1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Tuyến tụy nội tiết và các bênh liên quan đến tuyến tụy

72 653 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 724 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự tăng tính thấm đối với glucoz cho phép glucoz chuyển nhanh vào tế bào, trong tế bào glucoz được phosphoryl hóa ngay, và trở thành cơ chất cho tất cả các phản ứng chuyển hóa carbohydra

Trang 1

TUYẾN TỤY NỘI TIẾT

Ths Bs Nguy n Phúc H u ễn Phúc Hậu ậu

Ths Bs Nguy n Phúc H u ễn Phúc Hậu ậu

Phó Chủ Nhiệm BM Sinh lý học

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HCM

Trang 3

GIẢI PHẪU SINH LÝ CỦA TUYẾN TỤY

Tuyến tụy gồm hai loại mô chính:

(1) mô acini tiết ra dịch tiêu hóa đổ vào tá tràng và

(2) đảo Langerhans là tuyến nội tiết, nó tiết ra các hormon

Tuyến tụy có từ 1 đến 2 triệu đảo Langerhans

Đảo chứa ba loại tế bào chính là các tế bào alpha, beta, và delta

Trang 5

Tế bào beta chiếm khoảng 60 %, nằm giữa đảo và tiết insulin

Tế bào alpha chiếm 25 %, tiết glucagon

Tế bào delta chiếm trên 10 %, tiết somatostatin

Các tế bào liên quan chặt chẽ với nhau và ức chế lẫn nhau

Thí dụ: insulin ức chế sự bài tiết glucagon, và

somatostatin ức chế sự bài tiết của cả insulin và

glucagon

Trang 6

2 INSULIN VÀ CÁC TÁC DỤNG CHUYỂN

HÓA

2.1 ĐẠI CƯƠNG

Insulin là một phân tử polypeptit lớn, gồm 51 axit amin, nối nhau bằng cầu nối disulfur

Insulin được tổng hợp trong các tế bào beta,

Khi insulin được bài tiết vào máu, nó ở dạng tự

do, có thời gian bán hủy khoảng 6 phút

Trang 7

Nó rời khỏi hệ tuần hoàn trong từ 10 đến 15 phút

Trừ số insulin được gắn với các receptor ở tế bào đích

Số còn lại bị thoái biến bởi enzym insulinaz ở gan, mức độ ít hơn ở thận và cơ, và rất ít ở các mô khác

Trang 8

2.2 SỰ HOẠT HÓA THỤ THỂ TẾ BÀO ĐÍCH CỦA

INSULIN

Đầu tiên insulin gắn và hoạt hóa một protein thụ thể màng của tế bào đích

Chính receptor được hoạt hóa sẽ gây tác dụng tiếp theo

Receptor của insulin là một kết hợp của 4 tiểu đơn vị gắn với nhau bằng cầu nối disulfur: hai tiểu đơn vị alpha nằm ở phía ngoài của màng tế bào, và hai tiểu đơn vị beta, chúng xuyên qua màng, lồi vào trong bào tương của tế bào

Trang 9

Insulin gắn với các tiểu đơn vị alpha ở phía ngoài màng

Phần tiểu đơn vị beta mà nó lồi vào trong tế bào trở nên được phosporyl hóa tự động-> trở thành một enzym được hoạt hóa,

Protein kinaz gây ra sự phosphoryl hóa hàng loạt các enzym khác trong tế bào.

Trang 10

Các tác dụng cuối cùng của insulin là như sau:

1 Sau ít giây insulin gắn với receptor màng, màng tế bào trở nên có tính thấm cao với glucoz

Đặc biệt là tế bào gan, tế bào cơ và tế bào của mô

mỡ, còn các neuron của não thì không

Sự tăng tính thấm đối với glucoz cho phép glucoz

chuyển nhanh vào tế bào, trong tế bào glucoz được phosphoryl hóa ngay, và trở thành cơ chất cho tất cả các phản ứng chuyển hóa carbohydrat thông thường

Trang 11

Cơ chế của sự tăng vận chuyển glucoz là như sau:

Có nhiều túi nhỏ ở trong bào tương được gắn với màng tế bào

Những túi nhỏ này có các phân tử protein vận chuyển

glucoz ở trên màng của nó

Khi insulin hết tác dụng, những túi nhỏ này lại tách ra khỏi màng tế bào trong khoảng từ 3 đến 5 phút, và chuyển trở về bên trong tế bào, để rồi có thể được dùng lại nhiều lần

Đó là cơ chế vận chuyển glucoz theo kiểu khuếch tán được hỗ trợ

Trang 12

2 Ngoài việc tăng tính thấm của màng đối với

glucoz, màng tế bào còn thấm với các axit amin, các ion kali và phosphat

3 Các tác dụng xảy ra chậm hơn, sau từ 10 – 15 phút là làm thay đổi hoạt tính của nhiều men

chuyển hóa trong tế bào Các tác dụng này chủ yếu là do sự phosphoryl hóa của các men

Trang 13

4 Các tác dụng tiếp theo còn chậm hơn nữa, xảy ra

sau nhiều giờ đến nhiều ngày,

Insulin làm tăng sự dịch mã của RNA thông tin ở ribosom để tạo thành protein mới, rồi tác dụng chậm hơn nữa là tăng mức sao mã của DNA

trong nhân tế bào

Bằng cách này insulin đẩy mạnh cơ chế enzym của tế bào để đạt tới mục đích chuyển hóa

Trang 14

2.3 TÁC DỤNG CỦA INSULIN TRÊN CHUYỂN HÓA GLUXIT

Sau bữa ăn, nồng độ glucoz máu tăng, kích thích

tuyến tụy bài tiết insulin

Nó làm tăng thu nhập, dự trữ và sử dụng glucoz bởi toàn bộ các tế bào của cơ thể, đặc biệt là tế bào cơ, mô mỡ và gan

Trang 15

2.3.1 Tác dụng của insulin đẩy mạnh chuyển hóa glucoz trong cơ

Lúc đói, đường huyết giảm, ức chế sự bài tiết insulin, nên glucoz vào tế bào cơ rất ít, cơ thường sử dụng axít béo để cho năng lượng

Có hai điều kiện để cơ sử dụng glucoz với lượng lớn

cả khi có rất ít insulin, vì trong lao động sợi cơ có tính thấm cao với glucoz

Trang 16

-Sau khi ăn, đường huyết tăng cao, kích thích tuyến tụy bài tiết nhiều insulin

Nó có tác dụng trực tiếp trên màng tế bào cơ, làm tăng mức độ vận chuyển glucoz qua màng vào trong tế bào cơ, gấp 15 lần khi thiếu insulin

Lúc đó cơ sử dụng glucoz thay vì axít béo, vì dòng axít béo từ các mô mỡ bị ức chế bởi insulin

Trang 17

Dự trữ glycogen trong cơ:

Sau khi ăn, lượng glucoz vận chuyển vào tế bào cơ nhiều

Nếu cơ sử dụng không hết, số glucoz thừa sẽ dự trữ trong cơ dưới dạng glycogen

Cho tới giới hạn nồng độ khoảng 2 – 3 %

Glycogen có thể được dùng cho năng lượng, cái đó có lợi, vì tạo ra năng lượng yếm khí trong ít phút, do

thoái biến glycogen tới axít lactic trong lúc thiếu oxy

Trang 18

2.3.2 Tác dụng của insulin đẩy mạnh việc thu nhập, dự trữ và sử dụng glucoz ở gan.

Tác dụng quan trọng nhất của insulin là chuyển

glucoz thành glycogen sau bữa ăn

Giữa các bữa ăn, nồng độ glucoz máu giảm thấp, ức chế sự tiết insulin

Glycogen lại chuyển thành glucoz và đưa trở lại máu, để giữ cho glucoz máu hằng định

Trang 19

2.3.2.1 Gan chuyển glucoz thành glycogen qua các

bước sau

men chính làm cắt phân tử glycogen gan thành

glucoz

bào gan, nó làm tăng hoạt tính của men glucokinaz, men này gây phosphoryl hóa glucoz sau khi nó

khuếch tán vào tế bào gan, glucoz đã được phosphoryl hóa thì không thể khuếch tán lại qua màng để vào

máu được

Trang 20

3 Insulin làm tăng hoạt tính của các men đẩy

mạnh việc tổng hợp glycogen, đặc biệt là men glycogen synthetaz, nó đồng phân hóa các đơn

vị monosaccharit để tạo thành các phân tử

Trang 21

2.3.2.2 Gan giải phóng glucoz vào máu

Lúc đói, glucoz máu giảm thấp, gan sẽ chuyển

glycogen dự trữ thành glucoz, và giải phóng glucoz vào máu, qua các bước sau:

1 Sự giảm glucoz máu, làm tụy giảm tiết insulin

ngừng thu nhận glucoz từ máu vào gan

gây cắt glycogen thành glucoz phosphat

Trang 22

4 Men phosphataz mà nó bị insulin ức chế, bây

giờ nó được hoạt hóa do thiếu insulin, nó cắt

gốc phosphat của glucoz, và glucoz tự do được giải phóng vào máu

Thông thường khoảng 60% glucoz đưa vào sau bữa ăn được dự trữ ở gan, rồi giữa các bữa ăn nó lại được giải phóng ra

Trang 23

2.3.2.3 Các tác dụng khác của insulin trên chuyển hóa gluxit ở gan

Khi lượng glucoz vào gan lớn hơn số dự trữ glycogen, insulin đẩy mạnh chuyển glucoz thừa thành axít béo Axít béo tạo triglycerit ở dạng lipoprotein có tỷ trọng thấp-> vận chuyển vào máu tới mô mỡ để dự trữ

Trang 24

Insulin ức chế tạo đường mới, do làm giảm số lượng và hoạt tính của các enzym dùng cho tạo đường mới

Insulin làm giảm sự huy động axit amin từ cơ và các tổ chức ngoài gan là nguyên liệu cho

sinh đường mới.

Trang 25

2.3.3 Vai trò của insulin trên sự thu nhận và sử

dụng glucoz của não

Tế bào não hoàn toàn khác với tế bào của cơ thể về việc thu nhận và sử dụng glucoz

Nó có thể thấm glucoz và sử dụng glucoz không cần có trung gian là insulin

Tế bào não chỉ sử dụng glucoz cho năng lượng

Mức đường huyết phải duy trì ở trên mức tiêu chuẩn, khi giảm dưới 50mg/dL, có thể dẫn đến shock hạ

đường huyết, biểu hiện : co giật và hôn mê

Trang 26

2.4 TÁC DỤNG CỦA INSULIN TRÊN CHUYỂN HÓA LIPID

2.4.1 Tác dụng của insulin trên tổng hợp và dự trữ lipid

Insulin có nhiều tác dụng dẫn tới dự trữ lipid trong các mô mỡ

Insulin làm tăng sử dụng glucoz các mô-> làm giảm sử dụng lipid

Insulin đẩy mạnh sự tổng hợp axít béo ở gan, và axít béo được vận chuyển trong lipoprotein tới các mô mỡ để dự trữ

Trang 27

Các yếu tố dẫn tới tăng tổng hợp axít béo trong gan như sau:

a Insulin tăng vận chuyển glucoz vào tế bào gan, khi nồng độ glycogen đạt tới 5– 6 %, nó sẽ ức chế sự tổng hợp glycogen tiếp, tất cả glucoz vào gan được dùng để tạo lipid

Glucoz bị cắt thành pyruvat theo con đường phân giải glucoz, và pyruvat tiếp tục biến đổi tới acetyl-coenzym A, từ đó axít béo được tổng hợp.

Trang 28

b Phần lớn axít béo được tổng hợp trong gan dùng để tạo triglycerit là dạng dự trữ lipid

Lipid được giải phóng từ gan vào máu ở dạng

Trang 29

2.4.2 Dự trữ lipid trong tế bào mỡ

Insulin có 2 tác dụng cần cho dự trữ lipid trong tế bào mỡ :

Đó là men thủy phân triglycerit, dự trữ trong tế bào mỡ, vì vậy sự giải phóng axít béo vào máu tuần hoàn

bị ức chế

Trang 30

Insulin tăng cường vận chuyển glucoz qua màng vào

trong tế bào mỡ, giống vận chuyển glucoz vào tế bào cơ

Rồi một số nhỏ glucoz được sử dụng để tổng hợp axít béo, còn số lớn hơn được dùng để tạo thành chất a-glycerophosphat

Chất này cung cấp glycerol, mà nó kết hợp với axít béo để tạo thành triglycerit, ở dạng dự trữ của lipid trong tế bào mỡ

Trang 31

2.4.3 Kết quả chuyển hóa lipid khi thiếu insulin

2.4.3.1 Tiêu lipid của mỡ dự trữ và giải phóng axít béo tự do vào máu

Khi thiếu insulin, men lipaz nhạy cảm với hormon trong tế bào mỡ trở nên hoạt động mạnh

Nó gây phân giải triglycerit dự trữ, giải phóng một lượng lớn axít béo và glycerol vào máu tuần hoàn Axít béo tự do trở thành chất cho năng lượng chính của cơ thể, trừ não

Trang 32

2.4.3.2 Nhiều axít béo trong huyết tương làm gan

chuyển một số axít béo thành phospholipid và

Nồng độ lipid cao, đặc biệt là cholesterol, dẫn tới

phát triển nhanh chóng bệnh xơ vữa động mạch ở

người bị đái tháo đường nặng

Trang 33

2.4.3.3 Thiếu insulin gây nên tích ceton và toan huyết

Khi thiếu insulin, axít béo bị beta oxit hóa, giải phóng một số lớn acetyl-CoA

Một phần lớn acetyl-CoA này được tạo thành axít

acetoacetic, và đưa vào máu tuần hoàn, phân phối cho các tế bào ngoại biên

Ở đây, nó lại chuyển ngược thành acetyl-CoA và

dùng cho năng lượng theo cách thông thường

Trang 34

Tuy nhiên, thiếu insulin cũng làm giảm sử dụng axít acetoacetic trong tổ chức ngoại biên, đồng thời ù nhiều axít acetoacetic được chuyển đến từ gan.

Một số axít acetoacetic sẽ chuyển thành

axít-b-hydroxybutyric và aceton

Hai chất này cùng với axít acetoacetic gọi là thể

ceton, và nó có mặt trong dịch cơ thể một lượng lớn, gọi là tích ceton

Trong bệnh đái tháo đường nặng, axít acetoacetic và axít-b-hydroxybutyric gây toan huyết nặng và hôn mê

Trang 35

2.5 TÁC DỤNG CỦA INSULIN TRÊN CHUYỂN HÓA PROTEIN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN

2.5.1 Tác dụng của insulin trên tổng hợp và dự trữ protein

insulin cùng với GH làm tăng thu nhập axit amin của tế bào

2 Insulin có tác dụng trực tiếp trên ribosom, làm tăng sự dịch mã của RNA thông tin để tạo protein

mới, khi thiếu insulin, ribosom ngừng làm việc

Trang 36

3.Insulin cũng làm tăng sự sao mã của DNA trong

nhân tế bào, để tạo ra một lượng lớn mRNA, và làm tăng tổng hợp protein

của tế bào, làm giảm mức giải phóng axit amin từ các tế bào, đặc biệt từ tế bào cơ vào máu

sự giảm hoạt tính của các enzym sinh đường mới, và

do sự giảm thoái biến protein, giảm axit amin huyết tương, là nguyên liệu sinh đường mới Sự giảm sinh đường mới, để dành axit amin cho tổng hợp protein, dự trữ trong tế bào

Trang 37

2.5.2 Giảm protein và tăng axit amin huyết tương

do thiếu insulin

Khi thiếu insulin thoái biến protein tăng, sự tổng hợp protein ngừng lại,một lượng lớn axit amin được đưa

vào huyết tương, axit amin này được dùng cho nhu

cầu năng lượng và sinh đường mới

Sự thoái biến của các axit amin cũng dẫn đến sự tăng bài xuất urê trong nước tiểu

Hậu quả của các chất thải do protein, thường gây

những biến chứng trầm trọng của bệnh đái tháo đường nặng

Trang 38

2.5.3 Tác dụng của insulin trên sự phát triển –

Đồng tác dụng với GH

Insulin cần cho sự tổng hợp protein, yếu tố cần cho sự phát triển cơ thể

Kết hợp cả hai hormon: insulin và GH làm cho cơ thể phát triển mạnh

Trang 39

2.6 KIỂM TRA SỰ BÀI TIẾT INSULIN

2.6.1 Mức đường huyết

Mức đường huyết lúc đói là 80-90mg/dL, sự bài tiết insulin ở mức tối thiểu, 25ng/min/kg cân nặng

Đường huyết tăng lên gấp 2 – 3 lần so với bình

thường, sự bài tiết insulin tăng lên trong 2 giai đoạn:

Trang 40

1 Sau 3 – 5 phút, nồng độ insulin tăng gấp

10 lần, do chuyển tiền chất insulin từ tế bào beta của đảo tụy.

Sau từ 5 – 10 phút, nồng độ insulin giảm

xuống còn một nửa tới mức bình thường.

Trang 41

2 Sau khoảng 15 phút, sự bài tiết insulin tăng lên

lần thứ hai, và đạt tới đỉnh mới trong 2 – 3 giờ

Có thể tăng gấp 20 lần bình thường, do insulin đã tạo thành từ trước, và do hoạt hóa hệ men tổng hợp insulin mới

Sự đáp ứng bài tiết insulin với nồng độ glucoz máu nhanh chóng và tăng đột ngột, là một cơ chế feed back cực kỳ quan trọng để điều hòa nồng độ glucoz máu

Trang 43

2.6.3 Các hormon dạ dày – ruột

Gastrin, secretin, cholecystokinin,v.v ï bài tiết

insulin vừa phải

Các hormon này được giải phóng trong và sau khi ăn, đúng lúc glucoz và các axit amin được hấp thu vào

máu

Các hormon này có thể làm tăng tiết insulin gấp đôi, để vận chuyển nhanh glucoz và axit amin vào tế bào

Trang 44

2.6.4 Các hormon khác

Như glucagon, GH, cortisol cũng gây bài tiết insulin

Tác dụng kích thích của các hormon này là sự bài tiết kéo dài, và nếu chúng có số lượng lớn, có thể dẫn đến sự bài tiết kiệt quệ của tế bào beta của tiểu đảo Langerhans, gây đái tháo đường, như ở người cường tuyến yên, hay cường vỏ thượng thận.

Trang 45

2.6.5 Kích thích dây thần kinh giao cảm hay phó giao cảm của tuyến tụy cũng gây bài tiết insulin

Adrenalin làm tăng nồng độ glucoz máu trong stress

(1) Adrenalin làm tăng glucoz máu, do tiêu mạnh

glycogen, nó hoạt hóa men phosphorylaz

(2) Nó cũng có tác dụng tiêu lipid trên tế bào mỡ, vì nó hoạt hóa men lipaz nhạy cảm với hormon trong tế bào mỡ, vì vậy nó làm tăng nồng độ axít béo máu

Trang 48

3 GLUCAGON VÀ CÁC TÁC DỤNG

Glucagon do tế bào alpha của tiểu đảo

Langerhans tụy bài tiết, khi nồng độ glucoz máu giảm

Tác dụng của nó đối lập với insulin->tăng glucoz máu

Tiêm 1 microgam/kg glucagon làm tăng nồng độ glucoz máu chừng 20mg/dL máu trong 20

phút

Trang 49

3.1 Tác dụng trên chuyển hóa của glucagon

3.1.1 Tiêu glycogen làm tăng nồng độ glucoz máu

Glucagon hoạt hóa men adenylcyclaz trong màng tế bào gan, tạo thành AMP vòng

Chất này hoạt hóa protein điều hòa, gây hoạt hóa

protein kinaz; men này hoạt hóa phosphorylaz b

kinaz, biến phosphorylaz b thành phosphorylaz a; nó xúc tác sự thoái biến glycogen thành glucoz-1-

phosphat

Rồi chất này bị khử phosphoryl hóa, glucoz tách ra và được giải phóng từ tế bào gan vào máu

Trang 50

3.1.2 Sinh đường mới do glucagon

Glucagon làm tăng mức sinh đường mới ở gan

Nó hoạt hóa nhiều men cần cho sự sinh đường mới, đặc biệt là men chuyển pyruvat tới

phosphoenolpyruvat,

Glucagon làm tăng sự rút axit amin từ máu vào tế bào gan, để làm cơ chất cho sinh đường mới

Trang 51

3.1.3 Gây thoái biến lipid dự trữ của tế bào mỡ

Glucagon hoạt hóa men lipaz nhạy cảm với hormon của tế bào mỡ, làm dị hóa triglycerit dự trữ

Huy động axít béo từ tế bào mỡ vào máu để dùng cho năng lượng

Nó cũng ức chế dự trữ triglycerit trong gan, ngăn cản gan huy động axít béo từ máu, giúp tăng lượng axít

béo để các mô sử dụng

Trang 52

3.2 Điều hòa bài tiết glucagon

3.2.1 Mức đường huyết

Là yếu tố chủ yếu điều hòa bài tiết glucagon

Sự giảm đường huyết kích thích mạnh sự bài tiết glucagon, làm tăng đường huyết trở về bình thường,Huy động glucoz từ gan vào máu; ngược lại tăng đường huyết ức chế bài tiết glucagon

Trang 53

3.2.2 Mức axit amin huyết

Nồng độ cao của axit amin (đặc biệt là alamin và

arginin) kích thích bài tiết glucagon

Giống như nó kích thích bài tiết insulin, ý nghĩa là nó đẩy mạnh việc sinh đường mới, cung cấp glucoz cho

cơ thể

Trang 54

3.2.3 Tác dụng kích thích của lao động

Trong lao động nặng, nồng độ glucagon trong máu thường tăng cao gấp 4 – 5 lần

Có ý nghĩa phòng ngừa sự giảm glucoz máu trong lao động

Ngày đăng: 22/03/2016, 20:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w