1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn tỉnh nam định thực trạng và giải pháp ngăn chặn, khắc phục

134 433 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 3,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm vi phạm pháp pháp luật đất đai Việc quản lý và sử dụng đất phải được thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai, tuy nhiên một lượng không nhỏ cán bộ, công chức làm nhiệm v

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS TRẦN NHO THÌN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Vũ Minh Lượng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các từ viết tắt

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 8

1.1 Vi phạm pháp luật đất đai 8

1.1.1 Vi phạm pháp luật 8

1.1.2 Vi phạm pháp luật đất đai 11

1.2 Hình thức, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật đất đai 23

1.2.1 Hình thức, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật đất đai giai đoạn trước khi có Luật Đất đai năm 1987 23

1.2.2 Giai đoạn từ khi Luật Đất đai năm 1987 có hiệu lực thi hành (ngày 08/01/1988) đến khi Luật Đất đai năm 2003 hết hiệu lực thi hành (đến trước ngày 01/7/2014) 25

1.2.3 Giai đoạn từ khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành (ngày 01/7/2014) đến nay 39

Chương 2: THỰC TRẠNG VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VÀ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 52

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Nam Định 52

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 52

2.1.2 Đặc điểm xã hội, nhân văn 52

2.1.3 Đặc điểm kinh tế 53

Trang 5

2.2 Thực trạng công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định 54

2.2.1 Thực trạng về hệ thống tổ chức và bộ máy quản lý đất đai của tỉnh

Nam Định 54 2.2.2 Thực trạng thực hiện các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai trên

địa bàn tỉnh Nam Định 61

2.3 Thực trạng vi phạm pháp luật đất đai và việc xử lý các vi phạm

pháp luật đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định 69

2.3.1 Diễn biến vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định qua

các thời kỳ áp dụng các Luật Đất đai 69 2.3.2 Một số vi phạm pháp luật đất đai điển hình trên địa bàn tỉnh Nam Định 78

2.4 Nguyên nhân chung của vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn

tỉnh Nam Định 91

2.4.1 Nguyên nhân từ đặc điểm điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù của Nam Định 91 2.4.2 Những nguyên nhân khác 93

Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM NGĂN CHẶN VÀ KHẮC PHỤC VI PHẠM

PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH 95 3.1 Quan điểm và định hướng chung 95 3.2 Các giải pháp nhằm ngăn chặn và khắc phục vi phạm pháp luật

đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định 96

3.2.1 Các giải pháp trước mắt 96 3.2.2 Các giải pháp cơ bản, lâu dài 98 3.2.3 Các giải pháp cụ thể đối với các loại vi phạm pháp luật điển hình trên

địa bàn tỉnh Nam Định 103

KẾT LUẬN 108 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 109

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VIẾT TẮT

Ký hiệu viết tắt Từ viết tắt

CNH-HĐH Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá

UBND Ủy ban nhân dân

UBTVQH Ủy ban Thường vụ Quốc hội

VPHC Vi phạm hành chính

VPPL Vi phạm pháp luật

GSTSKH Giáo sư - Tiến sỹ khoa học

Trang 7

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ các loại vi phạm pháp luật đất đai đến 30/7/2015 70

Biểu đồ 2.2 Diễn biến vi phạm pháp luật đất đai theo thời gian 71

Biểu đồ 2.3 Diễn biến vi phạm pháp luật đất đai giai đoạn từ

15/10/1993 (ngày Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực thi hành) đến trước ngày 01/7/2004 (ngày Luật Đất đai năm

2003 có hiệu lực thi hành) 75

Biểu đồ 2.4 Diễn biến vi phạm pháp luật đất đai giai đoạn từ sau

ngày 17/7/2012 đến 30/7/2014 76

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nhân tố quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân

cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng

Trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đất đai còn là nguồn lực to lớn

để phát triển đất nước Quyền sử dụng đất là một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt, các quan hệ đất đai tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến phát triển kinh tế - xã hội; chính sách, pháp luật về đất đai có vai trò quan trọng, góp phần ổn định chính trị -

xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, củng cố an ninh - quốc phòng và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế Tuy vậy, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng, nhất là cho các mục đích phi nông nghiệp gây ra áp lực không nhỏ đến tài nguyên đất đai, đòi hỏi phải sử dụng đất tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả

Ngày 12/03/2003, tại kỳ họp thứ 7 (khoá IX) Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về tiếp tục đổi mới chính sách đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Thực hiện Nghị quyết này, ngày 26/11/2003 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Đất đai năm 2003,

có hiệu lực thi hành từ 01/7/2004 Qua hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa IX) và Luật Đất đai năm 2003, đất nước ta đã đạt nhiều kết quả tích cực, góp phần khai thác và phát huy có hiệu quả nguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, bảo vệ môi trường vv Hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai từng bước được tăng cường; chính sách, pháp luật về đất đai ngày càng được hoàn thiện; các quyền của người sử dụng đất được mở rộng và được Nhà nước bảo đảm; thị trường bất động sản, trong đó có quyền sử dụng đất đã được hình thành và phát triển Kết quả đó khẳng định các quan điểm chỉ đạo, định hướng chính sách, pháp luật về đất đai được xác định trong

Trang 9

Nghị quyết Trung ương 7 (khoá IX) cơ bản là đúng đắn, phù hợp với đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về đất đai còn nhiều hạn chế, yếu kém, nhất là trong quy hoạch sử dụng đất, định giá đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng,

hỗ trợ và tái định cư, các thủ tục hành chính về đất đai Lợi ích giữa Nhà nước và người dân có đất bị thu hồi chưa được bảo đảm tương xứng, nguồn lực về đất đai chưa được phát huy đầy đủ để trở thành nội lực quan trọng phục vụ phát triển kinh

tế - xã hội Việc sử dụng đất nhiều nơi còn lãng phí, hiệu quả thấp; tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực đất đai còn lớn; thị trường bất động sản phát triển không ổn định, thiếu lành mạnh, giao dịch "ngầm" còn khá phổ biến; tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai còn diễn biến phức tạp

Trong tình trạng chung của hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trên địa bàn tỉnh Nam Định tình hình vi phạm pháp luật về đất đai vẫn còn diễn ra khá phổ biến Số lượng hộ sử dụng đất không hợp pháp do vi phạm pháp luật đất đai tồn tại nhiều năm trước đến nay vẫn chưa được xử lý, giải quyết dứt điểm (theo kết quả rà soát của UBND các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Nam Định năm 2014 thì số hộ sử dụng đất không hợp pháp tồn tại từ đầu những năm

1990 đến năm 2012 chưa được xử lý khoảng 46.000 hộ), do đó chưa tạo lập được mặt bằng pháp lý trong quản lý, sử dụng đất đai Bên cạnh đó vi phạm pháp luật đất đai mới phát sinh ở nhiều xã, thị trấn trên địa bàn tỉnh Nam Định không được ngăn chặn kịp thời, xử lý không nghiêm, nhiều nơi đã dẫn đến tình trạng khiếu kiện đông người kéo dài, làm mất ổn định an ninh nông thôn

Nhằm ổn định trật tự xã hội, thực hiện có hiệu quả Luật Đất đai năm

2013, yêu cầu cấp bách đặt ra là cần có giải pháp xử lý, giải quyết dứt điểm các trường hợp sử dụng đất không hợp pháp đã tồn tại từ nhiều năm qua; đồng thời

xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật đất đai mới phát sinh, lập lại trật tự, kỷ cương trong quản lý, sử dụng đất đai; tạo ra chuyển biến rõ rệt trong quản lý, sử dụng đất đai, đưa công tác quản lý đất đai vào nề nếp, kỷ cương theo hướng hiện đại

Trang 10

Xuất phát từ những phân tích nêu trên và qua thực tiễn công tác tại địa

phương, tác giả lựa chọn đề tài “Vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn tỉnh Nam

Định, thực trạng và giải pháp ngăn chặn, khắc phục” để nghiên cứu, viết luận văn

Thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Đất đai là vấn đề luôn mang tính thời sự nên được cả xã hội quan tâm Trong khoa học pháp lý, thời gian qua đã có nhiều công trình khoa học của các tác giả công tác tại các cơ quan nghiên cứu, cơ quan quản lý tiến hành ít nhiều có nội dung liên quan tới đề tài luận văn, cụ thể:

- Sách chuyên khảo:

+ TS Nguyễn Văn Thanh và Luật gia Đinh Văn Minh (chủ biên), "Một số

vấn đề đổi mới cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở Việt Nam", Nxb.Tư pháp,

Hà Nội 2004;

+ ThS Nguyễn Thế Thịnh (chủ biên), "Công tác dân vận trong giải quyết

khiếu nại, tố cáo của công dân", Nxb.Tư pháp, Hà Nội 2007;

+ TS Trần Văn Sơn, "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt

động giải quyết khiếu nại, tố cáo", Nxb.Tư pháp, Hà Nội 2007;

+ Viện Khoa học Thanh tra (Thanh tra Chính phủ), "Khiếu nại, tố cáo hành

chính và giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính ở Việt Nam hiện nay", Nxb Chính

trị Quốc gia, Hà Nội.2012;

+ Xây dựng quy chế phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo đông người vượt cấp lên Trung ương (Đề tài do ông Nguyễn Tiến Bình - Phó Chánh Văn phòng

Thanh tra Chính phủ làm chủ nhiệm, năm 2008);

- Luận án, luận văn:

+ Ngô Mạnh Toan, "Hoàn thiện pháp luật khiếu nại, tố cáo trong điều kiện

xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam", Luận án Tiến sỹ Luật học, khoa Luật -

Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2007;

+ Lê Văn Thành, "Áp dụng pháp luật trong quản lý nhà nước về đất đai của

UBND thành phố Hồ Chí Minh hiện nay", Luận án Tiến sỹ Luật học, Đại học Luật

Trang 11

+ Trần Anh Hùng, "Thủ tục giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan

hành chính nhà nước ở TP Hồ Chí Minh", Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học

Luật TP Hồ Chí Minh, năm 2007;

+ Lê Hồng Oanh Ngọc, " Nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại về đất đai

trên địa bàn thành phố Hà Nội", Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội,

năm 2009;

+ Nguyễn Thị Lệ Hằng, "Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai

của UBND cấp huyện tỉnh Khánh Hòa", Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật

TP Hồ Chí Minh, năm 2010;

+ Phạm Thị Hồng Uyên, "Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai

tôn giáo trên địa bàn TP Hà Nội hiện nay", Luận văn Thạc sỹ Quản lý hành chính

công, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2011;

+ Nguyễn Thị Thu Hằng, "Giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu công

nghiệp của các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Bắc Giang hiện nay", Luận văn

Thạc sỹ Luật học, khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011;

- Bài đăng trên các tạp chí:

+ Kiều Văn Chung, " Mấy vấn đề xung quanh việc hoàn thiện quyết định giải

quyết khiếu nại về đất đai", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/2003;

+ ThS Nguyễn Thị Mai Lê, “Cụ thể hóa mức xử phạt vi phạm hành chính

đất đai”, Tạp chí Tài chính số 12/2014;

+ Đề tài khoa học cấp Bộ, Thanh tra Chính phủ, "Hoàn thiện cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính ở Việt Nam", Hà Nội 2004

Các công trình khoa học trên đã đề cập từng khía cạnh của quản lý nhà nước

về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai Tuy nhiên, do đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp về quản lý và xử lý vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định Đây cũng là lý do tiếp theo để tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài này

3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục tiêu

Trang 12

điểm vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định Trên cơ

sở đó, đưa ra quan điểm, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết vi phạm trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan quản lý nhà nước của tỉnh Nam Định; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn tỉnh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận văn có những nhiệm vụ cụ thể sau:

- Phân tích, làm rõ khái niệm, đặc điểm vi phạm pháp luật đất đai; nguyên nhân dẫn đến vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai;

- Đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật đất đai và kết quả xử lý, giải quyết

vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định;

- Đề xuất, kiến nghị các giải pháp xử lý, khắc phục và ngăn chặn vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Luận văn tập trung nghiên cứu các hành vi vi phạm pháp luật đất đai nói

chung và trên địa bàn tỉnh Nam Định nói riêng;

- Thực tiễn hoạt động xử lý, giải quyết các vi phạm pháp luật đất đai trên địa

bàn tỉnh Nam Định, từ đó tìm ra nguyên nhân, đề xuất giải pháp xử lý, khắc phục và ngăn chặn trong thời gian tới

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu tình hình vi phạm và xử lý, giải

quyết các vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định;

- Thời gian: Giai đoạn từ khi Luật Đất đai năm 1987 có hiệu lực thi hành (từ

ngày 08/1/1988) đến nay

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của việc nghiên cứu đề tài là những luận điểm trong học thuyết Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý hành chính nhà nước; các quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về quản lý và giải quyết các vi phạm pháp luật đất đai

Trang 13

Các phương pháp được tác giả sử dụng trong luận văn gồm: Phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp; phương pháp lịch sử; phương pháp hệ thống; phương pháp so sánh

Trong chương 1, để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về vi phạm pháp luật

đất đai, luận văn sử dụng phương pháp hệ thống, so sánh, phân tích nhằm làm rõ thêm khái niệm và đặc điểm vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai Bằng việc sử

dụng phương pháp thống kê, so sánh, phân tích , chương 2 của luận văn đánh giá

những ưu điểm, hạn chế của hoạt động giải quyết, xử lý các vi phạm pháp luật đất

đai trên địa bàn tỉnh Nam Định trong những năm qua Ở chương 3, sử dụng phương

pháp phân tích, tổng hợp để đưa ra các giải pháp nhằm xử lý, khắc phục và ngăn chặn các hành vi vi pháp pháp luật đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định nói riêng và

cả nước nói chung

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn

Góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về vi phạm pháp luật đất đai và hệ thống pháp luật về đất đai của Nhà nước ta;

Tìm hiểu và nghiên cứu thực tiễn vi phạm về đất đai và hoạt động xử lý, giải quyết các vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định trong những năm qua; tìm ra căn nguyên làm phát sinh vi phạm pháp luật đất đai và dự báo xu hướng của các vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định để có các giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn trong thời gian tới

Là công trình có sự gắn kết giữa phân tích lý luận với tổng kết thực tiễn địa phương, luận văn là nguồn tư liệu tham khảo cho lãnh đạo chính quyền các cấp và những người làm công tác quản lý đất đai của tỉnh Nam Định trong tổ chức và thực hiện các biện pháp cụ thể nhằm khắc phục và ngăn chặn các vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn; góp phần tăng cường quản lý đất đai, khai thác với hiệu quả cao nhất tài nguyên đất, góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; phục vụ thiết thực công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa của tỉnh nhà

Trang 14

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo; kết cấu của luận văn gồm

03 chương:

Chương 1 Vi phạm pháp luật đất đai và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh

vực đất đai

Chương 2 Thực trạng vi phạm pháp luật đất đai và xử lý vi phạm pháp luật

đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định

Chương 3 Phương hướng, giải pháp nhằm xử lý, khắc phục và ngăn chặn

vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định

Trang 15

Chương 1

VI PHẠM PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

PHÁP LUẬT TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI

1.1 Vi phạm pháp luật đất đai

1.1.1 Vi phạm pháp luật

Vi phạm pháp luật là một hiện tượng tiêu cực của xã hội, trong bất kì một xã hội nào thì VPPL cũng bị nhà làm luật coi là hành vi bất hợp pháp nên về nguyên tắc chủ thể thực hiện hành vi đó phải chịu trách nhiệm pháp lý

Theo GS.TSKH Lê Văn Cảm: “VPPL là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm

hại đến các lợi ích được bào vệ bằng ngành luật tương ứng hoặc trái với các quy định được quy định trong ngành luật ấy, do người có năng lực trách nhiệm pháp lý

và đủ tuổi chịu trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách có lỗi” [22, tr.537]

Như vậy, một VPPL nói chung có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, VPPL luôn là hành vi khách quan xác định của con người (hành

động hoặc không hành động) Các quy định của pháp luật đặt ra để điều chỉnh các hành vi xử sự của con người chứ không phải điều chỉnh suy nghĩ hoặc những đặc tính cá nhân khác của con người nếu như những đặc tính đó chưa biểu hiện thành các hành vi cụ thể của họ;

Thứ hai, VPPL là hành vi trái pháp luật của con người, xâm hại đến các quan

hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ Hành vi trái pháp luật là hành vi không phù hợp với những quy định của pháp luật, thể hiện trên ba khía cạnh: không thực hiện những gì

mà pháp luật yêu cầu; sử dụng vượt quá giới hạn mà pháp luật cho phép và thực hiện những gì mà pháp luật cấm Tuy nhiên, cần lưu ý rằng những gì mà pháp luật không cấm, không bảo vệ thì dù có làm trái cũng không bị coi là trái pháp luật, không phải là VPPL;

Thứ ba,VPPL là hành vi có lỗi của chủ thể thực hiện Có thể nói, mọi VPPL

đều là hành vi trái pháp luật nhưng ngược lại không phải mọi hành vi trái pháp luật đều là VPPL Chỉ những hành vi trái pháp luật nào được chủ thể thực hiện có lỗi

Trang 16

một cách cố ý hoặc vô ý mới bị coi là VPPL Dấu hiệu trái pháp luật chỉ là dấu hiệu bên ngoài của hành vi, con yếu tố lỗi là dấu hiệu bên trong của hành vi đó Lỗi là yếu tố không thể thiếu được để xác định VPPL Nếu hành vi trái pháp luật được thực hiện do những điều kiện, hoàn cảnh khách quan và chủ thể hành vi đó không thể ý thức được hoặc không còn cách xử sự nào khác tốt hơn thì hành vi đó không thể coi là có lỗi, không thể là VPPL;

Thứ tư, chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật đó phải là người có năng lực

chịu trách nhiệm pháp lý Nghĩa là họ có khả năng gánh chịu hậu quả pháp lý do nhà nước áp dụng trong trường hợp VPPL

* Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật

VPPL tác động tiêu cực đến các mặt của đời sống xã hội, làm mất ổn định xã hội Do đó, một VPPL được nhận diện là yếu tố quyết định cho cơ quan chức năng

xử lý VPPL gồm bốn yếu tố cấu thành: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể của vi phạm pháp luật Thiếu một trong những yếu tố này thì sẽ không tồn tại một vi phạm pháp luật trong thực tế Việc xác định từng bộ phận này là cơ sở quan trọng để truy cứu trách nhiệm pháp lý, nhờ đó mà tìm ra được mối quan hệ giữa chúng với nhau, xác định được các biện pháp trách nhiệm pháp lý tương ứng, tìm ra nguyên nhân của vi phạm pháp luật, và còn đánh giá được mức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật Vì vậy mà ta có thể thấy việc phân tích các yếu tố làm cơ sở để đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật

là rất quan trọng

- Mặt khách quan của VPPL

Là những biểu hiện bên ngoài của VPPL, gồm:

+ Hành vi trái pháp luật: Để truy cứu trách nhiệm pháp lý cần phải xác định

được trên thực tế đã xảy ra hành vi trái pháp luật nghĩa là có sự kiện pháp lý xảy ra trên thực tế, sự kiện đó do hành vi của con người gây nên và nó trái pháp luật

+ Sự thiệt hại của xã hội: Là những tổn thất về vật chất hoặc tinh thần mà xã

hội phải gánh chịu Mức độ nguy hiểm của hành vi được biểu hiện qua mức độ thiệt hại của xã hội do hành vi đó gây ra Nếu không có thiệt hại xảy ra hoặc nguy cơ xảy

Trang 17

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và sự thiệt hại của xã

hội, nghĩa là hành vi nào thì thiệt hại đó, thiệt hại phải do hành vi trái pháp luật đó

gây ra nếu không xác định được mối quan hệ nhân quả này thì phải khẳng định thiệt hại của xã hội không phải do hành vi trái pháp luật trực tiếp gây ra mà có thể do nguyên nhân khác

Ngoài ra, mặt khách quan của VPPL còn bao gồm: Không gian, thời gian, địa điểm, phương tiện thực hiện hành vi VPPL

- Mặt chủ quan của VPPL

+ Lỗi: Lỗi là trạng thái tâm lý của chủ thể đối với hành vi cũng như hậu quả

của nó Lỗi được xem như thước đo của trách nhiệm pháp lý, nó biểu hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với xã hội, bao gồm: lỗi cố ý (lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp), lỗi vô ý (lỗi vô ý vì quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả)

+ Động cơ, mục đích VPPL: Được hiểu là cái thúc đẩy chủ thể thực hiện

hành vi trái pháp luật và kết quả cuối cùng mà trong suy nghỉ chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi trái pháp luật

- Chủ thể của VPPL

Chủ thể của VPPL là cá nhân, cơ quan, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp

lý Nếu chủ thể đó là cá nhân thì cần xem xét người đó đã đạt độ tuổi phải chịu trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực vi phạm không, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi hay không, trạng thái tâm lý của họ khi thực hiện hành vi đó như thế nào

- Khách thể của VPPL

Khách thể của VPPL là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ nhưng

bị hành vi trái pháp luật xâm hại Tính chất của khách thể cũng phản ánh mức độ nguy hiểm của hành vi VPPL

Chủ thể thực hiện hành vi VPPL tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm sẽ bị

xử lý bằng các loại trách nhiệm pháp lý hình sự, hành chính, dân sự hoặc trách nhiệm pháp lý kỷ luật Trong đó, trách nhiệm pháp lý hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất được áp dụng đối với trường hợp vi phạm mà mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn các loại trách nhiệm pháp lý còn lại

Trang 18

1.1.2 Vi phạm pháp luật đất đai

1.1.2.1 Khái niệm vi phạm pháp pháp luật đất đai

Việc quản lý và sử dụng đất phải được thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai, tuy nhiên một lượng không nhỏ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ quản lý đất trong quá trình thi hành công vụ đã có những hành vi VPPL đất đai như: Vi phạm về hồ sơ hồ sơ và mốc địa giới hành chính; vi phạm quy định về quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất; vi phạm quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích

sử dụng đất; vi phạm quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; vi phạm quy định về thực hiện trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất…Ngoài ra, người sử dụng đất cũng có những hành vi VPPL đất đai cũng rất phổ biến như lấn chiếm, xây dựng trái phép trên đất, sử dụng đất sai mục đích, chuyển nhượng đất sai quy định của pháp luật… Để có cơ sở nhận diện và xử lý các hành vi VPPL đất đai trước hết cần làm rõ VPPL đất đai là gì

Trên cơ sở phân tích các nội hàm của VPPL nói chung chúng ta có thể đưa ra

khái niệm VPPL đất đai như sau: Vi phạm pháp luật đất đai là hành vi trái pháp

luật đất đai, có lỗi, do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ về đất đai được pháp luật về đất đai bảo vệ

1.1.2.2 Đặc điểm của vi phạm pháp luật đất đai

VPPL đất đai là một loại VPPL vì vậy nó mang đầy đủ các đặc điểm của VPPL nói chung như đã phân tích ở phần trên, ngoài ra có các đặc điểm riêng sau đây:

Thứ nhất, hành vi VPPL đất đai là hành vi xác định của con người xâm hại

đến quan hệ pháp luật được pháp luật đất đai bảo vệ;

Thứ hai, chủ thể thực hiện hành vi VPPL đất đai là những chủ thể liên quan

đến quản lý, sử dụng đất gồm chủ thể sử dụng đất và chủ thể đặc biệt là những cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý đất Có thể phân chia chủ thể của VPPL đất đai thành 03 nhóm chính sau:

- Nhóm chủ thể là người có hành vi VPPL về đất đai khi thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai;

- Nhóm chủ thể là người sử dụng đất sử dụng đất trên lãnh thổ Việt Nam;

Trang 19

- Nhóm chủ thể là tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động dịch vụ về đất đai trên lãnh thổ Việt Nam

Thứ ba, khách thể mà VPPL đất đai xâm hại đến là sự quản lý, sử dụng đúng

đắn đất đai theo quy định của Nhà nước Các hành vi VPPL đất đai rất đa dạng, phong phú nhưng tựu chung lại nó xâm hại việc quản lý đúng đắn của Nhà nước về đất đai (quản lý về giao đất, cho thuê đất, chuyển quyền sử dụng đất; quản lý về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; quản lý về vấn đề thu hồi, trưng thu, trưng dụng đất; hỗ trợ, bồi thường, tái định cư…) và xâm hại đến quyền

sử dụng đất hợp pháp của các chủ thể có quyền (lấn chiếm đất, chiếm dụng đất trái phép, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sai quy định; thu hồi, trưng dụng, hỗ trợ, bồi thường tái định cư đối với những chủ thể bị áp dụng sai quy định…)

1.1.2.3 Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật đất đai

* Thứ nhất, mặt khách quan của VPPL đất đai

Hành vi VPPL đất đai rất phong phú, mỗi giai đoạn xã hội khác nhau pháp luật quy định các loại hành vi bị coi là VPPL đất đai khác nhau

Theo quy định Điều 5 của Luật Đất đai năm 1987, các hành vi bị nghiêm cấm khá đơn giản bao gồm: việc mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận đất được giao mà không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm huỷ hoại đất đai [23]

Cũng về hành vi VPPL đất đai, Điều 6 Luật đất đai 1993 cũng quy định các hành vi bị nghiêm cấm khá đơn giản: Nghiêm cấm việc lấn chiếm đất đai, chuyển quyền sử dụng đất trái phép, sử dụng đất không đúng mục đích được giao, huỷ hoại đất [24]

Đến Luật Đất đai 2003, các hành vi nghiêm cấm đã được sửa đổi, bổ sung đặc biệt Nhà nước đã dự liệu đến những hành vi VPPL đất đai của chủ thể quản lý

đất đai Điều 15 quy định: Nhà nước nghiêm cấm hành vi lấn, chiếm đất đai; không

sử dụng, sử dụng đất không đúng mục đích; vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố; huỷ hoại đất; không thực hiện đúng quy định của pháp luật khi

Trang 20

sử dụng các quyền của người sử dụng đất; không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của người sử dụng đất

Nhà nước nghiêm cấm hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vượt quá quyền hạn hoặc thiếu trách nhiệm của người có thẩm quyền để làm trái các quy định về quản lý đất đai [25]

Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện, Luật đất đai 2003 đã bộc lộ nhiều nội dung không còn phù hợp Điều 12 Luật Đất đai năm 2013 quy định các hành vi bị nghiêm cấm bao gồm:

- Lấn, chiếm, hủy hoại đất đai;

- Vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố;

- Không sử dụng đất, sử dụng đất không đúng mục đích;

- Không thực hiện đúng quy định của pháp luật khi thực hiện quyền của người sử dụng đất;

- Nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp vượt hạn mức đối với hộ gia đình, cá nhân theo quy định của Luật này;

- Sử dụng đất, thực hiện giao dịch về quyền sử dụng đất mà không đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

- Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước;

- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái quy định về quản lý đất đai;

- Không cung cấp hoặc cung cấp thông tin về đất đai không chính xác theo quy định của pháp luật;

- Cản trở, gây khó khăn đối với việc thực hiện quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật [27]

* Về hậu quả của vi phạm pháp luật đất đai

Do ý nghĩa, vai trò quan trọng của đất đai đối với đời sống xã hội và phát triển kinh tế nên vi phạm pháp luật đất đai thường gây ra tổn thất lớn về kinh tế, có tác động tiêu cực tới đời sống xã hội

- Về mặt kinh tế, đất đai luôn là tài sản có giá trị lớn; do hành vi vi phạm về

Trang 21

đất đai sẽ dẫn đến một diện tích đất đai nhất định bị chiếm hưởng mà Nhà nước bị thất thu các khoản nghĩa vụ tài chính; những khoản thu này thường có giá trị lớn

Mặt khác, đối với nhiều trường hợp VPPL đất đai chủ thể vi phạm xây dựng nhà cửa, công trình gắn liền với đất, khi phải xử lý buộc tháo dỡ sẽ gây ra tổn thất lớn

về kinh tế cho chủ thể đã đầu tư xây dựng công trình, cũng chính là gây tổn thất cho

xã hội Tại thành phố Nam Định trong tháng 7 năm 2014, UBND thành phố phải tiến hành xử lý cưỡng chế tháo dỡ 10 căn hộ do một số cá nhân xây dựng trái phép trên đất chiếm dụng của Nhà nước tại phường Thống Nhất, với giá trị ước tính trên 3 tỷ đồng [38] Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, cộng thêm sự buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm của chính quyền cơ sở nên khi vi phạm xảy ra chính quyền cơ sở né tránh, ngại áp dụng biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế tháo dở công trình; dẫn tới một

số lượng lớn hộ sử dụng đất không hợp pháp tích tụ qua nhiều năm chưa được xử lý; gây áp lực rất lớn đến công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định

- Về mặt xã hội: VPPL đất đai tác động tiêu cực rất lớn đến ổn định xã hội

Bởi lẽ, đất đai luôn gắn bó chặt chẽ với đời sống xã hội, luôn thu hút sự quan tâm chú ý của cộng đồng dân cư, nhất là ở nông thôn Mặt khác, các hành vi VPPL đất đai luôn hướng tới đối tượng là một khu đất cụ thể, nó luôn hiện hữu trước mắt của cộng đồng Chính vì thế, VPPL đất đai trong những năm qua có tính phổ biến và là một trong những nguyên nhân chủ yếu của các khiếu kiện trong đời sống xã hội

Cụ thể, theo thống kê của Thanh tra Chính phủ thì tỷ lệ khiếu nại, tố cáo về đất đai luôn chiếm trên 80% đơn thư khiếu nại, tố cáo Ở tỉnh Nam Định trung bình

là 85%, có năm hơn 90% hầu hết các vụ khiếu tố đông người kéo dài đều xuất phát

từ vi phạm pháp luật đất đai của chính quyền cơ sở Nhiều điểm nóng về an ninh nông thôn xuất phát từ khiếu kiện đông người về đất đai mà căn nguyên đều từ vi phạm pháp luật đất đai của chính quyền cơ sở (điển hình là điểm nóng về an ninh nông thôn ở huyện Giao Thủy của tỉnh Nam Định vào năm 2000 với 16/22 xã, thị trấn đồng loạt khiếu kiện đông người; trong đó tố cáo UBND xã, thị trấn bán đất trái phép là nội dung chính; kết quả là Chính phủ phải trực tiếp chỉ đạo giải quyết, sau 2 năm mới giải quyết tạm thời ổn định) [38]

Trang 22

Ngoài ra, VPPL đất đai không chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, giảm

uy tín của bộ máy nhà nước và ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý đất đai của Nhà nước mà còn xâm hại trực tiếp đến quyền lợi của các chủ thể sử dụng đất

Thứ hai, mặt chủ quan của VPPL đất đai:

Chủ thể VPPL đất đai là tổ chức, cá nhân có lỗi trong việc thực hiện hành vi VPPL đất đai; lỗi có thể là do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý

Chủ thể quản lý đất đai, bằng nhiệm vụ quyền hạn của mình có trường hợp biết là sai nhưng vẫn vi phạm do yếu tố chủ quan, nể nang hoặc ngại va chạm Thậm chí do tư lợi hoặc tâm lý làm cho xong việc, có trường hợp do “bệnh” thành tích mà cố tình làm sai

Đối với các chủ thể sử dụng đất, VPPL đất đai có thể do thiếu hiểu biết, hoặc do nhu cầu cá nhân buộc phải vi phạm Ví dụ như trên địa bàn Nam Định, nghề trồng hoa, cây cảnh phát triển mạnh, chính lý do này mà việc người dân tự ý chuyển đổi mục đích

sử dụng đất tồn tại rất nhiều và chiếm tỉ lệ lớn trong số trường hợp VPPL đất đai Trong các trường hợp VPPL này, chủ yếu người dân ý thức tôn trọng pháp luật chưa cao, biết tự ý chuyển mục đích sử dụng đất là sai nhưng vì lợi nhuận vẫn làm

Thứ ba, chủ thể VPPL đất đai:

Chủ thể vi phạm pháp luật đất đai đa dạng; bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai; các công chức nhà nước; bao gồm cả tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng đất trên lãnh thổ Việt Nam Có thể phân chủ thể của vi phạm pháp luật đất đai thành 03 nhóm chính sau:

Nhóm thứ nhất, nhóm chủ thể là tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai

Theo quy định tại Điều 96 Luật Đất đai năm 2013 thì nhóm chủ thể này bao gồm 03 loại chủ thể sau:

- Người đứng đầu tổ chức, Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quyết định về quản lý đất đai mà có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai;

- Cán bộ, công chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp và cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn có hành vi vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục hành

Trang 23

- Người đứng đầu tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của tổ chức được Nhà nước giao đất để quản lý mà có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai đối với đất được giao để quản lý; [27]

Theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Đất đai năm 2013 thi tổ chức được Nhà nước giao đất để quản lý bao gồm:

+ Tổ chức được giao quản lý công trình công cộng, gồm công trình đường giao thông, cầu, cống, vỉa hè, hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, hệ thống công trình thủy lợi, đê, đập; quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm;

+ Tổ chức kinh tế được giao quản lý diện tích đất để thực hiện dự án đầu tư theo hình thức xây dựng - chuyển giao (BT) và các hình thức khác theo quy định của pháp luật về đầu tư;

+ Tổ chức được giao quản lý đất có mặt nước của các sông và đất có mặt nước chuyên dùng;

+ Tổ chức được giao quản lý quỹ đất đã thu hồi theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền [27]

Nhóm thứ hai, nhóm chủ thể là người sử dụng đất sử dụng đất trên lãnh thổ Việt Nam

Bao gồm hộ gia đình, cá nhân trong nước, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài (gọi chung là cá nhân); cơ quan, tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (gọi chung là tổ chức); cơ sở tôn giáo, có hành vi vi phạm hành chính trong sử dụng đất đai

Nhóm thứ ba, nhóm chủ thể là tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động dịch

vụ về đất đai trên lãnh thổ Việt Nam

Bao gồm cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có hành vi vi phạm hành chính trong việc thực hiện các hoạt động dịch vụ về đất đai

Thứ tư, khách thể của vi phạm pháp luật đất đai:

Khách thể của vi phạm pháp luật đất đai là quan hệ xã hội được pháp luật về đất đai bảo vệ nhưng bị hành vi trái pháp luật xâm hại tới

Trang 24

Do đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt; là nguồn vốn và nguồn nội lực to lớn của đất nước để phát triển kinh tế - xã hội; nên khách thể của vi phạm pháp luật đất đai cũng khá đa dạng

Tóm lại, vi phạm pháp luật đất đai là hành vi của các chủ thể có năng lực

chịu trách nhiệm pháp lý, gồm các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai; các công chức nhà nước; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng đất trên lãnh thổ Việt Nam; tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động dịch vụ về đất đai có lỗi; được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính về đất đai.do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành

1.1.3.4 Các loại vi phạm pháp luật đất đai theo quy định của pháp luật

Đất đai là một đối tượng đặc thù do đó VPPL đất đai rất đa dạng về hành vi và phức tạp về mức độ nguy hiểm cho xã hội Theo quy định của pháp luật, VPPL đất đai bao gồm các loại vi phạm sau:

- Tội phạm vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng đất đai;

- Vi phạm pháp luật về đất đai đối với người có hành vi vi phạm pháp luật

đất đai khi thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai;

- Hành vi vi phạm hành chính trong sử dụng đất đai;

- Hành vi vi phạm hành chính trong việc thực hiện các hoạt động dịch vụ về đất đai

a- Tội phạm vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng đất đai

Theo quy định tại Bộ luật Hình sự thì: Tội phạm vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng đất đai là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm các quy định về quản lý, sử dụng đất đai

- Tội vi phạm các quy định về sử dụng đất đai được quy định tại Điều 173

Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009: Người nào lấn chiếm đất hoặc chuyển quyền sử dụng đất, sử dụng đất trái với các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng đất đai gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã

Trang 25

- Tội vi phạm quy định về quản lý đất đai được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự sửa đổi năm 2009: Người nào lợi dụng hoặc lạm dụng chức vụ, quyền hạn giao đất, thu hồi, cho thuê, cho phép chuyển quyền sử dụng, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật thuộc một trong các trường hợp:

- Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm;

- Đất có diện tích lớn, rất lớn, đặc biệt lớn hoặc có giá trị lớn, rất lớn, đặc biệt lớn

- Gây hậu quả nghiêm trọng; rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng

Nhìn chung, để phòng ngừa và nghiêm trị cũng như để giáo dục các đối tượng có hành vi VPPL đất đai, các tội phạm liên quan đến lĩnh vực này được quy định biện pháp xử lý khá nghiêm khắc Hình phạt có thể bị áp dụng phạt tiền từ năm triệu đồng đến hai mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm

b- Vi phạm pháp luật đất đai đối với người thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai

Là hành vi vi phạm pháp luật về đất đai của người đứng đầu tổ chức, Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quyết định về quản lý đất đai; của cán bộ, công chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp và cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn; của người đứng đầu tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của tổ chức được

Nhà nước giao đất để quản lý

Chủ thể vi phạm:

Theo quy định tại Điều 206 và 207 Luật Đất đai năm 2013, Điều 96 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 45/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một

số điều của Luật đất đai năm 2013 thì đối tượng bị xử lý vi phạm pháp luật đất đai

khi thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai bao gồm:

- Người đứng đầu tổ chức, Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quyết định về quản lý đất đai mà có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai

Theo quy định, cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ở Trung ương là Bộ Tài nguyên và Môi trường

Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương được thành lập ở tỉnh, thành phố trực

Trang 26

Cơ quan quản lý đất đai cấp nào trực thuộc cơ quan hành chính nhà nước cấp đó

Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương có văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là cơ quan dịch vụ công, thực hiện chức năng quản lý hồ sơ địa chính gốc, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính, phục vụ người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ

- Cán bộ, công chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp và công chức Địa chính - xây dựng xã, phường, thị trấn có hành vi vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý đất đai

- Người đứng đầu tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của tổ chức được Nhà nước giao đất để quản lý có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai đối với đất được giao để quản lý

Hành vi vi phạm pháp luật về đất đai khi thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai bao gồm:

- Vi phạm quy định về hồ sơ và mốc địa giới hành chính bao gồm các hành vi sau:

+ Làm sai lệch sơ đồ vị trí, bảng tọa độ, biên bản bàn giao mốc địa giới hành chính; + Cắm mốc địa giới hành chính sai vị trí trên thực địa

- Vi phạm quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bao gồm các hành vi sau: + Không tổ chức lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kịp thời theo quy định;

+ Không thực hiện đúng quy định về tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong quá trình lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

+ Không công bố quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; không công bố việc điều chỉnh hoặc hủy bỏ việc thu hồi hoặc chuyển mục đích đối với phần diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất mà sau 03 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất; không báo cáo thực hiện quy hoạch,

kế hoạch sử dụng đất

- Vi phạm quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất bao gồm các hành vi sau:

Trang 27

+ Giao đất, giao lại đất, cho thuê đất không đúng vị trí và diện tích đất trên thực địa;

+ Giao đất, giao lại đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không phù hợp với kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;

+ Giao lại đất, cho thuê đất trong khu công nghệ cao, khu kinh tế, cảng hàng không, sân bay dân dụng không phù hợp với quy hoạch xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

- Vi phạm quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bao gồm các hành vi sau:

+ Không thông báo trước cho người có đất bị thu hồi;

+ Không thực hiện đúng quy định về tổ chức lấy ý kiến đối với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;

+ Thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư không đúng đối tượng, diện tích, mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho người có đất thu hồi; làm sai lệch hồ sơ thu hồi đất; xác định sai vị trí và diện tích đất bị thu hồi trên thực địa;

+ Thu hồi đất không đúng thẩm quyền; không đúng đối tượng; không đúng với quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt

- Vi phạm quy định về trưng dụng đất bao gồm các hành vi sau:

+ Thực hiện bồi thường không đúng đối tượng, diện tích, mức bồi thường, thời hạn bồi thường cho người có đất bị trưng dụng;

+ Trưng dụng đất không đúng các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 72 của Luật Đất đai năm 2013

- Vi phạm quy định về quản lý đất do được Nhà nước giao để quản lý bao gồm các hành vi sau:

+ Để xảy ra tình trạng người được pháp luật cho phép sử dụng đất tạm thời

mà sử dụng đất sai mục đích;

+ Sử dụng đất sai mục đích;

Trang 28

- Vi phạm quy định về thực hiện trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý và

sử dụng đất bao gồm các hành vi sau:

+ Không nhận hồ sơ đã hợp lệ, đầy đủ, không hướng dẫn cụ thể khi tiếp nhận hồ

sơ, gây phiền hà đối với người nộp hồ sơ, nhận hồ sơ mà không ghi vào sổ theo dõi;

+ Tự đặt ra các thủ tục hành chính ngoài quy định chung, gây phiền hà đối với người xin làm các thủ tục hành chính;

+ Giải quyết thủ tục hành chính không đúng trình tự quy định, trì hoãn việc giao các loại giấy tờ đã được cơ quan có thẩm quyền ký cho người xin làm thủ tục hành chính;

+ Giải quyết thủ tục hành chính chậm so với thời hạn quy định;

+ Từ chối thực hiện hoặc không thực hiện thủ tục hành chính mà theo quy định của pháp luật về đất đai đã đủ điều kiện để thực hiện;

+ Thực hiện thủ tục hành chính không đúng thẩm quyền;

+ Quyết định, ghi ý kiến hoặc xác nhận vào hồ sơ không đúng quy định gây thiệt hại hoặc tạo điều kiện cho người xin làm thủ tục hành chính gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức và công dân;

+ Làm mất, làm hư hại, làm sai lệch nội dung hồ sơ

c- Vi phạm hành chính trong sử dụng đất

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai là hành vi cố ý hoặc vô ý của người

sử dụng đất, tổ chức, cá nhân có liên quan, tổ chức hoạt động dịch vụ về đất đai vi phạm các quy định của pháp luật về đất đai mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật

Trang 29

- Tự ý chuyển mục đích sử dụng đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;

- Chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp không phải là đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;

- Chuyển mục đích sử dụng đất phi nông nghiệp sang mục đích khác trong nhóm đất phi nông nghiệp mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;

- Lấn, chiếm đất;

- Gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác;

- Không đăng ký đất đai;

- Tự ý chuyển quyền sử dụng đất khi không đủ điều kiện theo quy định tại Điều 188 của Luật Đất đai;

- Tự ý chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp mà không đủ điều kiện quy định;

- Tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất dưới hình thức phân lô, bán nền trong dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở;

- Tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở mà không đủ điều kiện;

- Tự ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất gắn với chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng để chuyển nhượng hoặc cho thuê mà không đủ điều kiện;

- Tự ý bán, mua tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm mà không đủ điều kiện;

- Tự ý cho thuê tài sản gắn liền với đất được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm;

- Tự ý chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất có điều kiện mà không

đủ điều kiện của hộ gia đình, cá nhân;

- Tự ý nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất mà không đủ điều kiện đối với đất có điều kiện;

Trang 30

- Tự ý chuyển quyền và nhận chuyển quyền sử dụng đất đối với cơ sở tôn giáo;

- Tự ý nhận chuyển nhượng, nhận góp vốn, thuê quyền sử dụng đất nông nghiệp để thực hiện dự án đầu tư sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp mà không

- Vi phạm quy định về quản lý chỉ giới sử dụng đất, mốc địa giới hành chính;

- Vi phạm quy định về giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất;

- Vi phạm quy định về cung cấp thông tin đất đai liên quan đến thanh tra, kiểm tra, thu thập chứng cứ để giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án nhân dân;

- Vi phạm điều kiện về hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực đất đai

* Vi phạm pháp luật đất đai chủ yếu là vi phạm pháp luật đối với người thi hành công vụ trong lĩnh vực đất đai và vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai (tội phạm về pháp luật đất đai không phổ biến), bởi vậy trong phạm vi luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu với 2 loại hình vi phạm này

1.2 Hình thức, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật đất đai

1.2.1 Hình thức, biện pháp xử lý vi phạm pháp luật đất đai giai đoạn trước khi có Luật Đất đai năm 1987

Giai đoạn này văn bản chủ đạo cho công tác quản lý đất đai là Quyết định

201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước

Theo quy định tại điểm 2 mục VIII của Quyết định này quy định:

- Đối với trường hợp người sử dụng ruộng đất VPPL đất đai, tùy theo mức

độ vi phạm, bị xử phạt như sau:

Trang 31

+ Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 10 đồng đến 200 đồng Trong đó, Ủy ban nhân dân huyện có quyền cảnh cáo và xử phạt từ 10 đồng đến 50 đồng, Ủy ban nhân dân tỉnh có quyền cảnh cáo và xử phạt từ 50 đồng đến 200 đồng

+ Buộc phải sửa chữa những hậu quả và bồi thường những thiệt hại do việc

vi phạm gây ra Cơ quan quyết định xử phạt có quyền quyết định việc này

+ Bị thu hồi ruộng đất

- Nếu người sử dụng đất là cơ quan, tổ chức, thì ngoài việc cơ quan, tổ chức

bị xử phạt, người chịu trách nhiệm chủ yếu trước cơ quan, tổ chức về những vi phạm đó có thể bị thi hành kỷ luật về hành chính hoặc có thể phải chịu một phần số tiền mà cơ quan, tổ chức phải chịu phạt

- Thủ trưởng và cán bộ, nhân viên các cơ quan có trách nhiệm quản lý ruộng đất nếu vi phạm các nguyên tắc, chế độ đã quy định về việc giao đất, thu hồi đất, trưng dụng đất thì tùy theo mức độ vi phạm và tác hại gây ra có thể bị thi hành kỷ luật từ khiển trách, cảnh cáo đến hạ tầng công tác, cách chức hoặc buộc thôi việc

- Người nào lấn chiếm ruộng đất của người khác đã bị xử phạt hành chính

mà cố tình tái phạm hoặc người nào cố ý phá hoại các công trình bảo vệ, cải tạo đất, gây tổn hại nghiêm trọng đến đất đai, lợi dụng chức vụ để giao đất trái phép, nhằm mưu lợi ích riêng, cố ý ngăn cản việc thanh tra, điều tra để xử lý các vụ vi phạm hoặc cố ý bao che người vi phạm, thì bị truy tố trước Tòa án và bị xử phạt theo luật hình sự hiện hành

Tại điểm 4 của Thông tư số 55/ĐKTK ngày 05/11/1981 của Tổng cục Quản

lý ruộng đất có nêu: “Trường hợp tự do lấn chiếm” thì Chỉ thị số 213-TTg ngày

24/9/1974 của Thủ tướng Chính phủ đã ghi "đối với những đất của các nông trường

các hợp tác xã nông nghiệp, các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước bị chiếm dụng trái phép thì cơ quan làm chủ ruộng đất phải thu hồi lại, phải quản lý, sử dụng đúng chế

độ và chính sách của Nhà nước"

Đơn vị sử dụng ruộng đất phi pháp phải san lấp như cũ trả lại cho sản xuất và bồi thường mọi tổn thất đối với sản xuất

Trang 32

1.2.2 Giai đoạn từ khi Luật Đất đai năm 1987 có hiệu lực thi hành (ngày 08/01/1988) đến khi Luật Đất đai năm 2003 hết hiệu lực thi hành (đến trước ngày 01/7/2014)

1.2.2.1 Từ ngày 08/01/1988 đến 15/10/1993 (ngày Luật Đất đai năm 1993

có hiệu lực thi hành)

Luật Đất đai năm 1987 được ban hành theo tinh thần của Hiến pháp năm

1980, tại Điều 5 Luật Đất đai quy định: Nghiêm cấm việc mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận đất được giao mà không sử dụng, sử dụng không đúng mục đích, tự tiện sử dụng đất nông nghiệp, đất có rừng vào mục đích khác, làm huỷ hoại đất đai

Theo tinh thần này, tại Điều 53 Luật Đất đai năm 1987 đã quy định trường hợp người mua, bán, lấn, chiếm đất đai, phát canh thu tô, huỷ hoại đất đai hoặc có hành vi khác vi phạm pháp luật đất đai thì bị xử phạt hành chính bằng một hoặc nhiều hình thức sau đây:

- Cảnh cáo;

- Phạt tiền từ 20% đến 30% giá trị thiệt hại do việc vi phạm gây ra;

- Tịch thu toàn bộ tiền mua bán đất;

- Thu hồi phần đất sử dụng trái pháp luật

Việc xử lý hành chính quy định trong Điều này do Uỷ ban nhân dân các cấp

có thẩm quyền quyết định theo quy định của pháp luật

Tại Điều 54 Luật Đất đai năm 1987 quy định, trường hợp người lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc vượt quá quyền hạn giao đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái với quy định của pháp luật, thiếu tinh thần trách nhiệm làm thiệt hại đến tài nguyên đất đai, bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật đất đai, thì bị xử lý bằng một trong những hình thức sau đây:

Trang 33

Tuy nhiên, việc xử lý kỷ luật quy định trong Điều này do cơ quan chính quyền quyết định theo phân cấp quản lý cán bộ Trong giai đoạn này, việc xử lý kỷ luật cán bộ có vi phạm pháp luật đất đai không được là bao

Nếu hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm thì bị xử phạt theo Bộ luật Hình sự

Như vậy, từ trước khi Quốc hội ban hành Luật Đất đai năm 1993 thì các chế tài để xử lý đối với hành vi vi phạm hành chính chưa được quy định cụ thể và chưa

rõ ràng; chỉ từ khi Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực thi hành, thì Chính phủ mới ban hành Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai

1.2.2.2 Từ ngày 15/10/1993 đến ngày 01/7/2004 (ngày Luật Đất đai năm

2003 có hiệu lực thi hành)

* Luật Đất đai năm 1993 có sự thay đổi căn bản so với Luật Đất đai năm

1988 Theo đó, Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng ổn định, lâu dài Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, để lại quyền thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi đất Chính vì thế hình thức, biện pháp xử lý vi phạm hành chính về đất đai cũng có sự thay đổi Điều 85, Điều 86, Điều 87 Luật Đất đai năm 1993 quy định:

- Người nào lấn chiếm đất, huỷ hoại đất, chuyển quyền sử dụng đất trái phép hoặc có hành vi khác vi phạm pháp luật đất đai, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng

mà bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

- Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc vượt quá quyền hạn giao đất, thu hồi đất, cho phép chuyển quyền, chuyển mục đích sử dụng đất trái với quy định của pháp luật, bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật đất đai, quyết định

xử lý trái pháp luật hoặc có hành vi khác gây thiệt hại đến tài nguyên đất đai, quyền

và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị

xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

Trang 34

- Người nào có hành vi vi phạm pháp luật đất đai mà gây thiệt hại cho người khác thì ngoài việc bị xử lý theo quy định tại Điều 86 và Điều 87 của Luật này, còn phải bồi thường cho người bị thiệt hại

* Thực hiện Luật Đất đai năm 1993, ngày 10/01/1997 Chính phủ đã ban hành Nghị định 04/CP ngày 10/01/1997 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai

Nghị định số 04/CP đã quy định cụ thể các hành vi vi phạm, mức phạt tiền và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của người có thẩm quyền; cụ thể như sau:

- Nghị định này đã quy định cụ thể 14 hành vi vi phạm bị xử phạt, gồm: + Sử dụng đất không đúng mục đích;

+ Lấn chiếm đất đai;

+ Làm giảm khả năng sản xuất đất nông nghiệp, lâm nghiệp;

+ Gây cản trở cho việc sử dụng đất của người khác

+ Tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất

+ Tự ý chuyển đổi, chuyển nhượng đất sử dụng không hợp pháp

+ Cho thuê đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản trái với quy định tại Điều 78 Luật Đất đai

+ Cố tình không kê khai, đăng ký hoặc kê khai đăng ký sử dụng đất không đúng loại, hạng đất

+ Kéo dài thời hạn bồi thường thiệt hại cho người sử dụng đất bị thu hồi để giao cho mình

+ Vi phạm quy định về nộp lệ phí địa chính

+ Kéo dài thời han chấp hành quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước

có thẩm quyền

+ Gây cản trở cho việc giao đất, điều tra, xác định giá đất, đo đạc, lập bản đồ địa chính, xác định mốc giới địa chính, mốc giới trắc địa, thanh tra, xét khiếu tố và giải quyết tranh chấp đất đai

+ Tự ý di chuyển, làm sai lệch, hư hỏng mốc giới địa chính, mốc giới trắc địa + Làm sai lệch các giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất

Trang 35

- Tại Nghị định này, ứng với mỗi mức xử phạt là chủ thể đều có thẩm quyền

ra quyết định xử phạt các hình thức cảnh cáo, phạt tiền; Tịch thu tang vật, phương tiện để sử dụng vi phạm hành chính; Buộc bồi thường thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra; Buộc khôi phục lại tình trạng đất như trước khi bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra; Đình chỉ các hoạt động gây cản trở cho việc sử dụng đất Tuy nhiên mức xử phạt tiền cũng như tịch thu giá trị tang vật vi phạm mỗi chủ thể là khác nhau trong đó mức phạt thấp nhất trong lĩnh vực đất đai là 200.000 đồng (do Chủ tịch UBND cấp xã áp dụng) và mức phạt cao nhất là 20 triệu đồng (chủ tịch UBND cấp tỉnh có thẩm quyền xử phạt mức phạt này) Cụ thể, các chủ thể có thẩm quyền xử phạt gồm:

+ Chủ tịch UBND cấp xã;

+ Chủ tịch UBND cấp huyện;

+ Chủ tịch UBND cấp tỉnh;

+ Thanh tra viên chuyên ngành địa chính đang thi hành công vụ

+ Chánh thanh tra Sở Địa chính;

+ Chánh thanh tra Tổng cục Địa chính;

+ Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các cơ quan Thanh tra nhà nước chuyên ngành về văn hoá, thông tin, bảo vệ môi trường, đê điều, công trình thuỷ lợi, xây dựng, kiểm lâm, thanh tra quân đội, cảnh sát nhân dân được quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sử dụng đất đai theo phạm vi chức năng quản lý nhà nước của mình

1.2.2.3 Từ sau 01/7/2004 đến 01/7/2014 (ngày Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành)

Luật Đất đai năm 2003 có bước tiến mới so với Luật Đất đai năm 1993, đó là

đã quy định cụ thể hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người quản lý đất đai và hình thức, biện pháp xử lý Nghị định 181/2004/NĐ-CP dành Chương XIII-Phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật đất đai của người quản lý

* Về xử lý vi phạm pháp luật đất đai đối với người quản lý: Đối tượng bị xử

lý vi phạm, gồm:

Trang 36

- Người đứng đầu tổ chức, Thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quyết định về quản lý đất đai mà có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai

- Cán bộ, công chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp và cán bộ địa chính, xã, phường, thị trấn có hành vi vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục hành chính trong quản lý đất đai

- Người đứng đầu, cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của tổ chức được Nhà nước giao đất để quản lý trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 3 của Nghị định này mà có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai đối với đất được giao để quản lý

Quy định về nguyên tắc xử lý:

- Mọi vi phạm phải được phát hiện, đình chỉ, xử lý kịp thời Việc xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm gây ra phải được khắc phục theo quy định của Nghị định này và quy định của pháp luật có liên quan

- Hình thức kỷ luật được áp dụng độc lập; biện pháp xử lý trách nhiệm vật chất được áp dụng kèm theo hình thức kỷ luật đối với những hành vi vi phạm có quy định biện pháp xử lý trách nhiệm vật chất được quy định trong Nghị định này Hình thức, mức độ kỷ luật được xác định căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả của hành vi vi phạm, nhân thân của người có hành vi vi phạm

- Các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai của cán bộ, công chức khi thực hiện công vụ có liên quan đến quản lý đất đai mà không thuộc các trường hợp quy định tại Mục 2 của Chương XIII thì bị xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất theo quy định của pháp luật có liên quan

- Việc xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất phải do người có thẩm quyền quyết định

Trang 37

từng hành vi vi phạm và chịu hình thức kỷ luật cao hơn một mức so với hình thức

kỷ luật tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất

- Thời hạn xử lý kỷ luật trong lĩnh vực quản lý đất đai là ba (03) tháng kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm; trường hợp hành vi vi phạm có những tình tiết phức tạp cần có thời gian để thẩm tra, xác minh thì thời hạn được xem xét kéo dài nhưng không quá sáu (06) tháng, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 9 của Nghị định số 97/1998/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 1998 của Chính phủ về xử lý

kỷ luật và trách nhiệm vật chất đối với công chức Trong thời hạn xử lý kỷ luật mà

cá nhân có hành vi vi phạm mới thuộc các hành vi quy định trong Nghị định này hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử lý kỷ luật thì thời hạn được tính lại kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm mới hoặc từ ngày chấm dứt hành vi cố tình trốn tránh, cản trở việc xử lý kỷ luật

- Trường hợp hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự

Về hình thức kỷ luật, biện pháp xử lý trách nhiệm vật chất gồm:

+ Buộc thôi việc

- Các biện pháp xử lý trách nhiệm vật chất bao gồm:

+ Buộc bồi thường cho Nhà nước, cho người bị thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra;

+ Buộc hoàn trả cho cơ quan, tổ chức khoản tiền mà cơ quan, tổ chức đã bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra

Về hành vi vi phạm pháp luật, hình thức xử lý đối với người quản lý đất đai, Nghị định 181 quy định như sau:

Trang 38

Vi phạm quy định về hồ sơ và mốc địa giới hành chính:

- Vi phạm quy định về hồ sơ và mốc địa giới hành chính bao gồm các hành

vi sau:

+ Làm sai lệch sơ đồ vị trí, bảng tọa độ, biên bản bàn giao mốc địa giới hành chính; + Cắm mốc địa giới hành chính sai vị trí trên thực địa

- Hình thức xử lý kỷ luật được quy định như sau:

+ Có hành vi quy định tại điểm a khoản 1 Điều này do thiếu trách nhiệm thì

bị khiển trách, tái phạm do thiếu trách nhiệm thì bị cảnh cáo; cố ý thì bị hạ bậc lương; tái phạm do cố ý thì bị hạ ngạch;

+ Có hành vi quy định tại điểm b khoản 1 Điều này do thiếu trách nhiệm thì

bị cảnh cáo, tái phạm do thiếu trách nhiệm thì bị hạ bậc lương; cố ý thì bị hạ ngạch; tái phạm do cố ý thì bị cách chức hoặc buộc thôi việc

Vi phạm quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:

- Vi phạm quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bao gồm các hành vi sau: + Không công bố hoặc chậm công bố quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt; không công bố hoặc chậm công bố việc điều chỉnh hoặc huỷ bỏ kế hoạch sử dụng đất; làm mất, làm sai lệch bản đồ quy hoạch sử dụng đất chi tiết;

+ Cắm mốc chỉ giới quy hoạch sử dụng đất chi tiết sai vị trí trên thực địa; + Để xẩy ra việc xây dựng, đầu tư bất động sản trái quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết trong khu vực đất phải thu hồi để thực hiện quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt

- Hình thức xử lý kỷ luật được quy định như sau:

+ Có hành vi quy định tại điểm a khoản 1 Điều này do thiếu trách nhiệm thì

bị khiển trách; tái phạm do thiếu trách nhiệm thì bị cảnh cáo; cố ý thì bị hạ bậc lương; tái phạm do cố ý thì bị hạ ngạch hoặc cách chức;

+ Có hành vi quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này do thiếu trách nhiệm thì bị khiển trách hoặc cảnh cáo, tái phạm do thiếu trách nhiệm thì bị cảnh cáo hoặc hạ bậc lương; cố ý thì bị hạ ngạch hoặc cách chức, tái phạm do cố ý thì bị

Trang 39

Vi phạm quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất:

- Vi phạm quy định về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất bao gồm các hành vi sau:

+ Giao đất, giao lại đất, cho thuê đất không đúng vị trí và diện tích đất trên thực địa;

+ Giao đất, giao lại đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, không phù hợp với quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được xét duyệt

- Hình thức xử lý kỷ luật được quy định như sau:

+ Có hành vi quy định tại điểm a khoản 1 Điều này do thiếu trách nhiệm thì

bị cảnh cáo; tái phạm do thiếu trách nhiệm thì bị hạ bậc lương; cố ý thì bị hạ ngạch hoặc cách chức, tái phạm do cố ý thì bị cách chức hoặc buộc thôi việc;

+ Có hành vi quy định tại điểm b khoản 1 Điều này do thiếu trách nhiệm thì

bị cảnh cáo hoặc hạ bậc lương; tái phạm do thiếu trách nhiệm thì bị hạ ngạch hoặc cách chức; do cố ý thì bị cách chức; tái phạm do cố ý thì bị buộc thôi việc

Vi phạm quy định về thu hồi đất:

- Vi phạm quy định về thu hồi đất bao gồm các hành vi sau:

+ Không thông báo trước cho người có đất bị thu hồi theo quy định tại Điều

39 của Luật Đất đai; không công khai phương án bồi thường, tái định cư;

+ Thực hiện bồi thường không đúng đối tượng, diện tích, mức bồi thường cho người có đất bị thu hồi; làm sai lệch hồ sơ thu hồi đất; xác định sai vị trí và diện tích đất bị thu hồi trên thực địa;

+ Thu hồi đất không đúng thẩm quyền; không đúng đối tượng; không đúng với quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt

- Hình thức xử lý kỷ luật được quy định như sau:

+ Có hành vi quy định tại điểm a khoản 1 Điều này do thiếu trách nhiệm thì

bị khiển trách, tái phạm do thiếu trách nhiệm thì bị cảnh cáo, cố ý thì bị hạ bậc lương; tái phạm do cố ý thì bị hạ ngạch;

Trang 40

+ Có hành vi quy định tại điểm b khoản 1 Điều này do thiếu trách nhiệm thì

bị khiển trách hoặc cảnh cáo, tái phạm do thiếu trách nhiệm thì bị cảnh cáo hoặc hạ bậc lương; cố ý thì bị hạ ngạch hoặc cách chức, tái phạm do cố ý thì bị cách chức hoặc buộc thôi việc;

+ Có hành vi quy định tại điểm c khoản 1 Điều này do thiếu trách nhiệm thì bị cảnh cáo hoặc hạ bậc lương; tái phạm do thiếu trách nhiệm thì bị cảnh cáo hoặc hạ ngạch; cố ý thì bị hạ ngạch hoặc cách chức; tái phạm do cố ý thì bị buộc thôi việc

Vi phạm quy định về trưng dụng đất:

- Vi phạm quy định về trưng dụng đất bao gồm các hành vi sau:

+ Thực hiện bồi thường không đúng đối tượng, diện tích, mức bồi thường, thời hạn bồi thường cho người có đất bị trưng dụng;

+ Trưng dụng đất không đúng các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 37 của Nghị định này

- Hình thức xử lý kỷ luật được quy định như sau:

+ Có hành vi quy định tại điểm a khoản 1 Điều này do thiếu trách nhiệm thì

bị khiển trách, tái phạm do thiếu trách nhiệm thì bị cảnh cáo; cố ý thì bị hạ bậc lương, tái phạm do cố ý thì bị hạ ngạch hoặc cách chức;

+ Có hành vi quy định tại điểm b khoản 1 Điều này do thiếu trách nhiệm thì

bị cảnh cáo; tái phạm do thiếu trách nhiệm thì bị hạ bậc lương; cố ý thì bị hạ ngạch; tái phạm do cố ý thì bị cách chức hoặc buộc thôi việc

Vi phạm quy định về quản lý đất được Nhà nước giao để quản lý:

- Vi phạm quy định về quản lý đất do được Nhà nước giao để quản lý bao gồm các hành vi sau:

+ Để xẩy ra tình trạng người được pháp luật cho phép sử dụng đất tạm thời

mà sử dụng đất sai mục đích;

+ Sử dụng đất sai mục đích;

+ Để đất bị lấn, bị chiếm, bị thất thoát

- Hình thức xử lý kỷ luật được quy định như sau:

+ Có hành vi quy định tại điểm a khoản 1 Điều này thì bị khiển trách hoặc

Ngày đăng: 23/03/2016, 11:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban chấp hành đảng bộ tỉnh Nam Định (2012), Nghị quyết số 17/NQ-TU ngày 17/7/2012 về tăng cường lãnh đạo công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định, Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 17/NQ-TU ngày 17/7/2012 về tăng cường lãnh đạo công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh Nam Định
Tác giả: Ban chấp hành đảng bộ tỉnh Nam Định
Năm: 2012
2. Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX (2003), Nghị quyết số 26-NQ/TƯ ngày 12/03/2003 về tiếp tục đổi mới chính sách đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 26-NQ/TƯ ngày 12/03/2003 về tiếp tục đổi mới chính sách đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX
Năm: 2003
3. Ban chấp hành trung ương đảng khóa XI (2012), Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 về tiếp tục đổi mới chính sách đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 về tiếp tục đổi mới chính sách đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Tác giả: Ban chấp hành trung ương đảng khóa XI
Năm: 2012
4. Bộ Tư pháp (2013), Đề cương giới thiệu Luật Đất đai năm 2013, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề cương giới thiệu Luật Đất đai năm 2013
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2013
5. Chính phủ (1997), Nghị định 04/CP ngày 10/1/1997 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 04/CP ngày 10/1/1997 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1997
6. Chính phủ (2004), Nghị định số 181/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 181/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
7. Chính phủ (2004), Nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 182/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
8. Chính phủ (2009), Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11/11/2009 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2009
9. Chính phủ (2013), Nghị định Số: 81/2013/NĐ-CP 19 tháng 07 năm 2013 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định Số: 81/2013/NĐ-CP 19 tháng 07 năm 2013 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
10. Chính phủ (2013), Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
11. Chính phủ (2014), Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
12. Chính phủ (2014), Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 29/10/2014 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 102/2014/NĐ-CP ngày 29/10/2014 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
13. Kiều Văn Chung (2003), "Mấy vấn đề xung quanh việc hoàn thiện quyết định giải quyết khiếu nại về đất đai", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (5), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề xung quanh việc hoàn thiện quyết định giải quyết khiếu nại về đất đai
Tác giả: Kiều Văn Chung
Năm: 2003
14. Trần Dũng (2010), “190.000 vụ vi phạm pháp luật đất đai”, Người lao động, (5), tr.3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 190.000 vụ vi phạm pháp luật đất đai”, "Người lao động
Tác giả: Trần Dũng
Năm: 2010
15. Nguyễn Minh Đoan (2011), "Xây dựng lối sống theo pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa", Nhà nước và pháp luật, (2), tr. 8-16, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng lối sống theo pháp luật đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Năm: 2011
16. Nguyễn Thị Lệ Hằng (2010), Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai của UBND cấp huyện tỉnh Khánh Hòa, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai của UBND cấp huyện tỉnh Khánh Hòa
Tác giả: Nguyễn Thị Lệ Hằng
Năm: 2010
17. Nguyễn Thị Thu Hằng (2011), Giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp của các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Bắc Giang hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Luật học, khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết khiếu nại về đất đai tại các khu công nghiệp của các cơ quan hành chính nhà nước ở tỉnh Bắc Giang hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hằng
Năm: 2011
18. Hội đồng Chính phủ (1980), Quyết định 201/CP ngày 01/7/1980 về thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định 201/CP ngày 01/7/1980 về thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước
Tác giả: Hội đồng Chính phủ
Năm: 1980
19. Trần Anh Hùng (2007), Thủ tục giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước ở TP. Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thủ tục giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước ở TP. Hồ Chí Minh
Tác giả: Trần Anh Hùng
Năm: 2007
20. Nguyễn Thị Mai Lê (2014), “Cụ thể hóa mức xử phạt vi phạm hành chính đất đai”, Tạp chí Tài chính, (12), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cụ thể hóa mức xử phạt vi phạm hành chính đất đai”, Tạp chí Tài chính
Tác giả: Nguyễn Thị Mai Lê
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w