Với mục tiêu đánh giá hiệu quả can thiệp đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại thành phố Tuyên Quang, một nghiên cứu can thiệp đã được áp dụng. Kết quả cho thấy thực trạng thực phẩm chế biến sẵn mất an toàn cao: tỷ lệ thực phẩm hư hỏng chiếm 21 – 38 %, tỷ lệ sử dụng hàn the từ 77,7% – 83,3%. Sau can thiệp KAP của người sản xuất, kinh doanh, quản lý thực phẩm chế biến sẵn tốt lên nhiều. Tác giả khuyến nghị cần tăng cường truyền thông, giáo dục đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm cho người sản xuất, kinh doanh, quản lý thực phẩm chế biến sẵn tại thành phố Tuyên Quang.
Trang 1HIỆU QUẢ CAN THIỆP ĐẢM BẢO AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM TẠI THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG
TÓM TẮT
Với mục tiêu đánh giá hiệu quả can thiệp đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại thành phố Tuyên Quang, một nghiên cứu can thiệp đã được áp dụng Kết quả cho thấy thực trạng thực phẩm chế biến sẵn mất an toàn cao: tỷ lệ thực phẩm
hư hỏng chiếm 21 – 38 %, tỷ lệ sử dụng hàn the từ 77,7% – 83,3% Sau can thiệp KAP của người sản xuất, kinh doanh, quản lý thực phẩm chế biến sẵn tốt lên nhiều Tác giả khuyến nghị cần tăng cường truyền thông, giáo dục đảm bảo
an toàn vệ sinh thực phẩm cho người sản xuất, kinh doanh, quản lý thực phẩm chế biến sẵn tại thành phố Tuyên Quang
Summary
The intervention’s effect for food safety in Tuyenquang city
With the aim of study evaluating the intervention’s effect for food safety
in Tuyenquang city, a intervention study was carried out The results showed that: The real situation of food not safety is high 21 – 38 % of ready to eat food are spoiled The high proportion of the borax (77.7% – 83.3%) After the intervention, Knowledge, Attitude and Practice of producers and sellers are increasing…The authors recommened that: the knowledge, attitude and practice
of producers, sellers, managers in Tuyenquang city should be improved by communication education on food safety
1 ĐẶT VẤN ĐỀ
ATVSTP luôn là vấn đề hết sức bức xúc và có tầm quan trọng trong đời sống cộng đồng, đặc biệt trong giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội hiện nay của nhiều nước trên thế giới, trong đó có nước ta Theo số liệu thống kê của Cục An toàn vệ sinh thực phẩm - Bộ Y tế, mỗi năm có khoảng 5000 người mắc các loại ngộ độc thực phẩm Tuy nhiên theo WHO thì con số này có thể đến 10 triệu mỗi năm Tình hình ngộ độc thực phẩm tại Tuyên Quang cũng nằm trong tình trạng chung của cả nước song nguy cơ có thể còn cao hơn nhiều Đề tài nghiên cứu của chúng tôi nhằm đáp ứng các mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng an toàn vệ sinh thực phẩm tại thành phố Tuyên Quang.
2 Đánh giá hiệu quả can thiệp bằng giám sát kết hợp truyền thông giáo dục đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm tại thành phố Tuyên Quang năm 2011.
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, địa điểm nghiên cứu: Các hộ sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ thực phẩm trên địa bàn thành phố Tuyên Quang
2.2 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả kết hợp với can thiệp
trước sau có đối chứng Chọn ngẫu nhiên hai phường theo phương pháp bốc
Trang 2thăm Kết quả, P Minh Xuân được chọn là phường can thiệp, P Phan Thiết được
chọn làm đối chứng Cỡ mẫu được tính theo công thức
n = (Z1- α /2+ Z1- β)2
2 2 1
2 2 1 1
) p p (
q p q p
− +
Lấy Z1- α /2 = 1,96
Z1- β = 0,84 ( lực mẫu thường được lựa chọn là 80%)
p1: Tỷ lệ gặp trước can thiệp
p2: Ước lượng sau can thiệp
p1 = 55% (Tỷ lệ Kiến thức tốt/Kiến thức tốt về ATVSTP theo kết quả nghiên cứu của Phạm Tiến Thọ tại Thái Nguyên năm 2009) [72]
p2 = 28% (Tỷ lệ KAP về ATVSTP mong muốn sau khi can thiệp)
Thay các số liệu trên vào công thức, kết quả tính được là 48,3 hộ làm tròn là
50 hộ
Chọn hộ cho mẫu tại phường can thiệp theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống, chọn ghép cặp tương đồng về quy mô sản xuất, loại hình, thực phẩm kinh doanh trên cơ sở mẫu can thiệp cho mẫu đối chứng
2.3 Kỹ thuật thu thập số liệu
- Tập huấn, truyền thông trực tiếp, gián tiếp…
- Phỏng vấn theo mẫu với các nhà quản lý, các hộ kinh doanh (KAP)
- Giám sát các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ lấy mẫu xét nghiệm; đánh giá về môi trường, trang thiết bị dụng cụ chế biến và con người
- Phiếu thu thập hệ thống đảm bảo chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm tại tuyến tỉnh, tuyến huyện về con người, phương tiện, điều kiện cơ sở vật chất
Đánh giá các tiêu chuẩn đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm (ĐBATVSTP) theo Quy định của Bộ Y tế [2], [3]
Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê y học trên phần mềm EPI INFO 6.04
3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
Bảng 3.1 Tỷ lệ thực phẩm hư hỏng biến chất (TPHH)
Địa điểm Chỉ số, Thức ăn
P Minh Xuân
(SL = 50)
P Phan Thiết
Số XN Số HH,
%
Số XN
Số HH,
%
Số XN
Số HH,
%
Mỡ ôi Các loại mỡ 9 2(22,2) 9 3(33,3) 18 5(27,7)
Trang 3NH3
(Protid
Thịt quay, nướng 12 3(25,0) 12 4(33,3) 24 7(29,1)
Tỷ lệ thức ăn đã chế biến bị biến chất khá cao Các sản phẩm có dầu, mỡ bị thoái hóa (Độ ôi khét/ 21,4% đến 38,1%) Các sản phẩm giàu đạm bị thoái hóa (sinh NH3: 25,0% đến 29,0%) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như Hà Thị Anh Đào, Vi Văn Sơn và CS [5]
Tỷ lệ sử dụng Hàn the trong giò, chả ở cả 2 phường còn rất cao từ 77,7% - 83,3%, các sản phẩm thịt cá cũng chiếm tỷ lệ từ 20,0% đến 28,5%
Bảng 3.2 Liên quan giữa giới của người CBKD và thực hành khám sức khỏe định kỳ/ Người chế biến
Khám SKĐK Giới
Có mối liên quan rõ rệt giữa giới tính của người CBKD và thực hành
khám SKĐK của người chế biến, kinh doanh thực phẩm ( p< 0,05)
Bảng 3.3 Liên quan giữa việc tập huấn của người CBKD và thực hành khám sức khỏe định kỳ/ Người chế biến
Có mối liên quan rõ rệt giữa việc tập huấn kiến thức đảm bảo ATVSTP
của người CBKD và thực hành khám SKĐK của người chế biến, kinh doanh thực phẩm (p< 0,05)
Bảng3 4 Hiệu quả can thiệp cải thiện về kiến thức ĐBATVSTP (Tốt) Hiệu quả CT
Phường
Trước CT Sau CT
Trang 4Minh Xuân (CT) 14 28 26 52 85,71
Kiến thức tốt tại phường can thiệp tăng lên sau can thiệp (chỉ số hiệu quả đạt 85,71%) Trong khi phường không can thiệp, sự thay đổi không đáng kể Mặc dù kiến thức có thay đổi nhưng vẫn cần phải tiếp tục truyền thông, kết hợp với giám sát để kết quả được duy trì bền vững theo khuyến cáo của Cục an toàn vệ sinh thực phẩm [1], [6]
Bảng3 5 Hiệu quả can thiệp cải thiện thái độ ĐBATVSTP (Tốt)
Hiệu quả CT
Phường
Trước CT Sau CT CSHQ
%
Thái độ tốt tại phường can thiệp tăng lên sau can thiệp (chỉ số hiệu quả đạt 50,00%) Trong khi phường không can thiệp, sự thay đổi không đáng kể Thái độ
đã cải thiện rất nhiều tại phường can thiệp, cho thấy truyền thông giáo dục ĐBATVSTP có thể thay đổi hành vi, cần được nhân rộng trong cộng đồng
Bảng3 6 Hiệu quả can thiệp cải thiện thực hành ĐBATVSTP (Tốt) Hiệu quả CT
Phường
Trước CT Sau CT CSHQ
%
Thực hành tốt tại phường can thiệp tăng lên sau can thiệp (chỉ số hiệu quả đạt 113,64%) Trong khi phường không can thiệp, sự thay đổi không đáng kể Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như Hà Thị Anh Đào, Vi Văn Sơn và
CS [5]
Bảng 3.7 Hiệu quả can thiệp cải thiện KAP (tốt) đảm bảo ATVSTP của người sản xuất chế biến kinh doanh thực phẩm
Trang 5Hiệu quả CT KAP
CSHQ của
P Minh Xuân
CSHQ của
P Phan Thiết HQCT
Hiệu quả can thiệp cải thiện kiến thức, thái độ và thực hành của người chế biến và kinh doanh thực phẩm tại thành phố Tuyên Quang tăng lên tương đối rõ rệt sau can thiệp, đặc biệt là cải thiện thực hành tốt và kiến thức (Hiệu quả can thiệp cải thiện thực hành tăng 111,64; Hiệu quả can thiệp kiến thức tốt tăng lên 69,04) thái độ về ATVSTP cũng tăng ở mức khá (Hiệu quả can thiệp 43,94) Nhìn chung KAP đã cải thiện một cách toàn diện tại phường can thiệp, như vậy truyền thông giáo dục kết hợp với giám sát một cách linh hoạt về ATVSTP là rất cần thiết, phải được nhân rộng trong cộng đồng
Bảng 3.8 Tỷ lệ sử dụng hàn the của các cơ sở chế biến kinh doanh thực phẩm sau can thiệp 1 năm phường Minh Xuân
Thời điểm Trước can thiệp Sau can thiệp
Dương tính Tỷ lệ %
Dương tính Tỷ lệ %
Kết quả cho thấy tỷ lệ sử dụng hàn the (Phường Minh Xuân) giảm nhiều sau tuyên truyền giáo dục đảm bảo ATVSTP, tỷ lệ dương tính chỉ còn 9,52% Còn các sản phẩm khác đều âm tính sau can thiệp Tỷ lệ sử dụng hàn the trong giò chả ở phường Phan Thiết cũng giảm xuống còn 25,00% Tuy nhiên tỷ lệ giảm không đáng kể, đặc biệt là các thực phẩm khác Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như Nguyễn Thu Ngọc Diệp, Cao Thị Kim Thoa và CS [4]
Bảng 3.9 Hiệu quả can thiệp cải thiện vệ sinh đối với dụng cụ của cơ sở chế biến thực phẩm tại P.Minh Xuân
Địa điểm Trước CT Sau CT P
Trang 6Bát, đĩa, thìa, đũa, Khô, sạch 38 76,00 45 90,00 <0,05
Dao, thớt dùng riêng
thực phẩm sống, chín
Dụng cụ bảo quản ,
che đậy thức ăn chín
Chất tẩy rửa dụng cụ Xà phòng,
chuyên dụng 25 50,00 36 72,00 <0,05
Tỷ lệ cơ sở chế biến kinh doanh thực phẩm đã được cải thiện về vệ sinh đối với dụng cụ tốt lên nhiều Cơ sở có các biện pháp bảo quản che đậy thức ăn chín tại các phường đã tăng lên từ 36 - 74% Thực trạng vệ sinh dụng cụ của các cơ sở chế biến thực phẩm đã tốt lên trên 80% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như Hà Thị Anh Đào,
Vi Văn Sơn và CS [5]
4 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
4.1 Kết luận
Thực trạng an toàn thực phẩm tại thành phố Tuyên Quang còn nhiều bất cập, đặc biệt là chất lượng ATVSTPCBS chưa tốt: Tỷ lệ thức ăn đã chế biến bị biến chất, sử dụng Hàn the trong giò, chả cao từ 77,7% - 83,3% tương đối cao
Can thiệp đã cải thiện được kiến thức, thái độ, thực hành đảm bảo an toàn
vệ sinh thực phẩm đối với người trực tiếp chế biến, kinh doanh thực phẩm Chỉ
số hiệu quả của người có kiến thức tốt đạt 85,71%, thái độ tốt đạt 50,0% , thực hành tốt đạt 113,64%
4.2 Khuyến nghị
1 Tiếp tục can thiệp bằng tuyên truyền giáo dục kiến thức ATVSTP, kết hợp với thanh tra, giám sát đối với các cơ sở chế biến, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn toàn tỉnh, nhằmthay đổi hành vi, phù hợp với từng đối tượng
2 Tổ chức tuyên truyền rộng rãi Luật An toàn thực phẩm tới nhân dân bằng nhiều hình thức đảm bảo hiệu quả cao nhất nhằm xã hội hóa công tác đảm bảo ATVSTP
Trang 73 Tăng cường công tác kiểm tra giám sát quản lý nhà nước về ATVSTP cả
về nguồn lực và vật lực Các ngành, các cấp phối hợp trong công tác tranh tra, kiểm tra về an toàn vệ sinh thực phẩm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế (2011), Báo cáo số 510/BC-BYT ngày 20/6/2011, Công tác y tế tháng 6 năm 2011 (từ ngày 21/5/2011 đến 20/6/2011)
2 Bộ Y tế (2005), Quyết định số 41/2005/QĐ-BYT ngày 08/12/2005 của Bộ Y tế
về việc Ban hành quy định điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm đối với cơ sở kinh doanh, dịch vụ, phục vụ ăn uống.
3 Bộ Y tế (2005), Quyết định số 43/2005/QĐ-BYT ngày 20/12/2005 của Bộ Y tế
về việc Ban hành quy định yêu cầu kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
4 Nguyễn Thu Ngọc Diệp, Cao Thị Kim Hoa, Nguyễn Thị Thoan, Đinh Thanh Bình, Bùi Sơn lâm (2008), Đánh giá thực trạng sử dụng hàn the, Formol, chất tẩy trắng, phẩm màu trong thực phẩm tại các chợ bán lẻ trên thị trường thành phố Hồ Chí Minh năm 2008
5 Hà Thị Anh Đào, Vi Văn Sơn, Nguyễn Minh Trường (2009), "Thực trạng vệ sinh cơ sở dịch vụ thức ăn đường phố khu vực chợ Đồng Xuân và Thanh Xuân
Bắc – Hà Nội", Kỷ yếu hội nghị khoa học về ATVSTP lần thứ 5, NXB Hà Nội.
6 Nguyễn Công Khẩn (2009), Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm ở Việt Nam – các thách thức và triển vọng Kỷ yếu hội nghị khoa học về ATVSTP Nxb Hà
Nội, tr 11- 26