Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nuớc, chúng ta phải tiếp tục đổi mới toàn diện và triệt để các lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là đổi mới hệ thống
Trang 1TIỂ U LU Ậ N
Áp dụng những tư tưởng của Hàn Phi Tử trong điều kiện Việt Nam hiện nay
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Hơn 15 năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất nuớc đã đạt đuợc nhiều thành tựu quan trọng Đất nuớc ta buớc vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu dân giàu, nuớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nuớc, chúng ta phải tiếp tục đổi mới toàn diện và triệt để các lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là đổi mới hệ thống chính trị XHCN, xây dựng và hoàn thiện nhà nuớc pháp quyền của dân, do dân và vì dân Nhận thức rõ yêu cầu đó, đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX
đã khẳng định: "Nhà nuớc ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nuớc pháp quyền của dân, do dân và vì dân Quyền lực Nhà nuớc là thống nhất, có sự phân công và phối họp giữa các cơ quan Nhà nuớc trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Nhà nuớc quản lý xã hội bằng pháp luật"
Trong quá trình kiện toàn tổ chức, đổi mới phuơng thức và nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý xã hội của Nhà nuớc, việc kế thừa có chọn lọc những tư tưởng và học thuyết quản lý xã hội trong lịch sử đóng vai trò đặc biệt quan trọng Bởi vì những
tư tưởng và học thuyết quản lý xã hội, kể cả ở phuơng Đông và phuơng Tây, đều là sản phẩm trí tuệ con nguời, đã đuợc kiểm nghiệm qua thực tiễn lịch sử Chúng có giá trị nhất định trong việc giúp chúng ta tìm ra những giải pháp hữu hiệu để xây dựng và hoàn thiện Nhà nuớc pháp quyền XHCN ở nuớc ta trong giai đoạn hiện nay Trong đó, thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử, một trong những tư tưởng chính trị-xã hội nổi bật
Trang 3trong thời kỳ Trung Quốc cổ đại, đã để lại nhiều kinh nghiệm lịch sử to lớn đối với quá trình thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật của Nhà nuớc
Xuất phát từ những đòi hỏi về lý luận và thực tiễn nêu trên, việc nghiên cứu
thuyết pháp trị của Hàn Phi Tử là thực sự cấp thiết Vì vậy, tôi đã nghiên cứu đề tài: "Áp
dụng những tư tưởng của Hàn Phi Tử trong điều kiện Việt Nam hiện nay" làm đề tài
tiểu luận của mình
Trang 4TÓM TẮT
Trong lịch sử tư tưởng Trung Quốc cổ đại, tư tưởng pháp trị mà đại biểu xuất sắc là Hàn Phi Tử có một vai trò đặc biệt trong sự nghiệp thống nhất đất nước và phát triển xã hội cuối thời Xuân Thu - Chiến Quốc Nội dung cơ bản của tư tưởng pháp trị là
đề cao vai trò của pháp luật và chủ trương dùng pháp luật hà khắc để trị nước
Tác phẩm Hàn Phi Tử là một tác phẩm độc đáo, và là công trình quan trọng nhất của chính trị học Trung Hoa, là một trong những tác phẩm đầu tiên của chính trị học thế giới
Về tư tưởng nó xác lập trường phái pháp gia, một trong bốn trường phái lớn nhất của Trung Quốc (Nho, Pháp, Mặc, Đạo) Nó là một trong những công trình cực kỳ hấp dẫn, viết cách đây 2.300 năm nhưng ai cũng giật mình về tính thời sự của nó, ta có cảm tưởng tác giả là người hiện nay, nói bằng ngôn ngữ và cách lý luận hôm nay về cách quan hệ giữa người với người, không chỉ ở Trung Hoa mà cả thế giới, trong đó có Việt Nam
Đó là một con người có đầu óc lỗi lạc của Trung Hoa và của xã hội loài người Ngày nay, chúng ta nghiên cứu tư tưởng Hàn Phi Tử vẫn thấy những tác nhân hợp lý của
nó, vẫn đầy tính thực tiễn trong đời sống xã hội, trong ứng xử giữa người với người, trong quản lý và thuật trị mới
Dù trải qua cả một thời gian dài trong lịch sử nhân loại, nhưng đến nay tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử cũng đáng để cho mọi người suy ngẫm
Tư tưởng của ông tồn tại lâu như vậy đó là vì nó có tính giáo dục sâu sắc, chỉ cho con người sống tốt đời đẹp đạo, có lý có tình, nên cơ sở vận dụng một cách linh hoạt vào thực tiễn cuộc sống
Trang 5TƯ TƯỞNG PHÁP TRỊ CỦA HÀN PHI TỬ
I Tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử
Hoàn cảnh lịch sử và cuộc đòi của Hàn Phi Tử
1 Bối cảnh xã hội Trung Hoa cổ đại thời Hàn Phi Tử
Lịch sử Trung Hoa cổ đại có hai thời kỳ được nói đến nhiều nhất: Xuân Thu và Chiến Quốc
Thời Xuân Thu (770 - 403 TCN) là thời kỳ suy tàn của nhà Chu, đây chính là thời
kỳ sinh sống của Lão Tử, Khổng Tử (551 - 479 TCN)
Thời Chiến Quốc (403 - 221 TCN) từ gàn cuối đời Uy Liệt Vương, tới khi nhà Tần diệt nhà Tề thống nhất đất nước, đó là thời kỳ sinh sống của Hàn Phi Tử (280 - 233 TCN)
So với thời Xuân Thu thì Chiến Quốc loạn lạc và bất ổn định hơn về chính trị, nhưng lại phát triển hơn về kinh tế Trong thời Xuân Thu, công cụ sản xuất và khí giới chủ yếu là bằng đồng, sắt bắt đầu được dùng cuối thời kỳ này và trở nên thông dụng vào thời Chiến Quốc, do đó, thúc đẩy việc mở rộng đất đai nông nghiệp, tăng năng suất lao động Đây là thời kỳ đạo đức suy đồi, người ta chỉ tìm mọi cách để tranh lợi Quan lại tham nhũng, ăn chơi xa hoa truy lạc; chiến tranh kéo dài liên miên khiến cho đời sống của nhân dân càng thêm đói khổ cùng cực Trước tình cảnh xã hội như vậy, tầng lớp quý tộc và tầng lớp trí thức có sự chia rẽ về tư tưởng
2 Nội dung tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử
Nội dung cơ bản của tư tưởng chính trị đã phân tích những ưu điểm, hạn chế của Quản Trọng, Ngô Khởi, Bạch Lý Hề, Thận Đáo và tổng kết, hoàn thiện thành học thuyết pháp trị của mình Học thuyết đó dựa trên ba nội dung cơ bản “pháp, thuật, thế” Ông đồng tình với Tuân Tử cho rằng, con người ta có tính ác, nhưng lý giải về vấn đề lợi ích Việc cai trị phải căn cứ vào lợi ích để thường hay phạt
+ Pháp
Trang 6Luật do vua ban ra, quan giám sát, nhân dân thực hiện Luật phải đứng đắn phù hợp, công khai trên dưới đều biết Tất cả cứ đứng mực thước, đứng pháp luật mà làm thì xã hội sẽ ổn định
+ Thuật
Là nghệ thuật, thủ thuật trị nước vua phải luôn cảnh giác với người xung quanh, biết sử dung người đúng lúc, đứng chỗ, đúng khả năng Vua phải sáng suốt, không để
lộ sự yêu ghét để quần thần lợi dụng
Dùng thuật để biết rõ người ngay kẻ gian, để điều khiển bề tôi Thực chất đó là thủ đoạn của người làm vua để điều khiển các quan lại, phải giữ gìn pháp luật và tuân theo mệnh lệnh
+ Thế
Là uy thế quyền lực của người làm vua Vua phải triệt để sử dụng quyền của mình để trị nước
Quyền lực phải tập trung tuyệt đối vào tay nhà vua, không được trao quyền cho bất cứ ai, phải dùng pháp luật để củng cố quyền lực
Nếu chỉ có pháp luật và thuật mà thiếu quyền lực (thế) để cưỡng bức thì cũng không thể cai trị được
+ Pháp, thuật và thế có quan hệ chặt chẽ cho nhau, bổ sung cho nhau, trong đó pháp là trung tâm, thuật và thế là điều kiện để thực hành pháp luật
+ Thưởng, phạt là công cụ để thi hành pháp luật Phạt nặng để răn đe kẻ xấu, thưởng hậu để khuyến khích, động viên mọi người làm việc Thưởng, phạt nghiêm minh, thỏa đáng mới bảo vệ được pháp luật
+ Phủ nhận thần quyền
i- Một số hạn chế trong tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử
Pháp gia chỉ chú trọng đến hành chính, pháp luật và làm thế nào để quốc gia phú cường chứ không giáo dục dân, bất chấp nguyện vọng của dân, ông bảo vệ người giàu
Trang 7có và giai cấp quý tộc.
Ông chỉ nhìn thấy con người ờ góc độ vụ lợi, cho đến nhà nước, theo ông cũng chỉ quy về chủ nghĩa thực dụng, không thấy được lý tường cao đẹp và sẵn sàng quên mình cho lý tường ấy của những con người có tâm có đức
Ông tuyệt đối hóa pháp luật ở những khía cạnh biểu hiện cụ thể của nó, mà không thấy được còn có những công cụ khác kết họp để trị nước, nói như người phương Đông là "thấu tình, đạt lý"
Lý thuyết của ông không thể thực hiện được nguyên nghĩa của nó, khi mà xã hội còn tổ chức theo kiểu quân chủ chuyên chế vì theo Hàn Phi Tử, hình phạt không áp dụng đối với vua và thiên tử Vì vậy, Hàn Phi Tử cũng không thể tìm ra được cơ chế bắt buộc nhà vua phải đề phòng cái họa mà ông thấy từ trước
3 Tư tưởng pháp gia của Hàn Phi Tử
Thời Chiến Quốc chính là thời kỳ lịch sử phát triển rực rỡ về tư tưởng “trăm hoa đua nở”, “bách gia chư tử”
Ở thời kỳ này có 3 dòng tư tưởng lớn nhất cùng tồn tại đó là:
- Phái thứ nhất, có Nho gia và Mặc Tử, Khổng Tử muốn khôi phục nhà Chu Mặc Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử thấy nhà Chu suy yếu, không cứu được, lại mong có vị minh quân thay Chu thống nhất Trung Hoa bằng chính sách đức trị có sửa đổi ít nhiều
- Phái thứ hai, phái Đạo gia muốn giảm thiểu, thậm chí giải tán chính quyền, sống tự nhiên như thuở sơ khai, từ bỏ xã hội phong kiến để trở về xã hội cộng sản nguyên thuỷ
- Thứ ba, phái pháp gia muốn dùng vũ lực lật đổ chế độ phong kiến phân tán và lập
ra chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế, thay “vương đạo” của Khổng Mạnh bằng chính sách “Bá đạo”
Tư tưởng của Hàn Phi Tử: là dùng pháp trị nhưng lại trọng dân Trước khi đặt ra luật lệ mới, ông để cho dân tự phê bình Còn lập pháp thuộc về nhà vua; quy tắc lập pháp phải lấy tính người và phép trời làm tiêu chuẩn Hành pháp thì phải công bố luật cho rõ
Trang 8ràng, thi hành cho nghiêm chỉnh, tránh thay đổi nhiều, phải “chí công vô tư”, “vua tôi, sang hèn đều phải theo pháp luật”, thưởng phạt phải nghiêm minh, “danh chính, pháp hoàn bị thì bậc minh quân chẳng có việc gì phải làm nữa, vô vi mà được trị”
Chính sách cai trị phải dựa vào ý dân, dân muốn gì thì cấp cho cái đó, không muốn cái gì thì trừ cho cái đó Hàn Phi Tử lại đưa ra quan điểm: bản chất con người là ác, muốn quản lý xã hội phải khởi xướng ra lễ nghĩa và chế định ra pháp luật để uốn nắn tính xấu của con người; theo các ông quản lý xã hội là vị pháp chứ không vị đức
Hơn hai nghìn năm sau, tư tưởng vị lợi của Hàn Phi Tử được tái hiện trong tư tưởng
“con người kinh tế” - cơ sở triết học của học thuyết quản lý theo khoa học của Taylor
và bản chất con người là lời nhác và ham lợi của “Thuyết X”, được Mc Gregor đưa ra Thực dụng hơn, cực đoan hơn trong tư tưởng quản lý so với thời Taylor Hàn Phi Tử đã
mở rộng cái bản chất vị lợi đến mọi mối quan hệ gia đình và xã hội Chẳng hạn trong mối quan hệ cha - con, chữ “Hiếu” của Nho gia đã bị thay thế bằng sự tính toán lợi hại tàn nhẫn
Chúng ta có thể cho rằng, Hàn Phi Tử là một người duy lý, duy lợi theo chủ nghĩa thực dụng Song cũng phải thừa nhận rằng ông có một trí tuệ rất sâu sắc Và chính ông
đã vì sự tồn vong của đất nước mình mà phải chịu chết thảm, tuy rằng ông biết trước
đó là số phận chung của các pháp gia có tài và có tâm, nhiệt thành yêu nước Kỳ lạ hơn, Hàn Phi Tử đã vượt rất xa thời đại mình khi ông nêu ra tư tưởng đấu tranh sinh tồn và giải thích nguyên nhân của sự nghèo khổ là do dân số tăng lên quá nhanh, vượt xa sự gia tăng của sản xuất (xem thiên ngũ đố) Hàn Phi nhắc các vị vua phải cứng rắn, nghiêm khắc trong việc trị nước, đồng thời ông cũng mong muốn họ thực hiện chí công
vô tư, từ bỏ tư lợi, tà tâm cứ theo phép công mà làm thì nước sẽ thịnh: “Không nước nào luôn mạnh, không nước nào luôn yếu Người thi hành pháp luật (tức vua) mà cương cường thì nước mạnh, người thi hành pháp luật mà nhu nhược thì nước yếu Cho nên ở vào thời kỳ này, nhà cầm quyền nào biết từ bỏ lợi, tà tâm mà theo phép công thì binh sẽ mạnh, địch sẽ yếu” Mặc dù dân trí thấp, người dân chỉ biết cái lợi trước mắt , nhưng Hàn Phi Tử vẫn đề cao chính sách dùng người, tài năng của nhà cai trị thể
Trang 9hiện ở việc dùng sức, dùng trí của người khác Đây là một tư tưởng rất sâu sắc về quản
lý mà Hàn Phi Tử đã nêu ra
Hàn Phi Tử phát triển học thuyết của mình trên cơ sở kế thừa của các pháp gia trước ông, nhưng phải đến Hàn Phi Tử thì nó mới trở nên sâu sắc, phổ biến với nhiều nội dung mới Hàn Phi Tử dùng chữ “pháp” theo nghĩa phép tắc, còn pháp gia nói tới “pháp”
là chỉ pháp luật Hàn Phi Tử ví pháp luật với dây mực, cái quy, cái cũ tức là những đồ dùng làm tiêu chuẩn để phân biệt đúng sai, phải trái Pháp không tách rời khỏi “thế và thuật” mà cùng tạo nên một cái kiềng ba chân Luật pháp phải kịp thời Hàn Phi viết:
“Thời thay mà pháp luật không đổi thì nước loạn, đòi đã thay đổi mà cấm lệnh không biến thì nước bị cắt” Đối với Hàn Phi Tử, pháp luật là thứ “phép công” điều khiển hành vi của mọi người Trong các phạm trù cơ bản của pháp học thi pháp là quan trọng nhất, sau mới đến “thế và thuật” Hàn Phi Tử đã kế thừa tư tưởng “vô vi” của Nho và Đạo, biến
nó thành thuật cai trị của vua chúa
Trong cai trị - quản lý thì “tiên phú, hậu giáo”- trước hết là làm cho dân giàu sau
đó thì giáo dục họ Trong giáo dục thì “tiên học lễ - hậu học văn” Nho gia chủ trương cai trị bằng đạo đức, bằng văn và đã phát triển học thuyết-phương pháp Đức trị (Nhân trị) Ngược lại, pháp gia đã đưa ra một học thuyết và phương pháp cai trị mới - pháp trị
“Pháp bất vị thân”, pháp phải hợp thời, pháp luật phải soạn sao cho dân dễ biết, dễ thi hành; pháp luật phải công bằng, bênh vực kẻ thiểu số; thưởng phải trọng hậu, phạt phải nặng Đó là tư tưởng về chính trị quản lý xã hội còn có ý nghĩa đối với hiện nay
Vậy, thành công lớn nhất của giai đoạn này, mặc dù còn bị hạn chế dưới góc độ
tư tưởng quản lý đã tạo lập nhiều quan điểm quản lý quan trọng thuộc phạm vi quản lý
vĩ mô, đã vạch ra được logic của quá trình quản lý xã hội bao gồm các mức từ thấp đến cao: “Chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, đã đưa ra được trình tự tiến hành các hoạt động quản lý: “trị đạo, trị học, trị thể, trị tài, trị phong, trị thuật” mà ngày hôm nay trong quản lý nói chung, và quản lý kinh tế nói riêng vẫn còn có thể khai thác
và sử dụng tốt
Trang 10II Vận dụng tư tưởng pháp trị của Hàn Phi Tử vào công cuộc xây dựng xã hội Việt Nam hiện nay
Pháp trị của Hàn Phi Tử là dùng pháp luật để cai trị, chứ không phải dùng đạo đức
để cai trị Trong trường hợp này, pháp luật chỉ là công cụ của Nhà nước và Nhà nước đứng trên pháp luật Một Nhà nước chuyên quyền sẽ ban hành mọi thứ luật mà Nhà nước đó muốn và cần để cai trị
Còn khái niệm pháp trị gắn liền với Nhà nước pháp quyền thì đối lập với khái niệm nhân trị Pháp trị là pháp luật cai trị chứ không phải con người cai trị Trong trường hợp này không ai có thể đứng trên pháp luật, kể cả Nhà nước
Theo cách hiểu như trên, pháp trị là một trật tự pháp lý độc lập (với chính trị, tôn giáo ) Nó bao gồm ba ý nghĩa cơ bản sau đây: pháp trị là công cụ để điều chỉnh Nhà nước (điều chỉnh quyền lực); pháp trị có nghĩa là tất cả mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật; pháp trị có nghĩa là bảo đảm công lý về thủ tục và về hình thức
Với tư cách là công cụ điều chỉnh quyền lực, pháp trị có hai chức năng: một là hạn chế sự độc đoán của Nhà nước và hạn chế sự lạm quyền; hai là làm cho nhà nước hành xử hợp lý, làm cho chính sách của Nhà nước được anh minh Lạm quyền được hạn chế bằng những nguyên tắc sau đây:
- Bảo đảm tính tối thượng của pháp luật Pháp luật phải được đặt ừên Nhà nước và đảng phái
- Nhà nước phải tuân thủ một hệ thống thủ tục được xác lập từ trước và được công bố công khai
- Bảo đảm nguyên tắc người dân được làm mọi điều pháp luật không cấm, nhưng Nhà nước chỉ được làm những điều mà pháp luật cho phép
Mặc dù những nguyên tắc nói trên hạn chế khả năng hành xử tùy tiện của Nhà nước, nhưng chứng lại làm cho việc hành xử của Nhà nước được dẫn dắt nên thường hợp lý và anh minh
Với tư cách là công cụ bảo đảm công lý về thủ tục và về hình thức, chế độ pháp