BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG VIỆN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN --- TRẦN THẾ THANH THI NGHIÊN CỨU VÒNG ĐỜI PHÁT TRIỂN CỦA SÁN LÁ ĐƠN CHỦ Neobenedenia melleni MacCallum, 192
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG VIỆN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
-
TRẦN THẾ THANH THI
NGHIÊN CỨU VÒNG ĐỜI PHÁT TRIỂN CỦA SÁN LÁ
ĐƠN CHỦ Neobenedenia melleni (MacCallum, 1927)KÝ SINH
TRÊN MỘT SỐ ĐỐI TƯỢNG CÁ BIỂN NUÔI THƯƠNG
PHẨM TẠI KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Khánh Hòa, tháng 12 năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
-
TRẦN THẾ THANH THI
NGHIÊN CỨU VÒNG ĐỜI PHÁT TRIỂN CỦA SÁN LÁ
ĐƠN CHỦ Neobenedenia melleni (MacCallum, 1927) KÝ
SINH TRÊN MỘT SỐ ĐỐI TƯỢNG CÁ BIỂN NUÔI
THƯƠNG PHẨM TẠI KHÁNH HÒA
LUẬN VĂN THẠC SỸ Nghành đào tạo: Nuôi trồng thủy sản
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan kết quả của luận văn " Nghiên cứu vòng đời phát triển của
sán lá đơn chủ Neobenedenia melleni (MacCallum, 1927) ký sinh trên một số đối
tượng cá biển nuôi thương phẩm tại Khánh Hòa " được thực hiện từ tháng 8 năm
2013 đến tháng 7 năm 2014 là chính xác Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn
hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố trong bất cứ công trình khoa học nào
khác tính đến thời điểm này
Trần Thế Thanh Thi
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đề tài “ Nghiên cứu vòng đời phát triển của sán lá đơn chủ Neobenedenia melleni (MacCallum, 1927) ký sinh trên một số đối tượng cá biển nuôi thương
phẩm tại Khánh Hòa ” được thực hiện từ tháng 8 năm 2013 đến tháng 7 năm 2014
tại Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang Trong quá trình thực hiện
đề tài này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của thầy Phan Văn Út, sự góp ý chỉ bảo tận tình của thầy Nguyễn Địch Thanh – người định hướng chính cho đề tài, một lời cảm ơn chưa thể nói hết những lời tôi muốn gửi tới hai thầy Nhân đây tôi xin gửi lời cảm ơn đến sự giúp đỡ của các anh chị em cùng làm việc với tôi và anh Chương chủ lồng bè nuôi cá tại Vũng Ngán, đã giúp tôi kiếm các mẫu vật cũng như giúp tôi thực hiện các biện pháp phòng và trị bệnh cho cá biển
Kết thúc hai năm học tại Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang tôi nhận được sự dạy dỗ quý báu của các thầy cô giáo của Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang Cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới các thầy cô trong viện
Nhân đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các anh, chị, em trong lớp
54CH-2012 đã góp ý chân thành, giúp đỡ tôi trong học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Nha Trang, tháng 7 năm 2014
Trần Thế Thanh Thi
Trang 51.2 Đặc điểm sinh học của sán lá đơn chủ ký sinh trên cá biển 8
1.3.1.3 Đặc điểm phân bố và khả năng thích ứng với môi trường 11
Trang 6a Đặc điểm phân bố của cá mú 15
1.4 Một số biện pháp phòng trị bệnh KST trên cá chẽm, cá mú 18
2.3.1 Phương pháp thu mẫu cá xác định mùa vụ xuất hiện sán lá đơn chủ
2.3.2 Theo dõi quá trình phát triển các giai đoạn của Neobenedenia melleni 21
2.3.2.1 Cảm nhiễm và lưu giữ loài sán nghiên cứu trên đàn cá 21
2.3.3.2 Theo dõi quá trình biến đổi giai đoạn phát triển của sán Neobenedenia melleni
22
2.3.4 Đánh giá mức độ ảnh hưởng và cách phòng trị sán Neobenedenia trên cá biển
2.3.5 Các biện pháp phòng và trị bệnh do sán Neobenedenia melleni ký sinh trên cá
2.3.5.1 Phương pháp nghiên cứu thí nghiệm trị bệnh sán Neobenedenia melleni 24 2.3.5.2 Thiết kế thí nghiệm trị bệnh sán lá Neobenedenia melleni 24 2.3.6 Phương pháp xác định cường độ cảm nhiễm, tỷ lệ nhiễm sán lá trên cá 26
Trang 73.1 Mẫu cá nghiên cứu và thành phần ký sinh trùng 28
3.2 Theo dõi quá trình phát triển các giai đoạn của Neobenedenia melleni 31
3.2.2 Giai đoạn ấu trùng (oncomiracidium) của Neobenedenia melleni 33
3.3.1 Kết quả thí nghiệm trị bệnh KST bằng formol 200ppm (lần 1) 39 3.3.2 Kết quả thí nghiệm trị bệnh KST bằng formol 200ppm (lần 2) 40 3.4 Đánh giá mức độ ảnh hưởng và cách phòng trị sán lá đơn chủ trên cá biển nuôi
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Thể tích bể nuôi cá chẽm nhiễm Neobenedenia melleni 22
Bảng 3.2: Mức độ cảm nhiễm N.melleni trên cá chẽm, cá mú trong năm 29 Bảng 3.1: Chiều dài và khối lượng cá chẽm thí nghiệm cảm nhiễm KST 34
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Cấu tạo hình thái cơ bản của Neobenedenia melleni (Võ Thế Dũng và cs,
Hình 1.4: Cá mú Epinesphelus malabaricus Bloch & Schneider, 1801 15
Hình 2.2: Sơ đồ thí nghiệm trị bệnh Neobenedenia melleni ký sinh trên cá chẽm 25
Hình 2.3: Máy đo chất lượng nước Hana HI 8320 độ chính xác 0,01 26 Hình 2.4: Thuốc thử NH dành cho nước mặn độ chính xác 0,001 4 26 Hình 3.1: Biểu đồ tỷ lệ cảm nhiễm của cá chẽm, cá mú qua các tháng trong năm 30 Hình 3.2: Biểu đồ cường độ cảm nhiễm của cá chẽm, cá mú qua các tháng 30
Hình 3.6: Neobenedenia melleni phát triển các cơ quan bám (40x10) 35
Hình 3.7: Giác bám của Neobenedenia melleni chưa thành hình (40x16) 36
Hình 3.9: Ngày thứ 10 các cơ quan nội tạng của Neobenedenia melleni xuất hiện thấy
Hình 3.10: Ngày thứ 11 Neobenedenia melleni trưởng thành (40x10) 37
Trang 10Hình 3.11: Ngày thứ 12 Neobenedenia melleni trưởng thành (40x10) 37
Hình 3.12: Ngày thứ 15 Neobenedenia melleni trưởng thành bắt đầu sinh sản (40x10).
38
Hình 3.13: Quá trình phát triển các giai đoạn của Neobenedenia melleni 38
Trang 12TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Chủ đề nghiên cứu: “Nghiên cứu vòng đời phát triển của sán lá đơn chủ
Neobenedenia melleni (MacCallum, 1927) ký sinh trên một số đối tượng cá biển
nuôi thương phẩm tại Khánh Hòa”
Mục tiêu: Nghiên cứu xác định vòng đời phát triển của sán lá đơn chủ
Neobenedenia melleni ký sinh trên cá biển cũng như ảnh hưởng của nó khi ký sinh
trên cá biển nuôi tại Khánh Hòa
Phương pháp nghiên cứu được thực hiện từ tháng 8 năm 2013 đến tháng 7 năm
2014 về sán lá đơn chủ Neobenedenia melleni ký sinh trên cá biển Cá nghiên cứu phải
là cá sống hoặc cá vừa mới chết trước lúc kiểm tra ký sinh trùng phải xác định loài cá nào Tiến hành kiểm tra ký sinh trùng từ da, vây, mang, hốc mũi, túi bàng quan, quan sát cơ thể cá bằng mắt thường tìm những giống loài ký sinh trùng loại lớn trên cá biển , nhận xét triệu chứng bệnh của cá Sau đó cạo lấy lớp nhớt trên da cá xem dưới kính hiển vi những sán lá đơn chủ có kích thước nhỏ Để nghiên cứu sán lá đơn chủ trên mang cá, dùng kéo cắt nắp mang, các cung mang, lấy các lá mang và xem xét các tia mang dưới kính soi nổi, có thể cho thêm nước để dễ xem hơn Nghiên cứu nhằm định dạng sán lá đơn chủ ký sinh trên cá chẽm, mú; đánh giá mùa vụ xuất hiện nhiều và mức độ cảm nhiễm gây bệnh của loài này trên cá biển
Qua kết quả kiểm tra 360 con (cá chẽm và cá mú) phát hiện được 1646 con Neobenedenia melleni ký sinh trên cá, tỷ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm của
chúng tăng dần từ tháng 8/2013 đến tháng 11/2014 và giảm dần từ tháng 12/2013 đến tháng 7/2014, từ tháng 8/2013 đến tháng 11/2014 vào mùa khô là môi trường thích
hợp cho nhiều loài KST phát triển và sinh sôi trong đó có Neobenedenia melleni Mất 5 ngày để trứng Neobenedenia melleni phát triển phôi nở thành ấu trùng Oncomiracidium Cần 60h để ấu trùng Oncomiracidium phát triển móc bám vào ký chủ và đây cũng là giai đoạn ấu trùng Oncomiracidium vận động mạnh để tìm kiếm ký chủ kết thúc giai đoạn ấu trùng Oncomiracidium Sau khi bám vào ký chủ từ lúc trứng
từ cơ thể Neobenedenia melleni ra ngoài môi trường Neobenedenia melleni phát triển
các cơ quan bám như, đĩa bám, móc, miệng, nội tạng… phát triển thành sán trưởng
thành Kể từ ngày thứ 15 (n=1) Neobenedenia melleni sẽ bắt đầu vào quá trình sinh
sản của mình
Trang 13Kết quả trị bệnh sán lá đơn chủ Neobenedenia melleni trên cá chẽm cho thấy formol nồng độ 200ppm tiêu diệt hết Neobenedenia melleni trong 20 phút
Từ khóa: cá mú, Neobenedenia melleni, cá chẽm
Khánh Hòa, ngày 19 tháng 10 năm 2015
NGƯỜI HƯỚNG DẪN
TS NGUYỄN ĐỊCH THANH
HỌC VIÊN
TRẦN THẾ THANH THI
Trang 14MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây nuôi trồng thủy sản ở nước ta phát triển nhanh, với nhiều loài có giá trị kinh tế cao, trong đó có cá biển đang là đối tượng nuôi nhiều ở các tỉnh ven biển như: Hải Phòng, Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và Bà Rịa - Vũng Tàu…Theo thông tin từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết tổng sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng 8-2014 đạt trên
4 triệu tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước Góp phần cung cấp nguồn thực phẩm cho người tiêu dùng, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống cho một bộ phận dân cư ven biển Có được kết quả đó một phần là do sự chuyển dịch cơ cấu trong nông nghiệp, chuyển đổi đánh bắt thủy hải sản kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản…
Bên cạnh đó, người nuôi đã biết đầu tư vào nuôi trồng thủy sản, nâng cao năng suất nuôi trồng trên một đơn vị diện tích Các đối tượng nuôi với mật độ cao như cá chẽm, cá bớp, cá mú… Có thể cho năng suất cao nhưng cũng dễ bị rủi ro do ô nhiễm môi trường, bệnh dịch… Liên tục trong các vụ nuôi 2011, 2012 và 2013 cá nuôi lồng
bè ở Khánh Hòa, Ninh Thuận… đã bị chết hàng loạt Sản lượng thiệt hại ước tính hàng trăm tấn Mặc dù cá chẽm và cá mú là các đối tượng nuôi kinh tế chính ở các tỉnh miền Trung nói chung và Khánh Hòa nói riêng, song người nuôi cũng phải gánh chịu những thiệt hại do bệnh dịch
Một trong những tác nhân gây thiệt hại lớn cho các đối tượng nuôi lồng bè là
sán lá đơn chủ Neobenedenia melleni, chúng ký sinh ở cá nước mặn, Neobenedenia melleni đã gây bệnh làm cá chết hàng loạt ở các lồng bè trên khắp cả nước
Được sự đồng ý của Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang,
tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu vòng đời phát triển của sán lá đơn chủ
Neobenedenia melleni (MacCallum, 1927) ký sinh trên một số đối tượng cá biển
nuôi thương phẩm tại Khánh Hòa”
Mục tiêu của đề tài:
Nghiên cứu xác định vòng đời phát triển của sán lá đơn chủ Neobenedenia melleni ký sinh trên cá biển cũng như ảnh hưởng của nó khi ký sinh trên cá biển nuôi
tại Khánh Hòa
Các nội dung nghiên cứu chính:
Trang 15+ Điều tra xác định mùa vụ xuất hiện Neobenedenia melleni tại Khánh Hòa
+ Theo dõi quá trình phát triển các giai đoạn của Neobenedenia melleni
+ Các biện pháp phòng và trị bệnh do sán lá đơn chủ ký sinh trên cá biển nuôi thương phẩm
Ý nghĩa khoa học:
Cung cấp thêm thông tin về đặc điểm sinh học của lớp sán lá đơn chủ
(Monogenea) họ Capsalidae loài Neobenedenia melleni để người nuôi thủy sản phòng
Trang 16Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá
1.1.1 Trên thế giới
Cuối thế kỉ XIX, nghiên cứu về bệnh học ở cá chỉ dừng lại ở việc mô tả những dấu hiệu bệnh lý chưa đi sâu vào tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh Đến đầu thế kỉ XX, các nhà khoa học bắt đầu nghiên cứu và viết sách về bệnh cá mà đầu tiên là những bệnh do kí sinh trùng gây ra, đi đầu là các nhà khoa học Liên Xô (cũ)
Ở Liên Xô (cũ), Dogiel (1929) đưa ra “phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng cá” đã nghiên cứu về khu hệ ký sinh trùng ký sinh trên cá và các loại bệnh cá do ký sinh trùng gây ra Bychowsky và các cộng sự (1962) xuất bản cuốn “Bảng phân loại
ký sinh trùng của cá nước ngọt Liên Xô (cũ) ”, tác giả đã mô tả 1211 loài ký sinh trùng của khu hệ cá nước ngọt ở Liên Xô (cũ) Bauer (1984) và nhiều tác giả khác như Schulman (1985), Gussev (1987) đã mô tả hơn 2000 loài ký sinh trùng của 233 loài cá thuộc 25 họ cá nước ngọt ở Liên Xô (cũ), đây là cuốn tài liệu được lưu hành ở hầu hết các nước và được dùng làm tài liệu tham khảo phân loại ký sinh trùng Ở Trung Quốc, Chen Chin Leu và cộng tác viên (1973) đã xuất bản cuốn ký sinh trùng nước ngọt tỉnh
Hồ Bắc, đã phân loại được 379 loài ký sinh trùng trên 50 loài cá nước ngọt Ở Thái Lan, Wilton (1926-1927) thông báo về hiện tượng hai loài rận cá thuộc giống Argulus
ký sinh trên cá nước ngọt Wilton (1928) miêu tả về bệnh lý trên cá trê Thái Lan có
một loài thuộc giống Caligus ký sinh Ruangpan (1981) đã thành công khi viết về ký
sinh trùng trên cá biển, cho đến nay Ruangpan vẫn tiếp tục thực hiện những công trình nghiên cứu này Ở Indonesia, Sachlan (1952) đã viết cuốn sách “Notes on the parasites
of fresh water fishes in Indonesia”, cuốn sách viết về khu hệ ký sinh trùng trên cá ở Indonesia nói riêng và vùng Đông Nam Á nói chung Ở Malaysia, Furtado và Fernanda (1961-1973) báo cáo về phân loại và hình thái một số giun sán ký sinh trên
cá nước ngọt ở Malaysia Furtado và Fernanda (1983-1987) đã phát hiện ra 54 loại Monogenema khi nghiên cứu về ký sinh trùng trên một số cá nước ngọt ở vùng bán đảo Malaysia Ở Philipin, Tubangui (1947) nghiên cứu về một số loài thuộc bọn sán lá đơn chủ (Monogenea), sán lá song chủ (Trematoda), giun tròn (Nemapoda) và giun đầu móc (Acanthocephara) Velasquez (1958) đề cập đến sự phân loại và chu trình sống của ký sinh trùng giun sán Velasquez (1975) đã cho ra đời cuốn sách nói về sán
Trang 17lá song chủ ở Philippine một cách hoàn thiện và đây cũng là tài liệu chuyên khảo rất
có giá trị hiện đang được lưu hành Ở Ấn Độ, Thapar (1976) đã tổng kết về sán lá đơn chủ (Monogenea) có 100 loài ký sinh trùng ký sinh ở các loài cá ở Ấn Độ Ở Banglades, Ahoned và Ezaz (1997) đã nghiên cứu về ký sinh trùng của 17 loài cá da trơn, đã xác định được 69 loài giun sán ký sinh Ở Nhật Bản, Yamaguti (1952-1955) làm việc ở Indonesia đã viết 10 trang báo cáo “Aca Medicinae Okayama” với tiêu đề
“Parasitic Worms mainyly from celeles” và Borneo đã xác định 90 loài mới biến thái phức tạp Sau này, tác giả đã tổng kết về hệ thống giun sán “System Helminthum” Ở Châu Mỹ, Hoffman (1998) đã tổng kết nghiên cứu ký sinh trùng của cá nước ngọt ở Bắc Mỹ trên 416 loài cá đã xác định được 19 nghành thuộc 4 giới: sinh vật nhân nguyên thủy, động vật nguyên sinh-nấm, động vật đa bào
Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu công bố về các loài sán nằm trong họ
Capsalidae như Ogawa, 1994 và Leong Tak Seng, 1994 thông báo đã phát hiện Benedenia epinepheli trên một số loài cá biển Nhật Bản và ở Malaysia; Ian D Whittington, 1996 mô tả loài Neobenedenia melleni ký sinh trên cá biển ở Úc; Ian D
Whittington và Bronwen W Cribb, 1999 mô tả hình thái cấu tạo cơ quan bám của
Benedenia rohdei ký sinh trên mang và Benedenia lutjani ký sinh trên vây của cá hồng Lutjanus carponotatus Hiện nay, lĩnh vực nghiên cứu về sán lá đơn chủ trên thế giới
không chỉ dừng lại ở việc xác định hình thái, xác định thành phần loài, thí nghiệm sử dụng hóa chất chữa trị, mà hướng nghiên cứu hiện nay rất chuyên sâu, chủ yếu nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản, đặc điểm sinh thái, chu kỳ phát triển, cũng như khả năng cảm nhiễm trên của sán lên ký chủ Chẳng hạn, nhiều nghiên cứu về vòng đời phát triển của sán lá đơn chủ như Cecchini, 1998 nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ
đến vòng đời phát triển của Diplectanum aequans ký sinh trên cá chẽm Châu Âu Dicentrarchus labrax; Ernst, 2005 nghiên cứu ảnh hưởng của nhiệt độ, độ mặn và hóa chất đến khả năng nở của trứng Benedenia seriolae ký sinh trên các loài cá cam Seriola spp
Tùy thuộc vào từng loài sán lá đơn chủ khác nhau mà thời gian cho một chu kỳ phát triển của chúng cũng khác nhau, nhưng điểm chung của các nghiên cứu được công bố đều cho thấy rằng nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến thời gian nở cũng như quá trình phát triển từng giai của sán lá đơn chủ Jahn và Kuhn, 1932 cho rằng thời gian nở
ra ấu trùng oncomiracidium từ trứng của Neobenedenia melleni trong khoảng thời gian
Trang 185-8 ngày ở nhiệt độ phòng Đối với loài Benedenia seriolae, Hoshima (1966) kết luận
thời gian phát triển giai đoạn ấu trùng là 18 ngày ở nhiệt độ 23.5oC, Kearn và cộng sự (1992) cho rằng thời gian phát triển từ oncomiracidium đến trưởng thành là 14 ngày ở nhiệt độ 23oC
Loài Neobenedenia girellae ký sinh trên nhiều loài cá biển, phổ biến ở các khu
vực như Mexico và California (Goldberg và cộng sự, 1991), ký sinh trên cá cam
Seriola dumerili ở Nhật bản (Ogawa, 1995) Chu kỳ phát triển của loài sán này trên cá bơn Paralichthys olivaceus được Bondad-Reantaso và cộng sự (1995) mô tả rất đầy đủ
thông qua các thí nghiệm, ở nhiệt độ 25oC thời gian phát triển từ trứng đến sán trưởng thành kéo dài 15-17 ngày, trứng được đẻ ra sau 5-6 ngày nở ra ấu trùng, tùy thuộc vào kích thước của sán trưởng thành có thể đẻ 12.2-35.4 trứng/h ở 27-30oC
Loài Neoheterobothrium hirame ký sinh phổ biến trên cá bơn ở Nhật Bản Theo
Tomoyoshi Yoshinaga và cộng sự (2000) thì tỷ lệ trứng nở và phát triển là 85% ở nhiệt độ 10-25oC, nhưng tỷ lệ này chỉ còn 5% khi ở 30oC Tỷ lệ nở của trứng không có
sự sai khác khi độ mặn của nước trong khoảng 11-33o/oo Trong thí nghiệm với Chlorine, tỷ lệ nở của trứng không có sự khác biệt giữa nghiệm thức 50ppm Chlorine
và nghiệm thức đối chứng, nhưng lại có sự sai khác lớn ở nghiệm thức 100ppm Chlorine Tỷ lệ bám của ấu trùng sán này ở nhiệt độ 5oC là thấp hơn so với ở 30oC (Sho Shirakashi và công sự, 2005)
Trang 19Nam Lê Văn Châu và cộng sự (1997) đã nghiên cứu vật chủ trung gian sán lá gan nhỏ
và đã xác định được 10 loài cá nhiễm metacercaria của Clonorchis và Opisthorchis ở một số tỉnh miền Bắc và miền Trung của Việt Nam Trần Thị Lý (2005) “Tìm hiểu
thành phần ký sinh trùng ký sinh trên cá mú (Epinephelus spp.) ở Khánh Hòa” Kiểm
tra 121 mẫu cá thu từ Cửa Bé, Cam Ranh, Trí Nguyên Kết quả phát hiện được 15 loài KST thuộc 14 giống, 11 họ, 9 bộ, 7 lớp, 5 ngành Trong đó số loài sán lá đơn
chủ là nhiều nhất Cá mú mè E bleekeri cảm nhiễm tới 14 loài nhưng cá mú đen Epinephelus coioides thì cảm nhiễm 12 loài Loài Tylocephalum sp và Zeylanicobdella sp., Heliotrema sp không thấy cảm nhiễm ở cá mú đen Ngược lại
cá mú đen bị cảm nhiễm cả hai giống Copepoda là Caligus và Lepeokphtherius
Kết quả nghiên cứu “Thành phần và mức độ cảm nhiễm sán lá đơn chủ ở cá
mú giống tự nhiên tỉnh Khánh Hòa” của Võ Thế Dũng và các tác giả khác (2007) Thành phần giống loài sán lá đơn chủ ký sinh ở cá mú giống tự nhiên vùng biển Khánh Hòa rất phong phú, đã phát hiện 8 loài và 2 nhóm ấu trùng sán lá đơn chủ ở cá
mú đen Epinephelus coioides 6 loài và 2 nhóm ấu trúng sán lá đơn chủ ở cá
mú mè E bleekeri Tỉ lệ cảm nhiễm của cá mú đen với hầu hết các loài và hai ấu
trúng sán lá đơn chủ của cá mú mè Tỉ lệ cảm nhiễm của cá mú đen và cá mú mè với
loài sán Pseudohabdosynochus lantauensis, P.coioides, P.serrani và hai nhóm ấu
trùng ở da có sự khác nhau về mặt ý nghĩa thống kê Cường độ cảm nhiễm
Diplectanum groupri và P.coioides trên hai loài cá khác nhau có ý nghĩa thống kê Cường độ cảm nhiễm loài P.serrani và ấu trùng trên da ở hai loài cá mú không có ý
nghĩa thống kê Nghiên cứu “Thành phần và tỷ lệ cảm nhiễm sán lá đơn chủ trên cá
mú nuôi lồng và cá mú nuôi ao ở Khánh Hòa” của Võ Thế Dũng và CTV (2007) đã tìm được 5 loài và 1 họ phụ cúa sán lá đơn chủ được công bố lần đầu tiên ở Việt Nam
và 2 loài đã được công bố ở khu vực Đông Nam Á Cá mú nuôi lồng và nuôi ao ở Khánh Hòa bị nhiễm nhiều loại sán lá đơn chủ khác nhau nhưng chỉ có 3 loài xuất hiện trên cả hai đối tượng Cá mú nuôi lồng nhiễm loài sán lá đơn chủ nhiều hơn cá nuôi ao Cá mú đen bị nhiễm nhiều hơn cá mú mè Bùi Thị Huyền (2007) “Nghiên cứu
thành phần KST ký sinh trên cá chẽm (Lates calcarifer Bloch, 1970) nuôi tại Khánh Hòa” phát hiện 16 loài KST và 1 loài ấu trùng Nematoda Trong đó 16 loài thuộc 13
giống, 7 họ, 12 bộ, 7 lớp và 5 ngành và một loài thuộc lớp Digenea chưa phân loại được Những loài KST phát hiện trên cá chẽm có loài có tỉ lệ cảm nhiễm cao như
Trang 20Trichodina sp., Tylocephalum sp., Caligus epidemicus, Zeylanicobdella sp Khi cảm
nhiễm cao với cường độ cảm nhiễm các loài KST này đã gây chết rải rác đến hàng loạt hoặc làm cho cá chậm lớn và gầy yếu Nguyễn Văn Giang (2008) “Tìm hiểu
thành phần KST ký sinh ở cá Hồng Bạc (Lutjanus argentimaculatus Forskal, 1775)
nuôi tại Khánh Hòa” đã tìm thấy 18 loài KST thuộc 13 giống, 13 họ, 10 bộ, 6 lớp, 5 ngành Trong đó KST đơn bào có 2 loài thuộc lớp trùng tiêm mao
(Oligohymenophora), 2 loài thuộc bào tử sợi (Myxosporea) KST đa bào có 3 loài thuộc lớp sán lá đơn chủ (Monogenea), 4 loài thuộc lớp sán lá song chủ (Digenea), 1 loài thuộc lớp đỉa cá (Hirudinae) và 5 loài thuộc lớp giáp xác (Crustacea) Trong 6 lớp
KST có 4 lớp ngoại ký sinh và 2 lớp nội ký sinh Tỉ lệ cảm nhiễm các loài KST ký sinh trên giai đoạn cá giống và thương phẩm chỉ có 7 loài khác nhau có ý nghĩa thống kê
Crytocaryon sp., Euryhaliotrema sp1, Euryhaliotrema sp2, Neobenedenia lutjanus, Eriplecturus sp., Paracyptogonimus ovatus, Caligus multispinosus và các loài còn lại
không có ý nghĩa thống kê Nguyễn Thị Hải Thanh (2008) “Nghiên cứu thành phần
KST ký sinh trên 3 giống cá cảnh biển (Amphirion, Halichoeres, Chaetodom) được thu
gom và lưu giữ ở Nha Trang” đã phát hiện 22 loài KST thuộc 18 giống, 18 họ, 15 bộ,
7 lớp Có 8 loài KST là: Ancyrocephalus sp., Crytotropa kuretanii, Metacercaria của
Digenea, Procamllanus fulvidraconis, Procamallanus sp1, Caligus sp., Proteocephalus sp và Rhinebothranae sp đều gặp ký sinh ở cả 3 giống cá cảnh biển
Một số loài ký sinh trùng chỉ gặp cảm nhiễm trên 1 giống cá cảnh mà không gặp ở 2
giống còn lại: Isoparorchis sp., Hysterolecitha nahaensis, Hysterolecitha sp., Philophthalmus sp., Tormopsolus sp., Echinochasmus sp Một số loài trong các
KST này thường có tỉ lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm cao ở ký chủ của nó,
như Hysterolecitha nahaensis ký sinh ở cá khoang cổ với tỉ lệ cảm nhiễm cao 43.06%, loài Isoparorchis sp ký sinh ở cá mó với tỉ lệ cảm nhiễm là 57.79% và không gặp
chúng ký sinh ở các loài cá khác KST ngoại ký sinh có 6 loài nhưng nội ký sinh có số lượng loài lớn hơn nhiều 16 loài KST đa bào ký sinh trên 3 giống cá cảnh biển có 21 loài trong đó chỉ có 1 loài thuộc động vật đơn bào.Võ Thế Dũng và các tác giả khác
(2008), nghiên cứu tỷ lệ và cường độ cảm nhiễm của giống Caligus trên 2 nhóm
cá thường nuôi ở Việt Nam Epinephelus coioides và E.bleekeri đã tìm thấy 2 loài Caligus epidemicus và C.multisnosus Ngoài ra nhóm tác giả còn tìm thấy ấu trùng giống Caligus trên da và mang của cá
Trang 21Hiện nay, bệnh do KST trên động vật thủy sản đang ngày càng được quan tâm Vì đây là một nguyên nhân gây thiệt hại lớn về kinh tế trong các lồng bè nuôi KST có thể cảm nhiễm và gây bệnh trên các giai đoạn cá giống, cá thương phẩm, trên các đối tương cá nước ngọt, nước lợ và nước mặn Như vậy, nước ta có nhiều công trình nghiên cứu về KST được thực hiện bởi các nhà khoa học trong và ngoài nước Tuy nhiên chủ yếu trên cá nước ngọt, trên cá biển rất ít, chưa hệ thống và nêu bật đặc điểm khu hệ KST cá biển Việt Nam, nghiên cứu vòng đời và mùa vụ xuất hiện còn chưa nghiên cứu hoặc còn ít nghiên cứu
1.2 Đặc điểm sinh học sán lá đơn chủ ký sinh trên cá biển
1.2.1 Đặc điểm hình thái của sán lá đơn chủ
Monogenea có hình dạng gần giống như giun dẹp, chúng thường tấn công vào
da, mang, vây… của động vật thủy sản, một số loài Monogenia xâm nhập vào bên trong cơ thể, một số sống bám ở bên ngoài cơ thể động vật thủy sản, Monogenea
thường tìm thấy ở cả nước mặn, nước ngọt và nước lợ
Hầu hết Monogenea có màu xám, chúng thường di chuyển đến bề mặt da,
mang, vây cơ thể vật chủ rồi sống ở đó chúng dựa vào móc để móc vào cơ thể vật chủ
rồi sống ký sinh trên vật chủ Đa số Monogenea có chu kỳ sống dựa vào hoàn toàn vật chủ, một số Monogenea chỉ khi trưởng thành mới sống ký sinh trên vật chủ
Neobenedenia melleni là ký sinh trùng có kích thước lớn trong lớp Monogenea,
cơ thể chúng nhìn giống như hạt mè Phần trước có hai giác bám kích thước nhỏ, có 4 điểm mắt, hầu lớn và xẻ thùy, các vân trên hầu màu sắc rất đậm Hai tinh hoàn nằm sát nhau phía dưới buồng trứng và có kích thước lớn hơn buồng trứng Tinh hoàn có hình gần như tròn hoặc có hình răng cưa Cơ quan giao cấu đực có hình túi hẹp, được chứa trong một túi có thành dày, có dạng giống như quả lê Cơ quan giao cấu cái không nhìn thấy Đĩa bám hình tròn, kích thước nhỏ hơn cơ thể rất nhiều gồm 3 đôi móc: thanh đỡ, móc trước và móc sau (nguồn Đỗ Thị Hòa và cs (2004))
Neobenedenia melleni là ký sinh trùng thích sống ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, Neobenedenia melleni thường bám vào da, vây bơi của vật chủ do đó làm cho cá
bị ngứa sẽ chà mình vào lồng nuôi, bể nuôi, bờ ao… khiến cho cá bị xuất huyết, lở loét, tróc vảy… rồi chết do nhiễm trùng
Trang 22Một khi đã bám vào vật chủ Neobenedenia melleni sẽ ăn da và chất nhờn trên
cơ thể cá làm cho cá bị thương nên bị xuất huyết thứ cấp hoặc bị mất cân bằng áp suất thẩm thấu ở trong cơ thể
Ngoài các triệu chứng trên Neobenedenia melleni còn làm cho cá giảm ăn, thờ
ơ, mất màu, mù mắt, sản xuất chất nhầy quá mức… rồi chết
1: Đĩa bám 8: Dạ dày
2: Đôi gai trước 9: Ống dẫn trứng 3: Đôi gai giữa 10: Ống dẫn tinh 4: Đôi gai sau 11: Lỗ sinh dục
Trang 23Hình 1.2: Neobenedenia melleni MacCallum, 1927 (4x10)
1.3 Đặc điểm sinh học của đối tượng thu mẫu
1.3.1 Cá chẽm Lates calcarifer (Bloch, 1790)
Loài Lates calcarifer (Bloch, 1790)
Tên tiếng Anh là Asian seabass hay barramundi
Hình 1.3: Cá chẽm Lates calcarifer (Bloch, 1790)
1.3.1.2 Đặc điểm hình thái
Cá chẽm có thân dài dẹp, cuống đuôi khuyết sâu Đầu nhọn, nhìn bên lõm phía lưng và lồi phía trước vây lưng Miệng rộng hơi so le, hàm trên chồm tới phía sau mắt, răng dạng lông nhung, không có sự hiện diện của răng nanh Mép dưới của xương
Trang 24trước nắp mang có gai cứng, nắp mang có một gai nhỏvà một vảy bên có răng cưa trước đầu đường bên Vây lưng có 7 – 9 gai cứng và 10 – 11 tia mềm; tia vây ngực ngắn và tròn có các rãnh răng cưa cứng và ngắn phía trên gốc, vây lưng và vây hậu môn có vẩy bao phủ, vây hậu môn có 3 gai và 7 – 8 tia mềm, vây đuôi tròn, vẩy dạng lược rộng
1.3.1.3 Đặc điểm phân bố và khả năng thích ứng với môi trường
b Khả năng thích ứng với môi trường
Nhiệt độ nước là nhân tố quan trọng ảnh hưởng lên sinh trưởng của cá, ngoài ra
nó còn liên quan đến hàm lượng oxy hòa tan trong nước Tùy theo loài, giai đoạn phát triển mà khoảng nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng cũng khác nhau Cá chẽm có thể thích ứng với nhiệt độ từ 21 – 39º C, nhưng nhiệt độ thích hợp cho sự đẻ trứng từ 26 - 34º C; giai đoạn phát triển của phôi và cá bột từ 25 - 35º C, thích hợp nhất là từ 27 – 28º C; cá giống đến cá trưởng thành là 21 - 39º C, thích hợp nhất 27 - 30º C Nhiệt độ thay đổi đột ngột 2 – 3º C có thể gây chết phôi và cá bột, hoặc gây sốc cho cá giống (Huỳnh Văn Lâm, 2000; Tucker, 2000)
Độ mặn: cá chẽm giống và trưởng thành có thể sống được ở độ mặn từ 0 – 35 ppt và có thể chịu đựng tốt với sự thay đổi độ mặn đột ngột Trong khi cá bột có thể sống được ở độ mặn từ 5 – 35 ppt, độ mặn tốt nhất để cá đẻ trứng và phôi phát triển là
28 – 31 ppt và ương cá bột là 25 – 31 ppt Thực tế cho thấy cá giống cỡ 20 – 30 mm có thể thuần hóa từ độ mặn 30 – 32 ppt xuống 5 – 10 ppt trong 2 – 3 giờ (Kungvankij et al., 1994; Huỳnh Văn Lâm, 2000; Tucker, 2000)
Trang 25Ánh sáng: cường độ và thời gian chiếu sáng rất quan trọng đối với các loài cá bắt mồi bằng thị giác Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng cường độ ánh sáng ít ảnh hưởng lên sự phát triển của cá chẽm, cường độ thích hợp là từ 500 – 1500 lux, cường độ sáng quá cao có thể gây stress cho cá Tuy nhiên, thời gian chiếu sáng lại ảnh hưởng lớn đến giai đoạn cá bột (giai đoạn ăn động vật phù du), kéo dài thời gian chiếu sáng cá sinh trưởng tốt và tỷ lệ sống cao hơn, thời gian chiếu sáng phù hợp là từ 16 – 18 giờ, nhưng không ảnh hưởng nhiều ở giai đoạn cá giống Ánh sáng cũng có ảnh hưởng đến
sự thành thục của cá bố mẹ, cá nuôi ở điều kiện thiếu ánh sáng thành thục kém hơn so với cá nuôi ở điều kiện có ánh sáng chiếu thường xuyên (Barlow et al., 1995; Boeuf & Bail, 1999)
Các yếu tố môi trường khác như pH, oxy hòa tan (DO), NH3-N, …:các yếu tố này khi có hàm lượng vượt quá giới hạn cho phép đều ảnh hưởng lên sinh trưởng và tỷ
lệ sống của cá Độ pH thích hợp cho cá phát triển là từ 7,0 – 8,5; DO > 4 ppm; NH3-N
< 0,25 ppm (Kungvankij et al.,1994) Thực tế cho thấy rằng, cá chẽm con ương trong
bể nhiều khi hàm lượng DO xuống còn 2 ppm và NH3-N > 1,5 ppm nhưng cá vẫn sống tốt, nhưng ảnh hưởng đến sinh trưởng, do vậy không nên duy trì cá ở điều kiện này lâu
1.3.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng, sinh trưởng
Cá chẽm là loài cá ăn mồi sống và có khả năng ăn thịt đồng loại, đặc biệt là giai đoạn từ 10 – 100 mm thì tỷ lệ ăn thịt lẫn nhau là cao nhất Chúng có thể ăn được con mồi có chiều dài bằng 60 – 70% chiều dài cơ thể chúng (Schipp, 1996) Do vậy, không nên nuôi ghép cá chẽm với những đối tượng khác và phải thường xuyên phân cỡ khi nuôi chúng
Trang 26với cá sống ở vùng nhiệt độ thấp, những con sống cả cuộc đời trong nước ngọt thì không thành thục (Kungvankij et al., 1994)
1.3.2 Cá mú Epinephelus malabaricus (Bloch & Schneider, 1801)
Hình 1.4: Cá mú Epinesphelus malabaricus Bloch & Schneider, 1801
1.3.2.2 Đặc điểm hình thái
Cá mú có thân mình khỏe mạnh, dẹp hai bên, miệng lớn và có thể co duỗi, hàm lồi ra Răng trong của hai hàm tương đối lớn và có thể ẩn xuống, răng chó với số lượng không nhiều và ở phía trước hai hàm Viền sau xương nắp mang trước có răng cưa, viền dưới hàm trơn láng, xương nắp mang có hai gai to Lược mang ngắn và số lượng không nhiều Vẩy lược bé, có một số ẩn dưới da, bộ phận tia vây lẻ ít nhiều đều
có vẩy Vây lưng có XI gai cứng và 14-18 tia mềm Vây hậu môn có III gai cứng và
7-9 vi mềm Vi đuôi mềm hoặc bằng phẳng, đôi khi lõm vào trong Vây bụng có 1 gai cứng và 5 tia mềm
1.3.2.3 Đặc điểm phân bố và khả năng thích ứng với môi trường
Trang 27a Đặc điểm phân bố của cá mú
Cá mú thuộc họ Serranidae, bộ Perciformes, trên thếgiới có 159 loài thuộc 15
giống (De Bruin, Russel & Bogusch, 1995), ởViệt Nam có 48 loài thuộc 11 giống (Lê Trọng Phấn, 1997) Cá phân bố chủ yếu ở vùng biển nhiệt đới và cận nhiệt đới Các
loài cá mú được nuôi nhiều trên thếgiới gồm: Epinephelus akaara, E tauvina, E fuscoguttatus, E malabaricus, E coioides, E lanceoratus, E awoara, E aeneus, Plectropomus spp, Cromileptes altivelis, Cephalopholis miniata, Đa số các loài cá
mú có giá trị kinh tế cao, đã được nghiên cứu sản xuất giống và nuôi nhiều ở các quốc gia Châu Á Sản lượng đánh bắt được nhiều nhất ở các nước như: Trung Quốc, Indonesia, Philippines Cá được nuôi nhiều ở Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Singapore và Việt Nam,… dưới các hình thức nuôi như lồng nổi trên biển hoặc nuôi trong ao đất, nguồn giống chủ yếu là từ tự nhiên và một số nước đã sản xuất được giống nhân tạo như Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines, Trung Quốc, Đài Loan
b Khả năng thích ứng với môi trường
Môi trường sống của cá mú thay đổi tuỳ theo loài, các loài E akaara, Cephalopholis miniata sống ở những nơi nước có độ trong cao, có chất đáy là rạn đá ngầm, san hô ngoài khơi, các loài E merra, E fuscogustatus, E bleekeri sống chủ yếu
ở vùng biển cạn, nơi có bờ đá và rạn san hô, độ mặn cao và ổn định Cá con thường
tìm thấy ở trong các đám rong, cỏ biển Các loài E tauvina, E malabaricus, E coioides, E sexfasciatus thường sống cả ở vùng nước lợ và nước mặn, có độ mặn từ
10 – 32 ppt, chất đáy rất đa rạng từ đáy cứng, cát đến đáy bùn Cá con thường tìm thấy
ở vùng triều triều ven bờ, cửa sông và rừng ngập mặn
1.3.2.4 Đặc điểm dinh dưỡng và sinh trưởng
Cá mú thường sống ở vùng biển ấm có đá ngầm, san hô và nhiều hang ngách Đây là loài cá có tập tính hung dữ, săn mồi bằng cách ẩn nấp trong các hang đá, hốc của rạn san hô để rình mồi Giai đoạn nhỏ thức ăn là động vật phù du như: rotifer, artemia, copepoda,…khi trưởng thành cá ăn là các loài cá nhỏ, giáp xác, mực Trong sản xuất giống nhân tạo, khi cá bột mới mở miệng thức ăn là loại rotifer kích thước
nhỏ (Brachionus rotundiformis) Rotifer kích thước lớn hơn (B plicatilis), trứng hầu,
ấu trùng copepoda được nuôi làm thức ăn cho cá bột Nuôi moina, copepoda trưởng