nhà nước về lao động nước ngoài tại VN”, Tạp chí Lao động và Xã hội, số 407; Bùi Quảng Bạ Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1996, “Đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong qu
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH THỊ HOÀNG ANH
Vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động
đối với ng-ời lao động n-ớc ngoài
làm việc tại Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRỊNH THỊ HOÀNG ANH
Vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động
đối với ng-ời lao động n-ớc ngoài
làm việc tại Việt Nam
Chuyờn ngành: Luật kinh tế
Mó số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cỏn bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN XUÂN THU
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trịnh Thị Hoàng Anh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm của người lao động nước ngoài 9
1.1.1 Khái niệm người lao động nước ngoài 9
1.1.2 Đặc điểm của người lao động nước ngoài 16
1.2 Khái niệm vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài 18
1.2.1 Khái niệm vi phạm pháp luật lao động do người lao động nước ngoài thực hiện 18
1.2.2 Khái niệm xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài 22
1.3 Pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài 24
1.3.1 Khái niệm, vai trò của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài 24
1.3.2 Quy định về các hành vi vi phạm pháp luật lao động của người lao động nước ngoài 27
1.3.3 Thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài 29
1.3.4 Biện pháp xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài 30
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG VI PHẠM VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG
NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI VIỆT NAM 39
2.1 Thực trạng vi phạm pháp luật lao động của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam 39
2.1.1 Quy định của pháp luật Việt Nam về các hành vi vi phạm pháp luật lao động của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam 39
2.1.2 Thực tiễn vi phạm pháp luật lao động của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam 43
2.2 Thực trạng xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam 50
2.2.1 Các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam 50
2.2.2 Thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam 59
2.3 Đánh giá chung về thực trạng vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam 64
2.3.1 Những kết quả đạt được 64
2.3.2 Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 66
Kết luận Chương 2 76
Chương 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ VI PHẠM VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI LÀM VIỆC TẠI VIỆT NAM 77 3.1 Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật lao động
Trang 63.1.1 Xây dựng các quy định mang tính phòng ngừa hành vi vi
phạm pháp luật lao động của người lao động nước ngoài làm
việc tại Việt Nam 77 3.1.2 Quy định các chế tài xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với
người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam đa dạng và
mang tính răn đe hơn 79 3.1.3 Tiếp tục tham gia các Công ước quốc tế, Hiệp định phối hợp
xử lý vi phạm đối với người lao động nước ngoài làm việc tại
Việt Nam 81
3.2 Nâng cao hiệu quả công tác quản lý lao động nước ngoài
làm việc tại Việt Nam 81
3.2.1 Xây dựng chiến lược quản lý nhà nước về lao động nước
ngoài chất lượng cao phù hợp với chiến lược phát triển nguồn
nhân lực đất nước 81 3.2.2 Tăng cường trách nhiệm các Bộ, ngành trong công tác quản lý
người lao động nước ngoài 84 3.2.3 Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về người lao động nước
ngoài làm việc tại Việt Nam 86 3.2.4 Nâng cao năng lực cán bộ, điều kiện cơ sở vật chất đáp ứng
tốt công tác quản lý người lao động nước ngoài 88 3.2.5 Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp
luật đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam 89 3.2.6 Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực quản lý người lao
động nước ngoài 90
3.3 Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra và xử lý vi phạm
pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài làm
việc tại Việt Nam 93
3.3.1 Tăng cường các hoạt động thanh tra và xử lý vi phạm pháp
luật lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại
Việt Nam 93
Trang 73.3.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ thanh tra, xử lý vi phạm pháp
luật lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại
Việt Nam 95
3.3.3 Xây dựng lực lượng thanh tra chuyên trách thực hiện thanh, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam 97
3.3.4 Thiết lập hệ thống các đối tác xã hội hỗ trợ công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam 99
Kết luận Chương 3 101
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 8NSDLĐ: Người sử dụng lao động
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng NLĐ nước ngoài qua các năm 44
Bảng 2.2: NLĐ nước ngoài chia theo tỷ lệ cấp phép năm 2014 45
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ đầu thế kỷ XXI, tình trạng người lao động từ nước này sang nước khác làm việc (còn gọi là di trú lao động), đã thực sự nổi lên như là một trong những vấn đề toàn cầu [31, tr.9] Số lượng lao động ngoài biên giới nước mình hiện cao hơn bất cứ thời kỳ nào trong lịch sử nhân loại (lao động
di trú) và ngày nay có thêm nhiều người trên thế giới đi ra nước ngoài làm việc Theo thống kê của Tổ chức Di cư Quốc tế (IOM), hiện có 192 triệu người đang làm việc ở nước ngoài, chiếm 3% tổng dân số của thế giới [45] Còn theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) trung bình cứ 25 người lao động trên thế giới thì có một người là lao động di trú Số lượng người lao động di trú trên thế giới trong những thập kỷ gần đây tăng rất nhanh Nếu như trong giai đoạn 1965-1990, mỗi năm trên thế giới có thêm khoảng 45 triệu người lao động ra nước ngoài làm việc, với tỷ lệ tăng 2,1%/năm, thì hiện tại mức tăng này là 2,9% Ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển, việc ra nước ngoài tìm việc làm rất phổ biến Theo một số nghiên cứu, 51% thanh niên các nước Ả-rập muốn ra nước ngoài tìm việc làm; tỷ lệ này ở Bosnia là 63%, ở khu vực Viễn Đông của Nga là 60%,
so với nước mình
Sự gia tăng nhanh chóng của tình trạng di trú lao động trong những
Trang 11dạng Trong khi phần lớn người lao động đi theo cách thức hợp pháp (ký kết hợp đồng lao động với người sử dụng lao động nước ngoài một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các công ty xuất khẩu lao động), một số khác đi theo con đường bất hợp pháp (tự mình vượt biên hoặc trả tiền cho các băng buôn lậu người để được đưa ra nước ngoài làm việc bằng cách vượt biên đường bộ, đường không, đường biển; hay giả dạng khách du lịch, đi thăm thân nhân ở nước đến rồi tìm cách ở lại… Ở góc độ pháp lý, đây là hành động bất hợp pháp, không được khuyến khích, các hành vi vi phạm của người lao động nước ngoài đã tạo ra gánh nặng với lực lượng biên phòng, an ninh và nhiều cơ quan khác của các quốc gia, ảnh hưởng đến chính sách quản lý lao động nước ngoài của nước tiếp nhận lao động nước ngoài
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, NLĐ nước ngoài vào làm việc ở nước ta với quy mô và số lượng ngày gia tăng, loại hình lao động đa dạng về hình thức và ngành nghề làm việc Mặc dù pháp luật Việt Nam không
“mở cửa” đối với lao động phổ thông vào làm việc, nhưng trong tổng số người lao động nước ngoài đang làm việc tại Việt nam có đến gần 40% lao động không thuộc diện cấp phép lao động và lao động phổ thông Đáng chú ý
là số lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam ngày càng tăng, bên cạnh các kết quả tích cực, đã tạo ra những hệ lụy không nhỏ như: gia tăng sự cạnh tranh của thị trường lao động ở cả mảng chuyên môn kỹ thuật và không chuyên môn kỹ thuật; gia tăng các vấn đề của người lao động nước ngoài như bất đồng ngôn ngữ, vi phạm pháp luật lao động về điều kiện lao động, vi phạm các quy định về an ninh trật tự, nhập cư trái phép, một số trường hợp còn vi phạm pháp luật lao động đến mức cấu thành tội phạm và bị truy cứu trách nhiệm hình sự Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên chính là xuất phát từ sự bất cập về chính sách sách, pháp luật và các thiết chế thực hiện quản lý lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam từ khâu quản lý
Trang 12nhập cảnh, cấp phép lao động đến công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra…
Do đó, để có sơ sở tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trên, việc nghiên cứu các hành vi vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam để từ đó hoàn thiện các chính sách pháp luật có liên quan cũng như hạn chế vi phạm và nâng cao hiệu quả công tác quản lý lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
là vấn đề có vai trò quan trọng và có ý nghĩa hết sức thiết thực và cần thiết
Xuất phát từ nhận thức về nhu cầu nói trên, tác giả đã lựa chọn đề tài:
“Vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ Luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể nói các nghiên cứu về lao động nước ngoài làm việc ở Việt nam của các nhà nghiên cứu, nhà quản lý chưa nhiều và tập trung vào một số hướng như: xu hướng di chuyển lao động quốc tế, chính sách quản lý lao động của Việt Nam, việc thực hiện quy định pháp luật về lao động của lao
động nước ngoài như Phạm Thị Thanh Bình (2009), “Xu hướng di chuyển lao
động từ các nước đang phát triển” và “Di chuyển lao động chuyên môn cao quốc tế: Nguyên nhân và thực trạng”, Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam;
Phan Huy Đường (2010), “Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về lao
động nước ngoài làm việc tại Việt Nam”, Tạp chí Lao động-Xã hội số 407
tháng 5/2011; Phan Huy Đường, Tô Hiến Thà (2011), “Lao động nước ngoài
ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Lao động - Xã hội số 402
tháng 3/2011; Tô Hiến Thà (2008), “Giải pháp phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao”, Tạp chí lao động và xã hội, số 340/2008; Phan Huy Đường,
Đỗ Thị Dung (2011), “Một số vấn đề đặt ra trong thực hiện quy định pháp
luật về lao động nước ngoài ở Việt Nam và hướng hoàn thiện”, Tạp chí Lao
động và Xã hội, số 403 tháng 3 năm 2011 và “Giải pháp tăng cường quản lý
Trang 13nhà nước về lao động nước ngoài tại VN”, Tạp chí Lao động và Xã hội, số
407; Bùi Quảng Bạ (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội,
1996), “Đổi mới và hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước đối với
người nước ngoài ở Việt Nam”;
Ngoài ra, còn có một số đề tài có liên quan được nghiên cứu ở cấp độ luận án tiến sỹ hoặc sách chuyên khảo như Luận án Tiến sĩ luật học của Ngô
Phúc Thịnh (Học viện An ninh nhân dân, Hà Nội, 2002), “Quản lý nhà nước
về an ninh đối với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam”; Nguyễn Phùng
Hồng (chủ nhiệm) (Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2002), “Những giải pháp
nâng cao hiệu quả quản lý người nước ngoài nhằm bảo đảm an ninh trật tự của lực lượng công an nhân dân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”; Nguyễn Hữu Tráng (chủ nhiệm) (Bộ Ngoại giao, Hà
Nội, 2002), “Trách nhiệm quốc gia đối với việc nhận trở lại công dân không
được nước ngoài cho cư trú”; Đại học quốc gia Hà Nội (2011), Khoa luật,
Trung tâm nghiên cứu quyền con người – quyền công dân, (sách chuyên
khảo) “Lao động di trú trong pháp luật quốc tế và Việt Nam”; Nguyễn Thị Lan Hương và nhóm nghiên cứu (2014), Vấn đề lao động người nước ngoài ở
Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế, Viện Khoa học Lao động và Xã hội, Đề
tài khoa học cấp nhà nước năm 2012 – 2014; Nguyễn Thị Thu Hương - Nguyễn
Thị Bích Thúy (2015), Lao động nước ngoài ở việt nam thực trạng và những vấn
đề đặt ra, Viện Khoa học Lao động và Xã hội; Phan Thị Thanh Huyền (2012),
“Đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng lao động nước ngoài tại Việt Nam”, Tạp
chí điện tử nghiên cứu lập pháp, Khoa Luật, Đại học Công đoàn; Phạm Hồng Thái
– Vũ Công Giao (2011), Lao động di trú: Một xu hướng toàn cầu, Lao động di trú
trong pháp luật quốc tế và Việt Nam (Sách chuyên khảo), Khoa luật, Đại học quốc
gia Hà Nội, NXB Lao động Xã hội, Hà Nội v v
Các công trình nghiên cứu khoa học trên, ở những khía cạnh và cấp độ
Trang 14khác nhau, đều đề cập một số vấn đề chung về quản lý nhà nước, mối quan hệ nhà nước - công dân trong lĩnh vực xuất nhập cảnh, những điều kiện pháp lý bảo đảm quyền của người nước ngoài làm việc ở Việt Nam Tuy nhiên, các công trình nói trên còn để lại nhiều khoảng trống và chưa đề cập một cách toàn diện, có hệ thống về những vi phạm và xử lý vi phạm trong quản lý, sử dụng lao động người nước ngoài Đặc biệt, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về các vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam hiện nay cũng như chính sách pháp luật liên quan xử lý vi phạm đối với lao động nước ngoài để từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm quản lý lao động nước ngoài cho Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với lao động người nước ngoài; thực trạng vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, nhất là những tồn tại, hạn chế, từ đó
đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật, hạn chế các hành vi
vi phạm và nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong thời gian tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thực hiện các mục đích nêu trên, các nhiệm vụ cụ thể được xác định như sau:
- Phân tích khái quát một số vấn đề lý luận về vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với lao động người nước ngoài;
- Đánh giá kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế trong các quy định của pháp luật về vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động của lao động người nước ngoài cũng như thực tiễn công tác xử lý xử lý vi phạm pháp luật
Trang 15lao động với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong những năm vừa qua;
- Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế vi phạm và nâng cao hiệu quả xử
lý vi phạm pháp luật lao động đối với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong các giai đoạn tiếp theo
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài gồm:
- Các quan điểm khoa học về người lao động nước ngoài và vấn đề xử
- Thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam về phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động của lao động người nước ngoài
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là một đề tài có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn khác nhau Tuy nhiên, vì giới hạn về thời gian, năng lực nghiên cứu và để phù hợp với yêu cầu của một luận văn thạc sĩ luật học, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề cụ thể về lý luận về vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với lao động người nước ngoài; thực trạng vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong thời gian gần đây cũng như các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các quy định của
Trang 165 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước về vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài, quan điểm của Tổ chức Lao Động Quốc tế (ILO) và Liên Hiệp Quốc liên quan đến vấn đề này
Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được mục đích, nhiệm vụ nghiên
cứu đặt ra, tác giả đã sử dụng một số phương pháp khoa học trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, sử dụng tổng hợp các phương pháp khoa học chuyên ngành và liên ngành, trong đó coi trọng phương pháp thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp, nhận xét thực tiễn.v.v
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Về mặt lý luận, các công trình nghiên cứu trước đây mới chỉ đưa ra cách nhìn khái quát về hoạt động quản lý nhà nước đối với lao động nước ngoài, chủ yếu dựa trên các quy định của pháp luật mà chưa nêu được các vấn
đề lý luận cơ bản về vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài
Luận văn là một công trình nghiên cứu một các tương đối toàn diện và chuyên sâu có tính hệ thống về vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam hiện nay Luận văn
đã đưa ra được một số vấn đề lý luận chung vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài như: khái niệm, đặc điểm người lao động nước ngoài, khái niệm vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người nước ngoài
Về thực tiễn, Luận văn cũng đã phân tích thực trạng về các hành vi vi phạm pháp luật lao động của người lao động nước ngoài và công tác xử lý vi phạm này tại Việt Nam, hệ thống hóa các quy định pháp luật hiện hành vi
Trang 17phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người nước ngoài, đồng thời đưa ra và phân tích các số liệu thực tế trong thực tiễn hoạt động xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người nước ngoài, chỉ ra những tồn tại hạn chế về mặt pháp luật cũng như trong công tác xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người nước ngoài, từ đó đưa ra định hướng, các giải pháp hạn chế vi phạm và nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam
Các vấn đề lý luận về vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người nước ngoài được đưa ra giải quyết trong luận văn này có tính chất tham khảo, các kết luận và đề xuất kiến nghị có ý nghĩa đối với việc hoàn thiện pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người nước ngoài tại Việt Nam hiện nay Luận văn còn là tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại các cơ sở đào tạo pháp luật và các tổ chức, cá nhân khác liên quan
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vi phạm và xử lý vi phạm pháp
luật lao động đối với người lao động nước ngoài
- Chương 2: Thực trạng vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động
của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp hạn chế vi phạm và nâng cao hiệu quả xử lý vi
phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước
ngoài làm việc tại Việt Nam
Trang 18Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI
1.1 Khái niệm, đặc điểm của người lao động nước ngoài
1.1.1 Khái niệm người lao động nước ngoài
Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, quá trình toàn cầu hóa kinh tế và hội nhập kinh tế của mỗi quốc gia tạo ra sự phân công lao động ngày càng sâu sắc trên phạm vi toàn cầu Di cư quốc tế, hay sự dịch chuyển lao động xuyên quốc gia đã trở thành một phần vô cùng quan trọng của quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế quốc tế
Theo dữ liệu được Liên Hợp Quốc công bố vào ngày 11/9/2013, 4/10 nước có mật độ người lao động nhập cư cao nhất, gồm có: Mỹ, Nga, Đức và Arap Saudi, trong đó Mỹ vẫn là quốc gia có số người nhập cư đông nhất (với 45,8 triệu người Từ 1990 đến nay, bình quân mỗi năm nhận thêm khoảng 1 triệu người) Một số nước có tỷ lệ người nhập cư rất cao so với tổng dân số: năm 2010, tỷ lệ nhập cư ở Qatar là 87%, Ả rập thống nhất (70%), Cô-oét (69%), Singapore (41%) Phần lớn những người di cư từ các nước đang phát triển sang các nước phát triển và có xu hướng tăng nhanh (từ 82 triệu người năm 1990 lên 128 triệu người năm 2010) Xu thế nhập cư ngược lại (từ các nước phát phát triển sang các nước đang phát triển) cũng tăng (từ 73 triệu lên
86 triệu) Bên cạnh đó, di cư quốc tế cũng tăng ở các nước có cùng trình độ phát triển (năm 2010 trong nội bộ các nước phát triển khoảng 55 triệu người, trong nội bộ các nước đang phát triển khoảng 73,6 triệu) Khoảng 50-60% người di cư trong nội châu lục, ngoại trừ Bắc Mỹ là nơi di cư trong nội vùng chỉ chiếm 36% Các quốc gia gửi nhiều người di cư nhất là: Trung Quốc 35 triệu; Ấn Độ: 20 triệu và Philippine 7,0 triệu [42, tr.40]
Sự dịch chuyển lao động xuyên quốc gia nói trên, thường được đề cập với các thuật ngữ kinh tế học như “Di chuyển lao động quốc tế”, “Di cư lao
Trang 19động quốc tế”, “Xuất khẩu lao động”, “Nhập khẩu lao động”, “Lao động nhập cư”, “tiếp nhận lao động nước ngoài”… Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, di chuyển lao động quốc tế là di chuyển lao động phục vụ cho nhu cầu của thị trường lao động quốc tế Thị trường lao động quốc tế có phạm vi vượt ra khỏi biên giới/lãnh thổ của một nước Đó là sự khác biệt giữa nơi cung lao động và nơi sử dụng lao động do tác động của quá trình phân công lao động quốc tế và hội nhập quốc tế
Di chuyển lao động là một hình thức di chuyển dân cư vì mục đích lao động Đó là quá trình di chuyển dân cư hay sự chuyển cư (di dân) về mặt không gian của bộ phận dân số thuộc lực lượng lao động trong một khoảng thời gian xác định (trong các cuộc điều tra thường là 5 năm) Theo Luật pháp quốc tế, thời gian để tính lao động di chuyển là 6 tháng trở lên để phân biệt với quá trình đi du lịch của người dân (dưới 6 tháng)
Quá trình di chuyển lao động quốc tế chính là quá trình người lao động
di chuyển từ nước này sang nước khác để cung cấp dịch vụ lao động (người mua dịch vụ lao động là chủ doanh nghiệp/tổ chức ngoài biên giới) với mục
đích có việc làm, có thu nhập cao hơn thị trường trong nước; đó là “sự cung
cấp dịch vụ lao động xuyên biên giới với sự hiện diện của người cung cấp với
tư cách là thể nhân” [46] Việc di chuyển vì các các mục tiêu khác như kết
hôn, học tập, tỵ nạn…, sau đó làm việc theo pháp luật các nước cũng như pháp luật quốc tế hầu hết không được coi là di chuyển lao động quốc tế
Việc di chuyển lao động quốc tế được phân thành hai loại:
Dòng lao động ra, còn gọi là dòng lao động xuất cư, dòng lao động dời
cư, hay xuất khẩu lao động, được hiểu là người lao động ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng lao động nước ngoài (có tổ chức hoặc không có tổ chức)
Dòng lao động vào, còn gọi là dòng lao động nước ngoài nhập cư, là
dòng di chuyển lao động từ nước này vào nước khác làm việc (theo hợp đồng hoặc không theo hợp đồng lao động) tại một cơ sở kinh tế của một nước
“Dòng lao động vào” nói trên chính là đề cập đến những người lao
Trang 20động sang nước khác làm việc mà nước tiếp nhận lao động thường gọi là
“người lao động nước ngoài”
Trong pháp luật quốc tế, người ta nhắc đến khái niệm lao động di trú
(migrant worker) từ rất lâu trong lịch sử phát triển của nhân loại Người ta
thường sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau để nói về NLĐ nước ngoài đó là lao
động di trú hoặc lao động nhập cư Khái niệm di trú hay di cư được hiểu nghĩa
là “dời đến ở một nước khác để sinh sống” [43, tr.246] Khái niệm nhập cư trái
nghĩa với di cư, là đến một nước khác để sinh sống, làm ăn [43, tr.690]
Để xây dựng một cách cụ thể và thống nhất về khái niệm “người lao
động nước ngoài”, trước hết chúng ta cần làm rõ nội hàm của khái niệm này
Trước hết, khái niệm NLĐ là một khái niệm tương đối phổ biến trong khoa học pháp lý và trong đời sống thực tiễn Qua nghiên cứu cho thấy hầu
hết các định nghĩa về NLĐ đều cho rằng: “Người lao động là những người
trong độ tuổi lao động theo pháp luật quy định có cam kết lao động với chủ
sử dụng lao động, thường là nhận yêu cầu công việc, nhận lương và chịu sự quản lý của chủ lao động trong thời gian làm việc cam kết” Đồng thời NLĐ
là người đến tuổi lao động, có khả năng lao động, đang có giao kết và thực hiện hợp đồng lao động với chủ sử dụng lao động Từ góc độ kinh tế học, NLĐ là những người trực tiếp cung cấp sức lao động – một yếu tố sản xuất mang tính người và cũng là một dạng dịch vụ/ hàng hóa cơ bản của nền kinh
tế Những người đang lao động là những người có cam kết lao động, sản
phẩm lao động đối với tổ chức, người khác
Riêng khái niệm về người nước ngoài hầu hết pháp luật về quốc tịch của các nước đều xác định người nước ngoài là người không có quốc tịch của nước họ, những người này có thể là công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch cư trú và làm việc trên lãnh thổ của quốc gia họ
Trong pháp luật quốc tế, thuật ngữ “lao động di trú”, “lao động di cư”,
“lao động nước ngoài” thường được hiểu là những người lao động di chuyển
từ nước này qua nước khác, vì mục đích làm việc ở nước ngoài Theo quan
Trang 21điểm của ILO, thuật ngữ “người lao động di trú vì việc làm - migrant for
employment” được hiểu là “là một người di cư vào đất nước khác vì mục đích việc làm bao gồm người đang tìm kiếm việc làm và người đã được tuyển dụng một cách lâu dài” [33, Điều 11] Khái niệm này không bao gồm những NLĐ
qua lại ở các vùng biên giới, những nghệ sĩ và những người có chuyên môn hành nghề tự do đến làm việc ở nước khác trong thời gian ngắn và các thủy
thủ Như vậy, khái niệm chỉ đưa ra một tiêu chí để xác định “người lao động
di trú” dựa trên cơ sở mục đích di trú là vì việc làm
Theo quan điểm của Liên Hợp Quốc thì thuật ngữ Lao động di trú
- migrant worker được hiểu “là một người đã, đang và sẽ làm một công
việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân” [19, Điều 2] Định nghĩa này đã cụ thể hóa và bổ sung định nghĩa trước
đó về người lao động di trú được đề cập trong Công ước số 97 năm 1949 của
ILO Theo Điều 11 Công ước số 97 của ILO, thuật ngữ người di trú vì việc làm
được hiểu là một người di cư từ một quốc gia này tới quốc gia khác để tìm kiếm việc làm, bao gồm bất kỳ người nào được tuyển dụng một cách lâu dài như một người di trú vì việc làm Khái niệm này không bao hàm: (a) Những lao động qua lại ở các vùng biên giới; (b) Những nghệ sĩ và người có chuyên môn hành nghề tự do đến làm việc ở nước khác trong thời gian ngắn; và (c) Các thủy thủ Như vậy, so với định nghĩa này, định nghĩa được nêu trong Công ước của Liên Hiệp Quốc về các quyền của người lao động di trú và các thành viên trong gia đình họ mang tính chất cụ thể hơn, vì đã nêu ra 8 dạng người lao động di trú và 6 dạng người không được coi là lao động di trú
Bên cạnh khái niệm trên, Công ước còn nêu ra định nghĩa “các thành
viên gia đình”, mà được hiểu là những người kết hôn với những người lao
động di trú hoặc có quan hệ tương tự như quan hệ hôn nhân, theo pháp luật hiện hành, cũng như con cái và những người sống phụ thuộc khác được công nhận là thành viên của gia đình theo pháp luật hiện hành và theo các hiệp định song phương và đa phương giữa các quốc gia liên quan [19, Điều 4]
Trang 22Định nghĩa bổ sung này cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về di cư lao động vì thực tế cho thấy nhiều trường hợp, người lao động di trú đang làm việc ở nước ngoài mang theo cả bố, mẹ, vợ, con và những người thân khác trong gia đình họ
Mặc dù đều được coi là lao động di trú, tuy nhiên dựa trên tính pháp lý của việc cư trú và lao động, Điều 2 Công ước chia người lao động di trú và các thành viên gia đình họ thành hai loại: (i) Có giấy tờ hợp pháp (hoặc hợp
pháp) (documented migrant) và (ii) Không có giấy tờ (hoặc bất hợp pháp) (undocumented migrant), trong đó dạng (i) là những người được một nước
cho phép vào, ở lại và làm công việc được trả lương tại quốc gia đó, còn dạng (ii) là những người không được trao các quyền tương tự
Để làm rõ hơn khái niệm “người lao động di trú”, Điều 2 Công ước
nêu rõ những đối tượng được coi là lao động di trú theo định nghĩa của Công ước, bao gồm 8 dạng:
1 “Nhân công vùng biên” để chỉ một người lao động di trú vẫn thường trú tại một nước láng giềng nơi họ thường trở về hàng ngày hoặc ít nhất mỗi tuần một lần;
2 “Nhân công theo mùa” để chỉ một người lao động di trú làm những công việc có tính chất mùa vụ và chỉ làm một thời gian nhất định trong năm;
3 “Người đi biển” bao gồm cả ngư dân để chỉ một người lao động di trú được tuyển dụng làm việc trên một chiếc tàu đăng ký tại một quốc gia mà họ không phải là công dân;
4 “Nhân công làm việc tại một công trình trên biển” để chỉ một người lao động di trú được tuyển dụng làm việc trên một công trình trên biển thuộc quyền tài phán của một quốc gia mà họ không phải là công dân;
5 “Nhân công lưu động” để chỉ một người lao động di trú sống thường trú ở một nước phải đi đến một hoặc nhiều nước
Trang 23khác nhau trong những khoảng thời gian do tính chất công việc của người đó;
6 “Nhân công theo dự án” để chỉ một người lao động di trú được nhận vào quốc gia nơi có việc làm trong một thời gian nhất định để chuyên làm việc cho một dự án cụ thể đang được người sử dụng lao động của mình thực hiện tại quốc gia đó;
7 “Nhân công lao động chuyên dụng”, là một người lao động
di trú:(i) được người sử dụng lao động của mình cử đến quốc gia nơi
có việc làm trong một khoảng thời gian hạn chế nhất định để đảm nhiệm một công việc hoặc nhiệm vụ cụ thể ở quốc gia nơi có việc làm; hoặc(ii) tham gia một công việc cần có kỹ năng, chuyên môn, thương mại, kỹ thuật hoặc tay nghề cao khác trong một thời gian hạn chế nhất định; hoặc(iii) tham gia một công việc có tính chất ngắn hoặc tạm thời trong một thời gian hạn chế nhất định theo yêu cầu của người sử dụng lao động tại quốc gia có việc làm; và được yêu cầu rời quốc gia có việc làm sau khi hết thời hạn cho phép hay sớm hơn nếu người đó không còn phải đảm nhiệm một công việc hoặc nhiệm vụ cụ thể hoặc tham gia vào công việc đó;
8 “Nhân công tự chủ” để chỉ một người lao động di trú tham gia làm một công việc có hưởng lương nhưng không phải dưới dạng hợp đồng lao động và người đó kiếm sống từ công việc này thường
là bằng cách làm việc độc lập hoặc cùng với các thành viên gia đình của mình, và cũng để chỉ bất kỳ người lao động di trú nào khác được coi là nhân công tự chủ theo pháp luật hiện hành của quốc gia nơi có việc làm hoặc theo các hiệp định song phương và đa phương Thêm vào đó, nhằm làm rõ khái niệm người lao động di trú, Điều 3 Công ước liệt kê những đối tượng không được coi là lao động di trú (dựa trên tiêu chí nghề nghiệp), bao gồm 6 dạng chính như sau:
Trang 241 Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi các cơ quan và
tổ chức quốc tế, hoặc những người được cử hoặc được tuyển dụng bởi một nước sang một nước khác để thực hiện các chức năng chính thức mà việc tuyển dụng người đó và địa vị của người đó được điều chỉnh bởi pháp luật quốc tế chung hoặc các hiệp định hay công ước quốc tế cụ thể
2 Những người được cử hoặc tuyển dụng bởi một nước hoặc người thay mặt cho nước đó ở nước ngoài tham gia các chương trình phát triển và các chương trình hợp tác khác mà việc tiếp nhận
và địa vị của người đó được điều chỉnh theo thỏa thuận với quốc gia nơi có việc làm quốc gia nơi có việc làm và theo thỏa thuận này, người đó không được coi là người lao động di trú;
3 Những người sống thường trú ở một nước không phải quốc gia xuất xứ để làm việc như những nhà đầu tư;
4 Những người tị nạn và không có quốc tịch, trừ khi việc áp dụng Công ước được quy định trong pháp luật của quốc gia liên quan, hoặc các văn kiện quốc tế đang có hiệu lực đối với quốc gia thành viên liên quan;
5 Sinh viên và học viên;
6 Những người đi biển hay người làm việc trên các công trình trên biển không được nhận vào để cư trú và tham gia vào một công việc có hưởng trả lương ở quốc gia nơi có việc làm
Trên cơ sở phân tích các nội dung trên, ta có thể thấy rằng “NLĐ nước
ngoài” có các dấu hiệu để xác định như sau: (1) không có quốc tịch của nước
họ đến làm việc; (2) đến nước khác sinh sống, cư trú vì mục đích việc làm; (3)
họ có thể có giấy tờ hợp pháp hoặc không có giấy tờ (bất hợp pháp) Vì vậy, họ
có thể là những người lao động đi làm việc theo hình thức có hợp đồng lao
Trang 25động hoặc không có hợp đồng lao động như các hình thức chuyển trong nội bộ doanh nghiệp, hiện diện thương mại; hay các nhà quản lý, giám đốc điều hành, chuyên gia, lao động kỹ thuật, nhưng người tham gia thực hiện các gói thầu, dự
án v.v Riêng những người nước ngoài khác đến nước khác nhưng không vì
mục đích việc làm thì không được coi là “NLĐ nước ngoài” như những lưu học sinh, người tham quan du lịch.v.v Như vậy, thuật ngữ “ người lao động di trú” hay “người lao động di cư”, “NLĐ nước ngoài” là cách gọi khác nhau mà nước
tiếp nhận lao động sử dụng để chỉ những người không phải là công dân nước
họ, đến làm việc và sinh sống tại nước tiếp nhận lao động
Do đó, khái niệm NLĐ nước ngoài có thể được hiểu như sau: NLĐ
nước ngoài là những người lao động đến làm việc tại một quốc gia mà người
đó không phải là công dân (có thể là công dân nước ngoài hoặc người không
có quốc tịch)
1.1.2 Đặc điểm của người lao động nước ngoài
Dựa trên khái niệm trên, có thể thấy NLĐ nước ngoài có những đặc điểm cơ bản sau:
- Về mục đích, hành vi của NLĐ nước ngoài đến các quốc gia sở tại hay
còn gọi là nước tiếp nhận lao động là nhằm tìm việc làm có hưởng lương Mục đích này nhằm phân biệt với các hành vi ra nước ngoài của một số người đến các quốc gia khác để du lịch, học tập, chữa bệnh, thực hiện các hoạt động tình nguyện… và những người này không được coi là NLĐ
- Về nhân thân: NLĐ nước ngoài là người không mang quốc tịch của
quốc gia sở tại Họ có thể có quốc tịch của nước khác, có quốc tịch một vài nước hoặc là người không có quốc tịch của nước nào.Đây là đặc điểm nhằm phân biệt NLĐ nước ngoài và NLĐ của chính quốc gia sở tại nơi NLĐ nước ngoài làm việc
Trang 26- Về tính hợp pháp của hành vi: NLĐ nước ngoài có thể đến cư trú một
cách hợp pháp hoặc bất hợp pháp, trong đó tình trạng bất hợp pháp ngày càng gia tăng Nhiều trường hợp người di cư vào lãnh thổ của một nước bất hợp pháp bằng đường bộ, đường hàng không hoặc đường biển; một số sử dụng giấy tờ giả mạo hoặc giả mạo, những người khác cố gắng để nhập cư bất hợp pháp hoặc sử dụng các mạng lưới tội phạm có tổ chức, cụ thể là mạng lưới buôn lậu hoạt động vì lý do phi nhân đạo và khai thác người nước ngoài theo hình thức buôn người; một phần đáng kể của cư dân bất hợp pháp vào một cách hợp pháp với một thị thực hợp lệ hoặc theo một chế độ miễn thị thực, nhưng tìm cách ở lại quá hạn hoặc thay đổi mục đích cư trú mà không có sự chấp thuận của chính quyền
- Về sự di chuyển: NLĐ nước ngoài đến các quốc gia sở tại làm việc thì
tất yếu phải có quá trình cá nhân NLĐ phải có sự di chuyển về mặt cơ học đến từ một lãnh thổ khác đến nước sở tại và cư trú trên lãnh thổ quốc gia sở tại để thực hiện công việc, và sử dụng sức lao động để hoàn thành công việc
Do đó họ phải tiến hành các thủ tục nhập cảnh vào quốc gia sở tại khi đến làm việc và xuất cảnh khi ra khỏi các quốc gia sở tại Như vậy họ còn là đối tượng điều chỉnh của pháp luật về nhập cảnh, xuất cảnh, cư trú của người nước
ngoài tại theo quy định pháp luật của quốc gia sở tại
- Về ngôn ngữ, văn hóa và lối sống: NLĐ nước ngoài làm việc tại quốc
gia sở tại có tiếng nói khác nhau do xuất xứ từ các nước khác nhau và đa phần
họ đều không thông thạo ngôn ngữ của quốc gia sở tại, đây là một trở ngại trong quá trình họ giao tiếp với cộng đồng và trong quá trình thực hiện công việc Mặt khác, sự di chuyển của họ cũng đã mang theo những nét văn hóa, lối sống của đất nước nơi họ sinh sống trước đây Đây cũng là nét khác biệt đối với lực lượng lao động này, vì vậy có thể có những khác biệt trong văn hóa doanh nghiệp và
văn hóa ứng xử của người lao động nước ngoài trong quá trình làm việc
Trang 27- Về hệ thống pháp luật điều chỉnh: NLĐ nước ngoài chịu sự điều
chỉnh của nhiều hệ thống pháp luật Đó là các quy định của pháp luật quốc gia
sở tại và hệ thống pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch, các công ước quốc tế mà hai quốc gia có tham gia và các Hiệp định song phương, đa phương mà các bên cùng ký kết có liên quan đến vấn đề này Chính sự điều chỉnh của các khuôn khổ luật pháp quốc tế, các công ước quốc tế trong quá trình áp dụng pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài, dẫn đến khả năng xung đột của pháp luật lao động quốc gia tăng cao và việc thi hành pháp luật lao động quốc gia trở nên khó khăn hơn, như các quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), tổ chức di dân quốc tế (IOM) và các tiêu chuẩn của các tổ chức thương mại quốc tế (WTO), các hiệp định đa phương, cũng như các quy định của các biên bản ghi nhớ (MOU), hợp tác song phương cấp quốc gia hoặc tổ chức…
1.2 Khái niệm vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài
1.2.1 Khái niệm vi phạm pháp luật lao động do người lao động nước ngoài thực hiện
Vi phạm pháp luật lao động do NLĐ nước ngoài thực hiện trước hết là hành vi vi phạm pháp luật, mang những dấu hiệu chung của hành vi vi phạm pháp luật Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật và có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ [36, tr.209] Đây là cơ sở để xác định các dấu hiệu cụ thể của
vi phạm pháp luật lao động do NLĐ nước ngoài thực hiện
Vi phạm pháp luật lao động do NLĐ nước ngoài thực hiện là hiện tượng xã hội thể hiện các hành vi phản ứng tiêu cực của một số NLĐ nước ngoài đi ngược lại với ý chí nhà nước được quy định cụ thể trong pháp luật lao động Đồng thời, những hành vi này phải có tính chất tiêu cực và gây hại
Trang 28cho các quan hệ xã hội được pháp luật lao động bảo vệ và những NLĐ nước ngoài thực hiện những hành vi này có thể bị xử lý và chịu những hậu quả pháp lý nhất định đã được quy định tại các văn bản pháp luật của quốc gia về lao động Vi phạm pháp luật lao động được thể hiện dưới những dạng thức khác nhau: có thể là việc thực hiện không đúng hoặc không thực hiện những quy định của pháp luật lao động đã được ghi trong Bộ luật lao động và các văn bản pháp luật khác [35, tr.137]
Cũng như vi phạm pháp luật nói chung, vi phạm pháp luật lao động do NLĐ nước ngoài thực hiện có các dấu hiệu sau:
- Vi phạm pháp luật lao động do NLĐ nước ngoài thực hiện phải là hành vi trái pháp luật lao động của NLĐ nước ngoài
Những hành vi này là hành vi không tuân thủ quy định của pháp luật lao động và có thể gây ra những hậu quả nhất định như sự tổn thất về vật chất hoặc tinh thần của các chủ thể Căn cứ vào hành vi thực tế của NLĐ nước ngoài trái lại với các quy định của pháp luật lao động mới có thể xác định được là NLĐ nước ngoài đã vi phạm pháp luật lao động Hành vi xác định này có thể được thực hiện bằng hành động hoặc không hành động
Trên thực tế trong quan hệ lao động, NLĐ là người yếu thế hơn do không nắm trong tay tư liệu sản xuất, không có thế mạnh về kinh tế nên phải
lệ thuộc vào người sử dụng lao động Theo các quy định của pháp luật, hầu hết những hành vi vi phạm trong lĩnh vực lao động được dự liệu thuộc về phía NSDLĐ nhiều hơn, tuy nhiên như vậy không có nghĩa là NLĐ được phép coi thường pháp luật bởi khi họ thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật thì họ cũng bị xử phạt
Những hành vi vi phạm pháp luật lao động của NLĐ nước ngoài thường thấy là hành vi bỏ trốn tại nơi đang làm việc theo hợp đồng, sau khi nhập cảnh nước tiếp nhận mà không đến nơi làm việc theo hợp đồng, sử dụng giấy tờ tùy
Trang 29thân giả mạo hoặc chứng nhận bằng cấp, tay nghề giả mạo (hoặc những bằng cấp không được xác minh) để ký kết hợp đồng lao động với NSDLĐ…
- Vi phạm pháp luật lao động do NLĐ nước ngoài thực hiện phải là hành vi của NLĐ nước ngoài có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện
Điều này xuất phát từ việc nếu hành vi của NLĐ nước ngoài thực hiện
có tính chất trái pháp luật lao động nhưng bản thân họ không có năng lực trách nhiệm pháp lý thì không bị coi là vi phạm pháp luật lao động Năng lực trách nhiệm pháp lý của NLĐ nước ngoài là khả năng mà pháp luật quy định cho NLĐ nước ngoài phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình Theo quy định của pháp luật nói chung, NLĐ nước ngoài là cá nhân sẽ có năng lực này khi đạt đến một độ tuổi nhất định và trí tuệ phát triển bình thường Đó là độ tuổi mà sự phát triển về trí lực và thể lực đã cho phép họ nhận thức được hành
vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội nên phải chịu trách nhiệm về hành vi do mình thực hiện
- Vi phạm pháp luật lao động do NLĐ nước ngoài thực hiện phải là
hành vi có lỗi của NLĐ nước ngoài
Lỗi là trạng thái tâm lý của người vi phạm, biểu hiện thái độ của người
đó đối với hành vi vi phạm pháp luật của mình Giống như các vi phạm pháp luật nói chung, lỗi trong vi phạm pháp luật lao động cũng được quy định dưới hai hình thức: lỗi vô ý và lỗi cố ý Lỗi cố ý thể hiện ở việc NSDLĐ hay NLĐ nhận thức tính chất trái pháp luật của hành vi nhưng vẫn thực hiện Trong trường hợp, NSDLĐ hay NLĐ không nhận thức được hành vi của mình trái pháp luật lao động hoặc nhận biết được nhưng lại cho rằng có thể ngăn ngừa hậu quả thì vi phạm đó là lỗi vô ý
Động cơ là lý do thúc đẩy chủ thể thực hiện vi phạm pháp luật lao động còn mục đích là kết quả mà chủ thể muốn đạt được khi thực hiện vi phạm đó NSDLĐ thường vì quan tâm đến lợi nhuận và mong muốn giảm thiểu chi phí
Trang 30kinh doanh, bởi vậy họ không đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp cho NLĐ NLĐ có thể do không hiểu biết các quy định của pháp luật mà vi phạm
Đối với NLĐ, yếu tố kinh tế, hay nói cách khác là tiền công, tiền lương thấp không đủ trang trải chi phí cho bản thân họ và gia đình là một trong những động cơ chính khiến họ bắt buộc phải di cư đến những vùng kinh tế mới mà ở đó họ hi vọng sẽ tìm thấy việc làm được trả lương cao hơn Việc tìm kiếm một việc làm có thu nhập tốt hơn cũng chính là một trong những động cơ khiến NLĐ nói chung, NLĐ nước ngoài nói riêng đôi khi bất chấp những quy định của pháp luật, thực hiện những hành vi mà pháp luật lao động không cho phép để đạt được mục đích của mình Tuy vậy, tìm kiếm việc làm
có thu nhập không phải là động cơ duy nhất của NLĐ nước ngoài có hành vi
vi phạm pháp luật lao động, NLĐ nước ngoài có thể vi phạm pháp luật lao động vì những động cơ có ảnh hưởng bởi yếu tố tôn giáo (sự xung đột của các tín ngưỡng), chính trị (xung đột sắc tộc, sự áp bức đối với một nhóm dân cư, chiến tranh giữa các quốc gia), các cuộc đình công quốc tế…
Điều này có nghĩa là khi thực hiện hành vi trái pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động, NLĐ nước có thể nhận thức được hành vi của mình
và hậu quả của hành vi đó, đồng thời điều khiển được hành vi của mình Như vậy, chỉ những hành vi trái pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động
mà có lỗi của cá nhân NLĐ nước ngoài thì mới bị coi là vi phạm pháp luật lao động Còn trong trường hợp NLĐ nước ngoài xử sự có tính chất trái pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động nhưng bản thân họ không nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc nhận thức được hành vi và hậu quả của hành vi của mình nhưng không điều khiển được hành vi của mình thì không bị coi là có lỗi và không phải là vi phạm pháp luật lao động
Trang 31- Vi phạm pháp luật lao động do NLĐ nước ngoài thực hiện là hành vi xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động bảo vệ, nghĩa là các hành vi này làm biến dạng đi cách xử sự là nội
dung của quan hệ pháp luật lao động do pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động quy định
Vi phạm pháp luật lao động được hiểu là những hành vi không thực hiện hoặc thực hiện trái các quy định của pháp luật lao động, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động của Nhà nước và xã hội [17, tr.160]
Như vậy, chúng ta có thể hiểu: Vi phạm pháp luật lao động do NLĐ nước
ngoài thực hiện là hành vi hành động hoặc không hành động trái pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động và có lỗi do NLĐ nước ngoài có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại tới quan hệ lao động và các quan hệ có liên quan trực tiếp với quan hệ lao động của nước tiếp nhận lao động
1.2.2 Khái niệm xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài
Vi phạm pháp luật là một xử sự phi xã hội, chống lại trật tự xã hội, gây tác hại cho lợi ích xã hội, cho từng thành viên và tổ chức của nó Để bảo
vệ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa thì ngăn ngừa vi phạm pháp luật
là một trong những hoạt động chính của nhà nước và xã hội Bên cạnh khái niệm “Vi phạm pháp luật” cũng cần thiết phải nghiên cứu một khái niệm cơ bản khác có liên quan mật thiết đến vấn đề này, đó là khái niệm “Xử lý vi phạm pháp luật” Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường thì vấn đề vi phạm pháp luật là khó tránh khỏi Vì vậy phải xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm nhằm hạn chế sự vi phạm và loại bỏ những ảnh hưởng tiêu cực của sự
vi phạm đó đối với xã hội
Khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật lao động, NLĐ nước ngoài
Trang 32thực hiện hành vi đó phải chịu trách nhiệm pháp lý trước Nhà nước – nơi tiếp nhận lao động thông qua các hoạt động xử lý vi phạm pháp luật lao động Hay nói cách khác, việc xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với NLĐ nước ngoài chỉ xuất hiện khi trong thực tế xảy ra vi phạm pháp luật lao động do NLĐ nước ngoài thực hiện, là hậu quả của hành vi vi phạm pháp luật lao động mà NLĐ nước ngoài đã thực hiện Để việc xử phạt vi phạm pháp luật đạt hiệu quả cao thì phải tuân theo những yêu cầu cơ bản chung cho tất cả các loại trách nhiệm pháp lý được áp dụng đối với người vi phạm nói chung và NLĐ nước ngoài nói riêng vi phạm pháp luật lao động đó là: đảm bảo tính giáo dục
và sự phát triển hài hòa, ổn định của quan hệ lao động và thị trường lao động Mỗi vi phạm pháp luật lao động của các chủ thể nói chung và NLĐ nước ngoài nói riêng nhất thiết phải dẫn đến việc xử phạt
Xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với NLĐ nước ngoài là nhằm bảo
vệ và tạo điều kiện cho môi trường lao động phát triển lành mạnh, đảm bảo cho quá trình điều chỉnh pháp luật được tiến hành bình thường và có hiệu quả Việc
xử phạt vi phạm pháp luật lao động chủ yếu do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Cơ quan quản lý nhà nước về lao động, Tòa án…) áp dụng đối với các cá nhân NLĐ vi phạm pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động Tức là áp dụng các biện pháp cưỡng chế đã được nước tiếp nhận lao động quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước đó Việc áp dụng các biện pháp xử lý
vi phạm đối với NLĐ nước ngoài đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật lao động luôn đem lại những hậu quả bất lợi cho NLĐ nước ngoài vi phạm
Pháp luật của nước tiếp nhận lao động thường có quy định chặt chẽ về chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật lao động, về trình tự, thủ tục tiến hành xác định và xử lý vi phạm pháp luật lao động, về các biện pháp cưỡng chế, chế tài được phép áp dụng đối với NLĐ nước ngoài thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động
Trang 33Dựa trên cơ sở phân tích trên, có thể hiểu: Xử lý vi phạm pháp luật lao
động đối với NLĐ nước ngoài là tổng thể các hoạt động của nước tiếp nhận lao động nhằm áp dụng những biện pháp cưỡng chế được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật lao động của nước này đối với hành
vi trái pháp luật lao động và có lỗi, do NLĐ nước ngoài có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các xâm hại tới quan hệ lao động và các quan hệ có liên quan đến quan hệ lao động được pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động bảo vệ
1.3 Pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài
1.3.1 Khái niệm, vai trò của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài
Trong hệ thống pháp luật các nước, các quy định về xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với NLĐ nước ngoài thường được quy định tại luật lao động, các văn bản pháp luật về vi phạm hành chính liên quan đến các nội dung quản lý nhà nước về lao động, luật hình sự hoặc tại một số văn bản khác
có liên quan
Ở góc độ chung nhất có thể hiểu: Pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật
lao động đối với người nước ngoài là tổng thể các quy phạm pháp luật của nước tiếp nhận lao động bao gồm các chế tài, các biện pháp cưỡng chế nhà nước đối với các hành vi vi phạm pháp luật của NLĐ nước ngoài trong lĩnh vực lao động
Trong nền kinh tế hội nhập hiện nay, với xu hướng phát triển của thị trường lao động quốc tế, sự dịch chuyển của lao động giữa các nước ngày càng gia tăng, tình trạng NLĐ nước ngoài vi phạm các quy định pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động ngày càng có chiều hướng phức tạp, tính chất mức
độ của hành vi vi phạm ngày càng đa dạng, do đó các quy định của pháp luật
Trang 34về xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với NLĐ nước ngoài có vai trò vô cùng quan trọng và có ý nghĩa thiết thực đối với công tác quản lý lao động cũng như tình hình an ninh trật tự của nước tiếp nhận lao động
Có thể thấy rằng, mọi vi phạm pháp luật lao động đều có hại cho xã hội, phá vỡ trật tự pháp luật lao động, nó trực tiếp hoặc có nguy cơ gây ra những thiệt hại nhất định về vật chất, tinh thần và những thiệt hại khác cho cá nhân, tổ chức; xâm hại đến các quan hệ xã hội mà pháp luật lao động xác lập
và bảo vệ Vì vậy, việc xử lý các hành vi vi phạm của NLĐ nước ngoài là nhằm bảo vệ các quan hệ pháp luật lao động, bảo vệ quyền và lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích của các bên liên quan, đảm bảo trật tự pháp luật lao động, tạo điều kiện cho những quan hệ lao động phát triển đúng hướng, đảm bảo quá trình điều chỉnh pháp luật lao động liên quan đến lao động nước ngoài được tiến hành bình thường và hiệu quả
Do đó, pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với NLĐ nước ngoài có vai trò như sau:
Trước hết, pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với NLĐ
nước ngoài có ý nghĩa tạo cơ sở pháp lý để trừng phạt đối với người lao động nước ngoài vi phạm pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động – nơi mà
họ đến làm việc, sinh sống, từ đó buộc NLĐ nước ngoài phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được quy định trong các quy phạm pháp luật lao động của nước đó
Thứ hai, pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với NLĐ nước
ngoài còn có vai trò rất lớn trong việc phòng ngừa, cải tạo và giáo dục những NLĐ nước ngoài đã từng thực hiện các hành vi vi phạm, có ý nghĩa trong việc ngăn ngừa bản thân họ tiếp tục vi phạm pháp luật lao động và cải tạo, giáo dục NLĐ nước ngoài có ý thức tôn trọng, thực hiện nghiêm minh pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động – nước mà họ đến làm việc, sinh sống
Trang 35Thứ ba, pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với NLĐ
nước ngoài còn có tác dụng răn đe tất cả những người lao động nước ngoài và các chủ thể có liên quan khác khiến họ phải kiềm chế, giữ mình, có tác dụng điều chỉnh hành vi để không dẫn đến vi phạm pháp luật lao động, giáo dục các cá nhân NLĐ nước ngoài ý thức tôn trọng và thực hiện nghiêm minh pháp luật về lao động của nước mà họ đến làm việc, từng bước hạn chế và tiến tới loại trừ hiện tượng vi phạm pháp luật lao động của NLĐ nước ngoài ra khỏi đời sống xã hội của nước tiếp nhận lao động nước ngoài Từ đó hạn chế trường hợp NLĐ nước ngoài thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động như lao động không phép, các trường hợp NLĐ nước ngoài vi phạm pháp luật lao động đến mức cấu thành tội phạm và
bị truy cứu trách nhiệm hình sự.v.v
Thứ tư, pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với NLĐ
nước ngoài có vai trò đảm bảo đúng định hướng về chính sách của Đảng và Nhà nước đối với NLĐ nước ngoài theo định hướng của nước tiếp nhận lao động nước ngoài, đảm bảo xây dựng quan hệ lao động có sự tham gia của lao động nước ngoài hài hòa và phát triển bền vững, góp phần xây dựng thị trường lao động ổn định và phát triển
Ngoài ra, các quy định của pháp luật của nước tiếp nhận lao động về
xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với NLĐ nước ngoài được xây dựng
và thực hiện theo nguyên tắc đối xử quốc gia cũng như các nội dung khác
có liên quan dựa trên quy định tại các Công ước quốc tế, các hiệp định song phương và đa phương còn có vai trò trong việc đảm bảo thực hiện các quy định của pháp luật quốc tế về quyền và nghĩa vụ của NLĐ di trú theo quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Di dân quốc tế (IOM) và các hiệp định song phương và đa phương giữa các nước liên quan đến lao động di trú đồng thời thúc đẩy việc di chuyển lao động quốc tế
Trang 36trong khu vực và quốc tế tuân thủ đúng pháp luật, góp phần phát triển bền vững thị trường lao động quốc tế
1.3.2 Quy định về các hành vi vi phạm pháp luật lao động của người lao động nước ngoài
Tình trạng NLĐ nước ngoài vi phạm các quy định pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động ngày càng có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp Một số NLĐ nước ngoài di cư vào lãnh thổ của một nước bất hợp pháp bằng đường bộ, đường hàng không hoặc đường biển, từ đó nhập cư bất hợp pháp, đặc biệt hành vi vi phạm pháp luật lao động không đáp ứng tiêu chuẩn về điều kiện của NLĐ nước ngoài theo chính sách của nước tiếp nhận lao động tăng đột biến Một số lao động sử dụng giấy tờ giả mạo hoặc giả mạo, những người khác cố gắng để nhập cư bất hợp pháp hoặc sử dụng các mạng lưới tội phạm có tổ chức, cụ thể là mạng lưới buôn lậu hoạt động vì lý do phi nhân đạo
và khai thác người nước ngoài theo hình thức buôn người Một phần đáng kể NLĐ nước ngoài di cư một cách bất hợp pháp bằng thị thực hợp lệ hoặc theo một chế độ miễn thị thực, nhưng tìm cách ở lại quá hạn hoặc thay đổi mục đích
cư trú mà không có sự chấp thuận của chính quyền
Các hành vi vi phạm pháp luật lao động của NLĐ nước ngoài theo chính sách pháp luật của nước tiếp nhận lao động đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới đời sống xã hội của các nước, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, làm mất an toàn xã hội, gây ra tình trạng thiếu việc làm cho người dân sở tại và
NLĐ nước ngoài nhập cư hợp pháp
Các hành vi vi phạm pháp luật lao động của NLĐ nước ngoài thường xảy ra đa dạng, có thể là hành vi vi phạm pháp luật hành chính, hành vi vi phạm kỷ luật đồng thời vi phạm pháp luật lao động, hành vi gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức hoặc ở mức độ cao hơn là hành vi vi phạm pháp luật lao động đó thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm và bị xử lý hình sự Các hành
Trang 37vi vi phạm này thường được quy định tại các văn bản pháp luật về vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, luật hình sự, luật lao động hoặc tại một số văn bản khác có liên quan Theo đó, có thể được phân thành các nhóm hành
vi vi phạm pháp luật lao động của NLĐ nước ngoài như sau:
Nhóm các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, các
hành vi vi phạm pháp luật lao động của NLĐ nước ngoài bị xử phạt vi phạm hành chính thường liên quan đến các quy định về quản lý lao động của nước
tiếp nhận lao động, đây là những hành vi trái pháp luật, vi phạm các quy định
của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự Những hành vi vi phạm này được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính với những chế tài
xử phạt hành chính nhất định Ví dụ như hành vi không có giấy phép lao động hoặc có giấy phép lao động nhưng thực tế không đáp ứng được các tiêu chuẩn
về lực lượng lao động nước ngoài theo chính sách của nước tiếp nhận lao động; cư trú một cách bất hợp pháp thông qua các đường mòn ven biên giới; không có hộ chiếu, thị thực, cư trú nhưng không đăng ký với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại nước mà họ đến làm việc; NLĐ nước ngoài thực tế không làm việc tại doanh nghiệp/địa phương đăng ký; thời hạn cấp giấy phép lao động dài hơn so với thời gian làm việc thực tế; NLĐ nước ngoài thực hiện công việc không đúng giấy phép lao động, hoạt động các ngành nghề không được phép hoặc không có chứng chỉ hành nghề.v.v
Nhóm các hành vi vi phạm pháp luật lao động gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức Đây là trường hợp NLĐ nước ngoài thực hiện các hành vi gây
thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức trong quá trình làm việc tại nước tiếp nhận lao động, theo quy định của pháp luật họ phải thực hiện việc bồi thường thiệt hại Các hành vi thuộc nhóm này, có thể xác định như các hành vi NLĐ nước ngoài thực hiện các công việc không có chứng chỉ hành nghề hoặc trình độ
Trang 38chuyên môn đặc biệt liên quan đến lĩnh vực khám chữa bệnh, thẩm mỹ gây thiệt hại đến sức khỏe, tính mạng của người khác; hành vi vô ý hoặc cố ý làm
hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi khác gây thiệt hại tài sản của doanh nghiệp, tổ chức khác hoặc thiệt hại về tài sản, sức khỏe đối với các cá nhân.v.v và phải thực hiện việc bồi thường thiệt hại theo quy định để bù đắp tổn thất do hành vi vi phạm pháp luật lao động của NLĐ nước ngoài gây ra
Các hành vi vi phạm pháp luật lao động cấu thành tội phạm, đây là
trường hợp NLĐ nước ngoài thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật lao động của nước tiếp nhận lao động thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội phạm và
có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật nước tiếp nhận lao động Pháp luật hình sự các nước thường quy định việc xử lý hình sự đối với các hành vi vi phạm pháp luật lao động của NLĐ nước ngoài như các tội liên quan đến xâm hại tài sản của người sử dụng lao động như tội cố ý hủy hoại tài sản; tội hành nghề trái phép, các tội liên quan đến việc lạm dụng quyền đình công lôi kéo những người khác chống đối nhà nước, chống phá chính quyền của nước tiếp nhận lao động.v.v
1.3.3 Thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài
Bản chất của xử lý vi phạm pháp luật là một hoạt động quản lý hành chính nhà nước Hoạt động xử phạt vi phạm pháp luật lao động phải do cơ quan, cán bộ quản lý nhà nước có thẩm quyền được ghi nhận trong pháp luật của mỗi quốc gia Trong quá trình thi hành công vụ của mình, các chủ thể có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật lao động giữ vai trò rất quan trọng trong việc phát hiện, xử phạt các hành vi vi phạm pháp luật lao động thuộc thẩm quyền của mình Ví dụ, theo Luật xử lý vi phạm hành chính của Trung Quốc thì chủ thể có thẩm quyền xử phạt là Hội đồng nhà nước (cơ quan quyền lực nhà nước - tương đương Quốc hội) hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố,
Trang 39vùng tự trị được Hội đồng nhà nước ủy quyền có thể chỉ định một cơ quan hành chính thực hiện quyền xử phạt hành chính của các cơ quan hành chính
có liên quan Trong phạm vi quyền hạn luật định, cơ quan hành chính có thể
ủy quyền cho các tổ chức có đủ điều kiện thực hiện việc xử phạt vi phạm hành chính [12, tr.20]
1.3.4 Biện pháp xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người lao động nước ngoài
Biện pháp xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với NLĐ nước ngoài chính là các cách thức áp dụng trách nhiệm pháp lý do Nhà nước quy định đối với các hành vi vi phạm pháp luật lao động khác nhau của người lao động nước ngoài tuỳ theo tính chất, mức độ của vi phạm và được Nhà nước bảo đảm thực hiện
Hầu hết các quốc gia đều áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật lao động đối với người nước ngoài (không thuộc đối tượng hưởng quyền
ưu đãi, miễn trừ) dựa trên nguyên tắc đối xử quốc gia, tôn trọng quyền của công dân nước ngoài Theo đó, dựa trên nguyên tắc bình đẳng, bất cứ người nào vi phạm pháp luật trên lãnh thổ nước tiếp nhận lao động đều bị xử lý theo pháp luật nước đó, tuỳ theo mức độ mà bị xử lý về hành chính hoặc hình sự, bồi thường dân sự Trường hợp người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước tiếp nhận lao động là công dân của nước đã ký kết Điều ước song phương với nước đó hoặc cùng tham gia Điều ước đa phương, thì việc xử lý vi phạm pháp luật lao động sẽ được giải quyết theo quy định tại các Điều ước quốc tế đó
NLĐ nước ngoài có hành vi vi phạm pháp luật lao động thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; trường hợp gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, ngoài ra người lao động nước ngoài còn có thể bị áp dụng các biện pháp khác (chẳng hạn như các
Trang 40biện pháp hạn chế việc đi lại, chỉ định chỗ ở, tạm giữ hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác thay hộ chiếu.v.v) phụ thuộc vào pháp luật lao động của mỗi quốc gia quy định
- Xử phạt vi phạm hành chính:
Biện pháp xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối với NLĐ nước ngoài khi họ thực hiện những hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực lao động mà không phải là tội phạm hình sự và hành vi đó theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính
Việc áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đối với NLĐ nước ngoài vi phạm pháp luật về lao động chính là hoạt động của những người có thẩm quyền áp dụng các hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả đối với NLĐ nước ngoài thực hiện các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động
Các biện pháp hành chính thông thường được áp dụng đối với các hành
vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động đối với NLĐ nước ngoài chủ yếu bao gồm các hình thức như cảnh cáo, phạt tiền, trục xuất.v.v
Trong đó, biện pháp cảnh cáo thường được áp dụng đối với các hành vi
vi phạm hành chính lần đầu và ít nghiêm trọng trong lĩnh vực lao Hình thức phạt cảnh cáo là một biện pháp về mặt tinh thần So với hình thức phạt tiền, thì cảnh cáo là hình thức xử phạt nhẹ hơn, mang tính ý nghĩa giáo dục nhiều hơn trừng phạt Đây là hình thức cảnh báo cho đương sự biết trước khả năng có thể
bị áp dụng hình thức xử phạt nặng hơn nếu họ tiếp tục vi phạm hoặc tái phạm Tuy nhiên, cảnh cáo cũng là hình phạt thể hiện thái độ răn đe nghiêm khắc của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, do đó, vẫn mang tính cưỡng chế nhà nước, gây cho người bị xử phạt những tổn hại nhất định về mặt tinh thần Cảnh cáo được áp dụng đối với những vi phạm hành chính nhỏ, do