BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG NGUYỄN KIM THOA NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ BIẾN ĐỘNG SINH LƯỢNG ĐỘNG VẬT PHÙ DU VÙNG BIỂN VEN ĐẢO BẠCH LONG VĨ, HẢI PHÒNG LU
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN KIM THOA
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI
VÀ BIẾN ĐỘNG SINH LƯỢNG ĐỘNG VẬT PHÙ DU VÙNG BIỂN VEN ĐẢO BẠCH LONG VĨ, HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHÁNH HÒA - 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
NGUYỄN KIM THOA
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI
VÀ BIẾN ĐỘNG SINH LƯỢNG ĐỘNG VẬT PHÙ DU VÙNG BIỂN VEN ĐẢO BẠCH LONG VĨ, HẢI PHÒNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi kết quả đề tài: “Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và biến động sinh lượng động vật phù du vùng biển ven đảo Bạch Long Vĩ, Hải Phòng” là
công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi và chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình khoa học nào khác cho tới thời điểm này
Hải Phòng, Ngày 20 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Kim Thoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành Luận văn Thạc sĩ này, trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Văn Khương, người hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện Luận văn
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô trường Đại học Nha Trang, Viện Nghiên cứu Hải sản đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các ông chủ nhiệm đề tài, dự án: Ths Lại Duy Phương, PGS.TS Đỗ Văn Khương, ThS Nguyễn Văn Hiếu các tác giả các bài báo khoa học… đã cho phép tôi sử dụng nguồn tư liệu để viết Luận văn Trong quá trình thực hiện và hoàn thành Luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và động viên của Lãnh đạo và các cán bộ Phòng Nghiên cứu Bảo tồn biển, Viện Nghiên cứu Hải sản, đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tư liệu tại hiện trường và xử lý số liệu trong phòng thí nghiệm
Xin chân thành cảm ơn UBND huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), Đồn biên phòng đảo Bạch Long Vĩ, đã tạo điều kiện cho tôi trong các chuyến khảo sát thực địa thu thập mẫu vật làm tư liệu cho Luận văn này
Cuối cùng gia đình, bạn bè, đồng nghiệp chính là nguồn động viên, khích lệ vô giá đã đi cùng tôi trong suốt những năm tháng phấn đấu, rèn luyện để có được sản phẩm khoa học này
Hải Phòng, Ngày 20 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Nguyễn Kim Thoa
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan iii
Lời cảm ơn iv
Danh mục chữ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục hình ix
Trích yếu luận văn x
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình nghiên cứu ĐVPD trên thế giới và trong khu vực 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ĐVPD trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ĐVPD trong khu vực 4
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 6
1.3 Điều kiện tự nhiên, môi trường vùng biển Bạch Long, Hải Phòng 10
1.3.1 Vị trí địa lý 10
1.3.2 Đặc điểm khí tượng thuỷ văn 11
1.3.3 Đặc điểm môi trường nước biển 13
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu 17
2.2 Phương pháp nghiên cứu 20
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.2.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 21
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 Đa dạng thành phần loài ĐVPD vùng biển Bạch Long Vĩ 24
3.1.1 Đa dạng thành phần loài 24
Trang 63.2 Đặc điểm phân bố 28
3.2.1 Đặc điểm phân bố chung 28
3.2.2 Phân bố của các loài ưu thế 30
3.3 Đánh giá sự biến động sinh vật lượng 31
3.3.1 Biến động về khối lượng 28
3.3.2 Biến động về số lượng 30
3.4 Giải pháp khai thác và sử dụng bền vững nguồn lợi thủy sản 34
3.4.1 Giải pháp khai thác 34
3.4.2 Giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi 35
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 36
4.1 Kết luận 36
4.2 Khuyến nghị 37
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
A Tài liệu tiếng Việt 38
B Tài liệu tiếng Anh 40
C Tài liệu tiếng Pháp 42
PHỤ LỤC 43
Phụ lục 1: Danh mục thành phần loài động vật phù du tại Bạch Long Vĩ 43
Phụ lục 2: Một số hình ảnh 48
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Giá trị các thông số môi trường cơ bản nước biển quanh đảo Bạch Long
Vĩ 14
Bảng 1.2 Giá trị một số muối dinh dưỡng vô cơ khu vực nghiên cứu 15
Bảng 2.1 Tọa độ trạm nghiên cứu tại ven đảo Bạch Long Vĩ 18
Bảng 2.2 Bảng phân chia mức độ đa dạng theo Chen Quingchao 22
Bảng 3.1 Thành phần loài động vật phù du theo mùa 26
Bảng 3.2 Chỉ số đa dạng sinh học ĐVPD ở Bạch Long Vĩ 27
Bảng 3.3 Số lượng loài ĐVPD theo năm tại các khu vực nghiên cứu 30
Bảng 3.4 Tỷ lệ thành phần loài ĐVPD theo tính chất sinh thái 31
Bảng 3.5 Biến động khối lượng ĐVPD đảo Bạch Long Vĩ (2013 - 2014) 32
Bảng 3.6 Biến động mật độ ĐVPD đảo Bạch Long Vĩ (2013 - 2014) 32
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ khu vực huyện đảo Bạch Long Vĩ 11
Hình 1.2 Biến động tốc độ gió trung bình trong năm tại Bạch Long Vĩ 12
Hình 1.3 Biến động nhiệt độ không khí trung bình trong năm tại Bạch Long Vĩ 12
Hình 2.1 Sơ đồ các nội dung nghiên cứu 17
Hình 2.2 Sơ đồ các trạm nghiên cứu môi trường vùng biển Bạch Long Vĩ 19
Hình 2.3 Trang thiết bị thu mẫu động vật phù du 20
Hình 2.4 Trang thiết bị lưu giữ và cố định mẫu động vật phù du 22
Hình 3.1 Thành phần loài động vật phù du ven đảo Bạch Long Vĩ 24
Hình 3.2 Biến động thành phần loài động vật phù du đảo Bạch Long Vĩ 27
Hình 3.3 Thành phần loài ĐVPD tại các trạm khảo sát 28
Hình 3.4 Phân bố thành phần loài ĐVPD các đợt khảo sát tại khu vực đảo 29
Hình 3.5 Biến động sinh vật lượng ĐVPD đảo Bạch Long Vĩ 33
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Động vật phù du (ĐVPD) là mắt xích quan trọng của chuỗi thức ăn; thành phần chính trong thức ăn của nhiều loài cá con và cá trưởng thành; là cơ sở đánh giá tiềm năng sinh học của vùng nước và được sử dụng làm sinh vật chỉ thị cho môi trường nước, góp phần đáng kể vào việc cân bằng sinh thái của thủy vực Ngoài ra, nghiên cứu ĐVPD làm cơ sở cho công tác dự báo và xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch khai thác thủy sản ở các vực nước, sử dụng tối ưu sản lượng sinh vật trong thủy vực nhằm đạt hiệu quả cao nhất trên cơ sở bảo đảm cân bằng sinh thái Chính vì những ý nghĩa đó việc bổ sung, cập nhật các thông tin liên quan đến đa dạng thành phần loài và biến động sinh vật lượng ĐVPD là rất cần thiết Nghiên cứu về ĐVPD vùng ven đảo Bạch Long Vỹ, Hải Phòng nhằm đạt được các mục tiêu sau: (1) Xác định được đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố sinh thái của các nhóm loài ĐVPD chiếm ưu thế tại vùng biển ven đảo Bạch Long Vĩ, Hải Phòng; (2) Đánh giá được sự biến động sinh lượng ĐVPD theo không gian và thời gian tại vùng biển ven đảo Bạch Long Vĩ, Hải Phòng
Luận văn thiết kế hệ thống điểm điều tra thu mẫu theo các trạm nghiên cứu môi trường đại diện cho cả vùng ven đảo Bạch Long Vĩ Mẫu động vật phù du được thu bằng lưới hình chóp với diện tích miệng lưới rộng 0,125 m2
trong cột nước từ cách đáy
2 m đến mặt nước, miệng lưới được gắn lưu tốc kế (Flowmeter) có mắt lưới 330 µm Mẫu được bảo quản trong dung dịch formaline 4 - 5 % Phân loại ĐVPD theo phương pháp hình thái so sánh và sử dụng phần mềm ứng dụng trên Microsoft Office Excel
2010để phân tích xử lý số liệu
Kết quả xác định được tổng cộng có 80 loài ĐVPD thuộc 9 nhóm Trong đó, nhóm Copepoda có số lượng loài nhiều nhất (46 loài) chiếm 57,50% là nhóm thức ăn quan trọng nhất của nhiều loài cá nổi, nhóm Polychaeta có số lượng ít nhất (2 loài) chiếm 2,50% Thành phần loài động vật phù du có sự thay đổi theo thời gian nghiên cứu; năm 2013 thống kê được 80 loài và năm 2014 thống kê 76 loài
Chỉ số đa dạng của ĐVPD năm 2014 đều cao hơn năm 2013 Chỉ H‟ năm 2014
là 5,60, năm 2013 là 5,53 Chỉ số E của cả hai năm 2013 và năm 2014 đều là (0,87)
Dv năm 2014 là 4,96 còn năm 2013 là 4,79
Trang 11Luận văn xác định khu vực phía bắc đảo có số loài ĐVPD lớn hơn khu vực phía nam đảo Cụ thể vào mùa khô tháng 3/2013 phát hiện 53 loài, trung bình 36,8 loài/trạm khảo sát và có xu thế phân bố tương đối đồng đều xung quanh đảo, dao động
từ 31 - 45 loài/ trạm khảo sát Vào mùa mưa tháng 7/2013 phát hiện được số loài nhiều hơn là 80 loài, trung bình là 59,0 loài/trạm khảo sát Số lượng loài phân bố cũng không đều, dao động từ 40 - 77 loài/trạm khảo sát Tại tháng 3/2014 phát hiện 54 loài, trung bình 41,7 loài/trạm khảo sát và có sự biến động theo trạm, dao động từ 34 - 51 loài/trạm và 7/2014 số lượng loài trung bình 76 loài, trung bình 53,0 loài/trạm khảo sát, số lượng dao động lớn từ 23 - 75 loài/trạm
Tổng khối lượng ĐVPD thu được ở các thời điểm khác nhau không giống nhau Tổng khối lượng dao động từ 761,49 mg/m3
- 1867,86 mg/m3 Tổng khối lượng thu được lớn nhất là vào tháng 7 năm 2014 là 1867,86 mg/m3
, trung bình vùng nghiên cứu
là 123,86 ± 36,85 mg/m3 Ít nhất là tại thời điểm tháng 3 năm 2013, tổng khối lượng thu được là 761,49 mg/m3
và trung bình vùng nghiên cứu là 50,76 ± 23,39 mg/m3
Tổng mật độ ĐVPD cũng có sự thay đổi nhiều và có sự dao động tương đối lớn
từ 3721,07 - 5454,64 con/m3 Mật độ trung bình trên tất cả các trạm khảo sát cao nhất
là tháng 7 năm 2014 với 361,27 ± 111,15 con/m3
, đứng thứ hai là tháng 7 năm 2013 với mật độ trung bình 351,00 ± 170,16 con/m3
, thấp nhất là tháng 3 năm 2014 với 248,00 ± 76,58 con/m3
Đề xuất không nên khai thác nguồn lợi thủy sản quá mức làm ảnh hưởng đến môi trường nước từ đó làm suy giảm thành phần loài và sinh lượng ĐVPD Cần tổ chức thông tin tuyên truyền rộng rãi cho người dân và ngư dân trên đảo qua các kênh thông tin để bảo vệ môi trường nước
Thành phần loài ĐVPD ở vùng biển Bạch Long Vĩ rất đa dạng và có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái biển nên cần tiếp tục có nghiên cứu sâu hơn theo hướng (1) Nghiên cứu mối quan hệ giữa ĐVPD với các yếu tố môi trường và hệ sinh thái quanh đảo Bạch Long Vĩ (2) Nghiên cứu mối quan hệ giữa ĐVPD với nguồn lợi cá ở khu vực vùng biển Bạch Long Vĩ
Từ khóa: Động vật phù du, sinh vật lượng, Bạch Long Vĩ
Trang 12MỞ ĐẦU
Đảo Bạch Long Vĩ nằm giữa Vịnh Bắc Bộ, thuộc quyền quản lý của thành phố Hải Phòng, có tầm quan trọng Quốc gia liên quan đến những vần đề chủ quyền lãnh hải, an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế biển Để khẳng định và thực hiện chủ quyền, khai thác tiềm năng to lớn tài nguyên đảo và vùng biển quanh đảo, cần thiết phải phát triển dân sinh cùng với tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng và thực thi các dự
án kinh tế Các hoạt động này đang và sẽ tạo nên sức ép đối với môi trường tự nhiên, sinh thái vùng biển ven đảo Để có thể phát triển bền vững, ngăn ngừa giảm thiểu tác động đến môi trường, sinh thái, việc điều tra cơ bản môi trường vùng biển đảo Bạch Long Vĩ phục vụ cho quy hoạch phát triển chiến lược kinh tế - xã hội huyện đảo là công việc cần thiết
Chính vì có vị trí quan trọng như vậy nên việc nghiên cứu tổng thể đa dạng sinh học của vùng biển là rất cần thiết trong đó bao gồm các nhóm đối tượng Động vật phù
du Động vật phù du (ĐVPD) là một trong các thủy sinh vật đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái biển và chu trình chuyển hóa vật chất dinh dưỡng của thủy vực ĐVPD không những là mắt xích quan trọng của chuỗi thức ăn mà còn là cơ sở đánh giá tiềm năng sinh học của vùng nước Nhiều nhóm động vật phù du cỡ nhỏ là thành phần chính trong thức ăn của nhiều loài cá con và cá trưởng thành Động vật phù du còn được sử dụng làm sinh vật chỉ thị cho môi trường nước và góp phần đáng kể vào việc cân bằng sinh thái của thủy vực Ngoài ra, nghiên cứu ĐVPD làm cơ sở cho công tác dự báo và xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch khai thác thủy sản ở các vực nước, sử dụng tối ưu sản lượng sinh vật trong thủy vực nhằm đạt hiệu quả cao nhất trên cơ sở bảo đảm cân bằng sinh thái
Với vai trò và ý nghĩa như vậy nên việc nghiên cứu về nhóm đối tượng này là rất quan trọng Việc luôn bổ sung, cập nhật các thông tin liên quan đến đa dạng thành phần loài và biến động sinh vật lượng ĐVPD là rất cần thiết Qua đó ta có thể đánh giá được tiềm năng sinh học của vùng biển như thế nào? Để từ đó có những giải pháp cụ thể nhằm bảo tồn và phát triển bền vững nguồn lợi thủy sản Đảo là khu vực có độ đa dạng sinh học cao, là tiềm năng lớn cho nghề khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản.Với nguồn lợi sinh vật biển phong phú và đa dạng, vùng biển đảo Bạch Long Vĩ nằm trong số các khu bảo tồn biển Việt Nam Trong những năm gần đây, do sự biến
Trang 13đổi khí hậu toàn cầu và các hoạt động của con người nên chất lượng môi trường nước chịu ảnh hưởng rất lớn đã tác động trực tiếp đến hệ sinh thái và quần xã sinh vật sống xung quanh đảo Những nghiên cứu về ĐVPD tại Bạch Long Vĩ trước đây còn hạn chế, chủ yếu mới chỉ thống kê về thành phần loài nhưng cũng chưa đầy đủ, không có tính liên tục, biến động sinh lượng theo không gian và thời gian chưa được nghiên cứu Xuất phát từ thực tiễn và vai trò, ý nghĩa của nhóm ĐVPD, học viên chọn đề tài
“Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và biến động sinh lượng động vật phù du vùng biển ven đảo Bạch Long Vĩ, Hải Phòng”
* Mục tiêu của luận văn
- Xác định được đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố sinh thái của các nhóm loài ĐVPD chiếm ưu thế tại vùng biển ven đảo Bạch Long Vĩ, Hải Phòng
- Đánh giá được sự biến động sinh lượng ĐVPD theo không gian và thời gian tại vùng biển ven đảo Bạch Long Vĩ, Hải Phòng
* Nội dung nghiên cứu của luận văn
- Nghiên cứu đa dạng thành phần loài ĐVPD tại vùng biển ven đảo Bạch Long Vĩ
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố sinh thái của ĐVPD và các nhóm loài chiếm ưu thế tại vùng biển ven đảo Bạch Long Vĩ
- Đánh giá được sự biến động sinh lượng ĐVPD theo không gian và thời gian của ĐVPD tại vùng biển ven đảo Bạch Long Vĩ
* Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Trang 14- Cung cấp cơ sở khoa học cho các nhà quản lý xây dựng các chỉ tiêu kế hoạch khai thác thủy sản, nhằm bảo tồn, phục hồi, phát triển và sử dụng hợp lý nguồn lợi sinh vật tại vùng biển Bạch Long Vĩ
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu ĐVPD trên thế giới và trong khu vực
1.1.1 Tình hình nghiên cứu ĐVPD trên thế giới
Thompson (1830) là người đầu tiên sử dụng lưới ĐVPD sau đó là Muler (1845) Trong khi nghiên cứu chu trình của sao biển, Muler dùng mắt lưới nhỏ để vớt
ấu trùng của chúng đã tình cờ phát hiện ra sự phong phú của cá loài sinh vật nhỏ bé sống trong nước biển Sự khám phá này được thông báo đến Haeckel và ông đã sử dụng lưới “Muler” để nghiên cứu các sinh vật sống phù du trong nước Cả Muler và Haeckel đã trở thành những nhà sinh thái học đầu tiên Thuật ngữ “sinh thái học” đã được Haeckel đưa vào năm 1869 [5]
Ngày nay có rất nhiều công trình nghiên cứu sinh thái học biển đề cập đến ĐVPD, từ nghiên cứu tình hình sinh lượng, cấu trúc quần xã, địa lý động vật, sự di chuyển ngày đêm và theo mùa v.v đến tính chất thức ăn và thành phần sinh hóa, năng suất sinh học ở thủy vực khác nhau trên thế giới
Nghiên cứu của Layboum- Parry (1992) [40] về sinh thái học động vật nguyên sinh phù du; nghiên cứu của Chen Qingchao et al (1994) [35] về tính đa dạng của ĐVPD ở vùng biển quần đảo Trường Sa đã đưa ra một nhận định về tính đa dạng của quần xã ĐVPD, phân tích một số đặc điểm cấu trúc quần xã và sử dụng chỉ số đa dạng sinh học để đánh giá mức độ phong phú của vùng nước, tìm hiểu mối quan hệ giữa ĐVPD với môi trường v.v
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ĐVPD trong khu vực
Các nước xung quanh Biển đông (The South China Sea) sử dụng nguồn lợi cá biển như nguồn Protein cơ bản Nhu cầu xác định trữ lượng nguồn lợi cá, khai thác hợp lý, bảo vệ và phát triển nguồn lợi của vùng biển trở nên bức xúc vì sự suy giảm sản lượng cá khai thác trong khu vực có dân số và kinh tế tăng nhanh [41]
Các cuộc khảo sát ở khu vực phía Bắc biển Đông đã được tiến hành từ giữa thế
kỷ XX Trong hai thập niên 1960 - 1980, các nghiên cứu ở khu vực này tập trung chủ yếu vào xác định thành phần khu hệ và địa lý động vật của ĐVPD:
Trang 16- Thời gian từ 1959 - 1960 ở phần phía bắc Biển Đông ở vùng nước ven bờ Kwangtung và đảo Hải Nam, Chen Qingchao và Zhang Shu Zhen (1974) đã liệt kê
được 48 loài Copepoda thuộc 4 họ: Calanoidae, Eucalanidae, Paracalanidae và Pseudocalanidae, trong đó có 1 loài mới đối với khoa học là Calocalanus monospinus
sp Nov., 9 loài khác được ghi nhận là mới đối với biển Trung Quốc [31]
- Trong năm 1974, Chen Qingchao và Shen Chia Jui (1974) công bố công trình thứ 2 về Copepoda của biển Đông với khu vực sát ở vùng nước gần bờ tỉnh
Kwangtung (Trung Quốc) xác định được 31 loài thuộc bộ Calanoida với thành phần
chính là các loài nhiệt đới, trong đó 16 loài phân bố ở biển Đông Trung Quốc, 11 loài
ở phía biển Hoàng Hải, có 4 loài giới hạn phân bố ở biển Đông, 2 loài lần đầu tiên bắt
gặp ở biển Đông là Pontellopsis macronyx A Scott và Euchaeta spinosa Giesbrecht, 1 loài được xác định là mới đối với khoa học là Pontellopsis inflatodigitata, sp Nov
[32]
- Năm 1980, Chen Qingchao (1980) công bố kết quả nghiên cứu thành phần khu hệ ĐVPD ở vùng nước quanh đảo Hồng Kông với 120 loài thuộc 15 nhóm cùng rất nhiều ấu trùng da gai, thân mềm và cá biển ĐVPD khá phong phú ở vùng nước gần bờ Hồng Kông với thành phần chính là các loài cửa sông và ven bờ [33]
- Khi tiến hành khảo sát vùng trung tâm và một phần phía bắc Biển đông giai
đoạn 1975-1982, Cheng Qingchao (1982) đã mô tả 10 loài của bộ Calanoida thuộc họ Tortanidae và giống Tortanus Hầu hết các loài này đều bắt gặp ở Biển Đông Trung Hoa và biển Hoàng Hải, trong đó loài Tortanus sinicus, sp.nov được mô tả là loài mới
đối với khoa học [34]
- Năm 1994, 12 công trình nghiên cứu đa dạng sinh vật biển quần đảo Trường
Sa và vùng biển lân cận đã công bố Trong đó nghiên cứu của Cheng Qingchao (1994)
về tính đa dạng của ĐVPD cho thấy sự khác biệt về mùa của tính đa dạng không lớn Giá trị tính đa dạng của vùng biển thuộc mức phong phú [35]
- Năm 1996 kết quả của chuyến khảo sát liên hợp Việt Nam - Philippin JOMSRE-SCS-96, Mc Manus et al (1996) cho biết về sinh vật lượng của sinh vật phù
du ở khu vực biển đông đều tập trung ở tầng nước 0 † 100m với giá trị trung bình 11,9
mg khô/m3 [41]
Trang 17- Relox et al (2000) nghiên cứu ĐVPD ở vùng biển phía tây Philippin tháng 5/1998 cho biết sinh khối ĐVPD biến đổi trong phạm vi từ 0,09 mg khô/m3 - 20,85
4-mg khô/m3 và mật độ từ 446 - 4683 cá thể/m3 Quần xã ĐVPD bao gồm 37 nhóm khác nhau, trong đó Copepoda là nhóm ưu thế nhất chiếm từ 5 - 43% số lượng ĐVPD [42]
- Có nhiều nghiên cứu về ĐVPD tại khu vực nam Biển Đông và vịnh Thái Lan nhưng các kết quả nghiên cứu còn bị hạn chế do phần lớn chỉ tập trung theo hướng tìm hiểu tình hình sinh lượng, mức độ phong phú và sự phân bố mặt rộng của ĐVPD Các tác giả sử dụng đơn vị tính sinh khối là ml/m3
nên kết quả thu được ít sử dụng trong nghề cá biển và so với các công trình nghiên cứu khác trong khu vực:
+ Brinton (1963) là người đầu tiên nghiên cứu mức độ phong phú của ĐVPD ở vịnh Thái Lan, sinh khối ĐVPD lớn nhất thấy ở phần trong của vịnh là 741ml/1000m3
vào tháng 8 năm 1960 và nhỏ nhất 186ml/1000m3 vào tháng 2- 1961 [28]
+ Một số nghiên cứu của Sudara và Udomkit (1984) cho thấy mật độ lớn nhất của ĐVPD ở vùng trong của vịnh Thái Lan năm 1980- 1981 xuất hiện vào tháng 6: 1.124.944 cá tthể/1000m3 và nhỏ nhất vào tháng 4: 563.666 ct/1000m3 Độ phong phú cao của ĐVPD xuất hiện vào mùa mưa, độ phong phú thấp vào các tháng mùa đông trong năm [45]
+ Tác giả Jivaluk (1999) đã tìm thấy 38 nhóm ĐVPD trong vùng nước Sabab
Sarawak và Brunei Darusalam ở nam Biển Đông, trong đó nhóm Copepoda chiếm ưu
thế nhất, tiếp theo là Ostracoda và Chaetognatha [39]
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Sinh vật phù du (Plankton) biển Việt Nam được Maurice Rose bắt đầu nghiên cứu từ năm 1920 và lần lượt công bố danh sách các loài ĐVPD tìm thấy ở bờ biển Việt Nam Năm 1926, ông là người đầu tiên công bố danh sách 56 loài Động vật phù du (Zooplankton) ven bờ biển Việt Nam Những năm sau đó (1955), ông đã công bố 109 loài ĐVPD ở vịnh Nha Trang Năm 1956 công bố 119 loài Chân mái chèo (Copepoda)
ở vịnh Nha Trang [48], [49], [50]
Dawydoff (1926-1937) đã nghiên cứu về mối liên quan giữa ĐVPD và các điều kiện ngoại cảnh ở vùng biển Đông Dương [46]
Trang 18Serene (1948) công bố kết quả nghiên cứu biến động số lượng ĐVPD theo thời gian và mối quan hệ với các yếu tố ngoại cảnh trong các năm 1938 - 1942 ở Vịnh Nha Trang [51]
Hamon (1956) đã công bố danh sách 11 loài động vật Hàm tơ (Chaetognatha) ở biển miền Nam Việt Nam Khi nghiên cứu SVPD ở Cầu Đá vịnh Nha Trang đã phát hiện nhịp điệu di cư theo ngày đêm theo chiều thẳng đứng của cá con trong biển Năm
1929 - 1930 ông nghiên cứu ĐVPD ở vịnh Nha Trang và thấy ở đây ĐVPD rất phong phú và có tính chất biển rõ ràng Mùa hè có nhiều dạng ĐVPD biển khơi nhưng khi có gió mùa đông bắc thì khu hệ đột nhiên thay đổi, rất nghèo về thành phần loài và số lượng do có nước ngọt từ lục địa chảy ra Năm 1952, ông đã nghiên cứu khá đầy đủ về điều kiện ngoại cảnh và qui luật biến động số lượng SVPD trong mùa khô và mùa mưa
ở vịnh Nha Trang [47]
Chương trình khảo sát NAGA (1959-1961) đã nghiên cứu ĐVPD ở vùng biển đông nam Việt Nam và Vịnh Thái Lan đã có một số công trình được công bố: Sinh vật lượng ĐVPD ở vịnh Thái Lan và vùng biển phía đông nam Việt Nam (Brinton, 1963); Phân bố và số lượng của tôm Lân (Euphausia) ở biển miền Nam Việt Nam (Brinton và Watanaprida, 1963); Một số loài Chân mái chèo ở vịnh Thái Lan (Flemiger, 1963); Các loài chân cánh (Pteropoda) ở Vịnh Thái Lan và biển đông Nam Việt Nam (Rottaman, 1963); Các loài Thủy mẫu (Medusa), Quản thủy mẫu (Siphonophora) và Hàm tơ (Chaetognatha) ở vịnh Thái Lan và biển đông nam Việt Nam (Alvarino, 1963); Phân bố của một số giống và loài chân mái chèo trong tầng nước mặt biển nam Việt Nam (Bui Thi Lang, 1963) [30] v.v
Chương trình nghiên cứu tổng hợp Vịnh Bắc Bộ Việt - Trung (1959 - 1962) đã điều tra hệ thống và liên tục hai đợt, mỗi đợt 12 tháng và thu được những tài liệu cơ bản về ĐVPD Dựa trên những tài liệu thu được, Nguyễn Văn Khôi và Đàm Quang
Hải (1967) đã công bố danh sách 127 loài Chân mái chèo (Copepoda) và danh mục một số loài Hàm tơ (Chaetognatha) ở vịnh Bắc Bộ [14]
Năm (1994) Nguyễn Văn Khôi sử dụng một phần tư liệu của cuộc điều tra đã biên soạn và cho sản xuất bản cuốn “Lớp phụ chân mái chèo (copepoda) ở vịnh Bắc Bộ” Đây là công trình có giá trị nghiên cứu về chân mái chèo ở vịnh Bắc Bộ và cũng
là nội dung chính của luận án tiến sỹ sinh học tác giả bảo vệ năm 1985 Tác giả đã mô
Trang 19tả hình thái phân loại, phân bố và biến động của 100 loài chân mái chèo, trong đó có
12 loài chiếm ưu thế và nghiên cứu mối liên quan giữa chân mái chèo với điều kiện ngoại cảnh ở vịnh Bắc Bộ [17]
Chương trình thăm dò cá vịnh Bắc Bộ, Việt-Xô (1960-1961) cũng đã nghiên cứu SVPD gồm 6 chuyến khảo sát ở Vịnh Bắc Bộ và một phần biển phía nam của vịnh cho đến 14045‟vĩ Bắc Nhiều công trình liên quan đến ĐVPD đã được công bố từ các cuộc khảo sát này: Khối lượng SVPD và ĐVĐ trong vịnh Bắc Bộ (Nguyễn Tiến Cảnh, 1977) [9]; Động vật giới và điều kiện môi trường vịnh Bắc Bộ (Gurjanova, 1972) [37]; Những quần thể và những loài ĐVPD chủ yếu theo mùa của vịnh Bắc Bộ (Brosdki, 1972) [29]
Chương trình nghiên cứu tổng hợp ven bờ tây Vịnh Bắc Bộ năm (1962-1965)
do Viện Nghiên cứu Hải sản thực hiện cho biết tình hình phân bố và biến động sinh vật lượng SVPD và ĐVĐ) Trong các năm 1975-1976 Viện Nghiên cứu Hải sản đã tiến hành khảo sát một lần nữa phân bố và biến động sinh vật lượng SVPD Kết quả thu được cơ bản phù hợp với những nghiên cứu trước đây ở vùng biển này (Nguyễn Tiến Cảnh 1965, 1977) [6], [9]
Shirota năm (1963 -1966) chủ trì “Chương trình Colombo” khảo sát về SVPD trong nước ngọt lẫn vùng ven biển từ Huế đến Cà Mau và vùng biển Phú Quốc Kết quả nghiên cứu được trình bày trong cuốn “The Plankton of South Vietnam” xuất bản năm 1966 với danh sách và hình vẽ 985 loài SVPD bao gồm cả những loài nước ngọt, trong đó có 763 loài ĐVPD Đây là công trình lớn nhất Việt Nam về SVPD từ trước đến thời điểm đó Cũng vào năm này, Shirota A (1966) nghiên cứu về sinh vật lượng SVPD trong mối quan hệ với điều kiện ngoại cảnh ở vịnh Nha Trang vào mùa mưa và mùa khô [44]
Viện Nghiên cứu Biển năm 1970-1971 đã tổ chức điều tra vùng cửa sông Hồng, sông Ninh Cơ và sông Đáy Nguyễn Văn Khôi và Dương Thị Thơm (1980) cho biết thành phần loài và sự biến đổi tỷ lệ theo mùa của ĐVPD ở ba cửa sông này [15]
Chương trình C.S.K (Cooperation Study of the Kuroshio and Adjacent Region) của UNESCO (1973-1974) đã thu thập mẫu SVPD trong vùng biển từ Khánh Hòa đến Cam Ranh và phân tích ở Singapo nhưng mới công bố một số tài liệu thống kê số lượng
Trang 20Nguyễn Tiến Cảnh (1977) đã có báo cáo về khối lượng SVPD và động vật đáy
ở vịnh Bắc Bộ [9]
Chương trình điều tra tổng hợp vùng biển Thuận Hải - Minh Hải (1978 -1980)
đã tiến hành 15 chuyến khảo sát từ vùng biển Quy Nhơn đến Cà Mau Từ các tài liệu thu được Nguyễn Văn Khôi và cộng sự (1991) đã xác định được 212 loài ĐVPD, trong
đó có 8 giống và 18 loài mới so với danh sách tên loài đã công bố ở Việt Nam và cho biết sự phân bố và biến động theo mùa của sinh vật lượng ĐVPD [16]
Từ năm 1979-1987, nhiều chuyến khảo sát nghiên cứu trên các tàu của Liên Xô Nauka, Sokalski, Gerakl, Santar v.v… cũng đã thu thập mẫu về SVPD ở vùng biển miền Nam Việt Nam
Nguyễn Trọng Nho và cộng sự (1991) có nghiên cứu về cơ sở thức ăn trong biển Các tác giả đã tính toán khối lượng, năng suất sinh học và trữ lượng của SVPD
và ĐVĐ là thức ăn cho các động vật khai thác ở vùng biển Thuận Hải từ 20m nước trở vào bờ [21]
Nguyễn Tiến Cảnh (1991, 1996), đã xác định khối lượng và NSSH của ĐVPD
ở các vùng biển Việt Nam Tuy nhiên khu vực nghiên cứu chưa bao trùm hết vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam [10]
Nguyễn Văn Khôi, Nguyễn Cho, Nguyễn Tấn Hóa (1994) trên cơ sở tập hợp các tài liệu về thành phần ĐVPD từ 1959 ở Việt Nam đã phân tích đặc tính thành phần loài ĐVPD biển Việt Nam [18]
Đặng Ngọc Thanh (1995) tổng hợp các kết quả khảo sát về SVPD khu vực biển ven bờ miền Trung từ Quảng Bình đến Khánh Hòa cho những nhận định đáng chú ý
về số lượng sinh vật nổi sai khác rõ rệt ở hai khu vực biển phía bắc và phía nam vùng nghiên cứu tạo nên 2 khu vực phân bố số lượng cao hẳn ở phía bắc và thấp hẳn ở phía nam với giới hạn phân bố khoảng 13 - 140
N [3]
Nguyễn Cho (1997) có báo cáo về ĐVPD ở vùng nước trồi Nam Trung Bộ thuộc dải ven bờ Ninh Thuận - Bình Thuận ĐVPD tập trung chủ yếu ở tầng mặt và có
xu thế tăng dần từ bờ ra khơi [12]
Trang 21Nguyễn Dương Thạo (1998) đã có công bố đầu tiên về tính đa dạng của ĐVPD vùng biển quần đảo Trường Sa, xác định được 8 loài ưu thế ở vùng biển giữa và vùng biển phía nam quần đảo [22]
Từ chuyến khảo sát liên hợp Việt Nam - Philippin Nghiên cứu hải dương học biển đông năm 1996 (VN-RP JOMSRE - SCS - 1996); Nguyễn Dương Thạo và Đoàn Văn Bộ (2001) đã công bố công trình nghiên cứu SVPD vùng biển phía Tây Trường
Sa và mối quan hệ của chúng với các yếu tố môi trường đã xác định được 269 loài SVPD, trong đó có 170 loài ĐVPD là thức ăn cho cá và 5 loài ưu thế của quần xã ĐVPD vùng biển này [25]
Nguyễn Văn Khôi (1997) đã công bố danh sách 166 loài ĐVPD và đề cập đến phân bố mặt rộng của sinh vật lượng ĐVPD ở vùng biển Minh Hải - Kiên Giang thuộc vịnh Thái Lan [19]
Tóm lại, thành phần loài và phân bố sinh lượng ĐVPD được nghiên cứu khá nhiều ở Việt Nam, trong đó vùng biển Bắc Bộ có hệ thống hơn cả Vùng biển ven đảo Bạch Long Vĩ các nghiên cứu còn hạn chế chỉ có là những điều tra tổng thể cả vùng biển Bắc Bộ Việc cập nhật thông tin về thành phần loài, biến động sinh lượng ĐVPD
và nghiên cứu tính đa dạng sinh học, đánh giá tiềm năng của vùng nước là cần thiết
1.3 Điều kiện tự nhiên, môi trường vùng biển Bạch Long, Hải Phòng
Ta Chiao - Hải Nam 130 km), đảo có một vị trí quan trọng trong việc mở rộng vùng biển và phân định biển vịnh Bắc bộ Ngoài ra, đảo còn nằm trên một trong 8 ngư trường lớn của vịnh, có một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, an ninh - quốc phòng biển của nước ta ở vịnh Bắc bộ [13]
Trang 22Hình 1.1 Bản đồ khu vực huyện đảo Bạch Long Vĩ
(Nguồn: Nguyễn Văn Hiếu và cộng sự 2013)
1.3.2 Đặc điểm khí tượng thuỷ văn
Khí hậu Bạch Long Vĩ đại diện cho vùng khơi vịnh Bắc Bộ, có hai mùa chính Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 8, thời tiết nóng ẩm và mưa nhiều, gió mùa Tây Nam với tần suất hướng nam 74 - 88%, tốc độ trung bình 5,9 - 7,7m/s Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh, khô và ít mưa, hướng gió thịnh hành là bắc và đông chiếm tần suất 86 - 94%, tốc độ trung bình 6,5 - 8,2m/s (hình 1.2)
Trang 23Hình 1.2 Biến động tốc độ gió trung bình trong năm tại Bạch Long Vĩ
(Nguồn: Nguyễn Văn Hiếu và cộng sự 2013)
Nhiệt độ không khí trung bình năm đạt 23.3oC, cao vào các tháng 6, 7 và 8 (đạt trên 28oC) và thấp vào các tháng 1 và 2 (đạt 16,6 - 16,8oC) Biên độ nhiệt ngày đêm nhỏ, thường không quá 5oC và mùa lạnh thường bắt đầu và kết thúc muộn hơn so với vùng ven bờ (hình 1.3)
Hình 1.3 Biến động nhiệt độ không khí trung bình trong năm tại Bạch Long Vĩ
(Nguồn: Nguyễn Văn Hiếu và cộng sự 2013)
Độ ẩm không khí vào loại trung bình, đạt 86%, độ ẩm lớn nhất vào tháng 3 và 4 (92%) và nhỏ nhất vào tháng 11 (69%) Hàng năm khu vực đảo Bạch Long Vĩ có 1.600 đến 1.900 giờ nắng và phân bố khá đều Tổng lượng bức xạ hàng năm ở Bạch Long Vĩ cao, đạt 132.5 Kcal/cm2
và cao hơn hẳn so với các đảo ven bờ (Cát Bà - 108.49 Kcal/cm2) Lượng mưa thấp so với ven bờ Bắc Bộ, trung bình năm chỉ đạt 1.031 mm Ở đảo Bạch Long Vĩ trung bình mỗi năm có 1 - 2 cơn bão Mùa bão thường
Trang 24bắt đầu vào tháng 6 (có khi xuất hiện sớm trong tháng 5), và kết thúc vào tháng 10 (có khi tháng 11), tập trung nhất vào các tháng 7, 8 và 9 Chế độ thuỷ triều ở Bạch Long
Vĩ có tính chất nhật triều đều Mực nước trung bình là 1,82m, thấp vào mùa đông, thấp nhất vào khoảng tháng 2, 3, cao về mùa hè, cao nhất vào tháng 9, 10 Vào mùa đông hướng sóng thịnh hành là Đông Bắc, tần suất 37,9%, độ cao trung bình đạt 0,8 - 1,0m, lớn nhất trong các đợt gió mùa tới 3,0 - 3,5m Mùa hè, hướng sóng thịnh hành là Nam, Đông Nam, tần suất 22,9%, độ cao trung bình là 0,6 - 0,9m [13]
Địa hình đảo gồm một số bề mặt khá phẳng, dốc chỉ vài độ, phân cách nhau bởi các sườn dốc hẹp hoặc vách dốc Bề mặt đỉnh chia nước khá bằng phẳng, dài khoảng 1,3 km, rộng khoảng 100m Bề mặt 10 - 15m, phân bố ở bờ Đông, mũi Đông Bắc đảo, hẹp hơn ở mũi Tây Nam đảo và bờ Tây, góc dốc 3 - 8o Bề mặt cao 4 - 6m phân bố chủ yếu ở bờ đông, mũi Đông Bắc và mũi Tây Nam, góc dốc 3 - 8o
, khá bằng phẳng,
độ cao không lớn, phù hợp cho xây dựng công trình, nhà ở Bề mặt cao 1 - 3m tạo thành một dải gần như liên tục, phân bố quanh đảo Phủ trên mặt là các loại đất cát dày 1 - 2m
1.3.3 Đặc điểm môi trường nước biển
Nước biển quanh khu vực đảo có nhiệt độ dao động từ 18,7 đến 29,7oC, trung bình 24,4oC Nhiệt độ nước biển thường thấp vào tháng mùa đông (tháng 11 đến tháng
4 năm sau), dao động từ 18,7 đến 20,9o
C Các tháng mùa hè nhiệt độ nước cao hơn, tháng 7, 8 nhiệt độ nước dao động từ 24,0 - 29,7oC Nước biển khu vực ven đảo có độ muối cao và khá ổn định từ 32,2 - 33,8‰, trung bình 33,1‰ và có sự khác biệt theo mùa mưa và khô Độ muối của khu vực quanh đảo khá cao 33,1-34,0‰ Kết quả quan trắc năm 2007 của Trần Lưu Khanh (2007), tháng 4-5 ghi nhận độ muối trong nước khu vực trung bình đạt 34,1‰; tháng 9 - 10, độ muối thấp hơn (trung bình 32,6‰) Hàm lượng DO tại khu vực biển Bạch Long Vĩ khá cao dao động từ 4,77-5,50mg/l, trung bình đạt 5,22mg/l Trị số pH trong nước khu vực ven đảo mang đặc trưng môi trường nước biển khơi với các kết quả nghiên cứu đều cho giá trị kiềm yếu và nằm trong GHCP (6,5 - 8,5) Do nằm khá xa đất liền nên không bị ảnh hưởng nhiều bởi nguồn nước đục từ lục địa đổ ra, do đó môi trường nước biển ven đảo Bạch Long Vĩ
có độ đục khá thấp, dao động 2 - 9 NTU, trung bình 4,4 NTU [13]
Trang 25Bảng 1.1 Giá trị các thông số môi trường cơ bản nước biển quanh đảo
Bạch Long Vĩ
Thông số
Mùa
Nhiệt độ (oC)
Độ muối (‰)
DO
Độ đục (NTU) T4-5 T9-10 T4-5 T9-10 T4-5 T9-10 T4-5 T9-10 T4-5 T9-10 Thấp nhất 23,4 28,9 33,7 31,0 5,60 4,59 8,05 7,79 2,0 3,0 Cao nhất 24,6 30,0 34,2 33,4 6,70 5,56 8,25 7,99 9,0 9,0
(Nguồn: Nguyễn văn Hiếu và cộng sự 2013)
- Hàm lượng N-NO 2 - : Hàm lượng N-NO2- dao động từ 0,003 - 0,009mg/l; vào mùa mưa hàm lượng N-NO2
đều thấp hơn nhiều so với GHCP (0,020mg/l) theo đề tài KT 03
- 07 và ngưỡng đề xuất của ASEAN (0,055mg/l) [13]
- Hàm lượng N-NO 3 - : Muối dinh dưỡng N-NO3- ven đảo có hàm lượng cao trong các tháng mùa mưa (0,007 - 0,037mg/l), mùa khô hàm lượng thấp hơn dao động 0,006 - 0,027mg/l Chênh lệch giữa tầng mặt (trung bình 0,016mg/l) và tầng đáy không lớn (trung bình 0,017mg/l) So với GHCP (0,5mg/l) theo tiêu chuẩn của đề tài KT 03-
07, các kết quả quan trắc tại khu vực đảo Bạch Long Vĩ đều thấp hơn nhiều Tuy nhiên, ở các trạm nghiên cứu trong khu vực âu tàu, hàm lượng N-NO3
trung bình đạt 0,169mg/l cao hơn GHCP (0,060mg/l) theo tiêu chuẩn chất lượng nước biển của ASEAN đề xuất [13]
- Hàm lượng N-NH 4 + : Hàm lượng N-NH4+ dao động từ 0,003- 0,032mg/l, thấp hơn nhiều so với GHCP (0,5mg/l) theo QCVN 10:2008 áp dụng cho nước biển phục
vụ nuôi trồng thuỷ sản, bảo tồn thuỷ sinh Cục bộ một số điểm quan trắc có hàm lượng N-NH4
vượt GHCP (0,015mg/l
Trang 26- tiêu chuẩn đề xuất của ASEAN) từ 2,4 đến 7,2 lần Khu vực âu tàu, hàm lượng
P-PO43- dao động từ 0,029 - 0,108mg/l, đã xuất hiện cục bộ tại trung tâm âu tàu có hàm lượng P-PO4
cao hơn GHCP (0,10mg/l) theo đề tài KT 03 - 07 [13]
Như vậy, môi trường nước khu vực quanh đảo đã có biểu hiện ô nhiễm cục bộ bởi thông số N-NH4
+
; N-NO3-, P-PO43-, hàm lượng các thông số này cao trong các tháng mùa mưa; đặc biệt ô nhiễm xảy ra trong khu vực âu tàu, nơi chịu tác động lớn bởi lượng chất thải từ tàu bè, dịch vụ hậu cần nghề cá, các hoạt động phát triển kinh tế-
xã hội trên đảo …
Bảng 1.2 Giá trị một số muối dinh dưỡng vô cơ khu vực nghiên cứu
Mùa
Thông số
Nhỏ nhất nhất Lớn
Trung bình
Nhỏ nhất nhất Lớn
Trung bình
N-NO3 (mg/l) 18,29 31,36 24,72 16,99 37,24 26,69
N-NH4 (mg/l) 5,19 25,93 14,69 10,37 20,74 16,30
(Nguồn: Nguyễn văn Hiếu và cộng sự 2013)
1.3.4 Đa dạng sinh học và nguồn lợi sinh vật vùng biển Bạch Long Vĩ
Kết quả nghiên cứu năm 2012 đã xác định được 210 loài TVPD thuộc 47 giống
và 3 ngành phân bố xung quanh đảo Bạch Long Vĩ Ngành tảo silíc (Baciilariophyta) chiếm ưu thế về số loài là 183 loài (chiếm 87,14%), ngành tảo giáp (Pyrrophyta) có 26 loài (chiếm 12,38%) và ngành tảo lam Cyanophyta có 1 loài duy nhất (chiếm 0,48%)
So với đảo Cồn Cỏ, mật độ trung bình của TVPD ở Bạch Long Vĩ thường cao hơn Mật độ trung bình TVPD là 13.452.000 tế bào/m3, cao nhất ở phía Nam đảo là 21.287.000 tế bào/m3
và thấp nhất ở phía Tây đảo là 7.260 tế bào/m3 [13]
Về trứng cá-cá con trong 2 năm (2007-2008) đã xác định được 8 họ cá, tuy nhiên, còn một số lượng lớn trứng cá-cá con chưa xác định được tên khoa học của họ
cá Kết quả nghiên cứu cho thấy họ cá mối (Synodontidae) có mật độ trung bình cao nhất 650 TC-CC/1.000m3
, tiếp theo là họ cá nục (Clupeidae) 460 TC-CC/1.000m3
, họ
cá liệt (Leiognathidae) 425 TC-CC/1.000m3
Mật độ trứng cá-cá con ở các trạm biến động từ 1.000-8.500 TC-CC/1.000m3
, trung bình là 5.680 TC-CC/1.000m3.Mật độ có
Trang 27xu hướng cao hơn ở một số trạm phía Bắc và Tây Bắc nơi có chất lượng rạn san hô sống tốt hơn các trạm khác [13]
Có tổng số 46 loài rong biển thuộc 17 họ và 3 ngành đã được xác định ở xung quanh đảo Bạch Long Vĩ Trong đó, ngành rong lục (Chlorophyta) có 10 loài (chiếm 21,3%); ngành rong nâu (Phaeophyta) có 10 loài (chiếm 21,3%) và ngành rong đỏ (Rhodophyta) có 26 loài (chiếm 55,3%) Rong biển phân bố ở 4 phía của đảo nhưng tập trung nhiều ở khu vực mỏm đá phía Bắc và Tây Bắc đảo Các khu vực khác, đặc
biệt là khu vực phía Tây thành phần loài rong biển không đáng kể Chỉ số H‟ ở các khu
vực nghiên cứu dao động từ 0,71-1,36 và H‟ cho toàn đảo là 1,28 [13]
Động vật đáy cỡ lớn xác định được 125 loài động vật đáy thuộc 48 họ, 6 lớp và
3 ngành ở vùng nước quanh đảo Bạch Long Vĩ với mật độ trung bình 4 phía của đảo là
944 cá thể/m2
và sinh vật lượng trung bình là 1.320 g/m2 [13]
San hô cứng là thành phần cơ bản cấu thành rạn san hô, yếu tố quan trọng trong thiết lập KBTB Có tổng số 104 loài san hô cứng thuộc 32 giống và 13 họ đã được xác định ở các rạn san hô quanh đảo Bạch Long Vĩ San hô cứng có xu hướng đa dạng hơn
ở các phía Bắc và phía Tây của đảo, đặc biệt là góc đảo phía Tây Bắc rạn san hô thường rộng và có thành phần loài phong phú nhất Tổng diện tích rạn san hô Bạch Long Vĩ là 1.578ha, trong đó chỉ có khoảng 350ha thuộc loại rạn trung bình, còn lại là rạn nghèo Rạn san hô thuộc kiểu rạn viền bờ không điển hình được phân chia thành các đới rạn, mỗi đới có một quần xã sinh vật đặc trưng [13]
Thành phần loài cá rạn có tính đa dạng thấp xác định được 61 loài cá thuộc 35 giống và 17 họ Đa phần các loài cá trên thuộc nhóm cá có kích thước nhỏ Phân tích
số liệu chỉ ra 45,13% tổng số cá thể quan sát được có chiều dài nhỏ hơn 10cm; 46,87%
cá thể có chiều dài từ 10-20cm; 6,7% cá thể có chiều dài từ 21-30cm và 1,3% cá thể có chiều dài trên 30cm [13]
Trang 28Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Đối tượng: Động vật phù du
- Địa điểm thu mẫu: Vùng ven đảo Bạch Long Vĩ - Hải Phòng
- Địa điểm phân tích mẫu: Phòng Thí nghiệm Khoa học biển - Viện Nghiên cứu
Hải sản
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2013 đến năm 2014
Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và biến động sinh lượng động vật phù du vùng biển ven
đảo Bạch LongVĩ, Hải Phòng
Nghiên cứu đa
dạng thành phần
loài
Nghiên cứu đặc điểm phân bố động sinh vật lượng Đánh giá sự biến
ĐVPD
Giải pháp khai thác và
sử dụng bền vững nguồn lợi thủy sản
Nghiên cứu đặc điểm phân
bố
Phân bố của các loài ưu thế
Đánh giá biến động
về khối lượng
Đánh giá biến động về
số lượng
Giải pháp khai thác nguồn lợi
Tình hình
sử dụng nguồn lợi
- Đánh giá đa dạng thành phần loài, phân bố
- Đánh giá sự biến động sinh vật lượng theo thời gian 2014)
(2013 Đề xuất các giải pháp khai thác và sử dụng bền vững nguồn lợi thủy sản
Kết luận và đề xuất
Trang 29- Phạm vi nghiên cứu ngoài thực địa: Vùng biển ven đảo Bạch Long Vĩ, Hải
Phòng với hệ thống 15 trạm vị bao quanh đảo:
Bảng 2.1 Tọa độ trạm nghiên cứu tại ven đảo Bạch Long Vĩ
Trang 30Hình 2.2 Sơ đồ các trạm nghiên cứu môi trường vùng biển Bạch Long Vĩ