2 Thông qua việc nghiên cứu lý luận, quy định pháp luật hiện hành, đề tài sẽ cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn, chỉ rõ nguyên nhân, để từ đó kiến nghị những giải pháp phù hợp nhằ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN HUYỀN TRANG
PH¸P LUËT VÒ B¶O §¶M QUYÒN CñA NG¦êI LAO §éNG
TRONG QU¸ TR×NH GI¶I QUYÕT Y£U CÇU
TUY£N Bè PH¸ S¶N DOANH NGHIÖP ë VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN HUYỀN TRANG
PH¸P LUËT VÒ B¶O §¶M QUYÒN CñA NG¦êI LAO §éNG
TRONG QU¸ TR×NH GI¶I QUYÕT Y£U CÇU
TUY£N Bè PH¸ S¶N DOANH NGHIÖP ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HỮU CHÍ
HÀ NỘI - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Trần Huyền Trang
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP 9
1.1 Phá sản và phá sản doanh nghiệp 9
1.2 Tác động của phá sản doanh nghiệp đến quyền lợi của người lao động 11
1.3 Sự cần thiết bảo đảm quyền của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp 12
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN 18
2.1 Nhóm quyền tham gia thủ tục phá sản 18
2.1.1 Thực trạng pháp luật 18
2.1.2 Thực tiễn thực hiện 22
2.2 Nhóm quyền liên quan đến quan hệ lao động 24
2.2.1 Thực trạng pháp luật 24
2.2.2 Thực tiễn thực hiện 28
Trang 52.3 Nhóm quyền lợi hậu phá sản 35
2.3.1 Thực trạng pháp luật 35
2.3.2 Thực tiễn thực hiện 36
2.4 Đánh giá chung về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện 38
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT YÊU CẦU TUYÊN BỐ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 40
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật 40
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật theo hướng dự báo 40
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật phù hợp với yêu cầu hội nhập và điều kiện kinh tế, xã hội của nước ta 41
3.1.3 Hoàn thiện pháp luật trên cơ sở dung hòa mối quan hệ giữa doanh nghiệp và người lao động 42
3.2 Các kiến nghị cụ thể 44
3.2.1 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành 44
3.2.2 Một số biện pháp bảo đảm và tổ chức thực hiện pháp luật 56
KẾT LUẬN 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT KÝ HIỆU VIẾT TẮT TÊN CỦA KÝ HIỆU VIẾT TẮT
4 LĐ-TB&XH Lao động – Thương binh và Xã hội
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Việt Nam đang trong quá trình tham gia hội nhập vào nền kinh tế thương mại thế giới, đánh dấu bằng một loạt các sự kiện tích cực: gia nhập và trở thành thành viên chính thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới- WTO song song với việc tiến hành ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương, đa phương: hiệp định đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương-TPP, Hiệp định thương mại tự do- FTA, ký kết thành lập cộng đồng chung ASEAN… Đồng nghĩa với việc đặt các doanh nghiệp Việt Nam vào một môi trường kinh doanh sôi động, chịu tác động một cách mạnh mẽ từ quy luật cạnh tranh, trong hoàn cảnh đó, các doanh nghiệp có cấu trúc giản đơn, không
đủ năng lực cạnh tranh sẽ dần dần dẫn tới “mất khả năng thanh toán” các khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh và đi đến phá sản
Khi doanh nghiệp phá sản, người lao động bị nợ lương, trợ cấp theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể… là nhóm chủ nợ có lực lượng khá đông đảo, là đối tượng bị thiệt hại thường xuyên và trước hết tại các doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, nhưng khả năng nhận thức và tự bảo vệ cho những quyền lợi bị xâm phạm của mình lại rất yếu ớt và hạn chế
Đến nay, pháp luật về phá sản doanh nghiệp và pháp luật về lao động
đã có những bước tiến lớn trong việc ghi nhận cũng như xây dựng các phương thức đảm bảo quyền của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp Tuy nhiên, vẫn tồn tại những quy định pháp luật chưa thực sự rõ ràng; giải quyết phá sản doanh nghiệp vẫn đang là một vấn đề mới mẻ, thực hiện bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp vẫn đang là một vấn
đề còn nhiều vướng mắc và nan giải
Trang 82
Thông qua việc nghiên cứu lý luận, quy định pháp luật hiện hành, đề tài
sẽ cung cấp những cơ sở lý luận và thực tiễn, chỉ rõ nguyên nhân, để từ đó kiến nghị những giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện pháp luật về việc ghi nhận và bảo đảm quyền của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết muốn làm sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn và kiến giải hoàn thiện pháp luật để có thể bảo vệ một cách tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp Để đạt được mục đích trên, đề tài có nhiệm
vụ như sau:
Pháp luật về bảo đảm quyền lợi người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp liên quan đến hai lĩnh vực: pháp luật lao động và pháp luật phá sản doanh nghiệp, bởi vậy, để có một cái nhìn đúng đắn và đầy đủ về vấn đề này, chắc chắn cần phải làm rõ một số nội dung liên quan đến phá sản doanh nghiệp, bao gồm các nội dung liên quan đến khái niệm phá sản, hậu quả của hiện tượng phá sản, vai trò điều chỉnh của luật phá sản… kết hợp đi sâu vào việc bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp trong pháp luật phá sản và lao động Nhiệm vụ này sẽ đi theo lộ trình:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về phá sản và vấn đề bảo vệ quyền lợi của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
- Tìm hiểu và nhận thức về thực trạng các quy định hiện hành và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật liên quan nhằm đảm bảo quyền lợi của người lao động trong quá trình thực hiện phá sản doanh nghiệp
Trang 93
- Trên cơ sở nhận thức về mặt lý luận kết hợp với nghiên cứu, phân tích các vụ việc cụ thể, đưa ra một số kiến nghị để hoàn thiện các quy định của pháp luật và biện pháp tổ chức thực hiện nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm các quyền tham gia thủ tục phá sản, quyền liên quan đến quan hệ lao động, quyền lợi hậu phá sản cả về lý luận và thực tiễn
Về mặt lý luận, pháp luật phá sản và pháp luật lao động là các lĩnh vực khá rộng, do vậy luận văn không đi sâu vào phân tích tất cả các nội dung liên quan đến phá sản doanh nghiệp hay lao động và pháp luật lao động nói chung Tuy nhiên, để đảm bảo tính logic và tính có hệ thống, luận văn vẫn cần đề cập tới một số nội dung có liên quan để làm rõ đề tài, dừng lại ở mức độ sơ lược
và khái quát
Về mặt thực tiễn, luận văn nêu ra các vụ việc điển hình, nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan để có thể đưa ra các kiến nghị chính xác, cụ thể nhằm giải quyết vấn đề đảm bảo quyền lợi của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Về mặt thời gian, xuất phát từ tình hình thực tế là nền kinh tế Việt Nam chúng ta đang trong quá trình chuyển đổi và hội nhập, việc đảm bảo quyền của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp gắn với việc ra đời của những quy phạm liên quan đến phá sản doanh nghiệp, do vậy luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 1993 trở lại đây, kể từ khi ban hành luật phá sản đầu tiên cho đến luật phá sản 2015 nhưng không nhằm mục đích so sánh các văn bản pháp luật phá sản
Trang 104
Về không gian, luận văn giới hạn việc tìm hiểu, so sánh ở mức độ nhất định với pháp luật của một số quốc gia điển hình như: Cộng hòa Pháp- đại diện cho hệ thống pháp luật Civil Law, Hoa Kỳ- điển hình của trường phái Common Law và Trung Quốc- một quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, cùng theo đuổi chủ nghĩa xã hội và có nhiều nét tương đồng với Việt Nam
4 Tình hình nghiên cứu đề tài
Phá sản, pháp luật về phá sản doanh nghiệp hay đảm bảo quyền lợi của người lao động là vấn đề không mới đối với hầu hết các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển Ở Việt Nam với đặc thù là nền kinh tế chuyển đổi, do đó phá sản, pháp luật phá sản hay bảo đảm quyền lợi của người lao động được khá nhiều học giả quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau về các vấn đề này đã ra đời:
- Về phá sản và pháp luật phá sản có một số công trình nghiên cứu như:
Luận văn thạc sĩ của tác giả Hà Minh Tú năm 2003 về “Nguyên nhân của
việc áp dụng hạn chế pháp luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam”; của tác giả Tạ
Văn Giang năm 2012 về “Điều hòa lợi ích giữa chủ nợ và con nợ thông qua
thủ tục phá sản”… Các công trình này đã nghiên cứu những vấn đề chung về
phá sản doanh nghiệp và pháp luật về phá sản doanh nghiệp, phân tích và so sánh những đặc điểm cơ bản của luật phá sản doanh nghiệp của Việt Nam và của một số nước trên thế giới, làm sáng tỏ những vấn đề chung về điều hòa lợi ích của chủ nợ và con nợ thông qua thủ tục phá sản, đưa ra những biện pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện luật phá sản doanh nghiệp, nâng cao hiệu lực pháp luật phá sản trong thực tiễn Do các đề tài này đi theo hướng nghiên cứu khác nên quyền lợi của người lao động khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chỉ mới được nghiên cứu ở mức độ sơ bộ, hầu như chỉ dừng lại ở quyền lợi như một trong các chủ nợ không có bảo đảm khác tức là các lợi ích về kinh tế nói chung chủ yếu là quyền được thanh toán tiền lương, trợ cấp
Trang 115
Cũng có công trình nghiên cứu khoa học khác đi sâu vào bảo vệ quyền lợi của người lao động chẳng hạn như luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thanh
Hải năm 2012: “Bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình cổ phần
hóa doanh nghiệp nhà nước” Công trình này đã làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận của việc bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, rút ra những nhận xét khoa học và đề xuất các giải pháp
cụ thể nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước- người lao động- người sử dụng lao động Tuy nhiên, bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình
cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản doanh nghiệp là hai trường hợp mang những nét đặc thù riêng, chịu
sự điều chỉnh của những quy phạm pháp luật riêng và do đó cần có những công trình nghiên cứu cụ thể để có thể giải quyết thấu đáo các nội dung trên hai mặt lý luận và thực tiễn
Qua khảo cứu các công trình tiêu biểu đã được công bố, cho đến hiện tại, trên phương diện nghiên cứu nói chung và với phạm vi luận văn thạc sĩ luật học nói riêng, đề tài bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp vẫn là một lĩnh vực khá mới mẻ và chưa
có nhiều công trình nghiên cứu khoa học đề cập tới Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về vấn đề đảm bảo quyền lợi của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản Cho đến nay chỉ
mới có sách tham khảo với tựa đề “Chính sách chế độ đối với lao động trong
doanh nghiệp phá sản và giải thể” của nhà xuất bản chính trị quốc gia, xuất bản
năm 1993 đề cập khá chính xác đến nội dung mà luận văn nghiên cứu, tuy nhiên cuốn sách chỉ mới dừng lại ở việc tập hợp các nghị định, thông tư của Chính
phủ về chính sách, chế độ đối với lao động trong các doanh nghiệp phá sản, giải thể chứ không đi sâu phân tích, nghiên cứu, đồng thời các nội dung được
Trang 126
tập hợp khá sớm kể từ khi pháp luật phá sản ở nước ta bước đầu được xây
dựng nên đến nay, các nội dung mới chưa được cập nhật đầy đủ
Việc bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp đã được ghi nhận trong pháp luật phá sản, pháp luật lao động, từ trước cho đến nay và đang dần được hoàn thiện hơn Tuy nhiên, do bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay vô cùng phức tạp và nảy sinh rất nhiều vấn đề liên quan đến quyền lợi của người lao động mà chưa được giải quyết một cách triệt để Với tư cách là một công cụ kiểm soát và điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội, pháp luật phải nhanh chóng hoàn thiện và tiên liệu được các vấn đề có thể xảy ra nhằm giảm thiểu các rủi ro, nguy cơ ảnh hưởng xấu đến kinh tế, xã hội
Pháp luật về bảo đảm quyền của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn chưa thực sự bao quát được tất cả các vấn đề nảy sinh, còn tồn tại nhiều thiếu sót, chưa thống nhất giữa quy định và thực tiễn áp dụng vì vậy chưa thể là công cụ vững chắc để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động trong khi luật lao động lại chưa
đủ sức điều chỉnh quan hệ này
Trên cơ sở đó, luận văn nhằm mục đích phân tích các quy định về đảm bảo quyền lợi của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, nhìn nhận vào các hệ quả, những sự việc có thật trong thực tiễn để từ đó đánh giá và kiến nghị những giải pháp phù hợp
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới nhằm xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 137
Luận văn vận dụng những phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, áp dụng vào tình hình cụ thể của nước ta Các phương pháp nghiên cứu truyền thống trong khoa học pháp lý cũng được đặc biệt chú
ý sử dụng trong luận văn như: phương pháp phân tích, tổng hợp các kiến thức
từ pháp luật thực định, phân tích thực tiễn để nhận thức, đánh giá thực trạng điều chỉnh pháp luật và thực thi pháp luật; phương pháp so sánh luật học, phương pháp đối chiếu, diễn giải, quy nạp, lịch sử, xã hội học pháp luật, suy diễn logic để giải quyết những vấn đề cơ bản của luận văn
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên ở cấp thạc sĩ luật học nghiên cứu tương đối cụ thể và có hệ thống một số vấn đề lý luận, thực tiễn pháp luật
về bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam
Nhận thức chung nhất về quyền của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp trên hai phương diện lý luận và thực tiễn, xem xét quyền lợi của người lao động từ góc độ đặt trong mối quan
hệ lao động chứ không phải là bất kỳ một quan hệ xã hội nào khác
Phân tích, đánh giá trên cơ sở đối chiếu các quy định pháp luật với thực tiễn áp dụng, tìm ra những bất cập trong các quy định về bảo đảm quyền của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam
Qua nghiên cứu về lý luận, thực trạng pháp luật trong nước, kết hợp nghiên cứu kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của một số quốc gia trên thế giới, và thực tiễn áp dụng pháp luật, luận văn đưa ra một số kiến giải nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam
Trang 148
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu thành 3 chương, bao gồm:
- Chương 1: Khái quát chung về phá sản doanh nghiệp và bảo đảm
quyền lợi người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền lợi người lao động
trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện
- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm bảo đảm quyền lợi người lao động
trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam
Trang 15Một doanh nghiệp sẽ bị coi là lâm vào tình trạng phá sản khi hội đủ những yếu tố căn cứ nhất định, tòa án có thể dựa trên những căn cứ đó để tuyên bố doanh nghiệp phá sản kéo theo hàng loạt hậu quả sau đó, tuyên bố này có thể gây ảnh hưởng xấu thậm chí chấm dứt luôn hoạt động kinh doanh của con nợ, ảnh hưởng đến uy tín, ảnh hưởng đến cả tài sản của doanh nghiệp
đó Rõ ràng, việc phá sản sẽ gây hại trực tiếp cho doanh nghiệp đó, ảnh hưởng đến các chủ nợ, lớn hơn là ảnh hưởng đến cả nhà nước, ảnh hưởng đến nền kinh tế, do đó nếu không có những cơ sở chắc chắn và quan điểm đúng đắn về định nghĩa phá sản thì có thể để lại những hậu quả vô cùng to lớn
Hiện tượng phá sản vốn đã được định nghĩa từ rất sớm Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế, “chế định phá sản được hoàn chỉnh và đã được
nâng lên thành luật phá sản của nhà nước La Mã cổ đại” [14] Ở thời kỳ này,
thuật ngữ phá sản đã được hình thành, bắt nguồn từ chữ “ruin” trong tiếng Latinh - có nghĩa là sự khánh tận - tức là mất khả năng thanh toán
Trang 1610
Đến nay, hiện tượng phá sản đã trở nên phổ biến, các nhà nước thông qua việc thực hiện chức năng quản lý của mình đã can thiệp sâu hơn vào quy trình giải quyết hiện tượng phá sản doanh nghiệp Ở mỗi quốc gia do điều kiện kinh tế xã hội khác nhau nên có các quan niệm tương đối khác nhau trong việc định nghĩa về phá sản
Theo định nghĩa luật mất khả năng thanh toán năm 2002 của Cộng hòa liên bang Nga thì thương nhân bị coi là lâm vào tình trạng phá sản nếu có đủ hai yếu tố mất khả năng thanh toán nợ đến hạn và chậm thanh toán: nếu sau
03 tháng, kể từ ngày đến hạn phải trả mà họ không trả được các món nợ và
tình trạng phá sản là “tình trạng con nợ không có khả năng thỏa mãn một
cách đầy đủ các yêu cầu của chủ nợ đối với các nghĩa vụ trả tiền hoặc các món nợ bắt buộc phải trả khác” [8, tr 97]
Một số nước bổ sung thêm yếu tố định lượng vào khái niệm tình trạng phá sản chẳng hạn như quy định việc con nợ không thể thanh toán được một khoản tiền tối thiểu nào đó nhằm khuyến khích các chủ nợ và con nợ tự giải quyết tranh chấp có quy mô nhỏ bằng những hình thức khác giúp tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc cho các đương sự và nhà nước: luật phá sản của Singapore năm 1999 quy định con nợ sẽ bị áp dụng thủ tục phá sản khi không trả được nợ đến hạn ít nhất là 5.000 đô la Singapore [27], luật phá sản của Singapore năm 2015 nâng mức này lên 15.000 đô la Singapore [28], còn trong luật phá sản Mỹ thì số tiền này phải trên 10.000 đô la Mỹ [31]
Ở Việt Nam, các nhà lập pháp ở các thời kỳ lịch sử khác nhau cũng có cùng một quan điểm về tình trạng phá sản như ở nhiều nước trên thế giới Thuật ngữ “phá sản” được biết đến từ thời kỳ Pháp thuộc và theo cách nói thông thường, phá sản là tình trạng của một người bị vỡ nợ không còn bất cứ tài sản nào để trả các khoản nợ đến hạn
Trang 1711
Tóm lại, pháp luật hầu hết các nước trên thế giới đều coi phá sản là tình trạng người mắc nợ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền (tòa án) tuyên bố phá sản và thực hiện thanh toán cho các chủ nợ theo thủ tục pháp luật phá sản quy định trên tổng giá trị tài sản còn lại của con nợ
Pháp luật phá sản là hệ thống các quy phạm pháp luật quy định về điều kiện mở thủ tục phá sản; địa vị pháp lý, mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia thủ tục phá sản; trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản; điều kiện áp dụng thủ tục phục hồi hoặc thanh lý tài sản doanh nghiệp; thi hành quyết định tuyên bố phá sản; các vấn đề khác phát sinh trong quá trình giải quyết vụ việc phá sản
Phá sản là hiện tượng tất nhiên, cần thiết cho nền kinh tế thị trường Pháp luật phá sản chính là sự can thiệp có ý thức của nhà nước vào hiện tượng phá sản nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực và khai thác những mặt tích cực của nó
Pháp luật phá sản hiện nay đi theo hướng bảo vệ các nhóm quyền lợi: trật tự kinh tế- xã hội, khẳng định vai trò của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ nói chung, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, quyền lợi hợp pháp của con nợ [9, tr 23]
1.2 Tác động của phá sản doanh nghiệp đến quyền lợi của người lao động
Với cách hiểu phá sản doanh nghiệp là hiện tượng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn của các doanh nghiệp, trong nhiều trường hợp, một con nợ thường có rất nhiều chủ nợ, đến thời điểm con nợ mất khả năng thanh toán thì tổng giá trị tài sản còn thường nhỏ hơn tổng giá trị các khoản
nợ, do vậy, tài sản còn lại của con nợ không đủ để thanh toán hết cho các
Trang 1812
nghĩa vụ, việc không được thanh toán đầy đủ giá trị các khoản nợ sẽ ảnh hưởng một cách trực tiếp đến quyền lợi của các chủ nợ
Có thể thấy rằng đời sống của người lao động sẽ có nguy cơ hoặc thực
sự bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi không được trả lương, phụ cấp theo hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể đầy đủ và đúng thời hạn, không được giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), trợ cấp thất nghiệp… do doanh nghiệp phá sản nợ đọng quỹ BHXH, và đáng
lo ngại nhất là tình trạng thất nghiệp hậu phá sản
Bên cạnh đó, hiện tượng phá sản cũng là hiện tượng mang tính chất dây chuyền, doanh nghiệp này phá sản đồng thời kéo hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp chủ nợ đi xuống thì không chỉ lao động của doanh nghiệp phá sản mà ngay cả lao động của doanh nghiệp chủ nợ cũng phải chấp nhận rủi ro chấm dứt hợp đồng lao động nhằm giảm chi phí nhân sự Số lượng lao động thất nghiệp tăng lên đồng nghĩa tệ nạn xã hội cũng tăng lên, nền kinh tế chung của quốc gia đi xuống, đời sống của công dân nước đó cũng không được đảm bảo…
1.3 Sự cần thiết bảo đảm quyền của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp
Quyền của người lao động là vấn đề có ý nghĩa rất lớn cả về lý luận và thực tiễn không chỉ đối với cá nhân, tập thể người lao động, mà còn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước, dân tộc
và toàn nhân loại Quyền của người lao động là những quyền liên quan đến người lao động và người sử dụng lao động, phát sinh trong quá trình sử dụng lao động, hay nói cách khác, quyền của người lao động nằm trong mối quan
hệ lao động Các quyền của người lao động được ghi nhận trong các Điều ước quốc tế như: Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền; Công ước quốc tế về
Trang 1913
các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và các khuyến nghị của tổ chức Lao động Quốc tế Các quyền của người lao động mặc dù được ghi nhận trong các văn bản pháp lý quốc tế, nhưng đó chỉ là sự ghi nhận mang tính nguyên tắc chung Các quyền trong lĩnh vực lao động còn được ghi nhận và bảo vệ bởi rất nhiều văn kiện do tổ chức Lao động Quốc tế khởi xướng
Theo các văn bản này, quyền của người lao động gồm các quyền: quyền làm việc, quyền công đoàn độc lập, quyền không bị ép làm việc không lương, quyền nam nữ hưởng lương bằng nhau, quyền không bị phân biệt đối
xử, quyền không bị phân biệt đối xử nếu có con cái, quyền được giúp đỡ và
có việc làm thích hợp nếu bệnh tật, quyền được đào tạo, bồi dưỡng có ăn lương, quyền không bị đuổi việc, quyền được trả lương bằng tiền, quyền hưởng lương trên hoặc bằng mức tối thiểu, quyền được trả lương nếu chủ sử dụng lao động bị phá sản…
Qua nghiên cứu các văn bản pháp luật quốc tế có thể thấy rằng, các quyền của người lao động là một trong những quyền hết sức quan trọng của con người thuộc nhóm các quyền về kinh tế, xã hội và văn hóa Các quyền của người lao động có vai trò quan trọng đối với người lao động hoặc tập thể người lao động Các quyền này không chỉ được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc tế (tuyên ngôn, công ước, khuyến nghị), mà còn được cụ thể hóa và quy định trong các văn bản pháp luật quốc gia như Hiến pháp, bộ luật, luật và được thể hiện dưới hai khía cạnh là quyền và nghĩa vụ, bởi để bảo đảm các quyền của người lao động các quốc gia buộc phải ban hành các quy định
về nghĩa vụ thông qua việc ban hành các chính sách, chương trình để thúc đẩy việc thực hiện các quyền của người lao động, đồng thời phải đưa ra các quy định mang tính chế tài xử lý khi các quyền này bị xâm phạm
Trang 2014
Quyền của người lao động trong hoàn cảnh doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản từ trước đến nay vẫn được các văn bản pháp luật chuyên ngành phá sản và lao động của các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm điều chỉnh bởi khi doanh nghiệp phá sản thì sẽ làm cho khối lượng lớn người lao động bị thất nghiệp, nhu cầu về việc làm cũng trở nên cấp thiết, việc làm không ổn định, không thường xuyên và phù hợp dẫn tới thu nhập bấp bênh, cuộc sống không đảm bảo, tệ nạn và tội phạm xã hội tăng đáng kể, đồng nghĩa với việc tăng gánh nặng đối với kinh tế, xã hội của quốc gia, khu vực
Đảm bảo quyền lợi của người lao động chính là một bước trong tiến trình xây dựng, phát triển nền kinh tế bởi ở bất kỳ một đất nước nào, lực lượng lao động luôn đông đảo chiếm đa số đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển Người lao động có thể là cán bộ, nhân viên làm công tác quản lý, những công nhân, thợ kỹ thuật… họ có ở khắp mọi nơi, làm việc để có được thu nhập (bao gồm tiền lương, tiền thưởng, các chế độ an sinh…) nhằm mục đích đảm bảo cuộc sống của mình và đóng thuế cho nhà nước bằng nhiều hình thức, họ chính là lực lượng tạo ra và cũng chính là lực lượng tiêu thụ hàng hóa trên thị trường, thúc đẩy nền kinh tế phát triển cũng bằng nhiều cách
Tuỳ theo chế độ chính trị - xã hội và định hướng mà pháp luật từng quốc gia trên thế giới theo đuổi, quan điểm của nhà nước trong việc ưu tiên bảo vệ lợi ích của nhóm chủ thể nào mà chức năng bảo vệ các nhóm quyền lợi của pháp luật phá sản có những quy định mang tính đặc thù Trong pháp luật phá sản hiện đại, vấn đề bảo vệ quyền lợi người lao động được đặc biệt quan tâm Khẳng định quyền của người lao động trong thủ tục phá sản cũng chính
là tôn trọng nhân quyền, mục đích mà bất kỳ một đất nước văn minh nào nói riêng và nhân loại tiến bộ hiện nay đều đang hướng tới Pháp luật của hầu hết các nước đều ghi nhận quyền của người lao động trong suốt quá trình tố tụng
và bình đẳng với các chủ nợ khác bởi việc đảm bảo quyền của họ là thực sự
Trang 2115
cần thiết Pháp luật phá sản ở một số nước theo chủ nghĩa xã hội và đang phát triển như Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhóm người lao động, là những thành phần yếu thế nhưng lại đóng vai trò chủ chốt trong xã hội và nền kinh tế, quyền lợi của họ lại càng đặc biệt được bảo vệ
Quyền lợi của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên
bố phá sản doanh nghiệp ngày càng được phát triển và thừa nhận một cách rộng rãi, thể hiện ở các quyền như: quyền được nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong trường hợp doanh nghiệp không trả lương, các khoản nợ khác; quyền tham gia hội nghị chủ nợ, quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp; quyền giám sát doanh nghiệp được áp dụng thủ tục phục hồi, quyền được ưu tiên thanh toán nợ lương và các khoản tiền hợp pháp khác… Ngoài ra, cơ chế phục hồi của doanh nghiệp cũng là một chế định có mục đích bảo vệ quyền lợi người lao động, vì nếu doanh nghiệp có thể phục hồi được thì người lao
động cũng thoát khỏi tình trạng thất nghiệp về sau
Pháp luật phá sản nước nào trên thế giới cũng quy định các quyền để họ
có thể tham gia tự bảo vệ lợi ích của mình Cần nhận thấy rằng khi một doanh nghiệp “mất khả năng thanh toán” các khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh thì người lao động bị nợ lương, phụ cấp khác theo hợp đồng lao động
sẽ vừa là chủ nợ và cũng sẽ là nạn nhân Cơ sở đầu tiên để họ thực hiện quyền của mình, dù là ở tư cách nào đi nữa, trước hết vẫn là quyền nộp đơn lên cơ quan tư pháp có thẩm quyền, cụ thể là Tòa án
Hiện nay, pháp luật phá sản thế giới phân chia chủ nợ thành ba loại: chủ
nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm Pháp luật cho phép các chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần
có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, áp dụng
Trang 2216
thủ tục thanh lý toàn bộ tài sản còn lại của doanh nghiệp để trả nợ cho các chủ
nợ Người lao động trong trường hợp này sẽ có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp với tư cách là chủ nợ không có bảo đảm
Người lao động có thể trực tiếp hoặc thông qua đại diện của chính mình tham gia hội nghị chủ nợ với tư cách là chủ nợ không có bảo đảm, gián tiếp giám sát thủ tục phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc thủ tục thanh lý tài sản của doanh nghiệp phá sản thông qua quản tài viên Nhóm quyền lợi này có thể tạm gọi là quyền tham gia thủ tục phá sản Người lao động cũng như các chủ nợ khác trong hội nghị chủ nợ, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến lợi ích của mình, có quyền thông qua hay không thông qua kế hoạch phục hồi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, quyết định sự tồn tại hay không tồn tại của con nợ
Ngoài ra, cũng cần đặc biệt lưu ý về quyền liên quan đến quan hệ lao động, đặc biệt là quyền được thanh toán tiền lương trong doanh nghiệp phá sản bởi đây là một vấn đề phức tạp bao gồm nội dung nghĩa vụ thanh toán như tiền lương, phụ cấp, trợ cấp thôi việc… quyền ưu tiên thanh toán: được thanh toán sau các chủ nợ có bảo đảm… Về lý thuyết, rất khó để tìm thấy bất
cứ ý kiến nào phản đối quan niệm người lao động được bồi thường tiền lương
và các quyền lợi khác mà họ đáng được hưởng khi doanh nghiệp phá sản
Nhưng về thực tế thì “người lao động thường là chủ nợ tiếp xúc nhiều nhất
với doanh nghiệp phá sản nhưng họ không thể đánh giá được nguy cơ phá sản của doanh nghiệp như các đối tượng chủ nợ khác” [26, tr.1], sau khi
doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ thường không còn tài sản để thực hiện nghĩa vụ với người lao động
Hậu phá sản doanh nghiệp, vấn đề đặt ra cấp bách nhất là quyền có việc
Trang 2317
làm Đây là yếu tố cơ bản để bảo đảm sự tồn tại thực tế của con người, đồng thời cũng là yếu tố để bảo đảm nhân phẩm và lòng tự trọng của người lao động Quyền có việc làm được coi là quyền hiến định trong pháp luật quốc tế,
cụ thể, Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 ghi nhận: “Mọi
người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm ” [30, Điều 23]; Công
ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội cũng xác định các yếu tố của “quyền có việc làm” [25, Điều 6] So với quyền của người lao động khi doanh nghiệp phá sản, quyền có việc làm hẹp hơn, tuy nhiên, đây lại là một quyền cơ bản nhất, quan trọng nhất trong lĩnh vực lao động việc làm và hậu phá sản Quyền có việc làm chính là tiền đề, điều kiện quan trọng để thực hiện các quyền khác của người lao động nói riêng và các quyền của con người nói chung, như quyền về nhà ở, quyền về giáo dục, văn hoá Chỉ khi quyền có việc làm được đảm bảo thực hiện, thì các quyền khác của con người mới có ý nghĩa Luật việc làm 2013 của Việt Nam đã bước đầu thể hiện sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề này
Trang 2418
Chương 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN LỢI
NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT YÊU CẦU
TUYÊN BỐ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
Nền kinh tế nước ta đang chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của các quy luật trong nền kinh tế thị trường như quy luật cạnh tranh, quy luật cung- cầu, không chỉ các doanh nghiệp sử dụng lao động mà chính người lao động cũng lao đao để tìm chỗ đứng và tồn tại Trong bối cảnh đó, Đảng và nhà nước ta
đã xác định mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, phát
huy nhân tố vì con người, trước hết là người lao động “Phát triển, nâng cao
chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và coi đây
là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước” [5, tr 41], phải tăng cường bảo vệ người lao động, trọng tâm là các
doanh nghiệp Có thể thấy bảo vệ người lao động đã trở thành một nguyên tắc
cơ bản và quan trọng trong chủ trương xây dựng pháp luật lao động hiện hành, đồng thời được ghi nhận một cách nghiêm túc trong pháp luật phá sản Việt Nam xuyên suốt từ trước đến nay Bảo đảm quyền lợi của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam được thể hiện trong quá trình xây dựng, ban hành và thực hiện pháp luật trên phương diện ba nhóm quyền:
2.1 Nhóm quyền tham gia thủ tục phá sản
2.1.1 Thực trạng pháp luật
- Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp
Khi doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ trả lương và các khoản nợ khác cho người lao động đúng hạn, người lao động được coi như chủ nợ không
Trang 2519
có bảo đảm và có các quyền và nghĩa vụ như chủ nợ không có bảo đảm
Nhằm thể hiện sự quan tâm của nhà nước đối với người lao động, luật phá sản của các nước cũng như tại Việt Nam đều ghi nhận quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của người lao động Khi doanh nghiệp hoặc mất khả năng thanh toán tiền lương và các loại trợ cấp cho người lao động hoặc chậm thanh toán sau một khoảng thời gian nhất định kể từ ngày đến hạn thanh toán thì người lao động có thể buộc doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể bằng cách nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết
Luật phá sản Việt Nam trước đây quy định người lao động không được
tự nộp đơn mà phải cử người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn Cơ chế cử người đại diện được quy định khá phức tạp gây ra nhiều khó khăn cho người lao động, hạn chế và gần như vô hiệu hoá quyền nộp đơn của người lao động trong doanh nghiệp
Hiện nay, quyền của người lao động trong thủ tục phá sản ngày càng được khuyến khích và tăng cường hơn nữa, luật phá sản năm 2014 quy định không chỉ đại diện tập thể người lao động là công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở mà chính người lao động cũng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản nếu hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp không thực hiện nghĩa
vụ thanh toán
Trên quan điểm tạo điều kiện và khuyến khích người lao động đứng ra
tự bảo vệ cho quyền lợi của mình, luật phá sản Việt Nam khẳng định người lao động, đại diện người lao động khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản
Trang 2620
không phải nộp lệ phí, án phí phá sản theo quy định của pháp luật về án phí,
lệ phí tòa án nhân dân (TAND) như các đối tượng chủ nợ khác
Việc người lao động có thể trực tiếp nộp đơn yêu cầu tham gia thủ tục phá sản được coi như một sự tiến bộ nhằm giúp người lao động bị nợ lương thực hiện quyền của mình một cách dễ dàng hơn nhưng khi thực hiện chắc chắn sẽ gây khó khăn cho các bên bởi quy định tại các văn bản còn chưa rõ ràng Nếu nhiều người lao động cùng nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp thì sẽ khiến cho tình hình trở nên phức tạp
- Quyền tham gia hội nghị chủ nợ
Ngoài việc quy định cho người lao động có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, luật phá sản của Việt Nam cũng đi theo xu hướng của pháp luật phá sản nhiều nước, coi người lao động là đối tượng thuộc nhóm chủ nợ không có bảo đảm, được quyền tham gia quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp, trao cho người lao động hoặc đại diện người lao động quyền tham gia hội nghị chủ nợ, có quyền đưa ra ý kiến, thảo luận và thông qua các nội dung liên quan đến việc giải quyết quyền lợi của mình, thỏa thuận áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh hay áp dụng thủ tục tuyên bố phá sản, thanh lý tài sản
để thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán
bị mở thủ tục phá sản
Trong khi hiểu biết và nhận thức của người lao động còn hạn chế, nhiều trường hợp người lao động thực sự cần đến cơ chế ủy quyền, cần được đại diện công đoàn đứng ra thay mặt đòi quyền lợi cho mình thì các văn bản luật và dưới luật liên quan lại không quy định rõ về vấn đề cử đại diện Nếu lại cử đại diện trong điều kiện thiếu hướng dẫn cụ thể, thì chẳng khác nào lại tiếp tục đi theo nội dung của luật phá sản cũ, làm cho các bên lúng túng khi
Trang 2721
tham gia tố tụng trong khi người lao động cũng là thành viên của hội nghị chủ nợ, mà ý kiến của hội nghị chủ nợ vô cùng quan trọng đối với sự sống còn của doanh nghiệp
- Quyền giám sát các tài sản của doanh nghiệp phá sản
Luật phá sản 2014 quy định trong quá trình áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh hay thủ tục phá sản, thanh lý tài sản, đại diện người lao động nói riêng và hội nghị chủ nợ nói chung được quản tài viên, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản doanh nghiệp thông báo về tình trạng tài sản của con nợ Thông qua đó, thực hiện quyền được giám sát khoản nợ của mình nhưng không làm mất trật tự và ảnh hưởng đến quyền lợi của con
nợ, quyền lợi các chủ nợ khác…
Quyền này không được quy định một cách trực tiếp và người lao động hay đại diện người lao động cũng không trực tiếp quản lý tài sản của con nợ Người lao động hoặc đại diện người lao động thực hiện quyền giám sát này thông qua quản tài viên hay doanh nghiệp thanh lý, quản lý tài sản Định kỳ theo một thời hạn nhất định, quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản báo cáo về tình hình tài sản của con nợ lên đại diện cơ quan có thẩm quyền giải quyết thủ tục phá sản và các chủ nợ để các bên được biết
- Quyền quyết định áp dụng thủ tục phục hồi hay thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp
Cùng với việc ghi nhận quyền tham gia hội nghị chủ nợ, người lao động và đại diện người lao động có quyền tham gia bỏ phiếu, thể hiện ý kiến
và thực hiện quyền quyết định nên áp dụng thủ tục phục hồi hay thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán Nghị quyết của hội nghị chủ nợ chính là cơ sở nền tảng cho việc cơ quan có thẩm quyền ra quyết định phục hồi hay phá sản doanh nghiệp, là cơ sở quyết định sự sống còn
Trang 2822
của doanh nghiệp
- Quyền giám sát thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh
Tương tự như quyền giám sát tài sản của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, người lao động, đại diện người lao động nói riêng hay hội nghị chủ nợ nói chung cũng không được phép trực tiếp tham gia hoạt động quản lý, giám sát doanh nghiệp thực hiện phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản sẽ thực hiện giám sát trực tiếp hoạt động phục hồi sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thực hiện báo cáo định kỳ kết quả hoạt động này cho đại diện cơ quan có thẩm quyền và hội nghị chủ nợ
- Quyền tham gia thủ tục phá sản và thanh lý tài sản doanh nghiệp
Khi hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh của con nợ, đại diện cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ nghị quyết của hội nghị chủ nợ để tuyên bố phá sản doanh nghiệp và tiến hành thanh lý tài sản của doanh nghiệp đó Trong suốt quá trình này, hội nghị chủ nợ đương nhiên có cả đại diện người lao động được triệu tập, tham gia và được biết các thông tin liên quan đến quyền lợi của mình
2.1.2 Thực tiễn thực hiện
Việc áp dụng các quy định của pháp luật phá sản và pháp luật lao động vào thực tiễn, quyền lợi của người lao động trong quá trình giải quyết yêu cầu thủ tục phá sản doanh nghiệp mặc dù còn rất nhiều khó khăn nhưng cũng có nhiều chuyển biến tích cực, khẳng định chủ trương nhất quán của nhà nước là bảo vệ quyền lợi của người lao động trong thực hiện tố tụng phá sản
Nếu như trước đây, người lao động chưa ý thức về địa vị pháp lý của mình trong thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, thường chịu thiệt thòi
Trang 29Hiện nay, người lao động dưới sự hướng dẫn của tổ chức công đoàn đã
tự ý thức được những quyền lợi mà mình được hưởng khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, điều này khiến việc giải quyết quyền lợi cho họ trở nên chủ động và dễ dàng hơn trước đây
Bên cạnh đó, từ luật phá sản 2004 trở về trước chưa làm rõ được nhiều nội dung, do đó đảm bảo quyền tham gia thủ tục tố tụng phá sản của người lao động trong thực tiễn gặp nhiều khó khăn, chẳng hạn như:
Quy định về quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là một rào cản lớn, chẳng khác nào đánh đố với người lao động bị nợ lương Bởi việc
người lao động muốn “cử người đại diện hoặc thông qua đại diện công
đoàn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó” [15, Điều 14] thì phải được quá nửa số người lao động trong doanh
nghiệp tán thành bằng bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ kí, trường hợp doanh nghiệp
có quy mô lớn, có nhiều đơn vị trực thuộc thì đại diện cho người lao động được cử hợp pháp phải được quá nửa số người được cử đại diện từ các đơn vị trực thuộc tán thành…
Thông thường, hiện tượng nợ lương của người lao động phần nào đã thể hiện doanh nghiệp đang làm ăn thua lỗ và mất dần khả năng thanh toán, các cơ quan chức năng cần phải thực hiện chức năng quản lý của mình và hạn chế trước hết diễn biến xấu có thể xảy ra, tuy nhiên trong thực tế, các cơ quan
Trang 3024
hữu quan chưa làm được điều này, biểu hiện như sau:
Vai trò của tổ chức đại diện người lao động và nhận thức của chính người lao động mặc dù đã được nâng cao hơn trước đây rất nhiều nhưng vẫn chưa đáng kể, năng lực của chính cán bộ công đoàn còn yếu kém, chưa đủ sức dẫn dắt và định hướng cho người lao động tự bảo vệ quyền lợi của chính mình Thực tế xảy ra ở nhiều nơi thậm chí người lao động còn thỏa hiệp với doanh nghiệp để không thành lập tổ chức công đoàn cơ sở, tự từ chối quyền
có tổ chức đại diện cho quyền lợi của chính mình, lý do đầu tiên và lớn nhất
là do tổ chức công đoàn hoạt động chưa thực sự hiệu quả
Ngoài ra ở nhiều nơi, thanh tra Sở LĐ-TB&XH chưa có một chuyên đề thanh tra riêng về vấn đề tiền lương tại các doanh nghiệp, đồng thời vẫn chưa mạnh tay thực hiện biện pháp xử phạt hành vi vi phạm trong lĩnh vực này Bời vậy người lao động ở những doanh nghiệp chưa đủ điều kiện thành lập tổ chức công đoàn nhiều khi muốn thông báo về tình trạng nợ lương cũng không biết phải báo ai, báo như thế nào
2.2 Nhóm quyền liên quan đến quan hệ lao động
2.2.1 Thực trạng pháp luật
Khi con nợ lâm vào tình trạng phá sản đồng nghĩa với các món nợ phải trả nhiều hơn khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp Trong hoàn cảnh như vậy, việc chủ nợ nào được ưu tiên thanh toán trước, ai phải xếp hàng sau là vấn đề mà luật phá sản nước nào cũng phải quan tâm giải quyết Các chủ nợ luôn luôn có mối quan tâm đặc biệt về vấn đề này vì thứ tự đó ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích chính đáng của họ
Pháp luật phá sản của nhiều nước trên thế giới đều đặt khoản nợ lương
và các trợ cấp liên quan đến BHXH, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và các thỏa thuận khác giữa người sử
Trang 3125
dụng lao động là doanh nghiệp phá sản và tập thể người lao động… được ưu tiên thanh toán ở hàng thứ hai sau chi phí phá sản trong số các khoản nợ không có bảo đảm, thậm chí được thanh toán trước các khoản nợ thuế Kiểu quy định này không chỉ tồn tại ở pháp luật phá sản của các nước như Trung Quốc, Việt Nam, Canada [29, Mục 60]… Tuy nhiên cũng có một số nước, các khoản nợ này phải được thanh toán sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho nhà nước với mục đích đảm bảo nguồn thu công đủ để duy trì gánh nặng công cộng, trường hợp này đơn cử ở pháp luật phá sản Mỹ
Luật phá sản Việt Nam chỉ ưu tiên bảo đảm quyền lợi cho hai nhóm chủ nợ là chủ nợ có bảo đảm và người lao động bị nợ lương, trợ cấp và các khoản nợ khác theo hợp đồng lao động, thỏa ước tập thể; ngoài ra không phân biệt ưu tiên cho thành phần kinh tế nào khác
Thực chất của việc giải quyết phá sản là việc xử lý mối quan hệ về lợi ích tài sản giữa các chủ nợ với con nợ Để đảm bảo bình ổn xã hội, luật phá sản cố gắng đến mức tối đa bảo vệ quyền lợi cho các chủ nợ, làm sao để khi thanh lý vẫn còn tài sản để thanh toán cho các chủ nợ Thứ tự về việc phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp bị phá sản theo pháp luật phá sản Việt Nam hiện hành như sau: chi phí phá sản; nợ lương, trợ cấp thôi việc, BHXH, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết; nợ phát sinh nhằm mục đích phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh; nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước Như vậy, việc ưu tiên bảo vệ chủ nợ là người lao động thể hiện ở chỗ pháp luật phá sản xếp người lao động vào hàng ưu tiên đứng trên các loại chủ
nợ không có bảo đảm kể cả chủ nợ là nhà nước Điều này đã trở thành nguyên tắc thanh toán các khoản nợ của pháp luật phá sản nhiều nước trên thế giới
Khi tiến hành thủ tục phân chia tài sản để thanh toán cho các chủ nợ,
Trang 32- Trợ cấp và các quyền lợi khác
Người lao động làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên được hưởng trợ cấp thôi việc, cứ một năm làm việc được hưởng trợ cấp nửa tháng lương và phụ cấp nếu có cùng các quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể
Nếu doanh nghiệp không đóng hoặc chậm đóng, dẫn đến phát sinh lãi thì doanh nghiệp phải có trách nhiệm bù đắp phần thiếu hụt thời gian đóng BHXH và bồi thường các khoản trợ cấp phát sinh mà lẽ ra trong thời gian đó người lao động đáng ra được hưởng Cần một chế tài đủ mạnh, bảo đảm tính
Trang 33Nhà nước không phải không có những biện pháp để xử lý tình trạng nợ lương của doanh nghiệp trước khi những diễn biến xấu trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp có thể xảy ra, điển hình như nghị định 95/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, người lao động có thể yêu cầu thanh tra chuyên ngành về lao động hoặc UBND cấp huyện, nơi doanh nghiệp hoạt động xử lý hành vi vi phạm
Nghị định này có quy định: “phạt tiền người sử dụng lao động có hành vi trả
lương không đúng hạn theo quy định” [3, Điều 13], nhưng việc áp dụng trong
thực tiễn lại không hiệu quả, quy định này rơi vào quên lãng bởi rất ít khi được nhắc đến và mức phạt thì quá ít ỏi so với hành vi vi phạm và hậu quả từ hành vi vi phạm
Mới đây nhất là Nghị định 05/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động, tuy nhiên để triển khai và đưa vào thực tiễn áp dụng những quy định này còn nhiều điều đáng bàn bởi
Trang 3428
chưa có thông tư hướng dẫn triển khai thực hiện ngay tại thời điểm nghị định được ban hành khiến các cơ quan chức năng còn lúng túng khi áp dụng, nhất
là về việc quy định trách nhiệm của từng cơ quan cụ thể Đơn cử như:
Quy định đối với trường hợp doanh nghiệp chậm trả lương, nợ lương
sẽ bị xử phạt phải “trả thêm một khoản tiền ít nhất bằng số tiền trả chậm
nhân với lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn một tháng do ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm trả lương” [4, Điều 24] Có nghĩa là nếu bị
chậm trả lương 15 ngày thì một người lao động có mức lương khoảng 5.000.000 VNĐ chỉ nhận được khoảng 3.000 VNĐ tiền lãi Số tiền lãi này là quá nhỏ, trong khi hậu quả của việc chậm lương đối với người lao động lại
vô cùng lớn
- Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
Trong quá trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản, người lao động
có quyền yêu cầu Tòa án nhân dân có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản ra quyết định áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời để buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho mình
2.2.2 Thực tiễn thực hiện
Trong quá trình thực hiện thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải báo cáo quản tài viên hoặc của doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản “trước khi trả lương cho người lao động” [7] Điều này chưa có hướng dẫn
cụ thể gây khó khăn và chậm trễ trong việc trả lương cho người lao động trong khi cuộc sống của người lao động chủ yếu dựa vào tiền lương
Khi thanh lý tài sản, nợ lương, trợ cấp thôi việc, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký được ưu tiên thanh toán
ở hàng thứ hai trong các khoản nợ có bảo đảm tuy nhiên, trong nhiều trường
Trang 3529
hợp, sau khi thanh toán các khoản nợ có bảo đảm doanh nghiệp thường không còn tài sản thực hiện nghĩa vụ trả nợ
Quy định khi xảy ra tình trạng chậm lương, người lao động có quyền có
ý kiến, khiếu nại, tố cáo Trong trường hợp này, người lao động có quyền ủy quyền cho công đoàn cơ sở để đòi quyền lợi cho mình Nếu người lao động và công đoàn không đòi thì đương nhiên số tiền đó thuộc về doanh nghiệp, còn tiền bị phạt sẽ được bổ sung ngân sách nhà nước Yêu cầu doanh nghiệp trả lương đã khó thì việc đòi doanh nghiệp phải trả lãi khi chậm lương lại càng không phải là vấn đề đơn giản Vậy người lao động được gì ngoài việc thực hiện những thủ tục phiền nhiễu, phức tạp rồi đổi lại chỉ để doanh nghiệp thực hiện đúng nghĩa vụ của mình? Thông thường thì người lao động sẽ chờ đợi và hi vọng doanh nghiệp thực hiện đúng nghĩa vụ của mình thay vì nhận được đúng lương của mình nhưng lại có nguy cơ mất việc hoặc những khó khăn bằng cách này hay cách khác mà doanh nghiệp tạo ra khi công đoàn chẳng đủ sức để bảo vệ họ Bên cạnh đó, đối với những người lao động bị nợ lương tại các doanh nghiệp đã phá sản hoặc đang ở bờ vực phá sản thì việc đòi lương còn khó khăn và lâu dài hơn
Khi doanh nghiệp nợ lương của người lao động, nếu các cơ quan chức năng làm đúng trách nhiệm, nghiêm khắc thực hiện xử phạt hành vi vi phạm thì có thể được xem là giải pháp giúp người lao động bảo vệ quyền lợi cho mình Nhưng cần hiểu rằng tính khả thi của các văn bản xử phạt hoàn toàn không cao, bởi việc kiểm tra xử phạt không dễ đặc biệt là đối với những doanh nghiệp nằm chờ phá sản thì biện pháp này chỉ mang tính chất tình thế, tạm thời
Tình trạng chậm trả lương, nợ lương người lao động tại các doanh nghiệp dưới nhiều hình thức đang diễn ra, nhưng cơ quan chức năng cũng
Trang 3630
chưa có một thống kê, tổng hợp cụ thể doanh nghiệp nào nợ lương, nợ bao nhiêu, nợ bao lâu… do đó chưa có những giải pháp cụ thể, phù hợp, chỉ đến khi có những vụ việc lùm xùm, gây hậu quả nặng nề, được báo chí và dư luận đưa tin thì cơ quan chức năng mới vào cuộc Có thể thấy rằng, sự quan tâm, nắm bắt của các cơ quan chức năng chưa được thực hiện đầy đủ Trong thời gian qua đã có rất nhiều vụ việc điển hình chẳng hạn như vụ việc tại Công ty liên doanh Lenex
Vào tháng 4-2012, Công ty Lenex đã “cho gần 50 công nhân tạm ngừng
làm việc với mức lương doanh nghiệp phải trả là 2 triệu đồng/người/tháng; hỗ trợ tiền tìm việc 2 triệu đồng/người” [12] do hoạt động sản xuất kinh doanh
gặp khó khăn Tuy nhiên sau đó, do không còn hoạt động nên công ty không trả được những khoản này cho người lao động
Trong suốt khoảng thời gian công ty Lenex nợ lương 15 tháng, Luật phá sản 2004 đang có hiệu lực, tiêu chí xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán chưa rõ ràng, vì thế người lao động cũng không có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp để buộc doanh nghiệp thanh toán lương cho mình
Theo phán quyết của TAND thành phố Biên Hòa, công ty phải thi hành
án trước cho lao động trực tiếp làm việc tại xưởng 1,4 tỷ đồng Nhưng mức chi trả cho mỗi lao động chỉ hơn 30% trong tổng số tiền họ được nhận do tài sản của công ty mới chỉ thanh lý được một phần với số tiền là 365 triệu đồng Sau khi thực hiện bán đấu giá một số tài sản cố định khác của công ty liên doanh Lenex, cơ quan thi hành án sẽ tiếp tục chi trả phần còn lại cho người lao động và những doanh nghiệp mà công ty Lenex còn nợ
Đa số người lao động đều biết công ty chắc chắn rồi cũng phá sản, nhưng vì chưa được nhận lương trong một thời gian dài nên không ai dám
Trang 3731
nghỉ, nhưng càng làm càng bị nợ nhiều Thực tế, với trường hợp ở công ty Lenex, người lao động cũng thông cảm với tình trạng khó khăn của doanh nghiệp, nhưng nếu không được trả lương, người lao động không bảo đảm được cuộc sống, do đó họ mới phải nhờ pháp luật can thiệp Chính vì lý do chỉ đến khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán trầm trọng, đi đến phá sản thì người lao động mới lên tiếng để bảo vệ cho quyền lợi của mình mà gây ra khó khăn rất lớn cho chính họ và cho cả các cơ quan chức năng
Công ty nói trên không chỉ nợ lương mà còn “trốn” đóng BHXH cho người lao động Trong khi đó, lương tháng của công nhân vẫn bị công ty trích
ra để nộp BHXH, họ vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình nên có quyền được hưởng những gì tương ứng với công sức bỏ ra Còn doanh nghiệp chiếm dụng vốn của người lao động là cố tình làm trái pháp luật thì doanh nghiệp phải bị pháp luật xử lý Người lao động hoàn toàn không có lỗi trong việc doanh nghiệp trốn đóng BHXH
Tình trạng này xảy ra hàng loạt ở nhiều tỉnh thành trên cả nước, điển hình như tại Nghệ An, công ty cổ phần Xây dựng cầu đường Nghệ An hiện đang nợ BHXH hơn 3,2 tỷ đồng, 138 lao động vẫn chưa được chốt sổ BHXH Hàng trăm người lao động phải nghỉ việc, nợ lương nhưng khó có khả năng đòi được; hay như công ty cổ phần Vinaconex 16 hiện đang nợ BHXH hơn 4,7 tỷ đồng, và có hàng trăm lao động đang bị nợ lương, chưa được chốt sổ BHXH [1]
Tương tự như vụ việc tại công ty Liên doanh Lenex, nhiều trường hợp khác liên quan đến việc người lao động không được giải quyết quyền lợi thỏa đáng chẳng hạn như trường hợp tại công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Sao Đại Hùng
Từ năm 2009, do làm ăn thất bát dẫn đến phá sản, Công ty TNHH Sao
Trang 3832
Đại Hùng (trụ sở tại Khu công nghiệp Suối Dầu, huyện Cam Lâm, Khánh Hòa) đã nợ lương của 326 người lao động với tổng số nợ là 4,1 tỉ đồng [23]
Tháng 4-2011, công đoàn công ty Sao Đại Hùng được người lao động
ủy quyền đã đại diện làm đơn kiện đòi nợ lương lên TAND tỉnh Khánh Hòa Tuy nhiên, tòa từ chối thụ lý vì cho rằng đây là vụ kiện tranh chấp cá nhân giữa từng người lao động với chủ sử dụng lao động chứ không phải tranh chấp lao động tập thể nên vụ việc thuộc thẩm quyền của TAND huyện Cam Lâm Trong khi đó, TAND huyện Cam Lâm thì cho rằng đây là vụ kiện lao động tập thể, thẩm quyền giải quyết thuộc TAND tỉnh Khánh Hòa TAND tỉnh Khánh Hòa chính là nơi có thẩm quyền giải quyết tiếp vụ kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 34 bộ luật tố tụng dân sự: tòa án cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động đã được Hội đồng trọng tài lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định của hội đồng trọng tài lao động, sau khi các bên tiến hành một số thủ tục tiền tố tụng
Sau một thời gian hai tòa chỉ qua chỉ lại, trong số 326 người lao động bị
nợ lương chỉ còn 163 người kiên trì nộp đơn kiện riêng lẻ lên TAND huyện Cam Lâm để đòi lại quyền lợi Tuy nhiên, sau đó đã có tới 50 hồ sơ của họ bị tòa trả lại vì không đủ thủ tục, 12 hồ sơ bị đình chỉ và chỉ có 92 hồ sơ được đưa ra xét xử, trong 92 phiên tòa này đều không hề có tranh luận vì ngay từ đầu phía bị đơn đã chấp nhận, xác nhận nợ lương của tất cả 326 công nhân có danh sách cụ thể kèm theo, tổng số tiền nhận được của 92 trường hợp được tòa xét xử là 1,1 tỉ đồng Nhưng theo thủ tục thì vẫn phải xử theo đúng trình
tự của một phiên tòa thông thường nên rất mất thời gian
Công ty TNHH một thành viên Phát triển trang phục phụ nữ kiểu Pháp