Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Việc tích hợp các chính sách trợ giúp xã hội Việt Nam.Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống văn bản chính sách và k
Trang 1xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị giải pháp” là công trình nghiên
cứu độc lập, do chính bản thân tôi hoàn thành Các tài liệu tham khảo và tríchdẫn được sử dụng trong chuyên đề đều ghi rõ xuất xứ tác giả và được ghi trongtài liệu tham khảo
Tôi xin chịu trách nhiệm trước khoa và nhà trường về lới cam đoan trên
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm2015
Sinh viên
Trần Thị Huệ
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, PHỤ LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍCH HỢP CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI 4
1.1 Các vấn đề chung về trợ giúp xã hội và tích hợp các chính sách Trợ giúp xã hội 4
1.1.1 Trợ giúp xã hội 4
1.1.2 Tích hợp các chính sách TGXH 8
1.2 Nội dung tích hợp chính sách TGXH 8
1.1.3 Trước khi tích hợp chính sách 8
1.1.4 Thực hiện tích hợp chính sách 9
1.1.5 Sau khi tích hợp chính sách 9
1.3 Các điều kiện để tích hợp các chính sách trợ giúp xã hội 10
1.3.1 Cơ sở hành lang pháp lý 10
1.3.2 Tư duy của các nhà quản lý 10
1.3.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật 10
1.3.4 Trình độ đội ngũ cán bộ thực hiện tích hợp 11
1.3.5 Nguồn lực tài chính 11
1.4 Kinh nghiệm quốc tế trong tich hợp các chinh sách trợ giúp xã hội 11
1.4.1 Kinh nghiệm của Brazil 12
1.4.2 Kinh nghiệm của Nam Phi 13
1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 15
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍCH HỢP CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 17
2.1 Tổng quan về chính sách trợ giúp xã hội 17
2.1.1 Hệ thống chính sách trợ giúp xã hội 17
2.1.2 Đánh giá về các chính sách trợ giúp xã hội 19
2.2 Tình hình tích hợp các chính sách trợ giúp xã hội ở Việt Nam 26
2.2.1 Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia và MIS 27
Trang 32.2.3 Chi trả cho đối tượng hưởng lợi 44
2.3 Thực trạng các điều kiện để tích hợp chính sách TGXH ở Việt Nam 48
2.3.1 Cơ sở hành lang pháp lý 48
2.3.2 Tư duy của các nhà lãnh đạo 48
2.3.3 Cơ sở hạ tầng, kỹ thuật 49
2.3.4 Trình độ đội ngũ cán bộ thực hiện tích hợp 50
2.3.5 Nguồn lực tài chính 50
2.4 Đánh giá chung về quá trình tích hợp các chính sách TGXH 52
2.4.1 Kết quả và những mặt đã thực hiện tốt 52
2.4.2 Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân 52
CHƯƠNG 3 ĐỊNH HƯỚNG TÍCH HỢP CHÍNH SÁCH TRỢ GIÚP XÃ HỘI 55
3.1 Định hướng tích hợp chính sách Trợ giúp xã hội 55
3.1.1 Quan điểm của chính phủ Việt Nam về chính sách Trợ giúp xã hội 55
3.1.2 Định hướng tích hợp chính sách Trợ giúp xã hội 56
3.1.3 Lộ trình tích hợp chính sách Trợ giúp xã hội 57
3.2 Kiến nghị các điều kiện tích hợp các chính sách Trợ giúp xã hội 58
3.2.1 Hành lang pháp lý 58
3.2.2 Nguồn nhân lực 59
3.2.3 Nguồn lực tài chính 59
3.2.4 Cở sở hạ tầng kỹ thuật 60
3.2.5 Các vấn đề về phong tục, tập quán điều kiện các vùng miền 60
3.3 Kiến nghị với các cơ quan liên quan đến công tác tích hợp các chính sách 61
3.3.1 Đối với Ủy ban nhân dân các tỉnh 61
3.3.2 Đối với Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố 61
3.3.3 Đối với các bộ, ban ngành liên quan 62
3.3.4 Đối với ban quản lý cấp TW 63
KẾT LUẬN 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Trang 4Chữ viết tắt Nội dung đầy đủ
Cơ sở dữ liệuGiáo dục đào tạoLao động thương binh xã hộiNgân hàng nhà nước
Trợ cấp xã hộiTrợ giúp xã hộiTiểu hợp phầnĐiều khoản tham chiếu (Terms of Reference)
Ủy ban nhân dân
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội (ASXH) là một trọng tâm trongchiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam trong những năm qua Từ “Chiếnlược toàn diện về tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo” năm 2002 cho tới “Chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011 – 2020” và “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
5 năm giai đoạn 2011-2015”, Chính phủ đã xác định ASXH là một trụ cột rất quantrọng trong việc định hướng xây dựng các chính sách, các chương trình mục tiêu quốcgia Nhờ đó, Việt Nam đã đạt và vượt nhiều chỉ tiêu quan trọng nhằm thực hiện cácmục tiêu thiên niên kỷ Tỷ lệ nghèo trong cả nước giảm từ 58% năm 1993 xuống 22%năm 2005 và c ̣òn 9,45% năm 2010;1 tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em còn 17,5% năm2010;2 hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu của các huyện nghèo, xã nghèo được cải thiệnrõ rệt.3Đối tượng hưởng lợi của các chính sách TGXH ngày càng được mở rộng,mức trợ cấp được điều chỉnh phù hợp với tình hình phát triển kinh tế đã góp phầnquan trọng ổn định đời sống cho những đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
Tuy nhiên, nhà nước ta nói chung và ngành LĐTBXH nói riêng hiện đangđối mặt với nhiều trở ngại và thách thức đối với khả năng đạt được kết quả tốt hơntrong công tác TGXH và xóa đói giảm nghèo Tốc độ giảm nghèo đang chậm dầntheo thời gian và chưa bền vững Số hộ tái nghèo hàng năm cao, chênh lệch giàunghèo giữa các vùng và nhóm dân cư lớn và đang có xu hướng gia tăng, đời sốngngười nghèo còn nhiều khó khăn.Một thách thức khác đối với công tác xóa đói giảmnghèo của ngành LĐTBXH hiện nay là nguy cơ rơi vào bẫy nghèo truyền kiếp củanhiều hộ nghèo Một vài nguyên nhân của các vấn đề trên có thể kể ra như sau: Cácchính sách còn chồng chéo, chưa có một hệ thống cơ sở dữ liệu để quản lý các hộnghèo, cơ chế chi trả trợ cấp chưa rõ ràng, năng lực quản lý của cán bộ còn nhiềuhạn chế
Trước những thực tiễn và định hướng của nhà nước về xóa đói giảm nghèo,
an sinh xã hội, việc đề xuất lộ trình hợp nhất các chính sách hỗ trợ các hộ nghèo docác cơ quan khác nhau quản lý thành một gói trợ cấp gia đình nhằm sử dụng hiệuquả nguồn lực hướng đến giảm nghèo bền vững là một yêu cầu cấp bách và hợp lý.Lựa chọn đề tài chuyên đề thực tập tốt nghiệp: “ Tích hợp chính sách trợ giúp xã hội
1 Hội nghị Công bố kết quả tổng điều tra hộ nghèo của Bộ LĐTBXH ngày 30/5/2011 tại Hà Nội.
2Viện Dinh Dưỡng và UNICEF, 2011.Tình hình dinh dưỡng Việt Nam năm 2009-2010.
3 Nghị quyết số 80/NQ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 19/5/2011
Trang 7ở Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị giải pháp” dựa trên thực tiễn về yêu cầu lựachọn con đường tốt nhất để đến với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo bền vững, pháttriển đất nước.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất một số kiến nghị để đẩy nhanh quá trình tích hợp trong thời gian tới
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Việc tích hợp các chính sách trợ giúp xã hội Việt Nam.Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống văn bản chính sách và kết quả tổ chức thựchiện trong lĩnh vực ASXH Việt Nam ở nhóm lĩnh vực: trợ giúp xã hội và các nhómlĩnh vực khác có liên quan
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu và làm rõ các nội dung của chuyên đề, có
ba phương pháp chính được sử dụng xuyên suốt luận văn đó là: phương pháp phântích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp thống kê, phương pháp suy luận logic vàdẫn giải trong quá trình phân tích
Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu, lý luậnkhác nhau về TGXH và tích hợp chính sách TGXH, liên kết từng mặt, từng bộ phậnthông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thông lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc
Phương pháp thống kê: Tổng hợp, phân tích tài liệu, số liệu sẵn có (Từ cácbáo cáo, những nghiên cứu do các cơ quan/ tổ chức thuộc Chính phủ, các tổ chức xãhội dân sự (CSO), nghiên cứu độc lập, tổ chức Quốc tế như WB, UNDP, UNICEF,ILO, GIZ );
Trang 8Phương pháp suy luận logic và dẫn giải trong quá trình phân tích: Dựa trên
cơ sở những số liệu thực tế thu thập được cũng như khung lý thuyết về tình trạngnghèo, giảm nghèo, các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội, tiến hành đánhgiá thực trạng về quá trình và các chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội ở ViệtNam trong những năm vừa qua nhằm tìm ra các điểm được và những tồn tại để thấyđược những ưu việt của việc tích hợp các chính sách, cũng như xem xét liệu việctích hợp các chính sách trợ giúp xã hội có thực sự hiệu quả như mục đích nó đượcxây dựng nên
5 Kết cấu của chuyên đề
Xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu trên, ngoài phần mở bài và kết luận, nộidung chính của chuyên đề được thiết kế trong ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về tích hợp chính sách Trợ giúp xã hội
Chương 2: Thực trạng tích hợp chính sách trợ giúp xã hội ở Việt Nam
Chương 3: Định hướng tích hợp chính sách Trợ giúp xã hội
Trang 9xã hội…) Cụ thể như sau:
Bộ LĐTBXH(1999) “ Bảo trợ xã hội là hệ thống các chính sách, chế dộ, hoạtđộng của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hìnhthức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các dối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặpbất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và cơ hội hòa nhập với cuộc sốngchung của cộng đồng, góp phần bảo đảm và ổn định công bằng xã hội”
Chuyên gia Unicef ( 2006) định nghĩa: “ Công tác xã hội là sự thúc đẩy, thayđổi trong xã hội, thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề trong quan hệ giữa con người,trao quyền và giải phóng con người, đem lại sự bình yên cho xã hội Vận dụng lýthuyết về hành vi của con người và các hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệpvào các mặt mà ở đó con người tác động trực tiếp tới môi trường sống của họ.Nguyên tắc về quyền con người và công bằng xã hội là cốt lõi của công tác xã hội”
Từ điển bách khoa Việt Nam( 2003) giải thích “ Phúc lợi xã hội là một bộphận thu nhập quốc dân của xã hội được sử dụng nhằm thỏa mãn những nhu cầu vậtchất và tinh thần của các thành viên trong xã hội, chủ yếu được phân phối ngoài laođộng theo thu nhập Phúc lợi xã hội bao gồm những chi phí xã hội như: trả tiền hưutrí, các loại trợ cấp bảo hiểm xã hội, học bổng cho học sinh, những chi phí cho việchọc không mất tiền, những dịch vụ y tế, nghỉ ngơi an dưỡng, nhà trẻ, mẫu giáo ”
Nguyễn Văn Định( 2008) cho rằng “ Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của xã hộibằng nguồn tài chính của nhà nước và của cộng đồng đối với các thành viên gặpkhó khăn, bất hạnh và gặp rủi ro trong cuộc sống như: thiên tai, hỏa hoạn, tàn tật,già yếu… dẫn đến mức sống quá thấp, rơi vào cảnh neo đơn, túng quẫn nhằm giúp
Trang 10hộ bảo đảm được điều kiện sống tối thiểu, vượt qua cơn nghèo khổ và vươn lêntrong cuộc sống” Đồng thời giải thích cứu tế xã hội là sự giúp đỡ của cộng đồng và
xã hội bằng tiền mặt hoặc hiện vật, có tính tức thời, khẩn cấp và mức độ tối cầnthiết cho người được trợ cấp khi họ rơi vào hoàn cảnh bần cùng, không có khảnăng lo liệu cuộc sống thường ngày cho bản thân và gia đình” Cũng với các tiếpcận này tác giả cũng cho rằng “ Trợ cấp xã hội là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng
xã hội bằng tiền hoặc các phương tiện thích hợp để người được trợ giúp có thểphát huy được khả năng tự lo liệu cuộc sống của bản thân và gia đình, sớm hòanhập cộng đồng”
Tổng hợp các khái niệm trên ta có được một khái niệm đầy đủ như sau:
“TGXH là các biện pháp, giải pháp bảo đảm của nhà nước và xã hội đối với các đốitượng bảo trợ xã hội( người bị thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộcsống) nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như lâu dài trongcuộc sống Việc bảo đảm này thông qua các hoạt động cung cấp tài chính, vật phẩm,các điều kiện vật chất khác cho đối tượng”
1.1.1.2 Phân loại
Tùy theo cách tiếp cận khác nhau để phân loại TGXH
a Theo phương thức thực hiện
- TGXH đột xuất: Hình thức TGXH đột xuất tức thì cho các cá nhân hoặcnhóm dân cư do các nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn,dich bệnh dẫn đến không có đồ ăn, nước uống, nhà ở trong khoảng thờigian xác định
- TGXH thường xuyên: TGXH thường xuyên hàng tháng cho các cá nhân, hộgia đình trong khoảng thời gian xác định
b Theo đối tượng cần trợ giúp chính sách
- Người cao tuổi: Bao gồm người không có lương hưu hoặc trợ cấp bảohiểm xã hội, người cao tuổi cô đơn, nghèo
- Người tàn tật: không có khả năng lao động, không có khả năng tự phục vụnhu cầu sinh hoạt cá nhân, hộ có từ hai người tàn tật nặng…
- Trẻ em mồ côi: Mồ côi cha mẹ, bị bỏ rơi…
- Người nhiễm HIV/ AIDS: Nghèo, không có khả năng lao động…
- Đối tượng khó khăn khác
Trang 11c Theo nơi ở của đối tượng hưởng lợi:
- Trợ giúp tại cộng đồng: Thực hiện trợ giúp tại hộ gia đình, cộng đồng, nơiđối tượng sinh sống và do cấp xã quản lý, tổ chức, thực hiện
- Chăm sóc, nuôi dưỡng trong các cơ sở BTXH: Thực hiện nuôi dưỡng, tậptrung đối tượng trong các trung tâm BTXH
d Theo chủ thể thực hiện trợ giúp
- Trợ giúp nhà nước: Các cơ quan nhà nước đứng ra thực hiện các hoạtđộng TGXH
- Trợ giúp cộng đồng: Người dân đứng ra tổ chức, thực hiện các hoạt độngTGXH
e Theo nguồn lực thực hiện trợ giúp
- Trợ giúp từ ngân sách nhà nước: Nguồn kinh phí trợ cấp do ngân sách nhànước hoặc các nguồn hỗ trợ khác do các cơ quan nhà nước thực hiện
- Trợ giúp từ nguồn quỹ do đóng góp của các thành viên thông qua các quỹbảo hiểm, quỹ rủi ro của các tổ chức, đoàn thể, xã hội
- Trợ giúp từ các nguồn vận động xã hội Khoản trợ giúp này được thựchiện qua các tổ chức đoàn thể, xã hội hoặc cá nhân đứng ra vận động,nhằm giúp đỡ cho các đối tượng: quỹ vì người nghèo, quỹ nạn nhân chấtđộc da cam, quỹ vận động trợ giúp các bệnh nhân bị bệnh hiểm nghèo
1.1.1.3 Vai trò
Mục tiêu của các quốc gia trên thế giới đều là đạt được sự tiến bộ xã hội: vừađảm bảo tăng trưởng kinh tế, vừa đảm bảo phát triển xã hội, giảm thiểu tệ nạn xãhội, đời sống người dân được cải thiện TGXH là một trong những công cụ quản lýcủa nhà nước với những vai trò quan trọng:
Thứ nhất, TGXH thực hiện chức năng bảo đảm an sinh xã hội của nhà nước.
Thông qua luật pháp, chính sách, các chương trình trợ giúp xã hội, nhà nước giữ ổnđịnh chính trị, xã hội, giảm bất công bằng xã hội
Thứ hai, TGXH thực hiện chức năng phân phối lại của cải xã hội
Kinh tế thị trường ngày càng phát triển thì xu hướng phân hóa giàu nghèo, phântầng xã hội và bất bình đẳng càng gia tăng, TGXH sẽ điều tiết các nguồn lực giữacác vùng, phân phối thu nhập Để tạo ra sự phát triển bền vững, đòi hỏi nhà nướcphải phát triển mạnh mẽ TGXH
Trang 12Thứ ba, TGXH phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và giải quyết một số vấn
đề xã hội nảy sinh.
TGXH hạn chế tính dễ bị tổn thương, khắc phục hậu quả rủi ro thông qua các chínhsách trợ giúp, nhằm giúp các đối tượng ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng, bảođảm mức sống tối thiểu cho dân cư khó khăn
Thứ tư, TGXH góp phần ổn định an ninh trật tự, tạo môi trường phát triển kinh tế xã hội bền vững.
Hình 1.1: TGXH với phát triển Kinh tế- Xã hội
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, bên cạnh những cơ hội cũng có nhiều tháchthức Hội nhập quốc tế đem lại cơ hội cho phát triển kinh tế, nhưng lại khiến cho bấtbình đẳng gia tăng, phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội Do vậy, kinh tế thịtrường càng phát triển thì vai trò của TGXH càng lớn, bảo đảm sự hài hòa giữa pháttriển kinh tế và xã hội Một đất nước có nền chính trị, xã hội ổn định sẽ tạo môitrường thuận lợi cho các nhà đầu tư an tâm góp vốn, thúc đẩy kinh tế phát triểnnhanh và bền vững
Bên cạnh những lợi ích, vai trò quan trọng mà TGXH đem lại, cũng tồn tạimột số những hạn chế như: sự ỷ lại, sự đấu đá, cạnh tranh, tham nhũng để đạt được
Phát triển Kinh tế- Xã hội Chính sách Trợ giúp xã hội
Phân hóa xã hội Dân cư khó khăn
Điều kiện tự nhiên Văn hóa,
phong tục
Trợ giúp nhân đạo của cộng đồng
Trang 13lợi ích nhóm… Vì vậy một hệ thống TGXH tốt phải được giải quyết và quản lý hợp
lý, đảm bảo ổn định xã hội
1.1.2 Tích hợp các chính sách TGXH
Tích hợp các chính sách TGXH là một vấn đề mới, hiện nay chưa có một tàiliệu nào giải thích một các toàn diện khái niệm tích hợp chính sách TGXH Nhưngcũng có những từ ngữ, thuật ngữ gần gũi Tích hợp các chính sách TGXH có thểhiểu là hợp nhất chính sách TGXH nhằm mục tiêu thực hiện các vai trò đảm bảoASXH; phân phối lại của cải xã hội; phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro và giải quyếtmột số vấn đề xã hội nảy sinh của TGXH một cách hiệu quả nhất
Hợp nhất là hợp lại, gộp lại thành một tổ chức duy nhất
Chính sách trợ giúp xã hội là tập hợp các chủ trương và hành động của chínhphủ nhằm mục tiêu giúp đỡ những đối tượng bảo trợ xã hội vượt qua những khókhăn trong cuộc sống
Vậy tích hợp chính sách TGXH là gộp các sách lược và các hoạt động, chủtrương, biện pháp cụ thể để thực hiện giúp đỡ các đối tượng trợ giúp xã hội trongmột thời kì thành một chủ trương, biện pháp duy nhất nhằm đạt được hiệu quả caonhất về mặt kinh tế, chính trị và xã hội
Việc tích hợp chính sách TGXH sẽ giúp tăng cường hiệu quả của hệ thốngTGXH và giảm nghèo hiện hành, khắc phục những vấn đề cơ bản của hệ thống vàgóp phần xây dựng một hệ thống TGXH và giảm nghèo bền vững quy mô quốc giatrong tương lai Những mục tiêu phát triển này nhất quán với định hướng phát triểnmà Ban Chấp hành Trung ương đã đề ra trong Nghị quyết số 15-NQ/TW
1.2 Nội dung tích hợp chính sách TGXH
Để hợp nhất các chính sách manh mún, nhỏ lẻ, chồng chéo thành một chínhsách duy nhất nhằm tránh gây lãng phí nguồn lực nhưng vẫn đảm bảo các vai trò củaTGXH thì quá trình tich hợp phải diễn ra nhất quán từ khâu chuẩn bị trước khi tíchhợp, quá trình thực hiện tích hợp đến những đánh giá, kiểm soát sau khi tích hợp
1.1.3 Trước khi tích hợp chính sách
Là bước chuẩn bị tiền đề quan trọng nhằm đảm bảo các chính sách đi cùngmột hướng, đảm bảo thực hiện đầy đủ các vai trò của TGXH nhưng với hiệu quả làcao nhất
Trang 14Để thực hiện được mục tiêu trên trước hết phải thực hiện rà soát các chínhsách TGXH đang hiện hành, phân tích để thấy được sự manh mún, chồng chéo vàtrùng lắp của các chính sách, những điều làm các chính sách TGXH hoạt động kémhiệu quả Từ việc rà soát và phân tích cụ thể để thấy được những lỗ hổng từ cácchính sách, cán bộ quản lý sẽ tiến hành xác định mục tiêu cụ thể, đối tượng củachính sách, hình thức trợ giúp và mức chi trả, phạm vi bao phủ của chính sách vànguồn lực thực hiện.
1.1.4 Thực hiện tích hợp chính sách
Sau khi có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, quá trình thực hiện tích hợp chính sách sẽdiễn ra đảm bảo mục tiêu và kế hoạch đã được đề ra Trước hết phải có một hệthống thông tin quản lý và cơ sở dữ liệu nhằm xác định đối tượng thụ hưởng chínhsách một cách chính xác, không đưa nhầm cũng như không bỏ sót đối tượng nào.Hệ thống thông tin quản lý còn phục vụ quá trình đánh giá, theo dõi và giám sát tìnhhình thực hiện TGXH
Tiếp đó, phải phân tách rõ ràng chức năng của các cơ quan thực hiện côngtác TGXH như: Cơ quan xác định đối tượng, cơ quan quản lý và cơ quan chi trảnhằm tránh tình trạng quan liêu, cửa quyền, một số cán bộ thực hiện công tácTGXH muốn đưa người thân, họ hàng của mình vào diện TGXH để thụ hưởng cácquyền lợi thực tế không trong diện được hưởng, làm mất tính công bằng của TGXH.Việc tách bạch công tác quản lý và công tác chi trả cũng giúp tạo ra được hình thứcchi trả hiện đại, tạo điều kiện các đối tượng thụ hưởng có thể tiếp cận với nguồn trợgiúp một cách nhanh chóng, thuận lợi, tránh lãng phí nguồn lực
Để cho hoạt động tích hợp diễn ra một cách rộng rãi, bao phủ và nhận được
sự ủng hộ từ đông đảo người dân cũng như các cấp chính quyền thì hoạt độngtruyền thông là điều không thể thiếu Cần xây dựng một mạng lưới cộng tác viên,thực hiện các hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn bà con làm theo những gì cơ quanquản lý đã xây dựng, cam kết đồng trách nhiệm trong mục tiêu xóa đói giảm nghèo
1.1.5 Sau khi tích hợp chính sách
Sau khi tích hợp chính sách được diễn ra cần có các hoạt động đánh giá thựchiện tích hợp chính sách để điều chỉnh, hoàn thiện theo định hướng Một hệ thốngchỉ tiêu, chỉ số sẽ được xây dựng nhằm xác định những điểm được và những điểmcòn hạn chế trong quá trình tích hợp, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huynhững điểm tốt và khắc phục những điểm hạn chế
Trang 151.3 Các điều kiện để tích hợp các chính sách trợ giúp xã
hội
Sau khi xác định được nội dung những việc cần làm trong quá trình tích hợpcác chính sách TGXH, ta cần xác định những điều kiện cơ bản nhưng có ý nghĩaquyết định trong quá trình thực hiện tích hợp Năm điều kiện tiên quyết có thể kể ralà: Cơ sở hành lang pháp lý, tư duy của các nhà quản lý, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹthuật, trình độ đội ngũ cán bộ và nguồn lực về tài chính đảm bảo cho quá trình tíchhợp diễn ra liên tục
1.3.1 Cơ sở hành lang pháp lý
Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm cảithiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, thu hẹp khoảng cách về trìnhđộ phát triển giữa các vùng, địa bàn và giữa các dân tộc, nhóm dân cư Đảng và nhànước đã ban hành nhiều chính sách, nghị định, nghị quyết liên quan đến giảm nghèobền vững, trong đó có các nghị định liên quan đến việc tích hợp chính sách TGXHcũng nhằm mục tiêu giảm nghèo, nâng cao mức sống người dân
Xây dựng được một hành lang pháp lý là xây dựng một hệ thống quy định,nghị định theo bộ luật nhà nước: mang tính chất định hướng, bền vững và liên tục.Một hành lang pháp lý kiến cố, vững chắc sẽ tạo cơ sở, nền tảng để việc thực hiệntích hợp các chính sách TGXH một cách hiệu quả, hợp lý, đảm bảo công bằng xãhội, tránh tình trạng tham nhũng và lãng phí nguồn lực
1.3.2 Tư duy của các nhà quản lý
Tư duy của đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý bảo trợ xã hội và giảmnghèo ở trung ương và địa phương là hết sức quan trọng Các nhà quản lý luônmong muốn có một hệ thống chính sách TGXH và giảm nghèo thống nhất, dễ dàngquản lý đối tượng thụ hưởng, tránh gây lãng phí nguồn lực, nâng cao năng lực làmviệc Tư duy của người lãnh đạo có tốt thì hệ thống TGXH quốc gia mới được hoànthiện và hiệu quả
1.3.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng, kỹ thuật trong công tác quản lý và tíchhợp các chính sách là một điều kiện tất yếu phải thực thiện Mạng số hóa cơ sở dữliệu và hệ thống thông tin quản lý sẽ giúp quá trình quản lý và giám sát diễn rathuận lợi, chính xác, tiết kiệm được một số chi phí không cần thiết
Trang 16Chính vì vậy cần phải đầu tư lắp đặt hệ thống máy tính được kết nối Internetđồng bộ từ cấp trung ương đến địa phương, tạo sự thống nhất trong công tác quản
lý Hệ thống này sẽ chứa thông tin của các đối tượng thụ hưởng với một cơ chếđánh mã định danh duy nhất, điều này sẽ đảm bảo sự gắn kết dữ liệu của từng đốitượng xuyên suốt qua các chương trình trợ giúp khác nhau, đảm bảo tính công bằng,minh bạch
1.3.4 Trình độ đội ngũ cán bộ thực hiện tích hợp
Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược, đảm bảo mọi nguồn sángtạo trong tổ chức Mặc dù trang thiết bị, tài sản, nguồn tài chính là những nguồn tàinguyên mà các tổ chức đều cần phải có, nhưng trong đó tài nguyên nhân văn - conngười lại đặc biệt quan trọng Không có những con người làm việc hiệu quả thì hoạtđộng tích hợp không thể nào đạt tới mục tiêu đã đề ra ban đầu
Hoạt động tích hợp các chính sách trợ giúp xã hội là một hoạt động phức tạp đòihỏi nguồn nhân lực chất lượng cao để sử dụng các trang thiết bị hiện đại, phải đảm bảo
đủ và mạnh hệ thống cán bộ làm chính sách TGXH, có đầy đủ tâm lực và tài lực, amhiểu các chính sách, chương trình TGXH và ASXH, luôn sáng tạo, học hỏi, nhận thứcvà biết áp dụng phù hợp những mô hình TGXH thành công của quốc tế vào Việt Nam
1.3.5 Nguồn lực tài chính
Tài chính là yếu tố tiền đề quan trong và không thể thiếu được trong quátrình thực hiện tích hợp chính sách TGXH, nguồn lực tài chính đủ lớn thì các hoạtđộng tích hợp mới có thể diễn ra và nó cũng quyết định đến sự thành bại của hoạtđộng tích hợp
Phải đảm bảo ngân sách chi cho các chương trình giảm nghèo và TGXH đầy
đủ và không gián đoạn Có đủ ngân sách mới có thể ứng dụng công nghệ thông tintrong quản lý, triển khai hiện đại hóa hệ thống TGXH, triển khai chi trả lương vàcác phụ phí các cho các cán bộ, công nhân viên chức tham gia vào các hoạt độngtích hợp, triển khai chi trả trợ cấp cho các đối tượng cần trợ giúp
Nếu phân bổ và sử dụng nguồn vốn một cách hợp lý và có hiệu quả sẽ là mộttiền đề quan trọng dẫn đến thành công trong việc tích hợp các chính sách TGXH,tiến tới mục tiêu cuối cùng là giảm nghèo bền vững, nâng cao chất lượng đời sốngngười dân
1.4 Kinh nghiệm quốc tế trong tich hợp các chinh sách trợ
giúp xã hội
Trang 17Việc tích hợp các chính sách TGXH ở Việt Nam có sự kết hợp các bài họckinh nghiệm từ quốc tế về xây dựng hệ thống TGXH và giảm nghèo hiện đại, đồngthời có những sáng kiến áp dụng cho Việt Nam dựa trên những khảo sát và đánh giátrong suốt quá trình chuẩn bị.
1.4.1 Kinh nghiệm của Brazil
Brazil là quốc gia có hệ thống TGXH khá phát triển và đặc biệt thành côngvới chương trình trợ cấp gia đình Bolsa Bolsa là chương trình trợ cấp gia đình lớnnhất thế giới
1.4.1.1 Hệ thống chính sách TGXH của Brazil trước khi có chương trình Bolsa
Các cơ quan khác nhau chịu trách nhiệm thực hiện chương trình, với nhữngđặc điểm: Hệ thống số liệu rời rạc, nhiều tiêu chí về điều kiện hưởng, mức thụhưởng khác nhau, các kênh chi trả khác nhau Bên cạnh đó, các chương trình nàyđều có mức độ bao phủ thấp, chồng chéo nhau về nhóm đối tượng
Ta thấy những đặc điểm trên rất tương đồng với hệ thống TGXH của nước tahiện nay, vì vậy việc học hỏi những kinh nghiệm TGXH của Brazil là hợp lý
1.4.1.2 Giới thiệu về chương trình trợ cấp gia đình Bolsa
Chương trình trợ cấp gia đình Bolsa được xây dựng vào tháng 10 năm 2003với các mục tiêu là: (i) Tăng cường tính hiệu quả và sự gắn kết của các chương trìnhtrợ cấp trước kia; (ii) Giảm nghèo đói và bất bình đẳng bằng cách trợ cấp mức thunhập tối thiểu cho hộ gia đình nghèo; (iii) Tăng cường các quyền tiếp cận dịch vụ
xã hội cơ bản đối với giáo dục và y tế thông qua việc sử dụng các dịch vụ này nhưlà điều kiện để được hưởng hộ trợ tiền mặt; (iv) Định hướng và tăng cường mongmuốn của người hưởng lợi tham gia thị trường lao động
Chương trình Bolsa được xây dựng theo luật liên bang với những đặc điểm
chính là: (i) Định hướng có tính bền vững và tính liên tục, tập trung vào hộ gia đình;(ii) Những người tham gia cam kết thoát khỏi vòng nghèo đói truyền kiếp từ thế hệnày sang thế hệ khác (iii) Có sự chia sẻ và tham gia quản lý giữa chính quyền cáccấp (iv) Hộ gia đình sẽ được xác định là đối tượng hưởng lợi một cách tự động dựatrên những thông tin từ cơ quan đăng ký hợp nhất các chương trình xã hội (v) Các
cơ quan chi trả chi trả trực tiếp cho gia đình, sử dụng thẻ ngân hàng, tiền mặt được
ưu tiên chi trả đến tay người phụ nữ trong gia đình để họ tự do sử dụng nguồn lực,tuy nhiên vẫn có sự giám sát và tham gia của xã hội
1.4.1.3 Kết quả
Trang 18Chương trình đã góp phần giảm nghèo cùng cực và giảm bất bình đẳng vềthu nhập, cải thiện tình trạng đến trường của trẻ em, cải thiện tình trạng tiêm chủngcủa trẻ em, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương.
Trang 19- Giảm bất bình đẳng thu nhập
Bất bình đẳng thu nhập đã giảm 21% từ năm 2004 đến năm 2006 nhờ thựchiện chương trình BFP (Soares et alii, 2006) Giảm nghèo đói cùng cực BFP đãgiúp giảm 18% khoảng cách nghèo và giảm ¼ khoảng cách nghèo bình phương từ5.9% xuống 4.6% (Soares and Satyro, 2009) Năm 2009, 4.3 triệu hộ gia đình trong
số 12.4 triệu hộ gia đình là đối tượng thụ hưởng đã thoát ngoài cùng cực do đượcnhận trợ cấp từ chương trình BFP (Senarc, 2010) Tác động của hỗ trợ tài chính từBFP đến thu nhập bình quân đầu người theo tháng Tăng thu nhập bình quân: 48.7%(từ 28.64 USD lên 42.6 USD) giúp các hộ gia đình thoát khỏi nghèo cùng cực Tăng60% thu nhập bình quân đầu người theo tháng tại miền bắc và Đông bắc
- Tác động về y tế
Tăng tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng (15-25 %, tùy theo từng loại vaxin) Tỷ lệbà mẹ mang thai là đối tượng thụ hưởng của chương trình đi thăm khám và tư vấnthai sản đã tăng 50% so với nhóm không được hưởng lợi trên cùng một nhóm tươngđồng về kinh tế, xã hội (đánh giá tác động chương trình Bolsa Familia, segundolevantamiento, 2010)
- Tác động về giáo dục
Tăng 4.4% về mức độ đi học chuyên cần với nhóm tuổi 6-17 tuổi Tăng 6%trẻ em đi học ở nhóm trẻ em từ 6-17 tuổi (đánh giá tác động chương trình BolsaFamilia, segundo levantamiento, 2010) Tỷ lệ học sinh bỏ học đối với các hộ giađình hưởng lợi thấp hơn so với các nhóm khác trong trường công lập (Bộ giáo dục)
1.4.2 Kinh nghiệm của Nam Phi
1.4.2.1 Hệ thống TGXH của Nam Phi trước khi tích hợp
Hệ thống TGXH manh mún, nhỏ lẻ Tình hình chính trị, xã hội không ổnđịnh, bất bình đẳng ở mức cao: hệ số Gini: 0,7 (2008); Tỷ lệ suy dinh dưỡng caogấp 5 lần VN; Tỷ lệ nghèo trẻ em cao: 56.5%; Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS cao: 5.2 triệungười 2009; Tỷ lệ thất nghiệp độ tuổi thanh niên (15-35T) cao: 33% , 1,5 triệu trẻ
em cần được hỗ trợ nhưng chưa nhận được (không có giấy khai sinh,…);
1.4.2.2 Giới thiệu chương trình trợ giúp xã hội ở Nam Phi
Hệ thống chính sách:
Chương trình trợ giúp xã hội do nhà nước hỗ trợ, có thể gọi là trợ cấp xãhội (social grants) Đây không phải là cơ chế đóng góp mà nguồn tài chính thu từ
Trang 20thuế Tất cả các loại trợ cấp, trừ trợ cấp chăm sóc thay thế, đều được xác định dựatrên khả năng tài chính (means-tested) và các đối tượng nhận trợ cấp phải có tráchnhiệm chứng minh được là họ cần khoản trợ cấp này (đăng ký) Trợ giúp xã hộicho cá nhân được cung cấp bằng tiền mặt hoặc hiện vật trên cơ sở hỗ trợ các nhucầu tối thiểu Các loại trợ cấp xã hội được thực hiện và quản lý bởi một cơ quanchính quyền trung ương riêng biệt, đó là Cơ quan ASXH/Bảo hiểm xã hội NamPhi (SASSA).Bộ/Cục Phát triển xã hội chịu trách nhiệm về thiết kế chínhsách/chương trình.
Cách thức mở rộng chương trình:
Mở rộng theo nhóm tuổi: 2002 đối tượng trợ giúp nhỏ hơn 6 tuổi; 2005 nhỏ
hơn 14 tuổi; 2012 nhỏ hơn 18 tuổi, điều chỉnh mức xác định đối tượng (means-test):
Từ năm 2008, đặt cách xác định tài chính mới, cao gấp 10 lần giá trị mức trợ cấpcho một người chăm sóc đơn thân và gấp đôi cho những người chăm sóc đã có giađình Điều này làm tăng số lượng trẻ em được nhận trợ cấp đến 1,7 triệu trẻ
Quản lý trợ cấp: Thay đổi từ việc phân cấp quản lý trợ cấp xã hội ở cấp tỉnhsang quản lý tập trung ở cấp trung ương do cơ quan an sinh xã hội Nam Phi đảmnhiệm, do đó sẽ giảm chênh lệch về năng lực quản lý chương trình, cung cấp hiệuquả hơn, sắp xếp hợp lý hơn hệ thống chi trả
Mức hỗ trợ TGXH: Điều chỉnh tăng theo lạm phát Mặc dù số lượng đốitượng tăng nhanh, nhưng chi theo % GDP gần như không thay đổi (từ 3% đến3.5%) do tăng trưởng kinh tế
Thực hiện chi trả TGXH:
Cơ quan SASSA thuộc Bộ PTXH quản lý, thực hiện chương trình TGXH,chi trả thông qua cơ quan dịch vụ công (hợp đồng) Văn phòng SASSA có tại 9tỉnh, 5 chi nhánh với 335 văn phòng, 9937 điểm chi trả; với 7500 cán bộ
Máy lưu động rút tiền mặt tại điểm chi trả (53.9%) sử dụng thẻ Smart Card(nhận dạng qua vân tay); có thể rút tiền qua hệ thống ngân hàng (46.1%) Hệ thốngquản lý chi trả mới (từ 1/4/2012), nhận dạng thông qua 10 ngón vân tay, giọng nói,mẳt, vân bàn chân cho trẻ <6 tuổi Kết nối với hệ thống ngân hàng, ATM, đối tượngthụ hưởng không cần phải đến điểm chi trả hàng tháng
1.4.2.3 Kết quả sau khi thực hiện chương trình
Cách tiếp cận, xây dựng chính sách hỗ trợ ở Nam Phi được coi là sự đầu tưphát triển xã hội và đã có một số kết quả đáng chú ý sau: (i) Thiết kế chính sách đi
Trang 21theo đối tượng, lứa tuổi không có sự trồng tréo (trẻ em 0-18T; NKT: 18-59T; NCT:60+), hỗ trợ các mức khác nhau cho các đối tượng khác nhau (ii) Lựa chọn chínhsách mang tính chính trị cao, công bằng xã hội, chia lại cho người nghèo; lựa chọnđối tượng trẻ em hỗ trợ (độ bao phủ cao nhất), phù hợp với Việt Nam đầu tư nguồnnhân lực là quốc sách, bảo đảm sự phát triển của trẻ, giảm nghèo đói truyền kiếp;(iii) Cách tổ chức, thực hiện xác định đối tượng đơn giản, dễ thực hiện và quản lý(tự đăng ký tham gia, dựa trên mức thu nhập) (iv) Người dân có ý thức tự giác, thunhập minh bạch, việc làm rõ ràng (thông qua hệ thống thuế) (v) Chất lượng dịch vụcông tốt, cán bộ có kỹ năng, chuyên nghiệp, thái độ phục vụ người dân rất tốt (vi)Thông tin, minh bạch, rõ ràng, mọi người dân sẽ dễ tiếp cận và mang lại hiệu quảcao (vii) Nguồn tài chính tập trung tại Trung ương nên dễ tổ chức thực hiện, quản
lý, thống kê, báo cáo đối tượng nhận hỗ trợ (viii) Thực hiện chi trả TGXH thôngqua cơ quan dịch vụ công độc lập, sử dụng công nghệ thông tin kết nối với hệ thốngngân hàng, cửa hàng siêu thị (Smart Card)
Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn tồn tại một số hạn chế: Cần xem xét, đánh giáhiệu quả thực hiện chính sách TGXH: tổng kinh phí 3,5% GDP, 8-9% tổng chingân sách của Chính phủ, tính bền vững của chương trình là không cao Chi phíquản lý chương trình TGXH còn cao: 6-7%; Sự phối hợp với các bộ, ngành kháccòn kém: cơ sở trường lớp do Bộ PTXH hỗ trợ đầu tư, không phải do Bộ Giáo dục– Đào tạo,…
1.4.3 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Từ những phát hiện quan trọng về tác động của chương trình trợ giúp giađình Bolsa ở Brazil và chương trình trợ giúp xã hội ở Nam Phi đến giảm nghèo bềnvững, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu phù hợp với bối cảnh củaViệt Nam như sau:
Thứ nhất, phải xây dựng bộ tiêu chuẩn để xác định đối tưởng được hưởng lợi
từ chính sách Tiếp theo sẽ xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu và hệ thống thôngtin quản lý đưa các đối tượng và những thông tin liên quan vào để từ đó xây dựngnhững gói hỗ trợ phù hợp với từng nhóm đối tượng để đảm bảo tính hợp lý, côngbằng và minh bạch
Thứ hai, xây dựng cơ chế phối hợp từ cấp Trung ương đến địa phương đểthực hiện trợ cấp xã hội Ở cấp Trung ương, Thủ tướng hoặc phó Thủ tướng chỉ đạocông tác điều phối về trợ cấp xã hội, Bộ Lao động thương binh xã hội chịu trách
Trang 22nhiệm điều phối công tác trợ cấp, các bộ ban ngành khác chịu trách nhiệm thựchiện Ở cấp địa phương, xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác TGXH có năng lực,kiến thức, gần gũi với bà con thuộc các hộ nghèo, để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đếnđói nghèo, từ đó có những biện pháp quan tâm, hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợicho bà con được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục, nước sạch,các phương thức sản xuất mới mang lại năng suất lao động cao hơn để từ đó vươnlên thoát nghèo.
Thứ ba, đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ thực hiện tích hợp chính sách, đặcbiệt là ở cấp địa phương- nơi mà trình độ cán bộ làm cô tác TGXH còn yếu và thiếu,đảm bảo mọi công tác diễn ra công khai, minh bạch và đúng theo định hướng, đềcao lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích nhóm
Thứ tư, xây dựng một kênh chi trả hiện đại, để người dân có thể tiếp cận vớicác nguồn hỗ trợ một cách thuận lợi nhất, nhằm giảm bớt chi phí đi lại, chi phí giấytờ, thời gian và công sức của người dân khi đến các điểm chi trả để nhận trợ cấp.Tất cả nhằm đem lại sự hiệu quả nhất trong công tác TGXH
Trên đây là một vài bài học rút ra khi nghiên cứu một số chương trình TGXHtrên thế giới Nếu thực hiện tốt các mục trên thì công tác TGXH ở Việt Nam sẽngày một hoàn thiện và hiệu quả hơn
Trang 23CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÍCH HỢP CHÍNH SÁCH TRỢ
GIÚP XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
2.1 Tổng quan về chính sách trợ giúp xã hội
2.1.1 Hệ thống chính sách trợ giúp xã hội
2.1.1.1 Trợ giúp xã hội thường xuyên
Một bộ phận dân cư vì các lý do khác nhau như tàn tật, khuyết tật, người già
cô đơn, người tâm thần, trẻ em mồ côi, người nhiễm HIV… không có khả năng tạothu nhập và tự chăm sóc Do vậy, các chính sách TGXH của Nhà nước và cộngđồng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thu nhập tối thiểu cho người dân,góp phần ổn định cuộc sống, nâng cao năng lực phòng chống rủi ro
Hiện nay ở Việt Nam, chế độ trợ cấp thường xuyên cho các đối tượng bảo trợ
xã hội thực hiện theo Nghị định 67/2007/NĐ- CP, Nghị định số 13/2010/NĐ- CP,Quyết định số 267/ QĐ- TTg
Nghị định số 67/2007/NĐ- CP ngày 13/04/2007 của Chính phủ đã quy định 9nhóm đối tượng thuộc diện khó khăn thuộc hộ nghèo được hưởng TCXH hàngtháng Đối tượng và mức chuẩn trợ cấp được điều chỉnh liên tục nhằm giảm bớt khókhăn trong cuộc sống của đối tượng Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 vềchính sách trợ giúp các đối tượng BTXH đã mở rộng tới các đối tượng tàn tật nặngkhông có khả năng lao động, người tâm thần… không thuộc hộ nghèo Thời kỳ 2007
- 2009, Nghị định số 67/2007/NĐ-CP đã mở rộng đến nhóm người tàn tật khôngcòn khả năng lao động thuộc diện hộ gia đình nghèo Đối tượng thuộc diện hưởngchế độ TCXH hàng tháng tại cộng đồng do xã, phường, thị trấn quản lý gồm: (i) Trẻ
em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; (ii) Trẻ em mồcôi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích theo quy định tại Điều
78 của Bộ luật Dân sự hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quyđịnh của pháp luật; (iii) Trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thờigian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng; (iv) Trẻ emnhiễm HIV/AIDS thuộc hộ gia đình nghèo; Người chưa thành niên từ đủ 16 đếndưới 18 tuổi nhưng đang đi học văn hóa, học nghề, có hoàn cảnh như trẻ em nêutrên; (v) Người cao tuổi cô đơn, thuộc hộ gia đình nghèo; người cao tuổi còn vợhoặc chồng nhưng già yếu, không có con, cháu, người thân thích để nương tựa,thuộc hộ gia đình nghèo (theo chuẩn nghèo được Chính phủ quy định cho từng thời
Trang 24kỳ); (vi) Người từ 85 tuổi trở lên không có lương hưu hoặc trợ cấp bảo hiểm xã hội.(Thực hiện theo Luật Người cao tuổi, độ tuổi của nhóm đối tượng này được hạxuống còn 80 tuổi); (vii) Người tàn tật nặng không có khả năng lao động hoặckhông có khả năng tự phục vụ, thuộc hộ gia đình nghèo; (viii) Người mắc bệnh tâmthần thuộc các loại tâm thần phân liệt, rối loạn tâm thần đã được cơ quan y tếchuyên khoa tâm thần chữa trị nhiều lần nhưng chưa thuyên giảm và có kết luậnbệnh mãn tính, sống độc thân không nơi nương tựa hoặc gia đình thuộc diện hộnghèo; (ix) Người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động, thuộc hộ nghèo;Gia đình, cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi; (x) Hộ gia đình
có từ 02 người trở lên tàn tật nặng, không có khả năng tự phục vụ; (xi) Người đơnthân thuộc diện hộ nghèo, đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi; trường hợp con đang đihọc văn hoá, học nghề được áp dụng đến dưới 18 tuổi
Quy định về đối tượng tàn tật được hưởng trợ cấp thường xuyên mở rộngdần Mức trợ cấp từ 120.000 đến 180.000 đồng
Năm 2010, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP đã mở rộng cho toàn bộ người tàntật không có khả năng lao động và người tâm thần mãn tính.Hình thức trợ giúp baogồm: Trợ cấp tiền mặt hàng tháng (từ 180.000 đồng/tháng đến 540.000 đồng/tháng),cấp thẻ BHYT, khi chết được hỗ trợ kinh phí mai táng
Ngày 22/02/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số TTg phê duyệt Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 - 2015 với mụctiêu tạo dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh mà ở đó tất cả trẻ em đều đượcbảo vệ Trẻ em mồ côi được trợ cấp thường xuyên với mức trợ cấp từ 180.000 đồng/tháng đến 540.000 đồng/tháng
267/QĐ-2.1.1.2 Trợ giúp xã hội đột xuất
Những rủi ro bất thường xảy ra ngày càng nhiều và trên diện rộng Chỉ tínhriêng những rủi ro do thiên tai, dịch bệnh, mỗi năm có hàng trăm người bị chết,hàng nghìn ngôi nhà bị sập, đổ, trôi, khoảng 1 triệu người thiếu lương thực Tổngthiệt hại về vật chất do thiên tai gây ra hàng năm là hàng nghìn tỷ đồng Do vậy, bêncạnh các khoản trợ cấp xã hội thường xuyên thì các hỗ trợ của Nhà nước và cộngđồng trong công tác TGXH đột xuất có vai trò rất quan trọng
Theo Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 của Chính phủ, đốitượng được trợ cấp đột xuất là những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quảthiên tai hoặc những lý do bất khả kháng
Trang 25Mức trợ cấp cứu trợ đột xuất thấp nhất đối với các đối tượng quy định như sau:
- Đối với hộ gia đình: Có người chết, mất tích: 4.500.000 đồng/người; Cóngười bị thương nặng: 1.500.000 đồng/người; Có nhà bị đổ, sập, trôi, cháy, hỏngnặng: 6.000.000 đồng/hộ;
- Hộ gia đình phải di dời nhà ở khẩn cấp do nguy cơ sạt lở đất, lũ quét:6.000.000 đồng/hộ;
- Hộ gia đình quy định tại điểm c và d khoản 1 Điều này, sống ở vùng khókhăn thuộc danh mục các đơn vị hành chính thuộc vùng khó khăn do Thủ tướngChính phủ quy định, mức hỗ trợ: 7.000.000 đồng/hộ
- Đối với cá nhân: Trợ giúp cứu đói: 15 kg gạo/ người/ tháng, trong thời gian từ 1đến 3 tháng; Người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị thương nặng, gia đình không biết
để chăm sóc: 1.500.000 đồng/người; Người lang thang xin ăn trong thời gian tậptrung chờ đưa về nơi cư trú: 15.000 đồng/người/ngày nhưng không quá 30 ngày.Trường hợp đặc biệt cần phải kéo dài thì thời gian được hưởng trợ cấp tối đa khôngquá 90 ngày và mức trợ cấp bằng mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng tại cơ sở bảotrợ xã hội
- Đối với người gặp rủi ro ngoài vùng cư trú bị chết, gia đình không biết đểmai táng, được Ủy ban nhân dân cấp xã, bệnh viện, cơ quan, đơn vị tổ chức maitáng thì các cơ quan, đơn vị đứng ra mai táng được hỗ trợ kinh phí mai táng thấpnhất bằng 3.000.000 đồng/người
Chi tiết về các chính sách TGXH thường xuyên và đột xuất xem ở phụ lục 1:Một số chính sách TGXH bằng tiền mặt ở Việt Nam
2.1.2 Đánh giá về các chính sách trợ giúp xã hội
2.1.2.1 Trợ giúp thường xuyên
Chỉ trong vòng ba năm, số lượng người được hỗ trợ tăng nhanh, từ 1,1 triệungười vào năm 2008 tăng lên gần 1,45 triệu người vào năm 2010, trong đó có:650.000 người từ 80 tuổi trở lên không có lương hưu và trợ cấp BHXH chiếm31,3% người từ 80 tuổi trở lên; 120.000 người già cô đơn, chiếm 7,5%; 750.000người khuyết tật và tâm thần, chiếm 47%; 56.000 trẻ em mồ côi, chiếm 3,5%, cònlại là các đối tượng khác
Trang 26Bảng 2.1 Đối tượng hưởng TCXH hàng tháng phân theo nhóm
giai đoạn 2008-2010
Đơn vị tính: người
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
8
1,248,78 6
1,454,562
Trẻ em mồ côi/ Trẻ em bị bỏ rơi 55,123 55,541 55,570Gia đình/ cá nhân nhận nuôi trẻ mồ côi/ bị bỏ rơi 12,929 15,078 18,000
Gia đình có hai người tàn tật nặng trở lên, hộ
nghèo
Người tàn tật thuộc hộ nghèo 233,076 259,115 345,806
Nguồn: Báo cáo của Cục Bảo trợ xã hội, Bộ LĐTBXH
Bên cạnh đó vẫn còn xảy ra một số bất cập như việc một đối tượng là họcsinh, sinh viên có quá nhiều chính sách cùng thực hiện hỗ trợ Cụ thể là Quyết định239/2010/QÐ-TTg về Phổ cập Giáo dục mầm non cho Trẻ 5 tuổi, Nghị định49/2010/NÐ-CP về miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập, Quyết định82/2006/QĐ-TTg, Quyết định 152/2007/QĐ-TTg về học bổng chính sách cho: (i)học sinh, sinh viên thuộc diện cử tuyển; (ii) học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu
số học tại trường dân tộc nội trú và (iii) thương binh, người khuyết tật học nghề,Quyết định 24, 25, 26, 27/2008/QĐ-TTg trợ cấp học bổng và trợ cấp xã hội cho họcsinh dân tộc thiểu số học ở trường bán công, dân lập… với mức trợ cấp giao động
từ 70 nghìn đồng/ tháng * 9 tháng/ năm, các chương trình này chiếm khoảng 0,68%GDP Việc có quá nhiều chính sách nhằm mục đích hỗ trợ một đối tượng đã chothấy sự chồng chéo và lãng phí trong hệ thống chính sách TGXH ở Việt Nam
Ngân sách nhà nước chi TCXH hàng tháng đã tăng từ 550 tỷ đồng năm 2006lên 3.887 tỷ đồng năm 2010 (tương đương từ 0,05% lên 0,2% GDP, tăng gấp 4 lần).Nhà nước thực hiện điều chỉnh nâng mức chuẩn trợ cấp cho các đối tượng phù hợpvới từng thời kỳ, đáp ứng được mức sống tối thiểu của đối tượng hưởng TCXH Từ
Trang 2701/01/2007, mức trợ cấp hàng tháng tại xã phường điều chỉnh từ 65.000 đồng/ngườilên 120.000 đồng, mức trợ cấp hàng tháng thấp nhất tại cơ sở BTXH điều chỉnh từ140.000 đồng lền 240.000 đồng Từ 01/01/2010, mức trợ cấp hàng tháng tại xãphường điều chỉnh từ 120.000 đồng/người lên 180.000 đồng, mức trợ cấp hàngtháng thấp nhất tại cơ sở BTXH điều chỉnh từ 240.000 đồng lền 360.000 đồng
Bảng 2.2 Chi ngân sách Nhà nước cho trợ giúp xã hội giai đoạn 2006-2010
Đơn vị tính: tỷ đồng
Năm2006
Năm2007
Năm2008
Năm2009
Năm
2010 2006-2010GDP giá hiện hành 973,80
0
1,143,700
1,485,000
1,658,400
1,931,300
7,192,200
Tổng chi TGXH 5,906 10,109 19,664 26,981 35,558 98,218Chi theo Nnh 67/13 550 1,150 2,036 2,636 3,887 10,259
Tỷ lệ % so với chi
ASXH
Nguồn: Báo cáo của Bộ Tài chính 4
Việc huy động nguồn lực từ cộng đồng và doanh nghiệp ở các địa phươngnghèo rất khó khăn, trong khi nguồn hỗ trợ của ngân sách trung ương và địa phươngcòn hạn chế, chưa đáp ứng được những nhu cầu cơ bản của người nghèo Các chínhsách được thiết kế chồng chéo, tản mát, khiến nguồn lực càng bị phân tán, dễ thấtthoát, chi phí cho quản lý cao Những điều này đang ảnh hưởng đến tốc độ giảmnghèo và mục tiêu giảm nghèo bền vững của Việt Nam
2.1.2.2 Trợ giúp đột xuất
Công tác cứu trợ đột xuất đã được triển khai tương đối kịp thời, góp phần tạmthời ổn định cuộc sống của đối tượng bị rủi ro Giai đoạn 2006 - 2011, mỗi năm bìnhquân Nhà nước chi khoảng 1.000 tỷ đồng và khoảng 50 - 60 nghìn tấn gạo để hỗ trợcác địa phương và người dân khắc phục thiên tai, ổn định cuộc sống5
Phong trào tương thân, tương ái của mọi tầng lớp nhân dân, của các tổ chứcquần chúng, các doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và cộng đồng người Việt Nam ở
4 Báo cáo tổng quan tài chính cho ASXH phục vụ thiết kế dự án “Tăng cường hệ thống trợ giúp xã hội Việt
Nam” do Bộ LĐTBXH và WB, Unicef thiết kế, 5/2011
5 Tổng hợp báo cáo kết quả công tác năm của Cục BTXH, Bộ LĐTBXH
Trang 28nước ngoài được phát huy, nhờ đó đã đóng góp được một phần đáng kể vào trợ giúpđột xuất.
Tuy nhiên phạm vi của chính sách còn hẹp, mới tập trung chủ yếu vào rủi ro
do thiên tai, chưa tính đến những rủi ro do tác động của sản xuất kinh doanh, mấtmùa, khủng hoảng kinh tế toàn cầu Mức trợ cấp còn thấp, mới chỉ bù đắp được mộtphần thiệt hại, chưa đáp ứng được nhu cầu của hộ gia đình, trong nhiều trường hợp
hỗ trợ vẫn chưa kịp thời
Việc xây dựng một hệ thống ASXH hỗ trợ hiệu quả giảm nghèo bền vững vàhướng tới đảm bảo mức sống tối thiểu cho mọi người dân đòi hỏi phải giải quyếtđược từng bước các hạn chế hiện có trong hệ thống giảm nghèo và trợ giúp xã hộihiện tại Từ những đánh giá và nhận định kể trên có thể rút ra một số vấn đề còn tồntại trong hệ thống chính sách trợ giúp xã hội của Việt Nam có thể kể đến như sau:
Thứ nhất, việc xác định các đối tượng thụ hưởng chưa chính xác.
Qua các đánh giá về quy trình xác định hộ nghèo cho thấy việc xác định sốlượng đối tượng tương đối chính xác ở cấp quốc gia và cấp tỉnh do ở hai cấp này cóthể sử dụng bộ số liệu điều tra mức sống hộ gia đình được thực hiện hai năm mộtlần, nhưng ở cấp xã, việc tổng rà sóat hộ nghèo thường được tiến hành khi có sựthay đổi chuẩn nghèo quốc gia, sau đó sẽ rà soát cập nhật lại danh sách này hàngnăm Phương pháp này đã từng bước được cải thiện nhưng vẫn bộc lộ một số điểmyếu như:
Quy trình điều tra còn khá phức tạp do phải đồng thời kết hợp nhiều phươngpháp khác nhau để xác định đối tượng Đầu tiên là dựa vào những tiêu chí riêng (tàisản; tình trạng ốm đau; tình trạng đi học ) để phân lọai hộ thành ba nhóm: Nhóm1: chắc chắn nghèo; Nhóm 2: chắc chắn không nghèo và nhóm 3: chưa rõ có nghèokhông (proxy mean test) Tiếp theo cần tổ chức điều tra thu nhập (mean test) dựatrên một mẫu phiếu đơn giản để điều tra thu nhập đối với các hộ thuộc nhóm 1 và 3
Từ kết quả điều tra để lập ra danh sách hộ nghèo dự kiến Bước tiếp theo là tổ chứcbình bầu tại thôn bản (community base targeting) để thống nhất danh sách trình xãthẩm định và cuối cùng là trình Huyện phê duyệt Do tính phức tạp nên việc thựchiện đòi hỏi chi phí lớn cả về tài chính và nguồn nhân lực
Việc sử dụng bảng điều tra thu nhập quá đơn giản đã không phản ảnh đúngthu nhập của hộ và tất yếu sẽ dẫn đến bỏ sót hoặc nhầm đối tượng Việc thực hiệncũng phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các địa phương do nhiều địa phương mong
Trang 29muốn có tỷ lệ nghèo cao Điều này được minh chứng khi tỷ lệ nghèo rà sóat ở một
số tỉnh cao hơn rất nhiều nếu được tính tóan từ bộ số liệu điều tra mức sống hộ giađình 2010 Cũng do tính phức tạp nên còn có hiện tượng không tuân thủ các quyđịnh và quy trình chuẩn
Do thiếu khá nhiều thông tin nên không thể căn cứ vào kết quả rà sóat hộnghèo để xây dựng một bộ cơ sở dữ liệu chuẩn về hộ nghèo để có thể sử dụngchung cho các chương trình trợ giúp xã hội cho cùng một nhóm dân số Do đó,trong nhiều trường hợp khi ban hành chính sách mới lại phải tiến hành xác định đốitượng riêng cho chính sách, tạo ra gánh nặng cho cán bộ hành chính ở cấp cơ sở.Mặt khác việc cập nhật đối tượng lại chỉ được thực hiện một lần hàng năm
Việc tích hợp các chính sách trợ giúp xã hội hướng tới đảm bảo mức sống tốithiểu cho mọi người nên việc nhận dạng và xác định đúng đối tượng là một nhiệmvụ quan trọng để đảm bảo (i) làm rõ đối tượng cần ưu tiên cho giảm nghèo bềnvững cả ở hiện tại và cho tương lai; (ii) đưa ra được phương pháp xác định đốitượng đơn giản và chính xác và (iii) tiến tới xây dựng một bộ cơ sở dữ liệu chung vềcác đối tượng thụ hưởng các chính sách trợ giúp xã hội thống nhất Vì vậy cần xâydựng hệ thống xác định đối tượng mới với mục tiêu đảm bảo tính chính xác ở cấp
cơ sở
Thứ hai, chưa có một hệ thống thông tin quản lý và giám sát hiệu quả
Cơ chế giám sát, quản lý các chính sách trợ giúp xã hội còn yếu do phụ thuộcchủ yếu vào kết quả giám sát của Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân xã Do
đó thông tin phục vụ cho giám sát, đánh giá của các cấp cao hơn phụ thuộc chủ yếuvào hệ thống báo cáo hành chính Rất ít chương trình xây dựng được một hệ thốnggiám sát, đánh giá tốt Việc giám sát của các cấp trên cũng không được tiến hànhthường xuyên
Chưa có cơ chế quản lý thông tin hiệu quả từ địa phương đến trung ương.Thông tin về người hưởng lợi thường chỉ có ở cấp xã Điều này hạn chế khả năngcủa huyện, tỉnh và trung ương trong việc giám sát hiệu quả thực hiện
Mỗi chương trình có một cơ chế báo cáo riêng Việc chia sẻ thông tin giữacác cấp, các ngành còn lỏng lẻo ngay cả trong trường hợp các chương trình nàycùng hướng tới một nhóm đối tượng chung, đặc biệt là các thông tin về nguồn lực.Điều đó dẫn đến khó đánh giá hiệu quả của mỗi chương trình và có nguy cơ dẫn đếnthất thóat nguồn lực
Trang 30Nội dung giám sát còn nghèo nàn, chủ yếu mới tập trung vào: (i) nguồn lực;(ii) đầu ra và (iii) tổ chức thực hiện Chưa thực hiện giám sát dựa trên kết quả vàđặc biệt là tác động của mội chính sách Do đó kết quả giám sát, đánh giá hiện tạichưa hỗ trợ được cho việc lập kế hoạch và ra quyết định Việc phát triển một hệthống giám sát, đánh giá hiệu quả nhằm khắc phục những điểm yếu kém của cơ chếhiện hành là điều tất yếu phải thực hiện.
Thứ ba, Các chính sách giảm nghèo và hỗ trợ xã hội tản mát, bị chia cắt nhiều cơ quan quản lý
Hiện có nhiều chính sách trợ giúp xã hội đang cùng tồn tại (như mô tả trongphụ lục 1) do nhiều cơ quan khác nhau quản lý và có cơ chế vận hành riêng Nhờ
có sự cố gắng của chính quyền cơ sở, các chính sách này nhìn chung đã đến đúngđối tượng và chi trả kịp thời Điều bất cập lớn ở đây là có quá nhiều người vànhiều cấp (huyện, xã, thôn) đang thực hiện nhiệm vụ chi trả do các chính sáchđược quản lý bởi các cơ quan khác nhau mặc dù phần lớn là tập trung vào đốitượng là hộ nghèo Điều này dẫn đến lãng phí về nguồn nhân lực do chi phí quản
lý cao, thất thoát và cán bộ cơ sở không dành được nhiều thời gian cho các nhiệmvụ chuyên môn Đã đến lúc cần lựa chọn một cơ quan chi trả chuyên nghiệp.Trong nhiều chính sách, việc xác định đối tượng, quản lý đối tượng và thực hiệnchi trả đều do một người thực hiện Điều này dẫn đến nguy cơ về tính không minhbạch trong quá trình thực hiện Công tác tuyên truyền vận động và hỗ trợ đốitượng hưởng lợi để sử dụng hiệu quả khoản hỗ trợ vẫn còn hạn chế, thiếu tính liêntục Công tác kiểm tra giám sát thường mang tính kiểm soát nhiều hơn là traoquyền cho đối tượng được hưởng lợi để họ tự ra quyết định Cần phát triển một hệthống triển khai dịch vụ hợp nhất và tập trung vào khách hàng để giúp hộ nghèogiải quyết hậu quả cơ bản của nghèo đa chiều
Nhận thức được những vấn đề còn tồn tại trong hệ thống quản lý và triểnkhai các chương trình TGXH là nguyên nhân sâu xa của các trở ngại hiện tại đối vớicông tác TGXH và giảm nghèo, Bộ LĐTBXH đã và đang tiến hành xây dựng cácgiải pháp cải cách hệ thống song song với mục tiêu của ba đề án “Đổi mới công tácTGXH thường xuyên và đột xuất”, “Xây dựng đề án mã số ASXH và ứng dụngCNTT vào quản lý và cung cấp dịch vụ xã hội” và “Xây dựng đề án CSDL quốc gia
về ASXH” được Chính phủ giao trong Chương trình hành động theo Nghị quyết số70/NQ-CP Một trong những trọng tâm của kế hoạch phát triển của ngành
Trang 31LĐTBXH là hiện đại hóa hệ thống TGXH và giảm nghèo bằng việc xây dựng một
cơ sở dữ liệu chung về ASXH đi kèm với ứng dụng công nghệ quản lý đồng bộ vàhiệu quả tạo sự kết nối chặt chẽ giữa các ngành trong công tác hoạch định chínhsách và giám sát triển khai các chương trình TGXH và giảm nghèo
Theo một đánh giá gần đây về chi tiêu cho ASXH,6 ngân sách của Chính phủcho ASXH đã tăng đều trong những năm qua Trong khi ngân sách cho ASXH năm
2007 chiếm 3,7% GDP, con số này đã tăng lên 4,8% vào năm 2010 Phân bổ ngânsách cho TGXH đã tăng từ 0,9% GDP vào năm 2007 lên 1,8% GDP vào năm 2010phù hợp với việc mở rộng độ bao phủ và khởi động các chương trình mới Như vậy,
có rất ít khả năng tăng ngân sách tổng thể cho ASXH hơn nữa Việc tăng cườngTGXH do đó sẽ phải đi kèm với việc phân bổ lại các nguồn lực từ bên trong ngânsách ASXH và là kết quả của việc giảm độ phân tán của các chương trình Như vậy,định hướng phát triển lâu dài cho công tác TGXH và giảm nghèo là tăng hiệu quảvà giảm độ phân tán các chương trình với các giải pháp như hợp nhất chính sách vàhiện đại hóa quy tŕnh triển khai TGXH
Với những định hướng phát triển trên của chính phủ, một dự án nhằm hợpnhất các chính sách TGXH với hệ thống triển khai hiện đại, bao gồm một cơ sở dữliệu quốc gia, hệ thống cơ sở dữ liệu và MIS hiện đại, cơ chế chi trả mới và mộtmạng lưới tuyên truyền và tư vấn cho đối tượng hưởng lợi hiệu quả, là cần thiết và
có mức độ ưu tiên cao
Cùng với việc sắp xếp, lựa chọn các chương trình mục tiêu quốc gia về giảmnghèo theo hướng giảm bớt đầu mối quản lý, thực hiện và tăng cường nguồn lựctrong các chương trình, chính sách hiện hành thành hai chương trình mục tiêu quốcgia trong giai đoạn 2016- 2020 là chương trình giảm nghèo bền vững và chươngtrình xây dựng nông thôn mới Bộ Lao động Thương binh Xã hội phối hợp với cácbộ ban ngành liên quan đang rà soát để trình chính phủ sắp xếp lại các chính sáchtrợ giúp xã hội hiện hành theo hướng tránh chồng chéo giữa chức năng quản lý nhànước với việc tổ chức, thực hiện các chính sách nói trên Trọng tâm của việc thayđổi theo quan điểm: Lĩnh vực chăm sóc sức khỏe thuộc trách nhiệm của ngành y tế,các chương trình, chính sách về giáo dục do ngành giáo dục tổ chức, thực hiện…Ngành LĐTBXH đóng vai trò là cơ quan đảm bảo ASXH và mức sống tối thiểu chomọi người dân
6 Theo số liệu của Bộ LĐTBXH năm 2011.
Trang 322.2 Tình hình tích hợp các chính sách trợ giúp xã hội ở Việt Nam
Với mục tiêu chung là xây dựng một hệ thống quản lý và triển khai các chínhsách TGXH nhằm hướng đến đảm bảo mức sống tối thiểu cho mọi người dân, gópphần giảm nghèo bền vững theo tinh thần Nghị quyết số 15- NQ/TW Và các mụctiêu cụ thể là:
- Đề xuất lộ trình hợp nhất các chính sách hỗ trợ các hộ nghèo do các cơquan khác nhau quản lý thành một gói trợ cấp gia đình nhằm sử dụng hiệu quảnguồn lực hướng đến giảm nghèo bền vững Tách rõ chức năng hỗ trợ thu nhập chocác đối tượng TGXH với chức năng cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáodục ) Trước hết, trong giai đoạn thử nghiệm, sẽ vận hành một chương trình trợcấp bằng tiền thành một gói trợ cấp hộ gia đình trên cơ sở: (1) hợp nhất ba chínhsách bao gồm: (i) hỗ trợ chi phí học tập theo Nghị định 49/2010/NĐ-CP và Nghịđịnh 74/2013/NĐ-CP (Nghị định 49/74); (ii) hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo theoQuyết định 268/QĐ-TTg;7 (iii) chính sách hỗ trợ học sinh trung học phổ thông ởvùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo quyết định số12/2013/QĐ-TTg và (2)mở rộng đối tượng hưởng lợi đối với (i) phụ nữ mang thaithuộc các hộ nghèo; (ii) trẻ em từ 0-dưới 3 tuổi thuộc hộ nghèo và (iii) trẻ em từ 3-
15 tuổi thuộc hộ nghèo hiện đang không đi học Ngoài ra, thông qua việc xây dựnghệ thống triển khai hiện đại, dự án cũng sẽ tạo nền tảng để hợp nhất về quy trìnhtriển khai chính sách TGXH thường xuyên tại cộng đồng theo Nghị định 136/2013/NĐ-CP8 (Nghị định 136) Tất cả các bước thực hiện Nghị định 136 từ xác định vàđăng ký đối tượng thụ hưởng đến quản lý đối tượng, chi trả trợ cấp, theo dõi vàđánh giá thực hiện chính sách, xử lí khiếu nại tố cáo và tư vấn hỗ trợ, cũng sẽđược thực hiện trong khuôn khổ của dự án này
- Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đối tượng TGXH tại cộng đồng và hộnghèo/cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) có trẻ em ở vùng đặc biệtkhó khăn ở 4 tỉnh thí điểm (2015) và mở rộng ra toàn quốc (2016-2019), có mãđịnh danh duy nhất dùng chung cho các chính sách xã hội, đảm bảo tính minh bạch
7 Quyết định 268/2011/QĐ-TTg ngày 23 tháng 02 năm 2011.
8 Ngh đ nh 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 (sẽ có hi u l c vào ngày 01/01/2014) thay th Ngh ệu lực vào ngày 01/01/2014) thay thế Nghị ực vào ngày 01/01/2014) thay thế Nghị ế Nghị
đ nh 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 c a Chính ph v chính sách tr giúp các đ i t ủa Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã ủa Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã ề chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã ợ giúp các đối tượng bảo trợ xã ối tượng bảo trợ xã ượ giúp các đối tượng bảo trợ xã ng b o tr xã ảo trợ xã ợ giúp các đối tượng bảo trợ xã
h i và Ngh đ nh 13/2010/NĐ-CP ội và Nghị định 13/2010/NĐ-CP ngày27/ 02/2010 V s a đ i, b sung m t s đi u c a Ngh đ nh ề chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã ửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định ổi, bổ sung một số điều của Nghị định ổi, bổ sung một số điều của Nghị định ội và Nghị định 13/2010/NĐ-CP ối tượng bảo trợ xã ề chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã ủa Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 c a Chính ph v chính sách tr giúp các đ i t ủa Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã ủa Chính phủ về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã ề chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã ợ giúp các đối tượng bảo trợ xã ối tượng bảo trợ xã ượ giúp các đối tượng bảo trợ xã ng b o tr xã h i ảo trợ xã ợ giúp các đối tượng bảo trợ xã ội và Nghị định 13/2010/NĐ-CP
Trang 33của thông tin Sử dụng một phần mềm quản lý thống nhất từ cấp huyện, tỉnh vàtrung ương.
- Xây dựng một hệ thống Thông tin quản lý (MIS) hiện đại nhằm hỗ trợ quản
lý biến động về người hưởng lợi nhằm tránh đưa nhầm hoặc bỏ sót đối tượng; theodõi được dòng tài chính và kết quả thực hiện chi trả định kỳ; chia sẻ thông tin giữacác ngành, các cấp và cho bản thân người hưởng lợi; hỗ trợ cho công tác giám sát,đánh giá, báo cáo; ban hành, sửa đổi chính sách
- Đổi mới công tác chi trả, tách chức năng quản lý đối tượng khỏi chức năngchi trả; sử dụng cơ quan chi trả chuyên nghiệp dựa trên hợp đồng (Bưu điện); chi trảmột lần/tháng gói trợ cấp đúng thời hạn; kết hợp chi trả tại một điểm tập trung vàtận nhà cho những đối tượng khó khăn; tăng cường vai trò quản lý và hỗ trợ đốitượng của cán bộ cơ sở và khuyến khích hộ gia đình đầu tư cho giáo dục, y tế, vàdinh dưỡng cho trẻ em
- Phát triển đội ngũ cộng tác viên nhằm hỗ trợ các hộ gia đình nghèo sử dụng
có hiệu quả gói trợ cấp, ưu tiên đầu tư vào trẻ em cho mục tiêu giảm nghèo bềnvững trong tương lai; tạo kênh kết nối giữa cơ quan quản lý, triển khai chính sáchvới các đối tượng hưởng lợi
Để thực hiện được mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể trên chính phủ có
sự thí điểm tích hợp một số chính sách và thực hiện ba yếu tố quan trọng của quátrình tích hợp bằng việc xây dựng CSDL quốc gia và MIS, tách bạch công tác quản
lý với nhiệm vụ chi trả thông qua một đơn vị cung cấp dịch vụ độc lập và xây dựngmột mạng lưới CTV chương trình và hoạt động truyền thông vì sự phát triển
2.2.1 Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia và MIS
2.2.1.1 Mục tiêu
Như đã phân tích ở trên, ở Việt Nam hiện nay, số lượng các chương trìnhASXH và số đối tượng hưởng lợi đã và đang tăng lên đáng kể Tổng số các chínhsách TGXH trên một địa bàn có thể lên tới 15 chính sách Nhiều hộ gia đình/cánhân là đối tượng của nhiều chính sách khác nhau Mỗi chính sách lại có thể có một
cơ sở dữ liệu riêng được quản lý độc lập bởi các cấp ngành, cơ quan khác nhautrong khi chưa chương trình nào có một CSDL quốc gia hoàn chỉnh CSDL hiện cóđáng kể nhất là cơ sở dữ liệu hộ nghèo, cận nghèo quốc gia (hay CSDL về nghèođói) nhưng vẫn chưa hoàn chỉnh
Trang 34Chính vì vậy, Bộ LĐTBXH xây dựng một CSDL quốc gia hợp nhất vàđồng bộ có thể khai thác cho nhiều chính sách TGXH và giảm nghèo Đây cũng lànền tảng để mở rộng ứng dụng hệ thống Thông tin quản lý (MIS) trên cả nước.CSDL đăng ký quốc gia được xây dựng nhằm quản lý thông tin (theo hộ gia đình)của các nhóm dân cư dễ tổn thương nhất bao gồm hộ nghèo/cận nghèo, hộ sinhsống trong các vùng nghèo, vùng đặc biệt khó khăn và các hộ có đối tượng BTXHvới các mục tiêu:
- Xác định đối tượng: Hỗ trợ xác định các nhóm đối tượng cho các chương trình
khác nhau một cách khoa học, và dựa trên tiêu chuẩn thống nhất (cấp quốc gia)
- Quản lý đối tượng: Có thông tin đầy đủ và kịp thời về các đối tượng với
chất lượng cao, tránh các trường hợp trùng lặp
- Giám sát đối tượng: Ngăn ngừa và giảm trùng lặp trợ cấp (ví dụ một người
nhận trợ cấp từ nhiều hơn một chương trình hay địa bàn); giám sát giới hạn thờigian và điều kiện các được hưởng và kết thúc chương trình;
- Quản lý chương trình: giảm sự trùng lặp, chồng chéo trong quản lý các
chương trình (bao gồm cả chi phí, cán bộ và các nguồn lực khác)
- Hoạch định chính sách: Có thông tin đầy đủ và kịp thời về đối tượng tiềm
năng để xây dựng chính sách (ước tính số đối tượng theo từng địa bàn để xây dựngphương án và lập kinh phí)
- Chia sẻ thông tin giữa cơ quan chủ quản và các cơ quan, tổ chức khác tham
gia vào quản lý, hỗ trợ đối tượng, tạo điều kiện cho triển khai các chương trình cần
có sự tham gia của nhiều đối tác
Cùng với nền tảng một hệ thống CSDL quốc gia tốt, một hệ thống MIS phùhợp cũng được xây dựng với chức năng tích hợp và quản lý dữ liệu phục vụ linhhoạt cho các cấp quản lý và các ngành khác nhau Đây cũng là mục tiêu chính của
đề án “Xây dựng đề án CSDL quốc gia về ASXH” thực hiện chỉ đạo của Phó thủtướng Nguyễn Thiện Nhân theo Thông báo số 7883/TB-VPCP của Văn phòngChính phủ hướng tới thực hiện Nghị quyết số 70/NQ-CP
2.2.1.2 Nội dung
Thứ nhất, Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia.
CSDL quốc gia được thí điểm xây dựng trước hết tại 4 tỉnh: Hà Giang,Quảng Nam, Lâm Đồng, Trà Vinh, phạm vi lưu trữ khoảng trên 700.000 bản ghi hộgia đình với các chức năng cơ bản và quan trọng nhất của hệ thống này là:
Trang 35- Nhập dữ liệu và cập nhật thông tin đối tượng trực tuyến và ngoại tuyến tạicác cấp tỉnh/huyện, quản lý đối tượng theo mã định danh duy nhất.
- Có cơ chế đồng bộ dữ liệu giữa các cấp và tạo ra cơ sở dữ liệu tập trung vềhộ gia đình thông qua mã định danh duy nhất
- Lọc danh sách các đối tượng dựa trên các tiêu chí nhất định theo thiết kếcủa từng chương trình trợ giúp; có khả năng phát triển thêm cách xác định đốitượng hộ nghèo theo Đánh giá gia cảnh thay thế (PMT) sử dụng công thức PMT đốivới các biến số về hộ gia đình đã được thu thập
- Có thể tích hợp, trao đổi, chia sẻ thông tin với các hệ thống MIS của cácchương trình trợ giúp khác nhau để cập nhật tình trạng đối tượng
- Có chức năng tra cứu, tìm kiếm thông tin, sao lưu dữ liệu, tạo các báo cáotheo yêu cầu
Thứ hai, xây dựng hệ thống MIS( hệ thống thông tin quản lý)
Cùng với CSDL quốc gia, sẽ hỗ trợ xây dựng hệ thống MIS mới (gọi tắt làPoSoft+) dựa trên phần mềm PoSoft hiện thời của Bộ LĐTBXH nhưng sẽ có chứcnăng ưu việt hơn để trở thành hệ thống MIS toàn diện cho chương trình TGXH hợpnhất cùng với chính sách TGXH thường xuyên theo Nghị định 136
Nhóm các chức năng chính của POSoft+ bao gồm các chức năng như sau:
Quản lý đối tượng:
Trong giai đoạn thí điểm (ở 4 tỉnh), xác định và đăng ký đối tượng sẽ dựatrên danh sách/CSDL của các chính sách theo Quyết định 268, Nghị định 49/74,Nghị định 136 và Quyết định 12 Dữ liệu được thu thập và nhập bổ sung cho từngchương trình ở cấp huyện, sau đó đồng bộ vào CSDL MIS ở huyện, (kết hợp vớiquá trình kiểm tra lỗi, kiểm tra trùng dữ liệu, …) Dữ liệu cấp huyện sẽ được đồngbộ lên cấp tỉnh và từ cấp tỉnh đồng bộ lên cấp trung ương Các bổ sung về mã địnhdanh và thông tin về hộ gia đình sẽ được thưc hiện một lần trong đầu kỳ cho mỗiđối tượng Các đợt đồng bộ dữ liệu tiếp theo chỉ cập nhật những thay đổi từ cácchương trình
Giai đoạn mở rộng sau 2015, sau khi có CSDL quốc gia (Hệ thống Đăng kýquốc gia) lưu trữ thông tin hộ gia đình và đối tượng tiềm năng, danh sách thụ hưởngcác chính sách được lọc tự động dựa trên các tiêu chí nhất định theo yêu cầu Từdanh sách này, thông tin về đối tượng sẽ được thu thập thêm (nếu cần thiết) và nhậpvào CSDL của chương trình để hoàn thiện quá trình đăng ký đối tượng Hồ sơ và
Trang 36các tài liệu xác minh đi kèm (CMND, sổ hộ khẩu, tờ khai đăng ký, …) cũng có thểđược scan vào CSDL để tra cứu khi cần thiết
Một cơ chế đánh mã định danh duy nhất sẽ được thực hiện trong toàn hệthống trên cơ sở hộ gia đình để đảm bảo sự gắn kết dữ liệu của từng đối tượngxuyên suốt qua các chương trình trợ giúp khác nhau Chức năng cũng cho phépđăng ký cho các đối tượng chưa có thông tin trong CSDL Đăng ký để đưa vào đăng
ký, xét duyệt
Quá trình lọc tự động danh sách đối tượng từ CSDL đăng ký quốc gia sẽđược thực hiện ở cấp trung ương cho tất cả các tỉnh/ huyện Các yêu cầu đăng kýmới, yêu cầu cập nhật thông tin được tiếp nhận và xử lý ở cấp huyện và cập nhậtvào CSDL huyện CSDL huyện sau đó sẽ được định kỳ đồng bộ lên CSDL tỉnh vàCSDL tỉnh định kỳ đồng bộ lên CSDL trung ương
Định kỳ hoặc theo yêu cầu, hệ thống cũng lọc danh sách các đối tượng không
đủ điều kiện hoặc không còn quyền/ nhu cầu tham gia vào chương trình do đi khỏi địabàn, do thoát nghèo, không còn thoả mãn các tiêu chí của chương trình Chức năngcũng cho phép đăng ký cho các đối tượng chưa có thông tin trong CSDL để đưa vàođăng ký, xét duyệt
Chi trả:
Dựa trên dữ liệu hiện có từ CSDL MIS, các cấp tiến hành lập dự toán chochương trình và tính toán các nguồn tài chính Hệ thống cũng sẽ tạo ra các danhsách đối tượng và mức nhận theo các chương trình trợ giúp cụ thể Đồng thời chophép tính mức trợ cấp mà một đối tượng (hộ gia đình) được nhận dựa trên cácchương trình chính sách mà họ đang thụ hưởng Hệ thống sẽ hỗ trợ nhiều mô hìnhchi trả khác nhau Trước hết, ngoài mô hình chi trả thủ công theo các cấp tới địabàn, mô hình qua dịch vụ của bên thứ ba (qua hệ thống bưu điện) sẽ được hỗ trợ Hệthống sẽ kết nối với hệ thống của bên dịch vụ để chuyển yêu cầu chi trả và đối chiếukết quả Chức năng này cũng hỗ trợ quản lý luồng kinh phí - là phiên bản gọn nhẹcủa phân hệ quản lý tài chính kế toán, hỗ trợ thực hiện thanh quyết toán với cơ quanchi trả và Kho bạc nhà nước (KBNN) ở cấp huyện, quyết toán phí dịch vụ chi trảvới cơ quan chi trả ở cấp tỉnh và hỗ trợ quản lý luồn kinh phí, tài chính của dự án.Qua đó, nhà tài trợ và cơ quan quản lý sẽ cập nhật được tình trạng tài chính đã thựchiện của chương trình
Khiếu nại, phản hồi:
Trang 37Chức năng này ghi nhận lại theo từng vụ việc nảy sinh khiếu nại và tìnhtrạng, trách nhiệm giải quyết của cơ quan có thẩm quyền, qua đó đảm bảo được tínhminh bạch trong quá trình thực hiện chương trình Các cảnh báo, nhắc nhở về chậmphản hồi hay khiếu nại nhiều lần cũng được đưa ra Theo quy trình khiếu nại tố cáo,sau khi kết quả giải quyết ở cấp huyện không được đối tượng chấp nhận sẽ tiếp tụcđược chuyển lên cấp tỉnh Trong trường hợp kết quả ở cấp tỉnh chưa được đối tượngđồng ý sẽ tiếp tục chuyển lên cấp trung ương Cấp trung ương sẽ ra quyết định cuốicùng để giải quyết trường hợp Hệ thống ở từng cấp sẽ ghi nhận các trường hợpkhiếu nại tố cáo và kết quả xử lý Các giấy tờ, tài liệu liên quan cũng có thể đượcquét (scan) để lưu trữ cho mỗi trường hợp khiếu nại, phản hồi.
Hệ thống cũng ghi nhận các trường hợp khiếu nại tố cáo theo loại đối tượngnộp đơn khiếu nại:
- Người nộp đơn đang là đối tượng của chương trình
- Người nộp đơn chưa là đối tượng của chương trình
Các trường hợp khiếu nại tố cáo được ghi nhận vào CSDL theo 3 phân nhóm là:
- Khiếu nại các trường hợp hợp lệ nhưng không được hưởng chính sách
- Khiếu nại các trường hợp không hợp lệ nhưng được hưởng chính sách
- Khiếu nại liên quan đến nhận và trả trợ cấp
Hệ thống cũng ghi nhận và xử lý các thông tin phản hồi từ đối tượng/dư luận
xã hội từ nhiều kênh thông tin khác nhau như trực tiếp từ đối tượng, công tác viên,đường dây nóng, phiếu đánh giá … và tổng hợp các thông tin này để đánh giá hoạtđộng của dự án
M&E và lập báo cáo:
Chức năng quan trọng của hệ thống là đưa ra hệ thống các chỉ tiêu và chỉ sốphục vụ giám sát toàn bộ hệ thống (giám sát trong) và giám sát đánh giá kết quảchương trình (giám sát ngoài) và đưa ra các cảnh báo cần thiết để giảm thiểu trườnghợp phát sinh lỗi và khắc phục các lỗi khi xảy ra Đồng thời hỗ trợ lập các báo cáohành chính, tài chính, lập dự toán, kế hoạch… phục vụ nhu cầu các cấp quản lýcũng như công tác thanh tra, kiểm tra
Quản lý cộng tác viên:
Trang 38CSDL về đội ngũ cộng tác viên của chương trình được xây dựng phục vụquản lý, đánh giá kết quả hoạt động của các đối tượng này
2.2.1.3 Các hoạt động đề xuất và cách thức tổ chức thực hiện
Thứ nhất, Thu thập thông tin xây dựng CSDL
Ở giai đoạn thí điểm: Cơ quan thực hiện tiến hành thu thập thông tin tại 4
tỉnh thí điểm của dự án từ các chương trình TGXH hiện hành sau:
Quyết định 268 (hỗ trợ tiền điện cho hộ nghèo): Chính sách này khai thácCSDL hộ nghèo (đã có đến cấp huyện), quản lý đối tượng theo đơn vị hộ gia đình
Nghị định 49/74 (hỗ trợ chi phí học tập): Chương trình quản lý danh sách đốitượng cá nhân học sinh, có kèm theo tên cha/mẹ, không có thông tin về hộ gia đình
Nghị định 136 (TGXH thường xuyên tại cộng đồng – tùy chọn đối với địaphương): Chương trình quản lý đối tượng cá nhân không có thông tin về hộ gia đình
Quyết định 12: Đây là chương trình do Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì nêncần tham khảo và kết hợp chặt chẽ với đơn vị triển khai ở các cấp (Bộ GDĐT, SởGDĐT, phòng GDĐT) trong việc thu thập và chia sẻ dữ liệu.Quyết định 12 cũngquản lý đối tượng cá nhân học sinh và không có thông tin về hộ gia đình
Cơ quan thực hiện đối chiếu các thông tin hiện có về đối tượng với các thôngtin cần có theo yêu cầu có thể thấy nhu cầu bổ sung thông tin để xây dựng CSDL thíđiểm ban đầu cho 4 tỉnh là rất rõ ràng Quan trọng nhất là bổ sung các thông tin đểlập mã định danh duy nhất cho hộ gia đình (hiện nay chưa có CSDL/danh sách đốitượng nào có)
Hộp 2.1: Thông tin để lập mã định danh duy nhất cho hộ gia đình thụ hưởng
các chính sách TGXH
Thông tin để lập mã định danh duy nhất cho hộ gia đình thụ hưởng
các chính sách TGXH gồm:
(1) Số sổ hộ khẩu/số đăng ký tạm trú dài hạn (KT3)
Trang 39- Khu vực thành thị - nông thôn
- Số thành viên trong hộ
(4) Thông tin về đặc điểm kinh tế xã hội của hộ (tùy chọn):
- Loại nhà ở (nhà tạm, nhà kiên cố, nhà bán kiên cố)
- Nguồn nước sinh hoạt (nước máy, nước mưa/giếng, sông/suối/ao/hồ)
- Nguồn điện chính cho sinh hoạt (điện lưới, máy nổ/ac quy, không có điện)
- Sở hữu tài sản chủ yếu (tivi, tủ lạnh, máy tính, xe máy, điện thoại/di động,điều hòa)
- Thu nhập bình quân đầu người
- Phân loại hộ (nghèo, cận nghèo, vùng đặc biệt khó khăn, có đối tượngBTXH),
- Các chính sách trợ giúp đã/đang được hưởng (thời gian, mức hưởng):hỗ trợtiền điện (268), nhà ở (167), tín dụng ưu đãi, …
(5) Thông tin về thành viên trong hộ:
- Tên đầy đủ
- Quan hệ với chủ hộ
- Ngày sinh, tuổi
- Tình trạng hôn nhân
- Giới tính
- Mang thai
- Trình độ học vấn
- Tình trạng đi học (cấp học)
- Nghề nghiệp
(6) Các chính sách trợ giúp đang được hưởng (loại, mức trợ cấp)
(Nguồn: Ban quản lý dự án tăng cường hệ thống TGXH Việt Nam)
Sau giai đoạn thí điểm tại 4 tỉnh, quá trình thu thập thông tin bắt đầu đượctriển khai trên toàn quốc để xây dựng CSDL quốc gia Các đối tượng trong hệ thốngCSDL quốc gia sẽ được thu thập thông tin như sau:
- Đối với đối tượng hộ nghèo/cận nghèo: Thu thập thông tin thông qua cuộcTổng điều tra hộ nghèo 2015, toàn bộ thông tin cần thu thập sẽ được đưa vào phiếuhỏi phỏng vấn để điều tra viên thu thâp tại các hộ gia đình
Trang 40- Đối tượng 49/74 và 12: Cũng được thu thập thông tin cùng với đợt Tổngđiều tra hộ nghèo 2015.
- Đối với đối tượng hưởng TGXH thường xuyên theo Nghị định 136: Tiếnhành rà soát đối tượng vào 2015 lồng ghép chung với Tổng điều tra hộ nghèo/cậnnghèo trên cơ sở danh sách/CSDL đối tượng hiện có tại các tỉnh Phương án này có
ưu điểm là có khoảng thời gian để chuẩn bị và đảm bảo thông tin cập nhật cùng thờiđiểm với 2 nhóm đối tượng trên, nhưng khó khăn là làm tăng khối lượng công việccho địa phương do số đối tượng tăng lên nhiều
Chất lượng dữ liệu đóng vai trò quan trọng quyết định sự thành công củaCSDL Dù các thiết kế và mẫu biểu được đảm bảo ở trung ương nhưng quá trình thuthập dữ liệu tiến hành ở địa phương (từ điều tra và rà soát) và chịu sự chi phối củanhiều yếu tố như chất lượng điều tra viên, đặc điểm dân cư, vùng miền, sự tích cựccủa chính quyền địa phương, công tác tuyên truyền… Để đảm bảo chất lượng dữliệu, các yêu cầu sau cho thu thập thông tin là không thể thiếu: Hướng dẫn rõ ràng
về yêu cầu và chất lượng của đội ngũ điều tra viên và giám sát viên thu thập thôngtin; Đào tạo (bao gồm cả cập nhật về thay đổi chính sách/chương trình); Hướng dẫnphỏng vấn rõ ràng và dễ tiếp cận; Giám sát thường xuyên; Các phương tiện và côngcụ đầy đủ (máy tính, bút, giấy, bảng hỏi, …); Quen thuộc phong tục, tập quán, ngônngữ địa phương hoặc cần có phiên dịch trực tiếp (đặc biệt cho các nhóm dân tộcthiểu số)
Để quá trình thu thập thông tin xây dựng CSDL triển khai thuận lợi vàthành công, cần thiết phải có: Cam kết của Bộ LĐTBXH trong việc chỉ đạo cácđịa phương thu thập đầy đủ các thông tin của hộ gia đình để nhập vào CSDL; Sựquyết tâm của Bộ LĐTBXH trong chỉ đạo và hướng dẫn các địa phương thực hiện,huy động đủ nguồn lực và phân bổ kinh phí hợp lý; Sự cam kết của chính quyềnđịa phương (tỉnh/huyện/xã) trong việc cấp đầy đủ hộ khẩu và CMND cho các hộgia đình cũng như bố trí cán bộ và tích cực tham gia vào quá trình thu thập, cậpnhật số liệu
Thứ hai, xây dựng hệ thống phần mềm:
Hệ thống phần mềm được xây dựng để đáp ứng các yêu cầu chức năng quản
lý CSDL quốc gia cũng như hệ thống MIS Qua thực tế khảo sát tại địa phương,việc xây dựng hệ thống sẽ phải chịu các ràng buộc triển khai sau: