá giò ở các mức

độ mặn khác nhau Cá giò sống tốt ở độ mặn 22,5 – 44,5 ppt, nhưng chúng có thể thích

nghi ở độ mặn thấp hơn (Shaffer, R.V.and E.L.nakamura, 1989)

Hassler và Rainville (1975) đã nghiên cứu kết quả cho thấy trứng cá giò có thể

nở ở độ mặn 19ppt nhưng nếu giảm độ mặn xuống còn 13ppt thì tỷ lệ nở sẽ giảm xuống và tăng tỷ lệ dị hình của cá bột Năm 2004, Atwood và cộng sự thử nghiệm cho

cá giò thuần hóa độ mặn 20ppt, sau đó độ mặn được giảm từ từ với mức 2ppt/ngày Kết quả thu được, cá bắt đầu chết ở độ mặn 8ppt và chết hoàn toàn ở độ mặn 2ppt Faulk (2005) đã tiến hành thí nghiệm khả năng thích nghi với sự thay đổi độ mặn của

cá giò ở các ngày khác nhau và kết luận cá giò 13 ngày tuổi sau khi nở có thể nuôi được ở độ mặn 15ppt Theo Holt (2007), khả năng thích nghi với độ mặn thấp của cá giò kích thước lớn tốt hơn nhiều so với cá giò có kích thước nhỏ

Denson và cộng sự (2003) đã nuôi cá giò ở nước lợ, có độ mặn 5-15ppt, kết quả

tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng thấp hơn so với cá nuôi ở nước biển có độ mặn 30ppt Tuy nhiên kết quả nghiên cứu của Resley (2005) khi thử nghiệm ương nuôi cá giò trong hệ thống tuần hoàn ở các mức độ mặn khác nhau thì khác hoàn toàn Cá giò giống (6g) nuôi độ mặn 5ppt sinh trưởng tốt hơn so với cá nuôi độ mặn 15 và 30 ppt

Trang 26

Tuy nhiên tỷ lệ sống của cá nuôi ở độ mặn 5ppt đạt được 68,3% thấp hơn so với tỷ lệ sống của cá ở hai độ mặn kia (90%-92,5%) Ông kết luận cá giò có thể sống ở điều kiện có độ mặn thấp, khoảng 5ppt nhưng cần có sự nghiên cứu sâu hơn về dinh dưỡng, các loại vitamin, khoáng bổ sung vào thức ăn để có được tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống cao

Nhìn chung các nghiên cứu về khả năng thích nghi của cá giò với độ mặn chỉ mới đưa ra những kết luận cho những kết luận chung chung, chưa thực sự nghiên cứu chi tiết về vấn đề này Trong quy trình sản xuất giống và ương nuôi cá giò, giai đoạn sau 20 ngày tuổi thường được ương trong ao đất với quy trình nước xanh Trong điều kiện nước ta, diện tich mặt nước thích hợp để ương cá giò giống rất nhiều, tuy nhiên hầu hết nằm ở khu vực cửa sông, có điều kiện độ mặn thay đổi rất bất thường, nhất là vào mùa mưa Do đó rất cần những nghiên cứu về khả năng sinh trưởng của cá giò giống ở các độ mặn khác nhau để có thể quy hoạch vùng nuôi thích hợp cho việc ương nuôi cá giò giống, cũng như việc quản lý độ mặn trong ao ương nuôi cá ở mức thích hợp nhất cho sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò

1.4 Tình hình nghiên cứu về dinh dưỡng và thức ăn

1.4.1 Nhu cầu về protein

Những nghiên cứu về dinh dưỡng đã đánh giá protein là thành phần rất quan trọng của thức ăn, được coi là “vật chất xây dựng” để xây dựng các tổ chức mô, cơ trong cơ thể động vật và để hình thành nên các chất có hoạt tính cao như enzyme, hormone hay các sản phẩm khác (Lại Văn Hùng, 2004) Sinh trưởng của cá liên quan đến sự sắp xếp các mô cơ, mô mỡ, biểu mô và mô liên kết Tỷ lệ của protein hay lipit nằm trong các mô này phụ thuộc vào phần lớn thức ăn mà cá sử dụng Các nhu cầu protein của cá không chỉ đòi hỏi về lượng mà nó còn cần đến sự cân bằng của các amino acid thiết yếu và không thiết yếu (Lê Anh Tuấn, 2006)

Trong nghiên cứu dinh dưỡng người ta đưa ra hai khái niệm nhu cầu protein cho duy trì và cho tăng trưởng Nhu cầu protein thường được xác định khác nhau cho các loài khác nhau So với động vật trên cạn thì các động vật thủy sinh thường có nhu cầu cao hơn, ví dụ nhu cầu protein của một số loài cá biển ở giai đoạn con giống như cá

mú từ 40-50%, cá măng 40%

Trang 27

Cũng như loài cá khác, nhu cầu protein của cá giò rất cao, nhất là giai đoạn cá giống Đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới công bố về nhu cầu dinh dưỡng của cá giò

Nguyễn Tiến Lực và cộng sự (2004)đã nghiên cứu và đưa ra nhu cầu dinh dưỡng của cá ở các giai đoạn phát triển (bảng 1.3)

Bảng 1.3 Nhu cầu dinh dưỡng cá giò

Khối lượng cá (g) Protein (%) Năng lượng

Giai đoạn cá bột cá giò sử dụng thức ăn là luân trùng, động vật phù du hoang dã

(thành phần chính là giap xác chân mái chèo) và Artermia (Gaumet và cộng sự 2005;

Liao, I.C., Huang, T.S., Tsai, W.S., et al.,2004; Shaffer, R.V.and E.L.nakamura,

1989) Gaumet và cộng sự (2005), đã nghiên cứu sản xuất giống cá giò bằng thức ăn là

luân trùng trong thời gian 3 ngày sau khi cá nở và Artermia được làm giàu để nuôi cá từ

ngày thứ 5, bắt đầu từ ngày thứ 16 cá được luyện để có thể sử dụng thức ăn tổng hợp, đến ngày thứ 23 cá bắt đầu sử dụng thức ăn viên loại 500-800 µm Kết quả thu được tỷ lệ sống đến khi cá được 26 ngày tuổi là 4,7% Lê Xân (2005) cũng đã thành công trong sản xuất giống cá giò theo chế độ cho ăn là: cho cá ăn luân trùng thời gian 12 ngày sau khi cá nở,

Artermia được sử dụng cho ăn vào ngày thứ 7 đến ngày thứ 20 sau khi cá nở Bắt đầu

luyện cá cho ăn thức ăn tổng hợp từ ngày thứ 17-18 sau khi nở Nhìn chung các tác giả đã

sử dụng thức ăn ở giai đoạn mới nở là luân trùng và Artermia Đây là khâu kỹ thuật quan

trong dẫn đến tỷ lệ sống cũng như tốc độ sinh trưởng của cá sau này

1.4.2 Nhu cầu Lipit và các acid béo không no

Nhu cầu lipid của động vật thủy sản được xác định dựa vào nhu cầu về năng lượng, acid béo cần thiết, phospholipid và cholesterol, đặc điểm sống và dự trữ lipid của loài, cá có nhu cầu năng lượng thấp hơn động vật trên cạn và có thể sử dụng lipid

để làm năng lượng Kết quả nghiên cứu về nhu cầu lipid trong thức ăn cho cá, hàm lượng lipid thay đổi tùy theo loài Ngoài ra nhu cầu này phụ thuộc rất lớn vào hàm

Trang 28

lượng và chất lượng, nguồn cung cấp lipid Nhìn chung, 10-20% lipid trong khẩu phần của cá cho tốc độ sinh trưởng tối ưu mà không tạo ra một cơ thể quá béo (Cowey và Sargent, 1979)

Những nghiên cứu về nhu cầu lipid trên loài cá này rất khác nhau: Chou và ctv (2001) cho rằng với mức lipid 5,76% cá giò cho tốc độ tăng trưởng tốt nhất với việc kết hợp hỗn hợp dầu: dầu cá tuyết và dầu đậu nành tỷ lệ 2:1 Tuy nhiên nghiên cứu trên cũng cho thấy không có sự sai khác về tốc độ tăng trưởng và hệ số chuyển hóa thức ăn giữa nhóm cá ăn thức ăn có 6, 9, 15, 18% lipid, tuy nhiên tỷ lệ lipid này thấp hơn nhiều so với kết luận của Ho Shin Huang (1999), tác giả này cho rằng mức lipid 10% hay 15% trong thức ăn thì cá tăng trưởng và phát triển tốt hơn so với cá được cho ăn 5%, 20 hay 25% lipid trong thức ăn, phân tích hồi quy tuyến tính cho thấy, với mức lipid 14,6% cá đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất

Tác giả này cũng cho rằng hàm lượng lipid bổ sung vào thức ăn cao ở các lô thí nghiệm là nguyên nhân làm gia tăng hàm lượng lipid có trong gan và cơ Tác giả này cũng công bố rằng khi bổ sung các loại lipid có nguồn gốc khác nhau vào khẩu phần

ăn của cá giò (mỡ lợn, dầu colza, dầu bắp, dầu đậu nành, dầu đậu nành +1% DHA hoặc dầu gan cá tuyết) thì thức ăn có bổ sung dầu colza cho tốc độ tăng trưởng thấp nhất, các loại còn lại không có sự khác biệt Cá được cho ăn thức ăn có bổ sung 1% DHA+dầu gan cá hay dầu đậu nành có hiệu quả sử dụng thức ăn và hiệu quả sử dụng protein tốt hơn so với ăn thức ăn có bổ sung dầu colza Hàm lượng lipid trong gan cá cao hơn khi cho ăn thức ăn có mỡ heo so với các loại dầu khác

Craig (2005) khi nghiên cứu trên cá Giò tiến hành bổ sung lipid và cacbonhydrat vào khẩu phần ăn, kết quả 3% lipid/ 36% cacbonhydrat cá cho tốc độ tăng trưởng cao nhất (WG = 55,4%), và với mức 18%lipid /0%cacbonhydrat sẽ làm giảm tăng trưởng cũng như hệ số chuyển đổi thức ăn của cá giống Mặc dù vậy nhu cầu của thị trường cá giò là phục vụ cho sashimi vốn đòi hòi hàm lượng lipid cao trong thịt cá, điều này có thể đạt được qua việc cho cá ăn thức ăn có hàm lượng lipid cao (Wang, 2005)

Wang và ctv (2005) cũng cho rằng với mức lipid 5% và 15% lipid, cá giò có tốc độ tăng trưởng cao hơn so với mức lipid 25% Ducan và ctv (2007) khi nghiên cứu

Trang 29

sinh trưởng về khối lượng cao hơn so với cá cho ăn thức ăn có hàm lượng lipid thấp (P<0,05)

Tại Việt Nam, thức ăn công nghiệp EWOS cho loài cá này có hàm lương lipid từ 18-24% tùy theo giai đoạn phát triển (Nguồn công ty Marine Farm Việt Nam) Với vai trò quan trọng như vậy nên lipid hiện nay là một vấn đề đang được quan tâm nghiên cứu để nâng cao chất lượng thức ăn cho cá, đặc biệt là thức ăn cho cá giai đoạn giống, nhiều kết quả nghiên cứu về nhu cầu lipid của cá đã được công bố và ứng dụng vào thực tế sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế cao ( Trích Trần Quang Ngọc, 2007)

Đối với cá biển, nhu cầu các acid béo không no (HUFA) rất cao để đạt được tỷ lệ sống và tốc độ tăng trưởng tối đa (Tocher và ctv, 2003; Xu và ctv, 2006), HUFA đóng vai trò duy trì cấu trúc và chức năng của màng tế bào, tăng khả năng chịu các stress, giúp phát triển tốt thần kinh thị giác (Kanazawa, 1997)

Cá biển không có khả năng chuyển đổi các acid béo mạch ngắn như: linolenic acid (18:2n-6) thành các acid béo không no mạch dài (HUFA) do thiếu một số loại enzyme cần thiết vì thế việc bổ sung các acid béo này vào trong thức ăn là rất cần thiết

Tuy nhiên các loài cá biển khác nhau thì có nhu cầu với EPA và DHA khác nhau như: cá trích Đại Tây Dương chỉ có nhu cầu đối với EPA (Tucker, 1992) còn cá tráp,

cá cam thì chỉ có nhu cầu đối với DHA (Wanatabe, 1993) Rimmer và ctv (1994) cho rằng đối với cá chẽm thì các acid không bão hòa có một nhu cầu đáng kể trong thức

ăn, hàm lượng DHA không làm ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng của cá chẽm, trong khi đó EPA mới là acid béo cần thiết hơn cho loài cá này Năm 1999a, Sargent lại đề nghị mức DHA và EPA tối ưu cho cá chẽm phát triển là 2:1, ngoài ra tổng hàm lượng tối ưu và tỷ lệ của DHA và EPA ở các giai đoạn phát triển khác nhau và các loài khác nhau thì sẽ khác nhau, sự khác biệt này là do điều kiện môi trường sống, sự trao đổi chất, sự chuyển hóa khác nhau (Takeuchi, 1997)

Cá biển đòi hỏi hàm lượng HUFA rất cao trong khẩu phần thức ăn (Faulk & Holt 2003), tổng hàm lượng DHA và EPA được đề nghị từ 8-12g/kg trong thức ăn khô của

cá giò ( Chou và ctv, 2001) Tỷ lệ EPA/DHA trong thức ăn không ảnh hưởng đến tỷ lệ sống cũng như tốc độ tăng trưởng của cá giò giai đoạn giống (Ding và ctv, 2008) Nghiên cứu của Liu và cộng sự (2009) khi nghiên cứu về lipid, cholesterol và các acid béo trong thành phần của cá giò nuôi thương phẩm tại Trung Quốc, tác giả đã chỉ

Trang 30

ra rằng hàm lượng lipid trong cá giò nuôi tại Trung Quốc rất cao (trên 82%), trong đó hàm lượng cholesterol và phospholipids trong thịt cá rất thấp Mười tám loại acid béo được tìm thấy trong cơ thịt cá giò đó là các acid béo no: Myristic (C 14:0), palmitic (C16:0) và các acid béo không no: Stearic (C18:0); palmitoleic (C16:1n-7) và oleic acid (C18:1n-9) Trong đó n-3 và n-6 chiếm khoảng 12-18% và 2.6-3.2% tổng hàm lượng acid béo, tỷ lệ n-3/n-6 là 0.18-0.22, giá trị này thấp hơn nhiều so với báo cáo của WHO/FAO (5:1), chính vì thế Su cho rằng lipid trong cơ thể cá giò được nuôi ở Trung Quốc có giá trị dinh dưỡng rất cao

1.4.3 Nhu cầu về tỷ lệ protein/lipid của cá

Craig và ctv (2006) khi thí nghiệm các tổ hợp thức ăn (2 x 3) với 2 mức protein (40% và 50%) và 3 mức lipid (6, 12 và 18% lipid) (trọng lượng ban đầu của cá là 49,3g/cá) trong khẩu phần thức ăn cho cá giò, kết quả cho thấy tốc độ tăng trưởng tương đối của cá không bị tác động bởi các mức protein: WG là 33,3%(50%CP) và 33,5%(40%CP)(P>0,05), tuy nhiên chúng lại chịu sự tác động của lipid (P<0,05), với mức lipid 18%, cá có tốc độ tăng trưởng tương đối thấp nhất (29,3%) FCR không chịu

sự tác động của các mức protein và lipid, dao động trong khoảng 0,46 đến 0,51

Tuy nhiên cũng tác giả này khi nghiên cứu với nhóm cá nhỏ hơn (7,4g) với 2 mức protein và 3 mức lipid tương tự như trên cho thấy: tốc độ tăng trưởng của cá không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức thức ăn (P<0,05) Lipid trong cơ và gan đều chịu ảnh hưởng bởi hàm lượng lipid trong thức ăn, hàm lượng protein trong cơ thịt cá bị tác động bởi hàm lượng protein trong thức ăn trong khi hàm lượng protein trong gan chịu sự tác động của cả protein và lipid trong thức ăn Hàm lượng lipid và protein trong thức ăn không ảnh hưởng đến hàm lượng tro của cá

1.4.4 Nghiên cứu về thức ăn ương nuôi của cá giò

Ấu trùng cá giò rất thích ăn các loại động vật nổi, đặc biệt là copepoda, phổ thức

ăn của cá giò giống và cá trưởng thành rất rộng, thức ăn của chúng là các loại cá nhỏ, giáp xác và các loại động vật không xương sống phân bố ở tầng đáy, thức ăn ưa thích nhất của chúng là cua nên chúng còn có tên gọi khác là ‘Crabeater’ (Randall, 1983), khi kiểm tra dạ dày của cá giò cho thấy, 100% dạ dày đều có chứa giáp xác Knapp

Trang 31

Nguyễn Quang Huy và cộng sự (2006) khi thử nghiệm cho cá giò giống sử dụng 3 loại thức ăn khác nhau là: cá tạp xay và hai loại viên ẩm (VA1: 30,6P và 4,9%L; VA2: 34,2%P và 6,2%L) Kết quả cho thấy tăng trưởng về khối lượng của cả VA1 và VA2 đều cho kết quả tăng trưởng về khối lượng nhanh hơn cá tươi, trong đó cá được cho ăn VA2 cho kết quả tăng trưởng tốt nhất Hệ số chuyển đổi thức ăn của cá ăn VA2 thấp nhất (1,45) nhưng không sai khác với cá ăn VA1 (1,55) (P>0,05) nhưng cả hai chỉ số đó đều thấp hơn

hệ số chuyển đổi thức ăn khi cho cá ăn cá tươi (3,45) (P<0,05) Hệ số thức ăn này có thể chấp nhận được khi so sánh với cá cùng cỡ được nuôi bằng thức ăn công nghiệp ở Đài Loan có hệ số FCR là 1,02-1,23 (Su và ctv, 2000)

Nhìn chung ở Việt Nam hiện nay, việc sử dụng thức ăn tươi (cá tạp) trong nuôi thủy sản còn rất phổ biến, nhất là đối với những hộ nuôi với quy mô nhỏ, hộ kinh tế gia đình theo hình thức nuôi tự phát Sử dụng cá tạp sẽ làm cho hệ số thức ăn cao, giá thành sản phẩm gia tăng, ô nhiễm môi trường đồng thời nguồn cá tạp là một trong những nguyên nhân gây bệnh cho cá nuôi

Những nghiên cứu về thức ăn tổng hợp cho cá giò hiện nay còn rất hạn chế Một

số loại thức ăn có trên thị trường chủ yếu của nước ngoài cung cấp với giá thành cao như INVE, CP Lui và ctv (2005) thử nghiệm thức ăn viên khô với 5 loại dầu khác nhau để bổ sung vào khẩu phần thức ăn cho cá giò giai đoạn giống, đó là dầu cá mòi, dầu đậu nành, dầu lạc, dầu bắp và mỡ bò Kết quả cho thấy rằng tốc độ tăng trưởng của cá đạt giá trị cao nhất khi sử dụng dầu cá mòi, tiếp đến là dầu đậu nành Tốc độ tăng trưởng của cá thấp ở các lô thí nghiệm cho ăn dầu lạc, dầu bắp, mỡ bò và kết quả cũng cho thấy dầu cá mòi cung cấp nhiều acid béo không no rất cần thiết cho sự phát triển của cá Giò như EPA và DHA

Năm 2004, Zhou và ctv đã xác định khả năng tiêu hóa của cá Giò giống đối với các loại nguyên liệu chế biến thức ăn có nguồn gốc từ động vật và thực vật Kết quả nghiên cứu cho thấy hệ số tiêu hóa thức ăn cao nhất là bột cá và gluten của bột bắp Đối với các sản phẩm từ động vật và gluten bột bắp là 60,42-87,56%, bột đậu phộng (58,52-70,51%) Tác giả cũng khẳng định rằng cá giò có thể tiêu hóa tốt protein và lipid từ động vật và thực vật Khả năng tiêu hóa protein từ động vật là 87,21-96,27%

và từ thực vật là 88,97-94,42% Khả năng tiêu hóa lipid từ động vật là 91,59-96,86%,

từ thực vật là 92,38-96,93% Khả năng sử dụng phospho trong nguyên liệu thức ăn của

Trang 32

cá giò cũng khá cao, đối với photpho từ nguyên liệu động vật là 62,36-71,22 và nguyên liệu từ thực vật là 56,32-69,76%

Sun (2006) cho biết khẩu phần thức ăn 9% trọng lượng thân cho cá giò là tốt nhất, và tác giả cũng chỉ ra rằng không có sự sai khác giữa tỷ lệ 9% và mức cho ăn thỏa mãn Từ kết quả nghiên cứu này, giúp người nuôi quản lý tốt tránh hiện tượng dư thừa thức ăn, giảm giá thành sản phẩm và cho tốc độ tăng trưởng tốt

Chen (2005) khi tiến hành nghiên cứu thay thế một phần dầu cá bằng dầu bắp hoặc dầu hạt lanh trong khẩu phần thức ăn cho cá giò giống Kết quả cho thấy, việc bổ sung dầu cá trong thức ăn cho cá giò là rất cần thiết trong khẩu phần thức ăn Việc thay thế dầu cá bằng dầu bắp hay dầu hạt lanh hoặc sự kết hợp cả hai loại này đều làm giảm tốc độ tăng trưởng của cá cũng như giảm khả năng miễn dịch tự nhiên của cá Nguyễn Quang Huy và ctv (2006) khi nghiên cứu thử nghiệm sử dụng thức ăn công nghiệp EWOS và cá tạp để nuôi cá giò trên biển, kết quả cho thấy, cá được cho

ăn thức ăn công nghiệp EWOS, tốc độ tăng trưởng cao hơn gần 2 lần so với lô cho ăn

cá tạp, đồng thời giá thành để sản xuất ra 1kg thức ăn cá cũng rẻ hơn so với cá tạp Việc cho ăn thức ăn công nghiệp giúp các hộ nuôi chủ động trong kế hoạch sản xuất, đồng thời giảm thiểu được nguy cơ lây lan dịch bệnh từ thức ăn và làm giảm ô nhiễm môi trường

Với mục đích làm giảm giá thành thức ăn và thay thế một phần nguồn protein từ bột cá ngày càng khan hiếm bằng các loại protein có nguồn gốc thực vật, Chou và ctv (2004) đã nghiên cứu sử dụng bột đậu nành để thay thế một phần protein trong bột cá trong thức ăn cho cá giò Kết quả cho thấy cá giò đạt tốc độ tăng trưởng tối ưu khi thay 16,9% protein bột cá bằng bột đậu nành Lunger (2005) cũng nghiên cứu sự thay thế bột cá trong khẩu phần ăn cho cá giò bằng protein thực vật Tác giả cho rằng với mức thay thế 25% bột cá bằng bột đậu nành thì tốc độ tăng trưởng của cá gần như không đổi Những nghiên cứu này đã thay thế dần bột cá trong thức ăn cho cá giò Trong tương lai thức ăn công nghiệp trở thành nguồn thức ăn chính thay thế cá tạp khi

cá tạp trở nên khan hiếm Kết quả nghiên cứu này cũng phù hợp với nghiên cứu của Phạm Đức Hùng (2008) với mức thay thế bột cá bằng bột đậu nành là 14,6% là tốt nhất cho cá giò phát triển

Trang 33

1.5 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đối với ương nuôi cá giống

Mật độ ương được xem là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong nuôi trồng thủy sản do chúng ảnh hưởng trực tiếp tới sinh trưởng, tỷ lệ sống, sức khỏe của

cá, phương pháp chăm sóc và năng suất thu hoạch

Vấn đề về mật độ ương nuôi cá giò được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Hitzfelder và cộng sự (2006) và Beneti & cộng sự (2008) cũng đã nghiên cứu về mật

độ ương ảnh hưởng tới tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá bột cá giò (Charles, 2009;

Kaiser and Holt, 2007; Trần Ngọc Hải & ctv, 2012) nghiên cứu ương cá giò bột trong

hệ thống tuần hoàn, hệ thống hở với thức ăn và mật độ khác nhau

Nguyễn Quang Huy, Như Văn Cẩn, Đỗ Văn Minh và ctv (2003) trong “Tuyển tập báo cáo khoa học của hội thảo toàn quốc về nuôi trồng thủy sản, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I, tháng 11 – 2003” về Phát triển kỹ thuật sản xuất giống cá Giò

(Rachycentron canadum) đã đề xuất mật độ ương cho cá giò giống giai đoạn ăn thức

ăn tươi sống với mật độ là 50 – 80 con/lít và giai đoạn luyện cho ăn thức ăn tổng hợp mật độ là 100-150 con/m3 trong hệ thống thay nước không tuần hoàn hoặc 200-250 con/m3 trong hệ thống lọc sinh học

Các nghiên cứu trên cho thấy tỷ lệ sống của cá giò còn biến động rất lớn và chưa thật sự ổn định Do đó cần nghiên cứu bổ sung để xây dựng quy trình ương nuôi cá giò

ổn định và hoàn chỉnh hơn Đồng thời nghiên cứu ương giống cá giò giống trong bể xi măng với các mật độ khác nhau để tìm ra mật độ ương thích hợp áp dụng cho sản xuất

cá giò giống phục vụ cho nuôi thương phẩm

Trang 34

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: cá giò Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766)

- Giai đoạn nghiên cứu: giai đoạn từ mới nở đến 30 ngày tuổi

- Thời gian nghiên cứu: từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 01 tháng 8 năm 2015

- Địa điểm nghiên cứu: Công ty TNHH SX-TM Hải Kim Trung

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Hình 2.1: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu

Ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò

(Rachycentron canadum(Linnaeus, 1766)) giai đoạn mới nở

đến 30 ngày tuổi

Ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng cá giò

Ảnh hưởng của mật độ ương đến sinh trưởng và

tỷ lệ sống của ấu trùng cá giò

Ảnh hưởng của thức ăn

đến sinh trưởng và tỷ lệ

sống của ấu trùng cá giò

Nhận xét và kết luận

Trang 35

Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung thí nghiệm thức ăn

Hình 2.3: Sơ đồ khối nội dung thí nghiệm độ mặn

Thí nghiệm ảnh hưởng thức ăn

+ copepoda

+ TATH

NT3:Tảo + ấu trùng

Trang 36

Hình 2.4: Sơ đồ khối nội dung thí nghiệm mật độ

2.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Các thí nghiệm được bố trí như sơ khối

Hình 2.5 Phân loại cá dùng cho thí nghiệm

Trang 37

Hình 2.6: Đo chiều dài cá trước và sau thí nghiệm

Hình 2.7:Cá bị dị hình và cá ăn nhau 2.3 Quản lý và chăm sóc

2.3.1 Thí nghiệm ảnh hưởng của thức ăn

- Bể ương thí nghiệm: Sử dụng các bể xi măng, thể tích 500 lít

- Bể được vệ sinh, chà rửa sạch bằng xà phòng Khử trùng bằng chlorine 1.000ppm Chlorine thương mại phổ biến là chlorine (Cl2), hypochlorite canxi [Ca(OCl)2] và hypochlorite natri (NaOCl) Chlorine khi tan trong nước phản ứng tạo ra HOCl và HCl, HOCl tiếp tục ion hóa tạo ra ion OCl- (Cl2 + H2O = HOCl + HCl; HOCl = OCl- + H+) Vì dạng Cl2 không hiện diện khi pH lớn hơn 2 Do đó cơ chế tác dụng của chlorine trong khử trùng chủ yếu là HOCl và OCl- phản ứng với hệ enzyme oxy hóa glucose và các hoạt động trao đổi chất, kết quả gây chết tế bào và vi khuẩn (nguồn từ UV-Việt Nam)

- Nguồn nước biển lọc sạch, độ mặn 30ppt – 33 ppt, sục khí 24/24 giờ

Trang 38

- Cá ở giai đoạn này được chọn có kích thước đồng đều trung bình 4,18 ± 0,25 mm

Số lượng cá đưa vào mỗi bể có thể tích 500 lít là 2500 cá thể

- Bố trí thí nghiệm thức ăn theo các nghiệm thức sau:

+ Nghiệm thức 1: Tảo, luân trùng, Artemia, TATH

+ Nghiệm thức 2: Tảo, luân trùng, Artemia, copepoda, TATH

+ Nghiệm thức 3: Tảo, ấu trùng copepoda, Copepoda, TATH

Trang 39

Ngay sau khi ấu trùng cá giò hết noãn hoàng và dinh dưỡng ngoài, nghiệm thức

1 và 2 cho ăn luân trùng 12g làm giàu DHA-Selco với nồng độ 100ppm, thường xuyên đảm bảo mật độ 15 – 20 con/ml, cho ăn 2 lần/ngày cho ăn đến ngày thứ 10 Tảo

Nannochloropsis oculata vẫn đưa vào các lô thí nghiệm để ổn định môi trường, đồng

thời làm thức ăn cho luân trùng Riêng nghiệm thức 3 cho ăn ấu trùng copepoda, cho

ăn đến ngày thứ 10 Từ ngày thứ 9 nghiệm thức 1 bắt đầu cho ăn Nauplius Artemia sau

12g làm giàu DHA-Selco 100ppm cho đến ngày thứ 21, từ ngày 20 luyện cho cá ăn

thức ăn tổng hợp đến hết thí nghiệm Nghiệm thức 2 cho ăn Copepoda từ ngày thứ 9 đến ngày thứ 12, sau đó cho ăn N-Artemia từ ngày 12 đến ngày thứ 21, từ ngày 20 cho

cá ăn thức ăn tổng hợp (TATH) Nghiệm thức 3 cho ăn copepoda từ ngày thứ 9 đến

ngày thứ 21, từ ngày 20 tập cho cá ăn thức ăn tổng hợp cho đến hết thí nghiệm

Mật độ N-Artemia, Copepoda trong các nghiệm thức thường xuyên là 5 – 10 cá

thể/ml Chế độ cho ăn 2-3 lần/ngày, đảm bảo mật độ thức ăn gần như nhau ở cả 03 nghiệm thức Vi tảo cấp vào 03 nghiệm thức từ ngày thứ 2 đến ngày thứ 20 chủ yếu là

làm thức ăn cho copepoda, luân trùng và ổn định môi trường

2.3.1.1 Nguồn cung cấp thức ăn tươi sống

+ Luân trùng: Luân trùng được thuần hóa và nuôi trong bể xi măng có thể tích

4-6m3, bể được vệ sinh chà rửa sạch bằng xà phòng, xử lý chlorine 100ppm, rửa sạch lại bằng nước ngọt sau đó cấp nước vào 1/2 bể và cấp tảo với mật độ 4-5.104 tế bào/ml Luân trùng giống được đưa vào bể với mật độ 15-20 cá thể/ml Cho ăn tảo đơn bào, có bổ sung thêm men bánh mì 10 -12g/m3/lần, ngày cho ăn 2 lần (6h và 18h) và selco plus 0,5 – 1g/m3/lần, ngày 2 lần (12h và 24h) để bổ sung hàm lượng các a xít béo cho luân trùng Men và selco được cho vào máy xay sinh tố xay nhuyễn, tạt đều vào

bể Khi quan sát thấy mật độ luân trùng tăng lên, màu xanh tảo nhạt dần thì cấp thêm nước và tảo vào bể Lượng men bánh mì cho ăn bổ sung, có thể tăng thêm, điều chỉnh theo mật độ luân trùng và lượng tảo

Sau 2-3 ngày nuôi, mật độ luân trùng tăng lên 250 - 500 cá thể/ml, tiến hành lọc 1/3 đến 1/2 thể tích bể nuôi cho cá bột ăn, sau đó cấp thêm nước mới và tảo để nuôi tiếp Cứ duy trì chế độ chăm sóc và thu hoạch liên tục như vậy sau khoảng 10 ngày nuôi thì thu hoạch toàn bộ, vệ sinh bể chuẩn bị nuôi đợt mới Trong quá trình nuôi, mật độ luân trùng cao nhất đạt được là 770 cá thể/ml

Trang 40

+ Copepoda: Copepoda được nuôi trong ao dất, diện tích 3.000 – 5.000m2 Sâu 1,0 – 1,2m nước Ao được bón phân Ure 0,5kg/100m2, NPK 1kg/100m2 Tạo điều kiện

cho tảo phát triển làm thức ăn cho copepoda Sau khi bón phân 5 – 7 ngày, tảo phát triển có màu xanh lá chuối non, tiến hành thả giống copepoda Copepoda một phần có

sẵn trong môi trường nước tự nhiên Nhưng để phát triển nhanh cần vớt ngoài khu vực nước lợ cho thêm vào ao Đảm bảo mật độ giống ban đầu tối thiểu khoảng 10 cá

thể/lít Sau 10 – 15 ngày nuôi, copepoda đạt mật độ 100 - 150 cá thể/lít thì bắt đầu thu hoạch Dùng Formaline 100 - 200 ppm, tắm cho Nauplius copepoda hoặc copepoda

trong 30 - 60 giây để khử trùng Tắm lại bằng nước sạch để loại bỏ dư lượng Formaline, sau đó cho ấu trùng cá giò ăn

2.3.1.2 Phương pháp làm giàu thức ăn sống

Luân trùng và Nauplius Artemia sau khi thu được cho vào xô nước biển lọc

sạch với mật độ 500 – 1.000 con/ml, duy trì nhiệt độ thích hợp (27 – 30oC), sục khí mạnh và cho ăn với nồng độ cao các chất dinh dưỡng cần làm giàu Chất dinh dưỡng được ăn vào đầy đường ruột và bám vào cơ thể của động vật mồi Khi cá bột ăn luân trùng hoặc Nauplius Artemia đã làm giàu, chúng được bổ sung trực tiếp chất dinh dưỡng từ thức ăn làm giàu chứa trong cơ thể động vật mồi nhưng chưa qua tiêu hóa Nói cách khác, ở phương pháp này, động vật mồi được sử dụng như là phương tiện để

“nhồi” chất dinh dưỡng cần làm giàu, vì vậy phương pháp này còn được gọi là phương pháp “nhồi sinh học” Thời gian làm giàu thường từ 6 đến 12 giờ

Sản phẩm DHA Protein Selco được sử dụng để làm giàu, thành phần gồm: Lipid 26%, Protein 25%, Moisture 5,5%, Fiber 2,2% Thành phần nguyên liệu gồm: Dầu và mỡ cá, men bánh mì, tảo, vitamin, khoáng và chất chống oxy hóa Luân trùng

và Nauplius Artemia sau khi lọc cho vào xô nhựa, sục khí mạnh, sử dụng DHA Protein Selco liều lượng 100ppm, cho vào máy xay sinh tố xay nhuyễn, sau đó cho huyền phù DHA Protein Selco vào xô luân trùng hoặc Nauplius Artemia Sau khi làm giàu, lọc lại, rửa sạch Luân trùng và Nauplius Artemia trước khi cho cá bột ăn

 Theo dõi các yếu tố môi trường: nhiệt độ nước, pH, độ mặn, hàm lượng oxy hòa tan

 Theo dõi tốc độ tăng trưởng của cá bột, đo kích thước 10 ngày/lần (30 cá thể/lần)

Ngày đăng: 23/03/2016, 19:50

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Hình dạng ngoài của cá giò - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò rachycentron canadum (linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi
Hình 1.1 Hình dạng ngoài của cá giò (Trang 16)
Hình 1.2: Phân bố tự nhiên của cá giò trên thế giới - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò rachycentron canadum (linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi
Hình 1.2 Phân bố tự nhiên của cá giò trên thế giới (Trang 17)
Hình 1.3: Cá giò giống ăn thịt lẫn nhau - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò rachycentron canadum (linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi
Hình 1.3 Cá giò giống ăn thịt lẫn nhau (Trang 18)
2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò rachycentron canadum (linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi
2.2.1. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (Trang 34)
Hình 2.2: Sơ đồ khối nội dung thí nghiệm thức ăn - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò rachycentron canadum (linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi
Hình 2.2 Sơ đồ khối nội dung thí nghiệm thức ăn (Trang 35)
Hình 2.5. Phân loại cá dùng cho thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò rachycentron canadum (linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi
Hình 2.5. Phân loại cá dùng cho thí nghiệm (Trang 36)
Hình 2.4: Sơ đồ khối nội dung thí nghiệm mật độ - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò rachycentron canadum (linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi
Hình 2.4 Sơ đồ khối nội dung thí nghiệm mật độ (Trang 36)
Hình 2.6: Đo chiều dài cá trước và sau thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò rachycentron canadum (linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi
Hình 2.6 Đo chiều dài cá trước và sau thí nghiệm (Trang 37)
Hình 2.7:Cá bị dị hình và cá ăn nhau  2.3. Quản lý và chăm sóc - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò rachycentron canadum (linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi
Hình 2.7 Cá bị dị hình và cá ăn nhau 2.3. Quản lý và chăm sóc (Trang 37)
Hình 2.8: Sơ đồ cung cấp thức ăn ở các nghiệm thức thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò rachycentron canadum (linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi
Hình 2.8 Sơ đồ cung cấp thức ăn ở các nghiệm thức thí nghiệm (Trang 38)
Hình 3.1.  Tăng trưởng của ấu trùng cá giò trong các nghiệm thức thức ăn - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò rachycentron canadum (linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi
Hình 3.1. Tăng trưởng của ấu trùng cá giò trong các nghiệm thức thức ăn (Trang 45)
Hình 3.2. Tỷ lệ sống của cá ở thí nghiệm thức ăn - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò rachycentron canadum (linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi
Hình 3.2. Tỷ lệ sống của cá ở thí nghiệm thức ăn (Trang 47)
Hình 3.3. Tỷ lệ sống của cá giò ở thí nghiệm độ mặn - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò rachycentron canadum (linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi
Hình 3.3. Tỷ lệ sống của cá giò ở thí nghiệm độ mặn (Trang 51)
Hình 3.4. Tỷ lệ sống của cá giò gia đoạn mới nở đến 10 ngày tuổi ở các - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò rachycentron canadum (linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi
Hình 3.4. Tỷ lệ sống của cá giò gia đoạn mới nở đến 10 ngày tuổi ở các (Trang 54)
Hình 3.6. Tỷ lệ sống của cá giò gia đoạn 20 ngày đến 30 ngày tuổi ở các nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn, độ mặn và mật độ đến sinh trưởng, tỷ lệ sống của cá giò rachycentron canadum (linnaeus, 1766) giai đoạn mới nở đến 30 ngày tuổi
Hình 3.6. Tỷ lệ sống của cá giò gia đoạn 20 ngày đến 30 ngày tuổi ở các nghiệm (Trang 58)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w