phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá cổ phiếu niêm yết aùp dụng thực tế cho trường hợp ree×phan tich nhung nhan to anh huong den dinh gia co phieu niem yet×phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh×phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn của các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán hà nội×phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại việt nam×phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất lao động bình quân×phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến việc định giá cổ phiếu niêm yết aùp dụng thực tế cho trường hợp ree×phan tich nhung nhan to anh huong den dinh gia co phieu niem yet×phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố hồ chí minh×phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới cấu trúc vốn của các công ty cổ phần ngành xây dựng niêm yết trên thị trường chứng khoán hà nội×phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến tính thanh khoản của các ngân hàng thương mại việt nam×phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất lao động bình quân×
Trang 1PHẦN I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Lý do chọn đề tài.
Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống của người dân ngày càng nâng cao nên việc áp dụng các công nghệ, máy móc, thiết bị hiện đại (máy vi tính, điện thoại, xe gắn may ) để phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống không trở nên xa lại đối với mọi người Trong đó điện thoại di động được sử dụng ở hầu hết các tầng lớp vì điện thoại di động nhỏ, gọn chúng ta có thể đem theo mình bất cứ lúc nào và điện thoại đem lại rất nhiều lợi ích trong cuộc sống như: dùng để liên lạc, dùng để giải trí như lên mạng, nghe nhạc, chụp hình,… được sự tiêu thụ mạnh trên thị trường, nên thị trường kinh doanh điện thoại di động rất đa dạng và phong phú tạo nên sự đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng đối với sản phẩm điện thoại và khách hàng cũng gặp không ít những khó khăn trong quá trình chọn mua điện thoại Chính vì những lí do trên nên nhóm chúng tôi thực hiện đề tài: “ Phân tích những nhân tố ảnh hưởng tới việc lựa chọn điện thoại di động của sinh viên năm 2 trường Đại học Kinh tế Huế”
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn điện thoại của sinh viên năm 2 trường Đại Học Kinh Tế
- Xác định mức độ ảnh hưởng và chiều hướng tác động của các nhân tố tới sự lựa chọn sử dụng điện thoai của sinh viên
- Tìm hiểu được những tiện ích mà người sử dụng mong muốn
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả thu hút khách hàng lựa chọn sử dụng điện thoại di động
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: mức độ lựa chọn sử dụng điện thoại di động của sinh viên năm 2 trường Đại Học Kinh Tế Huế
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Sinh viên K46 của Trường Đại Học Kinh Tế Huế
+ Thời gian: 20/03/2014-25/03/2014
Trang 24 Phương pháp nghiên cứu.
4.1 Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Số liệu thứ cấp:
Thông tin liên quan đến các cơ sở lí luận, thông tin chung về các hãng điện thoại
di động
Thu thập thông qua điều tra bảng hỏi, qua internet, các tài liệu,…
Có thể thu thập các dữ liệu bằng cách lên thư viện trường, trung tâm học liệu, các trang web của các hãng điện thoại và tài liệu liên quan
- Số liệu sơ cấp:
Quá trình thu thập số liệu sơ cấp được thu thập qua 2 giai đoạn:
Xác định sơ bộ: Mục đích cơ bản của giai đoạn này là tìm hiểu mức độ sử dụng điện thoại di động Giai đoạn được thực hiện thông qua điều tra bảng hỏi của sinh viên năm 2 trường Đại Học Kinh Tế Huế
Thu thập, phân tích dữ liệu: Dựa trên kết quả của giai đoạn trên, bảng hỏi được thiết kế để tiến hành điều tra phỏng vấn nhằm tìm hiểu mức độ lựa chọn sử dụng điện thoại di động của sinh viên năm 2 trường Đại Học Kinh
Tế Huế Việc điều tra phỏng vấn được thực hiện trong khoảng thời gian từ
20 đến 25 tháng 3 năm 2014
Phương pháp chọn mẫu
Sử dụng phương pháp phân tích nhân tố EFA trong phân tích và xử lý số liệu Cỡ mẫu (số quan sát) ít nhất phải bằng 4 hoặc 5 lần số biến định lượng trong bảng câu hỏi để kết quả điều tra có ý nghĩa (Nguyễn Đình Thọ- Nguyễn Thị Mai Trang, nghiên cứu khoa học Marketing , NXB Đại học Quốc Gia TP HCM).Số mẫu cần điều tra = Số biến định lượng
x 5 = 25 x 5 = 125 (sinh viên) Trong quá trình điều tra nhằm tránh trường hợp những phiếu phỏng vấn không hợp lệ có thể làm cho mẫu không đảm bảo về mặt số lượng,nên tổng số phiếu điều tra phát ra cho sinh viên là 150 và dự kiến thu về ít nhất là 125 phiếu phỏng vấn hợp lệ
4.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Quy trình xử lý:
Trang 3Cơ sở lý thuyết Thang đo sơ bộ
Nghiên cứu định tính
Khảo sát n = 20 Thang đo chính thức
Nghiên cứu định lượng
Khảo sát n = 125
Mã hoá dữ liệu Làm sạch dữ liệu
- Phân tích dữ liệu
- Xử lý dữ liệu
Kết quả nghiên cứu
Phương pháp xử lý số liệu:
Dữ liệu được xử lý bằng SPSS for Windows 16.0 và sử dụng phương pháp để phân tích số liệu: phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan và kiểm định One-sample T test.
+ Phân tích thống kê mô tả: chọn biến thích hợp để phân tích thống kê mô tả, sử dụng các đại lượng như trung bình, độ lệch chuẩn, phương sai, phần trăm và tổng + Phân tích tương quan dùng cho 2 biến định lượng thể hiện mối tương quan giữa 2 biến định lượng được hiển thị dưới hệ số tương quan, sử dụng các đại lượng như mức ý nghĩa ( sig ), độ tin cậy, hệ số Pearson.
Trang 4• Kiểm định One-sample T test dùng cho 1 biến định lượng, sử dụng các đại lượng như mức ý nghĩa ( sig ), trung bình ( Mean ), thống kê t.
4 Kết cấu đề tài
Phần I: Đặt vấn đề
Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Phân tích, đánh giá
Chương 3: Định hướng và giải pháp
PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC NHÂN
TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HÀNH VI SỬ DỤNG
1.1 Người tiêu dung
1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng:
Người tiêu dùng là một cá nhân, một tổ chức hay một nhóm tham dự trực tiếp hay có ảnh hưởng đến việc hình thành nhu cầu - mong ước, đưa ra quyết định mua, sử dụng và loại
bỏ một sản phẩm hay dịch vụ cụ thể
Người tiêu dùng có thể là người mua, người ảnh hưởng hoặc người sử dụng
1.1.2.Thị trường người tiêu dùng
Thị trường người tiêu dùng là những cá nhân và hộ gia đình mua hay bằng một phương thức nào đó có được hàng hóa và dịch vụ để tiêu dùng cá nhân
Thị trường người tiêu dùng có quy mô lớn, thường xuyên tăng trưởng cả về số lượng người tiêu dùng và doanh số Nếu như phần thị trường khá lớn thì một số công ty có thể soạn thảo những chương trình marketing riêng để phục vụ phần thị trường đó
Trang 5Người tiêu dùng rất khác nhau về tuổi tác, giới tính, mức thu nhập, trình độ học vấn, thị hiếu và thích thay đổi chỗ ở Các nhà hoạt động thị trường nên tách riêng các nhóm người tiêu dùng và tạo ra các sản phẩm dịch vụ thỏa mãn mỗi nhóm khách hàng
Cùng với sự phát triển của kinh tế, chính trị, xã hội và sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật, ước muốn, sở thích, các đặc tính về hành vi, sức mua của người tiêu dùng, cơ cấu chi tiêu… cũng không ngừng biến đổi Chính những sự thay đổi này vừa là những cơ hội, vừa
là thách thức đối với các nỗ lực Marketing của doanh nghiệp
1.1.3 Hành vi người tiêu dùng
Hành vi mua của người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc lộ ra trong quá trình trao đổi sản phẩm, bao gồm: điều tra, mua sắm, sử dụng, đánh giá và chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ Cũng có thể coi hành vi người tiêu dùng là cách thức mà người tiêu dùng sẽ thực hiện để đưa ra các quyết định sử dụng tài sản của mình (tiền bạc, thời gian, công sức…) liên quan đến việc mua sắm và sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân
Mô hình hành vi khách hàng (Nguồn: Marketing căn bản, Trần Minh Đạo)
Các kích thích:Là tất cả các tác nhân, lực lượng bên ngoài của khách hàng có thể gây
ảnh hưởng đến hành vi khách hàng Chúng được chia làm hai nhóm chính:
Nhóm 1: Các tác nhân kích thích marketing bao gồm: sản phẩm, giá cả, phân phối, xúc
tiến,…Các tác nhân này nằm trong khả năng kiểm soát của doanh nghiệp
Trang 6Nhóm 2: Các tác nhân môi trường: là các tác nhân nhân kích thích không thuộc quyền
kiểm soát tuyệt đối của doanh nghiệp như môi trường kinh tế, cạnh tranh, chính trị, văn hóa, luật pháp…
“Hộp đen” ý thức của khách hàng: Là cách gọi bộ não của con người và cơ chế hoạt
động của nó trong việc tiếp nhận, xử lý các kích thích và đề xuất các giải pháp đáp ứng trở lại các kích thích được tiếp nhận “Hộp đen” ý thức được chia thành hai phần Phần thứ nhất là những đặc tính của người mua, có ảnh hưởng cơ bản đến việc con người tiếp nhận các tác nhân kích thích và phản ứng với nó như thế nào Phần thứ hai quá trình quyết định mua của người tiêu dùng Là toàn bộ lộ trình người tiêu dùng thực hiện các hoạt động liên quan đến sự xuất hiện của ước muốn, tìm kiếm thông tin, mua sắm, tiêu dùng và những cảm nhận họ có được khi tiêu dùng sản phẩm Kết quả mua sắm sản phẩm của người tiêu dùng sẽ phụ thuộc vào các bước của lộ trình này có thực hiện trôi chảy hay không
Những phản ứng đáp lại của khách hàng: Là những phản ứng mà khách hàng bộc lộ
trong quá trình trao đổi mà ta quan sát được như hành vi tìm kiếm thông tin về hàng hóa, lựa chọn nhãn hiệu, lựa chọn thời gian, địa điểm, khối lượng mua sắm…
1.1.4 Tiến trình mua của người tiêu dùng
Để có một giao dịch, người mua phải trải qua một tiến trình gồm năm giai đoạn gồm: nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án, quyết định mua và hành
vi sau khi mua Tiến trình đó được thể hiện dưới sơ đồ sau:
Sơ đồ: Tiến trình mua của người tiêu dùng (Nguồn: Marketing căn bản, Trần Minh Đạo)
Nhận biết
nhu cầu
Tìm kiếm thông tin
Đánh giá các phương án
Quyết định mua
Hành vi sau khi mua
Trang 7Rõ ràng quá trình mua đã bắt đầu từ lâu trước khi mua và còn kéo dài đến sau khi mua.
Sơ đồ 1.2 cho rằng khách hàng khi mua một sản phẩm hay dịch vụ, phải trải qua năm giai đoạn trên Nhưng trên thực tế, khách hàng có thể bỏ qua hoặc đảo lại một số giai đoạn Tuy nhiên mô hình này vẫn có ý nghĩa bao quát được vấn đề nảy sinh khi khách hàng đứng trước một quyết định mua sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ
Nhận biết nhu cầu: Quá trình nhận thức vấn đề thực chất là sự nhận thức ra nhu cầu.
Nhận thức về nhu cầu của mỗi cá nhân được hình thành do có những tác động bên trong hoặc bên ngoài Mỗi khi một nhu cầu nào đó xuất hiện các cá nhân luôn cần phải thỏa mãn nó Mức độ thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dung được thể hiện rõ ràng trong tháp nhu cầu của Maslow Hơn nữa có thể lòng trung thành của người tiêu dùng sẽ lớn hơn nếu họ thỏa mãn được những nhu cầu ở cấp độ thấp hơn
Tìm kiếm thông tin: Người tiêu dùng có nhu cầu sẽ bắt đầu tìm kiếm thêm thông tin Ta
có thể phân ra làm hai mức độ Trạng thái tìm kiếm tương đối vừa phải được gọi là trạng thái chú ý nhiều hơn Mối quan tâm then chốt của người làm Marketing là những nguồn thông tin chủ yếu mà người tiêu dùng tìm đến và ảnh hưởng tương đối của từng nguồn đó đến quyết định mua sắm tiếp sau Các nguồn thông tin của người tiêu dùng được chia thành bốn nhóm
Nguồn thông tin cá nhân: Gia đình, bạn bè, hàng xóm, người quen.
Nguồn thông tin thương mại: Quảng cáo, nhân viên bán hàng, đại lý, bao bì,
triển lãm
Nguồn thông tin công cộng: Các phương tiện thông tin đại chúng, các tổ chức
nghiên cứu người tiêu dùng
Nguồn thông tin thực nghiệm: Sờ mó, nghiên cứu và sử dụng sản phẩm.
Số lượng tương đối và ảnh hưởng của những nguồn thông tin này thay đổi tuỳ theo loại sản phẩm và đặc điểm của người mua
Trang 8Đánh giá các phương án: Người tiêu dùng xử lý thông tin về các nhãn hiệu cạnh tranh
rồi đưa ra phán quyết cuối cùng về giá trị như thế nào? Người tiêu dùng khác nhau về cách họ nhìn nhận những tính chất nào của sản phẩm là quan trọng hay nổi bật Họ sẽ chú
ý nhiều nhất đến những tính chất sẽ đem lại cho họ những ích lợi cần tìm kiếm Những người làm Marketing cần quan tâm nhiều hơn đến tầm quan trọng mà người tiêu dùng gán cho những tính chất khác nhau
Người tiêu dùng có khuynh hướng xây dựng cho mình một tập hợp những niềm tin vào các nhãn hiệu, khi mỗi nhãn hiệu được đánh giá theo từng tính chất Những niềm tin vào nhãn hiệu tạo nên hình ảnh về nhãn hiệu Niềm tin vào nhãn hiệu của người tiêu dùng sẽ thay đổi theo kinh nghiệm của họ và tác động của nhận thức có chọn lọc, bóp méo có chọn lọc và ghi nhớ có chọn lọc
Người ta cho rằng đối với mỗi người tiêu dùng có một hàm ích lợi Hàm ích lợi mô tả mức độ hài lòng của người tiêu dùng với sản phẩm biến thiên như thế nào theo các mức
độ khác nhau của từng tính chất Người tiêu dùng hình thành các thái độ (nhận xét, ưa thích) đối với các nhãn hiệu qua một quy trình đánh giá Người ta phát hiện thấy rằng người tiêu dùng áp dụng những quy trình đánh giá khác nhau để lựa chọn những đối tượng nhiều tính chất
Quyết định mua: Ở giai đoạn đánh giá, người tiêu dùng đã hình thành sở thích đối với
những nhãn hiệu trong tập lựa chọn Người tiêu dùng cũng có thể hình thành ý định mua nhãn hiệu ưa thích nhất Tuy nhiên còn hai yếu tố nữa có thể xen vào giữa ý định mua và quyết định mua hàng Những yếu tố này được thể hiện trong những bước từ giai đoạn đánh giá các phương pháp đến giai đoạn quyết định mua hàng
Đánh
giá các
phương
án
Ý định mua hàng
Những yếu tố hoàn cảnh (Những rủi ro đột xuất, sự sẵn
có của sản phẩm, …
Thái độ của người khác (Gia đình, bạn bè, dư luận,…)
Quyết định mua
Trang 9Ý định mua hàng cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố tình huống bất ngờ Người tiêu dùng hình thành ý định mua hàng trên cơ sở những yếu tố như (thu nhập dự kiến của gia đình, giá dự kiến và ích lợi dự kiến của sản phẩm) Khi người tiêu dùng sắp sửa hành động thì những yếu tố tình huống bất ngờ có thể xuất hiện đột ngột và làm thay đổi ý định mua hàng.Vì vậy những sở thích và thậm chí cả những ý định mua hàng cũng không phải là những dấu hiệu hoàn toàn tin cậy báo trước hành vi mua hàng
Quyết định của người tiêu dùng thay đổi, hoãn hay huỷ bỏ quyết định mua hàng chịu ảnh hưởng rất nhiều rủi ro nhận thức được.Những món hàng đắt tiền đòi hỏi phải chấp nhận rủi ro ở một mức độ nào đó.Người tiêu dùng không thể giám chắc được về kết quả của việc mua hàng Điều này gây ra sự băn khoăn lo lắng Mức độ rủi ro nhận thức được thay đổi theo số tiền bị nguy hiểm, mức độ không chắc chắn của các tính chất và mức độ tự tin của người tiêu dùng người tiêu dùng triển khai những biện pháp nhất định để giảm bớt rủi ro, như huỷ bỏ quyết định, thu thập thông tin từ bạn bè, và những yếu tố gây ra cảm giác bị rủi ro ở người tiêu dùng, cung cấp những thông tin và hỗ trợ để làm giảm bớt rủi
ro nhận thức được
Đánh giá sau khi mua: Sau khi mua sản phẩm người tiêu dùng sẽ cảm thấy hài lòng hay
không hài lòng ở một mức độ nào đó Người tiêu dùng cũng sẽ có những hành động sau khi mua và những cách sử dụng sản phẩm đáng để cho người làm Marketing quan tâm Công việc của người làm Marketing chưa kết thúc khi sản phẩm đã được mua, mà còn
tiếp tục cả trong thời kỳ sau khi mua Những hành động sau khi mua Sự hài lòng hay
không hài lòng của người tiêu dùng với sản phẩm sẽ ảnh hưởng đến hành vi tiếp theo
Những yếu tố hoàn cảnh (Những rủi ro đột xuất, sự sẵn
có của sản phẩm, …
Trang 10Nếu người tiêu dùng hài lòng thì xác suất để người đó sẽ mua sản phẩm ấy nữa sẽ lớn hơn
Người khách hàng hài lòng cũng sẽ có xu hướng chia sẻ những nhận xét tốt về nhãn hiệu
đó với những người khác Đúng như lời những người làm Marketing vẫn thường nói:
"Khách hàng hài lòng là cách quảng cáo tốt nhất của chúng ta"
Những người làm Marketing có thể có những biện pháp nhằm giảm đến mức tối thiểu số người tiêu dùng không hài lòng sau khi mua Những công ty khôn ngoan đều hoan nghênh những thông tin phản hồi của khách hàng và xem đó là một cách để không ngừng cải tiến hàng hóa và kết quả hoạt động của mình
Việc hiểu được những nhu cầu và quá trình mua sắm của người tiêu dùng là hết sức quan trọng, để có thể hoạch định được những chiến lược Marketing có hiệu quả Bằng cách tìm hiểu phương án, quyết định mua và hành vi sau khi mua, người làm Marketing có thể phát hiện ra những cách làm thế nào để đáp ứng những nhu cầu của người mua Qua việc nắm được những người làm tham gia quá trình mua sắm và những ảnh hưởng chủ yếu đến hành vi mua sắm của họ người làm Marketing có thể thiết kế được những chương trình Marketing có hiệu quả cho các thị trường mục tiêu của mình
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng
Quá trình mua hàng của khách hàng bị tác động bởi một số nhân tố mà những nhà quản trị tiếp thị không thể kiểm soát được bao gồm yếu tố văn hoá, yếu tố xã hội, yếu tố cá nhân và yếu tố tâm lý