1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp thuộc tập đoàn công nghiệp than khoáng sản việt nam

116 660 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng cường sự quan tâm chỉ đạo của các cơ quan quản lý Nhà nước đối với hoạt động của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

NGUYỄN THỊ HỒNG BÌNH

VAI TRß CñA Tæ CHøC PH¸P CHÕ TRONG C¸C DOANH NGHIÖP THUéC TËP §OµN c«ng nghiÖp THAN - KHO¸NG S¶N VIÖT NAM

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: NGƯT PGS.TS DƯƠNG ĐỨC CHÍNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi

có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Hồng Bình

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục bảng, sơ đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC PHÁP CHẾ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THUỘC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 8

1.1 Khái quát chung về Pháp chế xã hội chủ nghĩa 8

1.1.1 Khái niệm Pháp chế xã hội chủ nghĩa 8

1.1.2 Vai trò của pháp chế XHCN 12

1.1.3 Những yêu cầu cơ bản của pháp chế 14

1.1.4 Biện pháp tăng cường pháp chế XHCN 17

1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn kinh tế 19

1.2.1 Khái niệm, phân loại tổ chức 19

1.2.2 Khái niệm Tổ chức pháp chế doanh nghiệp 22

1.2.3 Vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp Nhà nước 22

1.2.4 Nội dung của tổ chức pháp chế doanh nghiệp Nhà nước 26

1.2.5 Sự cần thiết của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp 28

1.3 Khái niệm Doanh nghiệp, khái niệm, đặc điểm Doanh nghiệp Nhà nước 31

1.3.1 Khái niệm Doanh nghiệp 31

1.3.2 Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp Nhà nước 32

Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC PHÁP CHẾ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 34

2.1 Tổng quan về tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 34

Trang 5

2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Tập đoàn Công nghiệp

Than - Khoáng sản Việt Nam 34

2.1.2 Mô hình tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 38

2.2 Thực trạng hoạt động của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 40

2.2.1 Thực trạng hoạt động của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam 40

2.2.2 Thực trạng hoạt động của tổ chức pháp chế tại một số doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 47

2.3 Nhận xét chung về vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 58

2.3.1 Kết quả đạt được 58

2.3.2 Hạn chế 61

2.3.3 Nguyên nhân của thực trạng trên 65

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC PHÁP CHẾ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM 70

3.1 Định hướng chiến lược phát triển của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 70

3.1.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 70

3.1.2 Định hướng chiến lược phát triển Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 72

3.2 Quan điểm và yêu cầu nâng cao vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 75

3.2.1 Quan điểm nâng cao vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 75

Trang 6

3.2.2 Yêu cầu nâng cao vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh

nghiệp thuộc Công nghiệp Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam 76

3.3 Giải pháp nâng cao vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 76

3.3.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của tổ chức pháp chế 76

3.3.2 Tăng cường sự quan tâm chỉ đạo của các cơ quan quản lý Nhà nước đối với hoạt động của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam nói riêng 78

3.3.3 Nhà nước cần hoàn thiện các quy phạm pháp luật nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp Nhà nước nói chung và trong các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam nói riêng 79

3.3.4 Nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo doanh nghiệp về vai trò của pháp chế trong hoạt động quản trị, sản xuất, kinh doanh của đơn vị mình 82

3.3.5 Về cơ cấu tổ chức và nội dung hoạt động của tổ chức pháp chế tại các doanh nghiệp 83

3.3.6 Về công tác tuyển chọn và đào tạo cán bộ làm công tác pháp chế 91

3.4 Điều kiện để thực hiện các vai trò, yêu cầu, giải pháp hoàn thiện tổ chức pháp chế tại các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 93

3.4.1 Phía Nhà nước 93

3.4.2 Phía doanh nghiệp 97

KẾT LUẬN 102

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 106

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

APTA: Hiệp hội thương mại Châu Á

BOT: Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao CBCNV: Cán bộ công nhân viên

CIEM: Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương EVN: Tập đoàn Điện lực Việt Nam

FDI: Doanh nghiệp nước ngoài

FPC: Hợp đồng xây dựng và vật liệu xây dựng HAPRO: Tổng công ty Thương mại Hà Nội

HĐQT: Hội đồng quản trị

NSNN: Ngân sách Nhà nước

PTSC: Tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí

PV EIC: Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ Năng

lượng Dầu khí Việt Nam

PV OIL: Tổng Công ty Dầu Việt Nam

PVEV: Tổng Công ty Thăm dò và khai thác Dầu khí PVFC: Tổng Công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí

Việt Nam PVFCCO: Tổng Công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí PVN: Tập đoàn Dầu khí Việt Nam

VCCI: Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VINATEX: Tập đoàn Dệt may Việt Nam

WTO: Tổ chức Thương mại thế giới

XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 8

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ

Số hiệu

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn

Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Tập đoàn Công nghiệp Than -

Sơ đồ 2.2: Tổ chức bộ máy quản lý của công ty mẹ (Vinacomin) trong

Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam 40

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đất nước ta đã trải qua hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới Diện mạo của đất nước đã có nhiều thay đổi vượt bậc Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đã được nâng cao, tạo nên những tiền đề quan trọng để đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Ngày 11/01/2007 với việc Việt Nam chính thức trở thành thành viên tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng Xu thế mở cửa nền kinh tế đã và đang có nhiều tác động đến các doanh nghiệp Việt Nam Tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng là thách thức, khó khăn không nhỏ đối với tất

cả các doanh nghiệp Việt Nam Để nâng cao năng lực cạnh tranh, phát huy thế mạnh của mỗi doanh nghiệp, tạo thế và lực cho doanh nghiệp vững bước hội nhập kinh tế quốc tế thì không thể không tuân thủ các quy định của pháp luật và những cam kết quốc tế

Ngày 04/7/2011, Chính phủ ban hành Nghị định số 55/2011/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế là sự khẳng định cho tầm quan trọng của tổ chức pháp chế doanh

nghiệp Được mệnh danh là “người giữ cổng pháp luật” nhưng hiện nay tổ

chức pháp chế hay ban pháp chế chuyên trách mới chỉ được thành lập ở những Tập đoàn, Tổng công ty, các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp Nhà nước còn đại bộ phận các doanh nghiệp trong nước tình trạng công tác pháp

chế đang là một “bức tranh ảm đạm”

Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam là một Tập đoàn kinh tế Nhà nước đầu tiên của Việt Nam được ra đời và đi vào hoạt động theo

Trang 10

Nghị quyết của Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba, khóa

IX (tháng 9 - 2001) Là một ngành kinh tế mũi nhọn, cung cấp 97% tổng lượng than tiêu thụ trong cả nước, góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia thì hơn lúc nào hết trên bước đường hình thành và phát triển để Tập đoàn có tầm vóc quốc tế, tạo thế và lực để cạnh tranh trên trường quốc tế đòi

hỏi cần có tổ chức pháp chế làm “áo giáp” bảo vệ, giúp các doanh nghiệp

trong Tập đoàn vững bước trên thương trường

Được sự quan tâm của lãnh đạo Tập đoàn, Ban Pháp chế Tập đoàn cùng với tổ chức pháp chế ở các doanh nghiệp trong Tập đoàn đã được thành lập từ rất sớm Từ khi ra đời, Ban Pháp chế Tập đoàn đã phát huy vai trò của mình và cùng với hệ thống tổ chức pháp chế ở các đơn vị góp phần không nhỏ cho sự phát triển của Tập đoàn Hệ thống pháp chế doanh nghiệp trong Tập đoàn đã dần khẳng định vị trí của pháp chế trong quá trình quản trị doanh nghiệp Tuy nhiên, tổ chức pháp chế cũng gặp phải rất nhiều khó khăn, thách thức và bộc lộ một số tồn tại cần khắc phục như: chưa phát huy hết vai trò của

tổ chức pháp chế trong hoạt động của các doanh nghiệp trong Tập đoàn; bộ phận pháp chế ở các doanh nghiệp thành viên hầu như vẫn chỉ được tổ chức dưới hình thức kiêm nhiệm hoặc lồng ghép vào các phòng/ban khác; chưa có phòng/ban pháp chế độc lập riêng rẽ (ngoại trừ công ty mẹ Vinacomin) dẫn đến hiệu quả công tác pháp chế trong những năm qua chưa thực sự thuyết phục; lãnh đạo các doanh nghiệp chưa nhận thức đúng tầm quan trọng của pháp chế doanh nghiệp; năng lực của cán bộ làm công tác pháp chế còn hạn chế; một số chức năng, nhiệm vụ của pháp chế doanh nghiệp chưa được quy định rõ ràng; sự phối hợp giữa các ban/ngành chức năng trong việc triển khai hoạt động của pháp chế doanh nghiệp thiếu đồng bộ làm cho công tác pháp chế còn chưa rõ nét và gặp nhiều lúng túng

Trang 11

Làm thế nào để lãnh đạo doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam nhận thức đúng và tạo điều kiện phát huy vai trò của tổ chức pháp chế trong hoạt động kinh doanh, giúp doanh nghiệp nắm bắt cơ hội, hạn chế rủi ro, nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp trước yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội bền vững, phát huy vai trò mũi nhọn của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn kinh tế, thì việc nghiên cứu một cách có hệ thống về vai trò của tổ chức pháp chế doanh nghiệp thuộc Tập đoàn kinh tế là hết sức cần thiết, có giá trị về lý luận và thực tiễn cao

Qua thời gian học tập, nghiên cứu tại khoa Luật - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, được sự hướng dẫn khoa học của Nhà giáo ưu tú Phó Giáo sư

Tiến sĩ Dương Đức Chính học viên chọn đề tài: “Vai trò của tổ chức pháp

chế trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình

Học viên mong muốn qua luận văn này đưa ra được những thực trạng cũng như những đề xuất, kiến nghị trong thực tiễn nhằm phát huy hơn nữa vai trò của tổ chức pháp chế trong việc bảo vệ doanh nghiệp, phát huy tiềm lực của doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, giúp doanh nghiệp nắm bắt cơ hội trước những khó khăn, thách thức khi Việt Nam hội nhập kinh tế toàn cầu

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vai trò của tổ chức pháp chế trong doanh nghiệp Nhà nước đã được Nhà nước công nhận thông qua việc ban hành Nghị định số 55/NĐ-CP ngày

04 tháng 7 năm 2011

Đến nay đã có nhiều đề tài, đề án, bài viết về pháp chế, pháp chế doanh nghiệp: Luận văn Thạc sĩ: “vai trò của pháp chế XHCN trong tổ chức và hoạt động của Hải quan Việt Nam” tác giả Nguyễn Văn Hồng, Học viện Chính trị -

Trang 12

Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 2007; Đề tài “Nghiên cứu, đề xuất

các giải pháp và nội dung hướng dẫn nghiệp vụ pháp chế trong lĩnh vực thông tin và truyền thông giai đoạn 2011-2015” của Vụ Pháp chế - Bộ thông tin truyền

thông; Bài viết: Pháp chế doanh nghiệp - Chia sẻ của những người trong cuộc của tác giả Hương Giang ngày 27/5/2014 trên trang www.vinacomin.vn… một

số các công trình nghiên cứu, hội thảo của Bộ Tư pháp kết hợp với các Tập đoàn lớn như: Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam… bàn về tổ chức pháp chế doanh nghiệp Các công trình này đã tập trung nghiên cứu khái quát về pháp chế XHCN, pháp chế doanh nghiệp nói chung đồng thời đề cập đến một số biện pháp để nâng cao vai trò của pháp chế, tổ chức pháp chế doanh nghiệp

Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện và chuyên biệt về vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp đặc biệt là vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam Với kết quả nghiên cứu của luận văn này, tác giả hy vọng sẽ khắc phục tình trạng nêu trên

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích khoa học của Luận văn là làm rõ cơ sở lý luận cũng như vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam Qua đó thấy được thực trạng của

tổ chức pháp chế tại các doanh nghiệp trong Tập đoàn, đánh giá đúng và nghiêm túc về vai trò, vị trí của tổ chức pháp chế doanh nghiệp để đưa ra các yêu cầu và giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa vai trò của tổ chức pháp chế tại các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam nói riêng và ở các doanh nghiệp Việt Nam nói chung

Trang 13

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn phải thực hiện những nhiệm vụ sau:

- Luận giải hệ thống lý luận về pháp chế XHCN, vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn kinh tế

ở Việt Nam

- Đánh giá thực trạng hoạt động của tổ chức pháp chế thông qua hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, từ đó tìm ra được nguyên nhân của thực trạng đó

- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động đưa ra phương hướng, yêu cầu và giải pháp phát huy vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Tổ chức pháp chế thông qua hoạt động của tổ chức pháp chế tại các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của Luận văn: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò tổ chức pháp chế thông qua hoạt động thực tiễn của các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam Từ đó đưa ra các yêu cầu và giải pháp nâng cao vai trò của tổ chức pháp chế tại các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam Thời gian nghiên cứu là từ khi Nghị định số 55/NĐ-CP ban hành ngày 04 tháng 7 năm 2011 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp cơ bản được sử dụng trong việc nghiên cứu, hoàn thiện luận văn: phương pháp phân tích, tổng hợp, logic, so sánh, khảo sát thực

Trang 14

tiễn, điều tra xã hội học… trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để làm sáng tỏ những vấn đề cần nghiên cứu

6 Đóng góp của Luận văn

- Thứ nhất: Luận văn đã nghiên cứu tương đối toàn diện và hệ thống

về “Vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn

Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam” Kết quả nghiên cứu của luận

văn góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

- Thứ hai: Luận văn đã đi sâu nghiên cứu, đánh giá thực trạng vai trò

của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, chỉ ra những kết quả đạt được, nguyên nhân những kết quả đạt được cũng như tồn tại, hạn chế trong hoạt động của tổ chức pháp chế tại các doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

- Thứ ba: Luận văn đã đưa ra các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng

cao hơn nữa vai trò của tổ chức pháp chế trong hoạt động của các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, chỉ đạo, tổ chức hoạt động của tổ chức pháp chế ở các doanh nghiệp, nhằm tiếp tục phát huy vai trò của tổ chức pháp chế trong hoạt động của các doanh nghiệp nói chung, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

7 Ý nghĩa đề tài

Kết quả nghiên cứu của Luận văn có ý nghĩa về lý luận và thực tiễn, góp phần đảm bảo hoạt động của doanh nghiệp đúng pháp luật, phòng tránh rủi ro pháp lý, phát huy sức mạnh của doanh nghiệp

Trang 15

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập thế giới, đứng trước cơ hội và thách thức trong giao thương quốc tế

và những rủi ro có thể xảy ra thì luận văn là tài liệu cho các doanh nghiệp

có thể tham khảo để nâng cao hoạt động của tổ chức pháp chế doanh nghiệp, góp phần không nhỏ vào sự phát triển bền vững, ổn định và an toàn pháp lý cho doanh nghiệp

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về pháp chế XHCN và vai trò

của tổ chức pháp chế trong doanh nghiệp Nhà nước thuộc Tập đoàn kinh tế ở Việt Nam hiện nay

Chương 2: Thực trạng hoạt động của tổ chức pháp chế trong các doanh

nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

Chương 3: Quan điểm và giải pháp để nâng cao vai trò của tổ chức

pháp chế trong các doanh nghiệp thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam

Trang 16

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VÀ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC PHÁP CHẾ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THUỘC TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT

NAM HIỆN NAY

1.1 Khái quát chung về Pháp chế xã hội chủ nghĩa

1.1.1 Khái niệm Pháp chế xã hội chủ nghĩa

Khái niệm pháp chế XHCN là một khái niệm khoa học được hình thành trong nền khoa học pháp lý XHCN Ở nước ta, pháp chế XHCN không chỉ được quan tâm về khái niệm mà đã trở thành nguyên tắc chỉ đạo trong hoạt động lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Để đưa ra khái niệm pháp chế XHCN một cách tương đối hoàn chỉnh chúng ta cần tiếp cận ở các phương diện khác nhau

Thứ nhất: cùng tìm hiểu quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa

Mác - Lênin về vấn đề này Trong Bộ Tư Bản, C.Mác không trực tiếp bàn đến pháp chế nhưng khi nghiên cứu quan hệ giữa Nhà nước và công dân trong nền

kinh tế tư bản chủ nghĩa C.Mác cho rằng: “pháp chế là một chế độ tuân thủ

pháp luật trong thực tiễn” [16] C.Mác đã khái quát “pháp chế là một chế độ thực hiện pháp luật của mọi tổ chức và công dân” [16] Ph.ăngghen, trong tác

phẩm “Bàn về vấn đề nhà ở” đã luận về pháp chế như sau:

Ở một giai đoạn rất cổ xưa nào đấy của sự phát triển xã hội, nhu cầu làm cho người ta thấy cần phải tập hợp dưới một quy tắc chung Những hành

vi sản xuất, phân phối và trao đổi sản phẩm tái diễn hàng ngày cần phải làm thế nào để mọi người phục tùng những điều kiện chung về sản xuất, trao đổi Quy tắc đó thoạt tiên là thói quen sau đó trở thành pháp luật Có pháp luật thì những cơ quan có nhiệm vụ duy trì pháp luật đó tất phải xuất hiện: quyền lực công, Nhà nước

Trang 17

Trong tiến trình phát triển sau này của xã hội, pháp luật phát triển thành pháp chế ít nhiều rộng rãi Pháp chế càng phức tạp bao nhiêu thì thuật ngữ của

nó càng xa rời thuật ngữ biểu hiện những điều kiện kinh tế thông thường của

xã hội bấy nhiêu Lúc đó pháp chế xuất hiện như một nhân tố độc lập mà lý

do tồn tại và cơ sở của sự tiến triển này không xuất phát từ những điều kiện

kinh tế mà từ chính những nguyên nhân sâu sắc của bản thân “Pháp chế là

hiện tượng xã hội độc lập với tư cách là nhân tố của quyền lực chính trị” [15]

Pháp trị hay pháp chế là một chế độ chính trị của một nước dựa vào pháp luật

để quản lý Nhà nước và điều hành xã hội Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật là phương pháp pháp trị của Nhà nước pháp quyền

Phát triển quan điểm pháp chế của C.Mác, Ph.ănghen,V.I.Lê-nin đã đề

cập đến tư tưởng pháp chế XHCN trong một số tác phẩm tiêu biểu sau: “Bàn về

chế độ song trùng trực thuộc và pháp chế”, “Sơ thảo đề cương nghị quyết về tuân thủ pháp luật”… [22] Có thể nói rằng V.I.Lê-nin là người đầu tiên đưa ra

các luận điểm cơ bản về pháp chế XHCN và các nguyên tắc của nó làm giàu thêm

lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin về Nhà nước và pháp luật Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin qua các tác phẩm của mình đã quan niệm pháp chế XHCN là một hiện tượng xã hội tồn tại, vận động theo các nguyên lý sau:

- Pháp chế là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị, kinh tế - xã hội trong đó mọi thành viên quan hệ với nhau theo pháp luật

- Pháp chế là một nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Nhà nước XHCN

- Pháp chế là một phương pháp quản lý Nhà nước, phương pháp thực hiện những nhiệm vụ chuyên chính giai cấp, một bộ phận cấu thành của nền dân chủ chân chính

- Pháp chế có quan hệ chặt chẽ với dân chủ, như là một bộ phận của nền dân chủ XHCN

Trang 18

- Pháp chế có mối liên hệ chặt chẽ với văn hóa, với ý thức tôn trọng, xử

sự bằng pháp luật, niềm tin vào giá trị, tác dụng của pháp luật đối với người dân, đối với đất nước

Thứ hai: Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về pháp chế

XHCN Ý tưởng xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân

và tăng cường pháp chế đã được Chủ Tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta quan tâm chú trọng từ rất lâu Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam, năm 1919 Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) đã nói lên tiếng nói của các dân tộc thuộc địa trong đó có dân tộc Việt Nam Trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba và các văn kiện Đại hội sau này Đảng ta đều coi pháp chế XHCN là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước Muốn nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý Nhà nước và phát huy dân chủ XHCN phương pháp chủ yếu, tổng thể, toàn diện và thường xuyên là tăng cường pháp chế XHCN

Ở nước ta, thuật ngữ pháp chế đang được sử dụng với những nội dung khác nhau Tùy từng cách tiếp cận mà các tác giả đưa ra những quan niệm khác nhau về pháp chế

Nếu tiếp cận pháp chế ở phạm vi hẹp nhấn mạnh yếu tố tiền đề, yếu tố

cơ sở của pháp chế thì quan niệm pháp chế là pháp luật trong cuộc sống của

nó Pháp chế được coi như sự đòi hỏi về sự tuân thủ và thực hiện pháp luật trong sự đề cao đòi hỏi, yêu cầu phải tuân thủ, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật từ phía các chủ thể pháp luật

Nếu tiếp cận pháp chế ở phương diện tương đối rộng lớn thì sẽ có cách

quan niệm: “Pháp chế là một chế độ đặc biệt trong đời sống chính trị - xã hội,

trong đó tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách triệt để và chính xác” [21]

Trang 19

Một số học giả lại quan niệm pháp chế là “Pháp luật” nhưng không

phải là pháp luật trên giấy mà là pháp luật ở trạng thái tác động vào đời sống

xã hội “Pháp luật đang sống” [11]

Trong các văn bản pháp luật, pháp chế thường được coi là một nguyên tắc rất quan trọng cần phải tuân thủ trong tính chất và hoạt động của bộ máy Nhà nước, công chức Nhà nước, trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế và trong hoạt động hàng ngày, hàng giờ của mỗi công dân

Điều 12, Hiến pháp 1992 quy định: “Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp

luật, không ngừng tăng cường pháp chế XHCN” [15] Việc đề cao pháp chế,

không ngừng tăng cường pháp chế theo Hiến pháp 1992 là vấn đề có tính quy luật, thường xuyên chứ không phải là đòi hỏi có tính phong trào Và hơn thế pháp chế đã trở thành một nguyên tắc không thể thiếu để bảo đảm sự vận hành bình thường của bộ máy Nhà nước và của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội

Nếu Pháp luật là ý chí của người dân được nâng lên thành luật xuất phát từ nhu cầu và điều kiện thực tại của xã hội thì pháp chế là việc đưa ý chí

đó vào đời sống, trở thành hiện thực, và có sức mạnh vật chất Ở nước ta có một số tác giả đưa ra khái niệm về pháp chế:

Pháp chế là sự hiện diện của một hệ thống pháp luật cần và

đủ để điều chỉnh các quan hệ xã hội, làm cơ sở cho sự tồn tại của một trật tự pháp luật; là sự tuân thủ và thực hiện đầy đủ pháp luật trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, của cơ quan, đơn vị, tổ chức và mọi công dân [24]

Pháp chế XHCN là sự tôn trọng và thực hiện pháp luật XHCN một cách tự giác, nghiêm chỉnh, đầy đủ, thống nhất thông qua những hành vi tích cực của tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân và kết quả hiện thực

Trang 20

của sự tôn trọng và thực hiện pháp luật ấy trong bộ máy Nhà nước

và ở ngoài xã hội [12]

Như vậy, pháp chế đồng nghĩa với yêu cầu thể chế hóa các nhu cầu quản lý xã hội Chính trên nền tảng cơ sở này mà pháp luật mới có được giá trị to lớn với tư cách là hình thức tồn tại của các cơ cấu, tổ chức xã hội, các thiết chế Nhà nước

Qua việc phân tích các góc độ khác nhau, các quan điểm khác nhau về pháp chế cho thấy pháp chế là cơ sở cho việc ra đời quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ tăng cường, xây dựng

và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đẩy mạnh

sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.1.2 Vai trò của pháp chế XHCN

Pháp chế XHCN là chế độ của đời sống chính trị - xã hội trong đó Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật; các cơ quan Nhà nước, các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội- nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế và công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác Mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật Pháp luật chỉ có thể phát huy hiệu lực của mình, điều chỉnh một cách có hiệu lực các quan hệ

xã hội khi dựa trên cơ sở vững chắc của nền pháp chế Thực hiện pháp chế XHCN đất nước ta không ngừng phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được ổn định, ấm no, hạnh phúc

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay với nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường luôn cần có sự quản lý Nhà nước bằng pháp luật Nền kinh tế thị trường một mặt đem lại những lợi ích cho xã hội, mặt khác cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề kinh tế - xã hội phức tạp cần phải sử dụng pháp luật là công cụ chủ yếu, đòi hỏi các chủ thể liên quan cần

Trang 21

tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, ngăn chặn, loại trừ các hành vi vi phạm pháp luật

Hiện nay chúng ta đang xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, vì vậy pháp chế XHCN có tác động đến công cuộc cải cách bộ máy Nhà nước nói chung nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước Pháp chế XHCN góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh chính trị, trật

tự an toàn xã hội, bảo vệ những thành quả của cách mạng, bảo vệ tính mạng, thân thể, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức

Mục tiêu của nền dân chủ XHCN là đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả cả các lĩnh vực xã hội; bảo đảm, bảo vệ và mở rộng các quyền tự do, dân chủ của công dân phù hợp với sự phát triển của xã hội; tạo ra bầu không khí xã hội dân chủ, cởi mở để phát huy sức sáng tạo của mọi tầng lớp xã hội cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Để đạt được những mục tiêu đó nhất thiết cần có sự điều chỉnh của pháp luật và sự tôn trọng, thực hiện pháp luật một cách tự giác, nghiêm chỉnh, đầy đủ, thống nhất của mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân cần phải luôn tôn trọng và thực hiện pháp luật tự giác, nghiêm chỉnh, đầy đủ, thống nhất cần dựa vào pháp luật để đấu tranh chống biểu hiện sai lệch trong văn hóa và giáo dục, vi phạm pháp luật trong khoa học, công nghệ góp phần cho sự nghiệp phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ

Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân,

do nhân dân, vì nhân dân là sự nghiệp còn mới mẻ và có nhiều thách thức đối với các nước XHCN (do những nguyên nhân chủ quan và khách quan) Bởi vậy đòi hỏi tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và mọi công dân không những cần đổi mới, củng cố kiến thức về pháp luật và

Trang 22

pháp chế XHCN mà còn luôn luôn tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách

tự giác, nghiêm chỉnh, đầy đủ, thống nhất; phải biết sử dụng pháp luật để đấu tranh phòng ngừa và chống các vi phạm pháp luật trong bộ máy Nhà nước và

ở ngoài xã hội

Đối với các nước XHCN, tăng cường pháp chế XHCN trong điều kiện tình hình quốc tế diễn biến phức tạp là thách thức lớn Pháp chế XHCN là điều kiện quan trọng để thực hiện thành công chính sách đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, nhằm tạo môi trường quốc tế thuận lợi để bảo

vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội trong nước

1.1.3 Những yêu cầu cơ bản của pháp chế

Yêu cầu đảm bảo tính thống nhất của pháp chế và đảm bảo tính tối thượng của Hiến pháp và pháp luật

- Đảm bảo tính tối thượng của Hiến pháp và pháp luật hay chính là tôn trọng hiệu lực pháp lý cao nhất của Hiến pháp Hiệu lực pháp lý cao nhất của Hiến pháp được thể hiện trong xây dựng và thực hiện pháp luật Trong hệ thống pháp luật các văn bản được đặt ở những vị trí khác nhau bởi hai tiêu chí: mức độ điều chỉnh và mức độ của hiệu lực pháp lý; mức độ điều chỉnh khái quát cao thường đặc trưng cho những văn bản có hiệu lực chung; mức độ điều chỉnh tương ứng với vị trí quyền lực của cơ quan ban hành ra văn bản Các văn bản do các cơ quan Nhà nước ban hành phải thể hiện đúng thẩm quyền của từng cơ quan và có như vậy mới tương xứng với mối quan hệ giữa các cơ quan đó Sự tuân thủ thứ tự, cấp bậc theo thẩm quyền đòi hỏi Hiến pháp và luật phải ở vị trí tối cao bởi vì đó là những văn bản do Quốc Hội - cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ban hành Các cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương chịu trách nhiệm chấp

Trang 23

hành Hiến pháp, luật, các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên Tính

tối thượng của Hiến pháp và luật là điều kiện để khắc phục tình trạng “chờ”

thông tư, giải thích của các cấp thực hiện Tình trạng này hoàn toàn không phù hợp với yêu cầu của pháp chế

- Đảm bảo tính pháp chế thống nhất: Pháp luật phải được nhận thức một cách thống nhất và thực hiện thống nhất trên phạm vi cả nước Nhận thức thống nhất về pháp luật là cơ sở để thực hiện pháp luật một cách thống nhất, là điều kiện đảm bảo cho nhận thức thống nhất về pháp luật Cũng như trong khâu ban hành pháp luật, nguyên tắc pháp chế về việc tuân thủ pháp luật đòi hỏi pháp luật phải trở thành chế độ pháp chế thống nhất và phải được tuân thủ trong cuộc sống Các quy định của pháp luật phải được hiểu

và thực hiện thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia Pháp chế là sự đòi hỏi tất cả các cơ quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức đoàn thể xã hội và

cá nhân công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tuân thủ pháp luật, thực hiện pháp luật một cách tự giác, nghiêm chỉnh, đầy đủ, thống nhất Chỉ có cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định việc thay đổi các văn

bản quy phạm pháp luật

- Bảo đảm và bảo vệ có hiệu quả các quyền, lợi ích hợp pháp và tự do của công dân: Nhà nước có nghĩa vụ tạo mọi điều kiện thuận lợi để công dân thật sự được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp; bảo vệ và mở rộng các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, phù hợp với sự phát triển của đất nước và nhu cầu chính đáng ngày càng lớn của công dân Nguyên tắc pháp chế là cầu nối giữa Nhà nước và công dân Hiến pháp, các Bộ luật như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Lao động và nhiều các văn bản trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống đã đặt cơ sở bền vững cho mối quan hệ Nhà nước và công dân

- Tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật - nguyên tắc không thể thiếu trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, của các cơ quan Nhà nước, tổ chức

Trang 24

chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh

tế và mọi cá nhân

- Nhà nước làm ra luật, ban hành pháp luật, nhưng cần tự nguyện đặt mình trong sự ràng buộc về quyền và trách nhiệm của mình trước pháp luật, trong khuôn khổ các quy định của pháp luật Đó là yêu cầu nhất thiết cần phải

có của một Nhà nước pháp quyền

- Quyền và nghĩa vụ của công dân không thể tách rời

- Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật

- Pháp chế đòi hỏi phải xử lý kịp thời và công minh những hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm lợi ích của công dân, của tập thể, của Nhà nước

Đây là nội dung cũng như yêu cầu của pháp chế

Đây cũng là trách nhiệm của tất cả các cơ quan Nhà nước

Để đạt được những mục tiêu tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị, phát huy dân chủ và thực hiện công bằng xã hội thì việc bảo vệ quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, xác định đúng trách nhiệm của công dân là điều hết sức quan trọng

- Pháp chế và mối quan hệ giữa “tính hợp lý” và “tính hợp pháp”

Tính hợp lý đòi hỏi mọi hoạt động phải tuân thủ pháp luật, không trái với pháp luật

Yêu cầu của pháp chế phải xuất phát từ các nguyên tắc chung của pháp luật để giải quyết các vấn đề cụ thể

- Hệ thống pháp luật phải đảm bảo được yêu cầu cần và đủ cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội

Pháp chế là sự đòi hỏi phải xác định khả năng và vai trò của pháp luật trong hệ thống các quy phạm xã hội nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội

Pháp chế đòi hỏi việc điều chỉnh pháp luật phải đúng cách

Trang 25

1.1.4 Biện pháp tăng cường pháp chế XHCN

Như trên chúng ta đã phân tích thấy rõ sự cần thiết phải tăng cường pháp chế XHCN có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong bối cảnh hiện nay Vậy cần áp dụng những biện pháp pháp lý nào để tăng cường pháp chế XHCN

Ngoài những biện pháp về kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, xã hội… cần áp dụng các biện pháp chủ yếu:

- Xây dựng và hoàn thiện pháp luật toàn diện, đồng bộ, khoa học và

thực tiễn Pháp luật XHCN là tiền đề của pháp chế XHCN và quản lý xã hội bằng pháp luật vì vậy cần phải có hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh và đồng bộ Hiện nay, trong xã hội còn nhiều quan hệ cần sự điều chỉnh của pháp luật, nhưng chưa có pháp luật để điều chỉnh; còn nhiều văn bản QPPL còn chồng chéo, không còn phù hợp với tình hình thực tế; đòi hỏi phải từng bước

bổ sung và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật; đẩy mạnh hơn nữa công tác hệ thống hóa, loại ra ngoài hệ thống các văn bản không còn phù hợp; đồng thời chú trọng việc xây dựng và ban hành những đạo luật mới Trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật, điều quan trọng là pháp luật phải phản ánh đúng quy luật khách quan và nhu cầu XHCN, phù hợp với đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước và có thể thực hiện trong thực tế đời sống xã hội phát triển sinh động hiện nay Xây dựng pháp luật phải đúng theo thẩm quyền được quy định trong Hiến pháp Tránh quan điểm ban hành pháp luật không thiết thực, lấy chủ trương chính sách của Nhà nước thay cho pháp luật

- Tổ chức thực hiện pháp luật: Đây là khâu trung tâm, quan trọng nhất

của công tác tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa vì pháp chế và trật tự pháp chế XHCN chỉ hình thành khi mọi công dân hiểu, tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giải thích, giáo dục pháp luật cho mọi thành viên trong xã hội nhằm hình thành ý

Trang 26

thức pháp luật,là tiền đề tư tưởng cho việc xây dựng và thực hiện pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật;

xã hội hóa công tác thực hiện pháp luật; đổi mới bổ sung hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật Các

cơ quan Nhà nước phải thường xuyên tiến hành công tác kiểm tra, giám sát nhằm phát hiện, loại bỏ các hành vi không hợp pháp Kiểm tra, giám sát là trách nhiệm không chỉ của các cơ quan Nhà nước, mà còn của các tổ chức xã hội và mọi công dân Công tác kiểm tra, giám sát chấp hành pháp luật phải được đặc biệt coi trọng Phải quán triệt nguyên tắc dân chủ xã hội chủ nghĩa trong việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật

- Bảo vệ pháp luật: Để phát huy sức mạnh của mọi công dân trong việc

phòng ngừa, phát hiện, tố giác và xử lý vi phạm pháp luật trong các cơ quan Nhà nước và ngoài xã hội, cần xã hội hóa việc bảo vệ pháp luật

- Đổi mới tổ chức hoạt động của các cơ quan chuyên trách bảo vệ pháp

luật và các tổ chức hỗ trợ tư pháp trong việc bảo vệ pháp luật; xử lý mọi vi phạm pháp luật một cách kịp thời, nghiêm minh, nhanh chóng; kiểm tra, giám sát việc xử lý các vi phạm pháp luật

- Kiện toàn các cơ quan quản lý Nhà nước và tư pháp Muốn tăng

cường pháp chế xã hội chủ nghĩa cần kiện toàn các cơ quan này theo hướng gọn nhẹ, có chất lượng Kiện toàn, đổi mới một số vấn đề về chức năng, nhiệm vụ của hệ thống tư pháp, thiết lập cơ chế giám sát tính hợp hiến của luật, tính hợp pháp của các văn bản QPPL, ngăn chặn, xử lý đúng hiện tượng tham nhũng, lạm dụng quyền lực, giữ gìn trật tự an ninh xã hội

- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác tăng cường pháp chế Các cấp ủy Đảng từ Trung ương tới địa phương phải thường xuyên

lãnh đạo công tác pháp chế, kiểm tra chặt chẽ hoạt động thực hiện pháp

Trang 27

luật ở các cơ quan Nhà nước Tăng cường cán bộ có phẩm chất và năng lực

- Triết học định nghĩa: “Tổ chức nói rộng là cơ cấu của sự vật Sự vật

không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật” Nói cách khác thì sự vật luôn tồn tại dưới dạng tổ chức nhất định

- Nhân loại học khẳng định: từ khi xuất hiện loài người, tổ chức xã hội

loài người cũng đồng thời xuất hiện Tổ chức khi ấy không ngừng hoàn thiện

và phát triển cùng với sự phát triển của nhân loại Theo nghĩa đó, tổ chức là một tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó Như vậy tổ chức là một tập thể có mục tiêu, nhiệm vụ chung

- Y học cho rằng: trong sinh vật đơn bào, các tế bào đơn lẻ thực hiện tất

cả các chức năng sống, nó hoạt động một cách độc lập Tuy nhiên sinh vật đa bào có mức độ khác nhau của tổ chức cơ thể chúng Các tế bào cá nhân có thể thực hiện chức năng cụ thể và cũng làm việc cùng nhau vì lợi ích của toàn bộ

cơ thể Các tế bào trở nên phụ thuộc vào nhau Từ quan niệm của y học cho thấy tổ chức chỉ có ở sinh vật đa bào, các tế bào phụ thuộc vào nhau vì lợi ích chung Ngay trong những chuyên ngành khoa học có sự giao thao về phạm vi,

đối tượng nghiên cứu cũng có những cách tiếp cận khác nhau về “tổ chức”

- Theo Chester I Barnard thì: tổ chức là một hệ thống những hoạt động

Trang 28

hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức Ở đây muốn nhấn mạnh đến hai yếu tố là chủ thể và nguyên tắc hoạt động của tổ chức (sự kết hợp có ý thức của các chủ thể) khi nhận thức về khái niệm tổ chức

- Luật học (khoa học luật Dân sự) gọi tổ chức là pháp nhân để phân

biệt với thể nhân (là chủ thể của các quan hệ pháp luật Dân sự) Theo quy định tại điều 84 Bộ luật Dân sự thì một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau: “được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia vào các quan hệ pháp luật một cách độc lập” Luật học đã nhấn mạnh đến điều kiện thành lập tổ chức và các yêu cầu đảm bảo hoạt động của tổ chức

- Khoa học tổ chức và quản lý định nghĩa tổ chức với ý nghĩa hẹp:

“Tổ chức là tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm

vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó” Quan niệm về tổ chức theo khoa học tổ chức và quản lý có nhiều điểm tương đồng với luật học

Với cách tiếp cận và tư duy vô cùng đa dạng và phong phú về khái

niệm “Tổ chức” như vậy cần có tư duy biện chứng, kế thừa, không cứng nhắc, máy móc phù hợp với mục tiêu, yêu cầu nghiên cứu về khái niệm “Tổ chức”

Có thể hiểu: Tổ chức là tập hợp của con người trong xã hội có phạm vi,

chức năng,nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu xác định; được hình thành và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với quy định pháp luật nhằm gắn kết con người với nhau bởi những mục đích xác định và hành động để đạt tới mục tiêu chung

1.2.1.2 Phân loại tổ chức

- Phân loại theo mục tiêu hoạt động Mục tiêu hoạt động của tổ chức là

những điều cần đạt đến thông qua quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn

Trang 29

của tổ chức (tức là thông qua hoạt động của tổ chức).Mục tiêu hoạt động là

một trong những căn cứ để phân loại tổ chức, cụ thể là:

- Căn cứ vào mục tiêu lợi nhuận có thể phân loại tổ chức thành hai

nhóm: là các tổ chức hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận (Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, công ty…) và các tổ chức hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận (cơ quan Nhà nước, tổ chức hành chính, tổ chức phi Chính phủ…)

- Căn cứ vào mục tiêu ngắn hạn, trung hạn, dài hạn của thời gian thực

hiện nhiệm vụ có thể phân loại tổ chức thành các nhóm như:

Tổ chức được thành lập ra để thực hiện mục tiêu ngắn hạn (ban bầu

cử, ban kiểm phiếu; tổ hoặc ban thư ký kỳ họp, đại hội…)

Tổ chức được lập ra để thực hiện mục tiêu trung hạn (các tiểu ban chuẩn bị văn kiện đại hội của Đảng, các ban soạn thảo, tổ biên tập xây dựng mới, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật, đề án của Trung ương…)

Tổ chức được lập ra để thực hiện mục tiêu dài hạn (các tổ chức nghiên cứu chiến lược, nghiên cứu cơ bản)

- Theo mục tiêu hoạt động còn có thể phân loại thành các nhóm như:

Các tổ chức được thành lập với mục tiêu giúp người đứng đầu cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý Nhà nước:

vụ, cục, tổng cục, thanh tra…

Các tổ chức được thành lập với mục tiêu cung cấp dịch vụ công, phục

vụ quản lý Nhà nước bao gồm: các đơn vị nghiên cứu chiến lược, chính sách

về ngành, lĩnh vực; cơ quan báo chí; trung tâm thông tin hoặc tin học, học viện thuộc Bộ…

- Theo ngành, lĩnh vực hoạt động: Phân loại theo ngành, lĩnh vực hoạt

động là cách phân loại dựa trên hoạt động chuyên môn của các tổ chức Theo cách phân loại này, ta có các tổ chức thuộc các ngành, lĩnh vực khác nhau như: quốc phòng, an ninh, ngoại giao, xây dựng, y tế, giáo dục, lao động,

thương binh, xã hội, khoa học công nghệ

Trang 30

- Phân loại theo quy mô của tổ chức: Quy mô thực chất là mức độ rộng

lớn của tổ chức.Với ý nghĩa như vậy độ lớn của tổ chức được xem xét trên hai phương diện chính là phạm vi hoạt động và thẩm quyền của tổ chức Ngoài ra còn có các yếu tố khác như: cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ cấu tổ chức, nguồn tài chính, số lượng nhân lực… Căn cứ vào quy mô của tổ chức có thể phân loại

tổ chức thành các nhóm: các tổ chức có thẩm quyền chung, các tổ chức có

phạm vi hoạt động rộng, các tổ chức có thẩm quyền hoạt động chuyên môn

- Phân loại tổ chức theo các tiêu chí khác như: căn cứ theo nguyên tắc tổ

chức và giải quyết công việc, căn cứ vào quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm…

Như vậy, có rất nhiều tiêu chí phân loại tổ chức nhưng quan trọng vẫn là cách nhìn nhận phân loại tổ chức theo tiêu chí cụ thể nào để có thể phát huy được hết hiệu quả hoạt động của tổ chức theo đúng tiêu chí phân loại đó của tổ chức

1.2.2 Khái niệm Tổ chức pháp chế doanh nghiệp

Tổ chức pháp chế doanh nghiệp là bộ phận tư vấn, hỗ trợ lãnh đạo doanh nghiệp khắc phục những sai sót trong quá trình thực thi nhiệm vụ, là cầu nối giữa doanh nghiệp với các công ty luật, các tổ chức tư vấn pháp chế để tham kiến hoặc thuê tư vấn pháp luật khi những vấn đề vượt tầm kiểm soát nội bộ

Tại điều 2 Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng 7 năm 2011

quy định: “Tổ chức pháp chế là đơn vị chuyên môn, có chức năng tham mưu,

tư vấn cho hội đồng thành viên, hội đồng quản trị, chủ tịch công ty, tổng giám đốc, giám đốc doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến tổ chức, quản lý

và hoạt động sản xuất kinh doanh” [8, Điều 2] Bộ phận pháp chế là đơn vị

giữ vai trò tư vấn cho lãnh đạo các doanh nghiệp khi giải quyết những vấn đề

có liên quan đến pháp luật, nhằm đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật

1.2.3 Vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp Nhà nước

Nói đến “vai trò” là nói đến những “tác dụng, chức năng trong sự hoạt

động, sự phát triển của cái gì đó” [21, tr.1075] Như vậy, có thể hiểu “vai trò

Trang 31

của tổ chức pháp chế trong hoạt động của các doanh nghiệp” là vị trí, chức năng, tác dụng của tổ chức pháp chế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp

Các tổ chức pháp chế là công cụ sắc bén, hữu hiệu, là cơ quan tham

mưu về chính sách, pháp luật, là “tai mắt” giúp lãnh đạo theo dõi việc thực

hiện chính sách, pháp luật của doanh nghiệp Tổ chức pháp chế là một bộ phận của công tác tư pháp Mục tiêu đặt ra đối với công tác pháp chế là góp phần quản lý Nhà nước, quản lý xã hội có hiệu lực, hiệu quả

Vai trò của tổ chức pháp chế thể hiện trên ba phương diện:

- Tham mưu, tư vấn cho lãnh đạo doanh nghiệp trong việc xây dựng,

bổ sung, sửa đổi điều lệ doanh nghiệp, xây dựng và ban hành nội dung, quy chế của doanh nghiệp, kiến nghị với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung các VBQPPL có liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp

- Đại diện pháp lý cho doanh nghiệp: Tổ chức pháp chế thay mặt cho chủ doanh nghiệp tham gia giải quyết tranh chấp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người lao động; tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện pháp lý theo ủy quyền của chủ doanh nghiệp để bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp cho doanh nghiệp và người lao động

- Quản trị rủi ro cho doanh nghiệp: trong đó dự báo, đánh giá và kiểm soát rủi ro là quan trọng, đặc biệt là khi doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế bởi lợi nhuận càng cao rủi ro càng lớn

Bởi vậy, vai trò của tổ chức pháp chế doanh nghiệp vô cùng quan trọng nhằm dự báo, đánh giá, kiểm soát rủi ro trong môi trường đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp đảm bảo an toàn pháp lý trong hoạt động của mình

Trang 32

Lợi ích hàng đầu mà tổ chức pháp chế mang lại cho doanh nghiệp đó là bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp bởi lẽ trong kinh doanh lợi nhuận là yếu tố hàng đầu, nhưng để đạt được lợi nhuận một cách an toàn và hiệu quả mà không gặp rủi ro thì yếu tố an toàn pháp lý phải được đảm bảo Là bộ phận dẫn dắt doanh nghiệp trong hành lang pháp lý an toàn,

tổ chức pháp chế doanh nghiệp có thể giúp doanh nghiệp tự tin tiến bước trên

thương trường Về phương diện xã hội, đội ngũ “gác cổng” chuyên nghiệp

này còn giúp doanh nghiệp xây dựng được văn hóa tuân thủ pháp luật, góp phần bảo đảm pháp chế XHCN cũng như có ý thức học hỏi và tôn trọng luật pháp quốc tế trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Doanh nghiệp khi đã xây dựng được được đội ngũ cán bộ pháp chế vững mạnh thì vị thế doanh nghiệp được nâng lên trong các cuộc đàm phán với đối tác, nhất là với các đối tác nước ngoài Điều này còn là một khẳng định doanh nghiệp làm ăn đàng hoàng, minh bạch, luôn tuân thủ luật pháp và đáng tin cậy Chủ doanh nghiệp sẽ yên tâm về tất cả các hợp đồng, các hồ sơ, tài liệu bởi những rủi ro pháp lý đã được lường trước, giảm bớt và có thể được loại bỏ bởi sự thẩm định của cán bộ pháp chế

Tổ chức pháp chế cũng giúp doanh nghiệp tìm hiểu, nắm bắt kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để kịp thời tránh cho doanh nghiệp những thiệt hại không đáng có Như vậy có thể thấy việc doanh nghiệp

xây dựng cho mình một đội ngũ “thầy thuốc” chuyên chữa trị những căn bệnh

pháp lý cho chính doanh nghiệp là vô cùng cần thiết Pháp chế doanh nghiệp

là những người am hiểu pháp luật, cùng với việc cọ xát thực tế kinh doanh của doanh nghiệp giúp người quản lý có quyết sách đúng, triển khai hoạt động kinh doanh đúng pháp luật, hạn chế rủi ro Bộ phận pháp chế tham gia ngay ở giai đoạn đầu đối với tất cả các hợp đồng,ban hành quy chế công ty, nội quy công ty đều có bộ phận pháp chế tư vấn

Trang 33

Tổ chức pháp chế là bộ phận chuyên trách chuyển tải kiến thức pháp luật vào đời sống doanh nghiệp, từng bước mở rộng và nâng dần hệ thống tri thức pháp luật cho lãnh đạo doanh nghiệp và cán bộ, công nhân, viên chức của doanh nghiệp Điều này giúp doanh nghiệp tuân thủ pháp luật trên cơ sở chuyển biến ý thức, hành vi chấp hành pháp luật từ tự phát sang tự giác Xây dựng lòng tin của doanh nghiệp vào pháp luật khi pháp luật thực sự bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp, đảm bảo sự công bằng và tổ chức pháp chế hoạt động như một cầu nối giữa việc gắn thực thi pháp luật với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Tổ chức pháp chế doanh nghiệp với chức năng của mình giúp doanh nghiệp có sự chặt chẽ trong kinh doanh, đồng thời nắm bắt nhiều cơ hội kinh doanh, hạn chế rủi ro trong hoạt động của mình Những ý kiến tư vấn của pháp chế doanh nghiệp thực sự mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, tạo được

sự tín nhiệm của lãnh đạo

Với những Tập đoàn, Tổng công ty và những doanh nghiệp có quy mô lớn thì bộ phận pháp chế được thành lập do quy mô sản xuất ngày càng phát triển, phạm vi kinh doanh ngày càng mở rộng, nhiều hợp đồng hợp tác kinh doanh lớn có liên quan tới yếu tố nước ngoài, nhiều dự án đầu tư phải tiến hành đấu thầu quốc tế phải thuê các công ty luật, các công ty tư vấn giám sát

dự án đầu tư Hoạt động này ngày càng trở nên phổ biến khi nhiều doanh nghiệp đã gặp những rủi ro trong quá trình làm ăn với các đối tác nước ngoài

do thiếu hiểu biết về pháp luật, tập quán kinh doanh của mỗi quốc gia và thông lệ quốc tế Do đó, pháp chế doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong quá trình quản trị, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; vừa giúp lãnh đạo những vấn đề thuộc phạm vi pháp luật; vừa làm đầu mối quan hệ với các tổ chức tư vấn chuyên môn, tư vấn luật để đảm bảo về mặt pháp lý Mục tiêu chính của các doanh nghiệp khi thành lập ra tổ chức pháp chế là giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp luôn an toàn trong hành lang pháp lý

Trang 34

1.2.4 Nội dung của tổ chức pháp chế doanh nghiệp Nhà nước

1.2.4.1 Vị trí, chức năng

Tổ chức pháp chế doanh nghiệp là một bộ phận, hay một phòng hoặc ban thuộc doanh nghiệp được chủ doanh nghiệp thành lập theo quyền hạn của doanh nghiệp mình Bộ phận pháp chế là đơn vị giữ vai trò tư vấn cho lãnh đạo doanh nghiệp những vấn đề có liên quan đến pháp luật, nhằm đảm bảo tuân thủ đúng pháp luật Phạm vi hoạt động của tổ chức pháp chế bao gồm các đơn vị cùng cấp và các đơn vị trực thuộc Tổ chức pháp chế doanh nghiệp

có chức năng tham mưu giúp chủ doanh nghiệp trong tổ chức xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, tham mưu giúp Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc, Thủ trưởng các đơn vị những vấn đề pháp lý liên quan đến tổ chức, quản

lý và hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp

1.2.4.2 Nhiệm vụ, quyền hạn

Tại điều 7, Nghị định số 55/2011/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn và bộ máy của tổ chức pháp chế đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế ở các doanh nghiệp Nhà nước:

1 Chủ trì, phối hợp với các bộ phận liên quan tư vấn, giúp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp trong việc xây dựng, bổ sung, sửa đổi điều lệ của doanh nghiệp, xây dựng và ban hành nội quy, quy chế của doanh nghiệp, kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc đổi bổ sung văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp

2 Chủ trì hoặc tham gia soạn thảo các loại mẫu hợp đồng; có

ý kiến về mặt pháp lý và thẩm định dự thảo các hợp đồng do các bộ

Trang 35

phận khác của doanh nghiệp soạn thảo trước khi trình Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp; tham gia đàm phán ký kết hợp đồng

3 Chủ trì phối hợp các bộ phận liên quan giúp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty,Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp góp ý đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan, tổ chức gửi xin ý kiến; Tổng kết đánh giá pháp luật liên quan đến lĩnh vực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

4 Chủ trì hoặc phối hợp với các tổ chức đoàn thể của doanh nghiệp phổ biến, giáo dục pháp luật, điều lệ, nội quy, quy chế của doanh nghiệp cho người lao động

5 Chủ trì, phối hợp với các bộ phận liên quan giúp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp theo dõi, đôn đốc kiểm tra việc thực hiện pháp luật, điều lệ, nội quy, quy chế của doanh nghiệp; tổng kết, đánh giá thực trạng hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của người lao động trong doanh nghiệp

6 Tư vấn hoặc tham mưu việc thuê tư vấn pháp luật đối với các vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá rủi ro môi trường đầu tư, kinh doanh đối với các

dự án đầu tư của doanh nghiệp ra nước ngoài; có ý kiến về mặt pháp lý đối với các quyết định về tổ chức quản lý của doanh nghiệp

7 Chủ trì hoặc phối hợp với các bộ phận liên quan giúp Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp tham gia giải quyết tranh chấp để bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và của người lao

Trang 36

động; tham gia tố tụng hoặc tham mưu thuê luật sư tham gia tố tụng với tư cách người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp

8 Thực hiện các nhiệm vụ khác do Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp giao [8, Điều 7]

1.2.5 Sự cần thiết của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp

Hiện nay nước ta có khoảng trên 375.000 doanh nghiệp đăng ký và hoạt động theo luật doanh nghiệp, nhưng trên thực tế thì số lượng doanh

nghiệp hoạt động khác xa so với con số trên bởi có nhiều doanh nghiệp “ma”

hay doanh nghiệp hoạt động tự do không đăng ký kinh doanh và con số này không ngừng tăng lên Nhưng thực tế đáng buồn là sự quan tâm của doanh nghiệp đến pháp chế doanh nghiệp mới là điều đáng bàn

Khi Việt Nam hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, ngày càng có nhiều giao dich thương mại đa biên được ký kết giữa doanh nghiệp Việt Nam và các doanh nghiệp nước ngoài Điều này đồng nghĩa với việc những rủi ro pháp lý là điều có thể xảy ra Ngoài số lượng kiến thức pháp luật trong nước đồ sộ thì khi vươn ra thị trường quốc tế đòi hỏi doanh nghiệp phải có kiến thức cũng như sự hiểu biết nhất định về thị trường, truyền thống văn hóa mà đặc biệt là pháp luật của các nước đối tác và pháp luật quốc tế chung Khi vướng vào rủi ro pháp lý dù ít hay nhiều cũng gây cho doanh nghiệp nhiều bất lợi, thiệt hại và tổn thất không tính được bằng tiền đó chính

là “uy tín” của doanh nghiệp Để phòng và chống những rủi ro này, các doanh nghiệp cần có “áo giáp” để bảo vệ họ đó chính là bộ phận pháp chế

hay tổ chức pháp chế doanh nghiệp

Lợi ích hàng đầu mà tổ chức pháp chế mang lại cho doanh nghiệp đó là

Trang 37

bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp bởi lẽ trong kinh doanh lợi nhuận là yếu tố hàng đầu, nhưng để đạt được lợi nhuận một cách an toàn và hiệu quả mà không gặp rủi ro thì yếu tố an toàn pháp lý phải được đảm bảo Là bộ phận dẫn dắt doanh nghiệp trong hành lang pháp lý an toàn,

tổ chức pháp chế doanh nghiệp có thể giúp doanh nghiệp tự tin tiến bước trên

thương trường Về phương diện xã hội, đội ngũ “gác cổng” chuyên nghiệp

này còn giúp doanh nghiệp xây dựng được văn hóa tuân thủ pháp luật, góp phần bảo đảm pháp chế XHCN cũng như có ý thức học hỏi và tôn trọng luật pháp quốc tế trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Doanh nghiệp khi đã xây dựng được được đội ngũ cán bộ pháp chế vững mạnh thì vị thế doanh nghiệp được nâng lên trong các cuộc đàm phán với đối tác, nhất là với các đối tác nước ngoài Điều này còn là một khẳng định doanh nghiệp làm ăn đàng hoàng, minh bạch, luôn tuân thủ luật pháp và đáng tin cậy Chủ doanh nghiệp sẽ yên tâm về tất cả các hợp đồng, các hồ sơ, tài liệu bởi những rủi ro pháp lý đã được lường trước, giảm bớt và có thể được loại bỏ bởi

sự thẩm định của cán bộ pháp chế Tổ chức pháp chế cũng giúp doanh nghiệp tìm hiểu, nắm bắt kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để kịp thời tránh cho doanh nghiệp những thiệt hại không đáng có Như vậy có thể

thấy việc doanh nghiệp xây dựng cho mình một đội ngũ “thầy thuốc” chuyên

chữa trị những căn bệnh pháp lý cho chính doanh nghiệp là vô cùng cần thiết

Với những Tập đoàn, Tổng công ty và những doanh nghiệp có quy mô lớn thì bộ phận pháp chế được thành lập do quy mô sản xuất ngày càng phát triển, phạm vi kinh doanh ngày càng mở rộng, nhiều hợp đồng hợp tác kinh doanh lớn có liên quan tới yếu tố nước ngoài, nhiều dự án đầu tư phải tiến hành đấu thầu quốc tế phải thuê các công ty luật, các công ty tư vấn giám sát

dự án đầu tư Hoạt động này ngày càng trở nên phổ biến khi nhiều doanh nghiệp đã gặp những rủi ro trong quá trình làm ăn với các đối tác nước ngoài

Trang 38

do thiếu hiểu biết về pháp luật, tập quán kinh doanh của mỗi quốc gia và thông lệ quốc tế Do đó, doanh nghiệp rất cần thiết phải có một tổ chức pháp chế vừa giúp lãnh đạo những vấn đề thuộc phạm vi pháp luật, vừa làm đầu mối quan hệ với các tổ chức tư vấn chuyên môn, tư vấn luật để đảm bảo về mặt pháp lý Mục tiêu chính của các doanh nghiệp khi thành lập ra tổ chức pháp chế là giúp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp luôn an toàn trong hành lang pháp lý

Không chỉ có ở Việt Nam mà trên toàn thế giới, pháp luật là công cụ quan trọng nhất để quản lý và điều hành mọi lĩnh vực để phát triển đất nước Mỗi nước cần xây dựng một hệ thống pháp luật chặt chẽ, hoàn chỉnh, thực sự

đi vào đời sống kinh tế - xã hội và quan trọng hơn hết là sự tuân thủ tự giác, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của các chủ thể pháp luật Bởi vậy mọi công dân, doanh nghiệp Việt Nam cần hình thành nếp sống và làm việc tuân thủ pháp luật để có nền kinh tế - xã hội phát triển bền vững Pháp chế trong các doanh nghiệp không chỉ được hiểu đơn thuần là bộ phận bảo đảm thực thi các thiết chế pháp luật Với tốc độ làm luật, chất lượng làm luật và sự thay đổi của các văn bản pháp luật nói chung như hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn Nhưng hoạt động của doanh nghiệp không thể chờ bàn thảo mà phải giải quyết ngay, giải quyết liên tục thậm chí dù có điểm chưa phù hợp vẫn phải làm và tiếp tục hoàn thiện Có những vấn đề cần phải chuẩn bị trước thời gian

có hiệu lực theo hướng lộ trình mà luật đưa ra, cụ thể hóa văn bản luật vào thiết chế nội bộ của doanh nghiệp

Hiện nay, Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu, cho nên nhiều văn bản pháp lý có nhiều thay đổi cũng như có thể có nhiều cách hiểu khác nhau

Do đó những người làm luật, pháp chế tại Việt Nam phải có nhạy cảm thực tiễn để có thể tham mưu bảo vệ, phòng chống tốt nhất cho doanh nghiệp Sự cần thiết của pháp chế doanh nghiệp đã được Chính phủ khẳng định bằng việc

Trang 39

ban hành Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp Nhà nước, sau đó được thay thế bằng Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế Vấn đề này đã và đang được quan tâm ở các Tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước Thực tế không phải không có các doanh nghiệp Nhà nước chỉ coi pháp chế doanh nghiệp như

là “hình thức” song con số đó ngày càng giảm dần Sau các vụ kiện tụng liên

quan đến các hợp đồng thương mại có giá trị lớn mà nhiều doanh nghiệp Việt Nam có liên quan, lãnh đạo nhiều doanh nghiệp đã nhận thức rõ hơn về vai trò, sự cần thiết hay tầm quan trọng thực sự của tổ chức pháp chế doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp Nhà nước còn chủ động tham gia vào câu lạc bộ pháp chế doanh nghiệp để hiểu hơn về sự thay đổi trong cơ chế, chính sách của Nhà nước, để yêu cầu tư vấn Những điều này cho thấy vai trò pháp chế trong các doanh nghiệp Nhà nước nhất là các Tập đoàn, các Tổng công ty đã dần được coi trọng hơn trước Do đó những rủi ro pháp lý từ thực tiễn kinh doanh của các doanh nghiệp cũng được giảm dần

1.3 Khái niệm Doanh nghiệp, khái niệm, đặc điểm Doanh nghiệp Nhà nước

1.3.1 Khái niệm Doanh nghiệp

Hiện nay, trên phương diện lý thuyết có nhiều định nghĩa về doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang một nội dung nhất định với một giá trị nhất định Điều này cũng là đương nhiên vì mỗi tác giả đứng trên nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận doanh nghiệp để phát biểu Doanh nghiệp là thuật ngữ

có nguồn gốc từ lĩnh vực kinh tế học

Ở góc độ pháp lý: Theo điều 4, Luật Doanh nghiệp ban hành ngày 26

tháng 11 năm 2014 định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài

Trang 40

sản,có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [17, Điều 4]

Xét theo quan điểm luật pháp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tư

cách pháp nhân, có con dấu, có tài sản, có quyền và nghĩa vụ dân sự hoạt động kinh tế theo chế độ hạch toán độc lập, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh tế trong phạm vi vốn đầu tư do doanh nghiệp quản lý và chịu

sự quản lý của Nhà nước bằng các loại luật và chính sách thực thi

Xét theo quan điểm chức năng: Doanh nghiệp được định nghĩa như sau:

Doanh nghiệp là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy (M.Francois Peroux)

Xét theo quan điểm phát triển: Doanh nghiệp là một cộng đồng người

sản xuất ra những của cải Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được [9]

Xét theo quan điểm hệ thống: Doanh nghiệp bao gồm một tập hợp các

bộ phận được tổ chức, có tác động qua lại và theo đuổi cùng một mục tiêu Các bộ phận tập hợp trong doanh nghiệp gồm 4 phân hệ sau: sản xuất, thương mại, tổ chức, nhân sự

1.3.2 Khái niệm, đặc điểm doanh nghiệp Nhà nước

1.3.2.1 Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước

Theo Nghị định số 99/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ về phân công, phân cấp thực hiện các quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước (SOE) đã làm rõ khái niệm doanh nghiệp Nhà nước Theo đó doanh nghiệp Nhà nước là doanh

Ngày đăng: 22/03/2016, 20:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Pháp chế (2014), Báo cáo tổng kết công tác pháp chế tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản giai đoạn 2011-2014, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết công tác pháp chế tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản giai đoạn 2011-2014
Tác giả: Ban Pháp chế
Năm: 2014
2. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về chất lượng cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49 - NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về chất lượng cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
3. Bộ Tư Pháp và Bộ Nội Vụ (2005), Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT/BTP-BNV ngày 24 tháng 01 năm 2005 về mô hình tổ chức Pháp chế ở các doanh nghiệp Nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT/BTP-BNV ngày 24 tháng 01 năm 2005 về mô hình tổ chức Pháp chế ở các doanh nghiệp Nhà nước
Tác giả: Bộ Tư Pháp và Bộ Nội Vụ
Năm: 2005
4. C.Mác - Ph.Ăng ghen (1993), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C.Mác - Ph.Ăng ghen
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1993
5. Chính phủ (2004), Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2004 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2004 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2004
6. Chính phủ (2010), “Chuyên đề công tác pháp chế sau 6 năm triển khai thực hiện Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004”, Đặc san tuyên truyền pháp luật (12), Bộ Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề công tác pháp chế sau 6 năm triển khai thực hiện Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004”, "Đặc san tuyên truyền pháp luật
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
7. Chính phủ (2011), Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng 7 năm 2011 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng 7 năm 2011 quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2011
9. D.Larua.A Caillat (1992), Kinh tế doanh nghiệp, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kinh tế doanh nghiệp
Tác giả: D.Larua.A Caillat
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1992
10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Nghị quyết của Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba, khóa IX (tháng 9-2001), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba, khóa IX (tháng 9-2001)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2001
11. Nguyễn Minh Đoan (2005), “Bàn về Khái niệm và những yêu cầu của pháp chế XHCN”, Tạp chí Khoa học Pháp lý, (3), tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về Khái niệm và những yêu cầu của pháp chế XHCN”, "Tạp chí Khoa học Pháp lý
Tác giả: Nguyễn Minh Đoan
Năm: 2005
12. Nguyễn Văn Động (2010), Giáo trình Lí luận Nhà nước và pháp luật trường Đại học Luật Hà Nội, tr.423, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lí luận Nhà nước và pháp luật trường Đại học Luật Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Văn Động
Nhà XB: Nxb Công an Nhân dân
Năm: 2010
13. Khoa Luật - Đại học Quốc gia (2007), Giáo trình lý luận chung Nhà nước và pháp luật, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lý luận chung Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Khoa Luật - Đại học Quốc gia
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2007
14. Hoàng Phê (Chủ biên) (1992), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1992
15. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 1992
16. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hiến pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
17. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2014), Luật Doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2014
18. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Bộ Luật Dân sự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Luật Dân sự
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2015
19. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), Luật Doanh nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Doanh nghiệp
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2015
20. Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (2014), Tập san chuyên ngành, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tập san chuyên ngành
Tác giả: Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Năm: 2014
21. Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật, tr.510, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:  Kết  quả  hoạt  động  sản  xuất  kinh  doanh  giai  đoạn - Vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp thuộc tập đoàn công nghiệp than  khoáng sản việt nam
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn (Trang 8)
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản - Vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp thuộc tập đoàn công nghiệp than  khoáng sản việt nam
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản (Trang 47)
Sơ đồ 2.2: Tổ chức bộ máy quản lý của công ty mẹ (Vinacomin) trong Tập - Vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp thuộc tập đoàn công nghiệp than  khoáng sản việt nam
Sơ đồ 2.2 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty mẹ (Vinacomin) trong Tập (Trang 48)
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2012-2014 - Vai trò của tổ chức pháp chế trong các doanh nghiệp thuộc tập đoàn công nghiệp than  khoáng sản việt nam
Bảng 2.1 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh giai đoạn 2012-2014 (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w