1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ 6 11 tuổi tại các trường tiểu học huyện an dương, hải phòng năm 2013

82 1,3K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang 1 ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những thập kỷ trước đây, tình trạng suy dinh dưỡng, trẻ thấp còi là khá phổ biến, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách để cải thiện tình trạng này.Tuy nhiê

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những thập kỷ trước đây, tình trạng suy dinh dưỡng, trẻ thấp còi

là khá phổ biến, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách để cải thiện tình trạng này.Tuy nhiên cho tới nay khi tình trạng suy dinh dưỡng đã được cải thiện thì nước ta cũng như nhiều nước phát triển khác lại phải đương đầu với tình trạng thừa cân, béo phì và tình trạng này có xu hướng ngày càng gia tăng

Theo thống kê của Trung tâm kiểm soát và ngăn chặn bệnh tật của Mỹ (CDC) trong thời gian 2009-2010 có khoảng 69,2% người trưởng thành ở Mỹ thừa cân hoặc béo phì Hiện tại bệnh béo phì đang có tác động tới gần 78 triệu người lớn và 13 triệu trẻ em ở Mỹ Brazil sẽ có số lượng người béo phì đông thứ 2 vào năm 2020, khoảng 64 triệu [36]

.Sự gia tăng tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu ở các quốc gia đã và đang phát triển mà nguyên nhân không chỉ do chế độ ăn uống thiếu khoa học (mất cân bằng với nhu cầu cơ thể) mà còn do những yếu tố có liên quan (giảm hoạt động thể lực, stress, ô

nhiễm môi trường và cả những vấn đề xã hội ) Béo phì ở trẻ em dễ dẫn tới

những ảnh hưởng nặng nề về tâm lý ở trẻ như tự ti, nhút nhát, kém hòa đồng, học kém.[7], [8], [9]

Theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng cho thấy trong hai thập niên qua, tình trạng thừa cân và béo phì ở trẻ em, nhất là lứa tuổi 6-11 đang có

xu hướng tăng lên cùng với sự phát triển kinh tế nhất là các thành phố lớn và các đô thị.Trong những năm 1995-1996 tỷ lệ trẻ em béo phì ở TP.HCM, Nha Trang, Hà Nội, Hải Phòng rất thấp, khoảng 1-2% Nhưng chỉ 3-4 năm sau đó thì tỷ lệ này đã tăng lên gấp 3 lần Hiện nay, tỷ lệ béo phì ở trẻ em từ 6-11 tuổi đã vượt qua ngưỡng 10% ở các thành phố trên [1]

Trang 2

Tình trạng trẻ em thừa cân, béo phì, nhất là trẻ em độ tuổi tiểu học đã làm cho nhà trường, phụ huynh và cả xã hội quan tâm Ở lứa tuổi 6-11 trẻ có những chuyển biến về mức tăng trưởng thể chất cũng như tinh thần và là một giai đoạn phát triển quan trọng cho những giai đoạn phát triển tiếp theo Tuy nhiên tình trạng dinh dưỡng cũng như một số yếu tố liên quan chưa được phụ huynh học sinh của trẻ quan tâm có thể gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của trẻ trong và sau giai đoạn này Vì vậy, những nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng ở trẻ lứa tuổi tiểu học cần được quan tâm nhằm góp phần giúp cho phụ huynh biết rõ tầm quan trọng về tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em trong lứa tuổi này [22]

Huyện An Dương là một huyện ven đô, nằm ở phía Tây thành phố Hải phòng, với dân số 164.944 dân, trẻ em <15 tuổi 47.345, chiếm 28,7%, chưa

có nhiều nghiên cứu khảo sát về tỷ lệ thừa cân, béo phì và tìm hiểu các yếu tố liên quan đến thừa cân béo phì trên địa bàn huyện Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài ”Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ từ 6-11 tuổi tại các trường tiểu học trên địa bàn huyện An Dương, Hải phòng năm 2013” nhằm các mục tiêu sau:

1 Xác định tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ từ 6-11 tuổi tại các trường tiểu học trên địa bàn huyện An Dương, Hải Phòng năm 2013

2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ từ 6-11 tuổi tại các trường tiểu học trên địa bàn huyện

Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm cải thiện tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ từ 6-11 tuổi tại trường tiểu học trên địa bàn huyện An Dương

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Dinh dưỡng , bệnh tật và sức khoẻ

Thừa cân là tình trạng cân nặng vượt quá cân nặng “nên có” so với chiều cao Còn béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá và không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ [55], [56] Hiện nay, Tổ chức y tế thế giới thường dùng chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index – BMI) để nhận định tình trạng gầy béo

Ăn uống là một trong những bản năng quan trọng nhất để sinh tồn cuả con người và các loài động vật khác Nói ăn uống cần thiết với ức khoẻ đó là một chân lý hiển nhiên Tuy nhiên trong cả quá trình tồn tại cho mãi tới tận thế kỷ XVIII loài người vẫn chưa hiểu được mình cần gì ở thức ăn Danh y Hypocrate quan niệm các thức ăn đều chứa một chất sống giống nhau và chỉ khác nhau về màu sắc, hương vị, có chứa ít hay nhiều nước Nhờ các phát hiện của dinh dưỡng học người ta lần lượt biết thức ăn cóc các thành phần dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể.Đó là các protein, lipid, glucid, các vitamin, các khoàng chất và nước Sự thiếu hụt một trong các chất này có thể gây nên nhiều bệnh nguy hiểm, thậm chí chết người [22] Vai trò của các yếu tố dinh dưỡng với sức khoẻ thể hiện trong suốt cuộc đời con người Một chế độ dinh dưỡng hợp lý và đầy đủ đặc biệt là các chất dinh dưỡng, là cơ sở tạo nên một nền tằng vững chắc cho các sức khoẻ sau này.Tuy nhiên con người muốn có năng lực cao nhất về thể chất và trí tuệ kéo dài được hay không lại phụ thuộc

và chế độ dinh dưỡng, lối sống…của chúng ta sự thật đã chứng minh vi phạm

về ăn uống, lối sống đã rút ngắn tuổi lao động và tuổi thọ, khí đó nhiều bệnh liên quan đến dinh dưỡng đã xuất hiện Trong xã hội không phải tất cả mọi người được lao động như nhau, vì vậy mỗi đối tượng phải có một chế độ dinh

Trang 4

dưỡng hợp lý Như vậy đề có một sức khoẻ tốt thì vẫn đề dinh dưỡng hợp lý

là một trong các yếu tố quyết định Mỗi giai đoạn phát triển của cuộc đời, mỗi điều kiện lao động cụ thể, mỗi trạng thái sinh bệnh lý của cơ thể … cần phải

có một chế độ dinh dưỡng phù hợp.Như vậy để có sức khoẻ tốt thì vấn đề dinh dưỡng hợp lý là một trong các yếu tố quyết định Mỗi giai đoạn phát triển của cuộc đời, mỗi điều kiến lao động cụ thể, mỗi trạng thái sinh bệnh lý của cơ thể…cần phải có một chế độ dinh dưỡng cụ thể, một trạng thái sinh bệnh lý của cơ thể…cần phải có một chế độ dinh dưỡng phù hợp Trong giai đoạn hiện nay, hơn bao giờ hết khi điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì vấn đề dinh dưỡng càng ngày được quan tâm [7], [8], [18]

1.2 Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng

1.2.1 Quần thể tham khảo

Để phục vụ cho việc theo dõi đánh giá cũng như các mục địch nghiên cứu, nhiều qutập quốc gia tập hợp số liệu điều điều tra và xây dựng các bộ số liệu về các chỉ tiêu y sinh học riêng – trong đó có các số đo nhân trắc, cân nặng, chiều cao, thường gọi là hằng số sinh họ quốc gia.Tuy nhiên, đó thực ra

là số đo trung bình của quần thể nghiên cứu mà trong quần thể đó bao gồm những cá thể phát triển bình thường và những cá thể phát triển không bình thường [44]

Những quần thể tham khảo thường gặp để phân loại các tình trạng dinh dưỡng khác nhau là : Harvard, NCHS, Janne’s, Cannada Một quần thể tham khảo đã được Trung tâm thống kê sức khoẻ quốc gia và Trung tâm phòng chống bệnh tật của Mỹ xây dựng và được sử dụng rộng rãi Quần thể tham khảo lần thứ nhất cho trẻ mới sinh đến 18 tuổi được xây dựng năm 1976 và TCYTTG khuyến nghị sử dựng năm 1980 Đến năm 2000, quần thể tham khảo lần thứ hai do Trung tâm phòng chống bệnh tật ở Mỹ sửa chữa, cập nhật

Trang 5

và hiện nay đang được sử dụng trong một số nghiên cứu cộng đồng [43] TCYTTG đã khuyến cáo dùng quần thể tham khảo NCHS trong việc so sánh

và đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở các nước vì nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng trong giai đoạn 5 năm đầu của cuộc đời nếu đứa trẻ được nuôi dưỡng tốt thì các đường phát triển là tương tự nhau

Hiện nay TCYTTG đề xuất sử dụng chuẩn mới Như vậy theo chuẩn mới của TCYTTG, quần thể tham chiếu NCHS sẽ được thay thế bằng một quần thể tham chiếu mới xây dựng dựa trên sự chọn mẫu tại 6 địa điểm đại diện cho các Châu lục và các chủng tộc gồm: Davis (Mỹ), Oslo (Na-uy), Pelotas (Brazil), Accra (Ghana), Muscat (Oman) và New Delhi (Ấn Độ)

Trong nghiên cứu này, các trẻ được chọn vào mẫu nghiên cứu có được

sự nuôi dưỡng đầy đủ và phát triển chiều dài, chiều cao tốt nhất, trẻ được cung cấp các dịch vụ chăm sóc nhi khoa đầy đủ và các phụ huynh có hành vi nuôi dưỡng tốt Nghiên cứu được tiến hành hai mẫu,một mẫu trẻ từ 6 tuổi trở xuống được theo dõi sự phát triển theo phương pháp nghiên cứu thuần tập, trong đò có sự theo dõi chặt chẽ trong tuần đầu Mẫu nghiên cứu thứ hai được lựa chọn bao gồm các trẻ từ 6-11 tuổi và được tiến hành xem xét tình trạng dinh dưỡng theo phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang

Với thiết kế nghiên cứu nhiều trung tâm và các số liệu được cung cấp

từ hai mẫu nghiên cứu trên, TCYTTG đã xây dựng tiêu chuẩn mới đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ và được khuyến cáo sử dụng từ tháng 11 năm

2006 [35], [43]

1.2.2 Một số cơ sở lý luận của phương pháp đánh giá thừa cân, béo phì

Tình trạng dinh dưỡng là tập hợp các đặc điểm chức phận, cấu trúc và hoá sinh phản ánh mức đáp ứng các nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể [29] Để đánh giá tình trạng dinh dưỡng, thời kỳ đầu người ta chỉ dựa vào các nhận xét

Trang 6

đơn giản như gầy, béo Tiếp đó là dựa vào một số chỉ tiêu nhân trắc như cân nặng, chiều cao, vòng bụng Ngày nay, người ta còn thấy tình trạng dinh dưỡng còn là kết quả tác động qua lại phức tạp giữa các yếu tố di truyền, kinh

tế, văn hoá, môi trường cho nên tính phổ biến và nghiêm trọng của tình trạng

TC, BP có thể coi như một chỉ số hữu ích để đánh giá trình độ phát triển kinh

tế xã hội [35]

Trong đánh giá tình trạng TC, BP của trẻ em hiện nay, người ta thườnng dùng phương pháp: nhân trắc, khẩu phần, lâm sàng, xét nghiệm và các tỷ lệ bệnh tật tử vong Trong đó, hai phương pháp thường sử dụng nhiều nhất là nhân trắc và điều tra khẩu phần ăn mà các số đo nhân trắc là các chỉ số đánh giá trực tiếp tình trạng dinh dưỡng [21]

Sử dụng các số đo nhân trắc trong đánh giá tình trạng dinh dưỡng là phương pháp làm phổ thông và được áp dụng rộng rãi Các số đo nhân trắc của cơ thể cung cấp sơ lược sự phát triển hay kích thước cơ thế đạt được hoặc

là sự thay đổi của các kích thước này qua thời gian Chúng được dùng để mô

tả tình trạng dinh dưỡng của các thể hay cộng đồng, phản ánh kết quả cuối cùng là việc cung cấp thực phẩm vào, hấp thu, chuyển hoá các chất dinh dưỡng của cơ thể [24], [29]

Sự lựa chọn các số đo nhân trắc tuỳ thuộc vào mục đích của nghiên cứu, cỡ mẫu, tuổi Mặc dù có nhiều số đo nhân trắc khác nhau nhưng theo đề nghị của TCYTTG thì để đánh giá tình trạng dinh dưỡng nên dùng các số đo cân nặng và chiều cao[18] Khi đánh giá các chỉ số nhân trắc, TCYTTG đã khuyến cáo có 3 chỉ số nên dùng là cân nặng/tuổi(CN/T), cân nặng/chiều cao(CN/CC), chiều cao/tuổi (CC/T) [20], [29]

Trên thực tế có thể có một số trẻ thừa cân nhưng không béo phì do sự phát triển quá mức của khối nạc và xương

Trang 7

Sự tương quan chặt chẽ giữa chiều cao và cân nặng trong suốt thời kỳ phát triển trẻ em cho thấy rằng chỉ số cân nặng/chiều cao (CN/CC) có thể là một phương pháp đơn giản để nhận định độ béo gầy

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng đã đưa ra khuyến nghị rằng mối quan hệ này thay đổi nhiều theo tuổi, có lẽ là cùng với thời kỳ dậy thì và trưởng thành Vì vậy chỉ số cân nặng/chiều cao chỉ nên được sử dụng trong một khoảng tuổi nhất định mà thôi (dưới 9 tuổi) Cần lưu ý rằng trong điều tra cộng đồng chỉ tiêu cân nặng/chiều cao là đủ đánh giá béo phì, vì đa số cá thể

có cân nặng theo chiều cao cao đều béo

Để khắc phục nhược điểm trên, WHO đã khuyến nghị sử dụng chỉ số BMI là một chỉ số thực hành lâm sàng đơn giản được mô tả đầu tiên vào thế

kỷ XIX bởi Quetelet Vì vậy, BMI còn được gọi là chỉ số Quetelet, là một chỉ

số kết hợp hai yếu tố cân nặng và chiều cao Chỉ số khối cơ thể (BMI) được tính bằng cân nặng (kg) chia cho chiều cao bình phương (m) Chỉ số BMI được sử dụng đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em, người trưởng thành đã được WHO thống nhất Là một chỉ số đơn giản, dễ thực hiện và độc lập với chiều cao

1.3 Tình trạng thừa cân, béo phì trẻ em hiện nay

1.3.1 Trên thế giới

Trên thế giới, thừa cân và béo phì là yếu tố nguy cơ thứ 5 gây tử vong với gần 2,8 triệu người trưởng thành tử vong hàng năm Bên cạnh đó, 44% béo phì, 23% thiếu máu cục bộ ở tim và từ 7% đến 41% mắc một số bệnh ung thư

có nguyên nhân từ thừa cân và béo phì Trong 3 thập kỷ qua (1980 – 2010) số

ca béo phì đã tăng gấp đôi trên toàn thế giới [47], [48]

Ngày nay, trẻ em cũng đã và đang trở thành nạn nhân của chứng béo phì, nguyên nhân có thể do di truyền, chế độ ăn uống không hợp lý, lười vận

Trang 8

động… Đây là nhân tố tác động lớn đến chất lượng dân số của quốc gia vì tác động trực tiếp đến thế hệ tương lai của đất nước

Ở Pháp, học sinh tiểu học có tỷ lệ béo phì năm 1980 là 5% thì năm

2000 đã là 16% tức là tăng lên 3 lần trong 10 năm Hiện nay, chứng béo phì

đã trở thành xu hướng dễ phát triển nhất đối với trẻ nhỏ và thanh thiếu niên không chỉ tại Mỹ mà còn ở các quốc gia phát triển khác Theo Hiệp hội Béo phì Mỹ (American Obesity Association), khoảng 15 % thanh thiếu niên (12 –

19 tuổi) và trẻ em (6 – 11 tuổi) bị bệnh béo phì tại nước này.Có hơn 300,000

ca tử vong mỗi năm do nguyên nhân béo phì Tổng số tiền phải chi hàng năm cho vấn đề béo phì ước chừng khoảng một trăm triệu đô la Mỹ Ở Anh, khoảng 27% trẻ em được chẩn đoán mắc chứng béo phì Nguyên nhân chủ yếu được đưa ra là do lười vận động Đa số những đứa trẻ béo phì do lười vận động có bố mẹ cũng lười vận động Theo thống kê, số lượng trẻ em béo phì nặng ít hơn 3 đến 10 lần số lượng trẻ em vẫn tiếp tục bị thừa cân hoặc béo phì khi đạt độ tuổi trưởng thành

Tại châu Á, tỷ lệ TC, BP lứa tuổi học sinh cũng gia tăng nhanh chóng Tại Trung Quốc, các cuộc điều tra theo 4 giai đoạn khác nhau trong khoảng từ năm 1989 và 1997 thấy tỷ lệ thừa cân ở trẻ em từ 2 đến 6 tuổi tăng rất nhanh

từ 15% lên 29%, đặc biệt ở các vùng đô thị [49] Ở Thái Lan, trong những năm 1990, tỷ lệ BP ở trẻ từ 6 – 12 tuổi tăng từ 12% lên 16 % chỉ trong vòng 2 năm [42] Hiện nay, béo phì ở trẻ em đã trở thành vấn đề sức khoẻ ưu tiên thứ hai trong phòng chống bệnh tật ở các nước châu Á và được xem như là một trong những thách thức đối với ngành dinh dưỡng và y tế [53]

1.3.2 Ở Việt Nam

Trang 9

Ở Việt Nam, thừa cân, béo phì đang tăng nhanh và trở thành vấn đề sức khoẻ cộng đồng của thế kỷ XXI Điều tra toàn quốc ở đối tượng từ 25 – 64 tuổi tại 8 vùng sinh thái năm 2005 thấy tỷ lệ TC, BP (BMI >23) là 16,3%, trong đó 9,7% thừa cân, 6,2% béo phì độ I và 0,4% béo phì độ II Tỷ lệ BP gia tăng theo tuổi, ở nữ cao hơn ở nam, thành thị cao hơn ở nông thôn Các yếu tố liên quan đến TC, BP là khẩu phần ăn giàu thức ăn động vật, thói quen

ăn ở ngoài gia đình, tăng sử dụng thức ăn nhanh, lạm dụng rượu, bia và ít vận động [3]

Tỷ lệ bị thừa cân béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi là 5,6%, trong đó ở thành phố là 6,5%, ở nông thôn là 4,2% Ước tính cả nước có khoảng 460.000 trẻ trong độ tuổi này bị thừa cân, béo phì Điều đáng lo ngại là tỷ lệ trẻ thừa cân, béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi đang có xu hướng gia tăng nhanh, từ năm 2000 đến nay, tỷ lệ này đã tăng lên gần 10 lần (năm 2000 chỉ có khoảng 0,62% trẻ bị thừa cân, béo phì)

Tại TP Hồ Chí Minh tỷ lệ béo phì cũng có xu hướng gia tăng ở lứa tuổi tiểu học và người trưởng thành (trên 40 tuổi) Riêng tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ em lứa tuổi tiểu học tăng hơn 85% so với 10 năm trước Ước tính, hiện 1/4 trẻ em tuổi tiểu học ở TP Hồ Chí Minh bị thừa cân, béo phì [5]

Tình trạng TC, BP ở trẻ em cũng ngày càng tăng, đặc biệt ở các thành phố lớn Năm 2000, tỷ lệ thừa cân ở học sinh từ 6 -11 tuổi tại quận Hồng Bàng, TP Hải Phòng là 10,4%, trong đó TC nam là 13,0%, TC nữ là 7,5% [20].Năm 2001, tỷ lệ TC, BP ở học sinh tiểu học TP Nha Trang là 5,8% [17]

Tại TP Hồ Chí Minh, điều tra ở học sinh tiểu học năm học 2002 – 2003 thấy

tỷ lệ TC, BP là 9,4%, nhưng tới năm học 2008 – 2009 thì tỷ lệ này đã lên tới 20,8% và 7,7% ở 2 trường thuộc quận 10 [19] Nghiên cứu tại TP Buôn Ma Thuật, tỉnh Đắc Lắc năm 2004 thấy tỷ lệ TC, BP ở trẻ em tiểu học từ 6 – 11

Trang 10

tuổi là 10,4%, trong đó tỷ lệ TC, BP ở trẻ trai là 11,1% và trẻ gái là 9,5% [4] Nghiên cứu tại TP Huế năm 2007 ở trẻ từ 6 – 10 tuổi thấy tỷ lệ TC, BP là 7,98%, trong đó BP là 1,51% [24] Một nghiên cứu tại TP Huế năm 2008 thấy tỷ lệ TC, BP ở trẻ từ 11 – 15 tuổi là 8,3% [14] Nghiên cứu tại Đà Nẵng

ở học sinh tiểu học năm 2006 – 2007 thấy tỷ lệ TC là 4,9% và nguy cơ TC là 8,7% [12]

1.4 Phân loại tình trạng dinh dưỡng

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì thừa cân là tình trạng vượt quá cân nặng nên có so với chiều cao còn béo phì là tình trạng tích lũy mỡ thái quá không bình thường một cách cục bộ hay toàn thể của lipid trong các tổ chức mỡ tới mức ảnh hưởng xấu đến sức khỏe Có nhiều chỉ số có thể dùng

để đánh giá tình trạng thừa cân - béo phì Dựa theo cách phân loại của P.S.Shetty và W.P.T.James và được tổ chức WHO khuyến nghị như sau:

Bảng 1.1 : Phân loại TTDD dựa theo thang phân loại của WHO

Thiếu năng lượng trường diễn BMI < 18,5

Bình thường 18,5 ≤ BMI < 25

Tiền béo phì 25 ≤ BMI < 30

Béo phì độ II 35 ≤ BMI < 40

Cách tính BMI:

Trang 11

Bảng 1.2: Phân loại BMI theoWHO 1998

Gầy Trung bình Thừa cân

<18.5 18.5 – 24.9

25 – 29.9

Bảng1.3: Phân loại TTDD ở trẻ em 5 - 19 tuổi (theo WHO 2007)

<5 percentile Trẻ gầy hoặc thiếu dinh dưỡng

85 percentile Thừa cân

 95 percentile Béo phì

Trang 12

1.5 Các yếu tố liên quan đến tình trạng thừa cân, béo phì

1.5.1 Yếu tố gia đình:

Một số nghiên cứu đã cho thấy TC, BP có tính gia đình: Càng nhiều cá nhân trong gia đình bị TC thì nguy cơ TC của các thành viên khác trong gia đình càng cao Hiện nay đã có những bằng chứng kết luận rằng BP thường do yếu

tố môi trường tác động lên những cá thể có khuynh hướng di truyền [39], [41], [48]

1.5.2 Yếu tố di truyền:

Tương tác giữa các gen nhạy cảm với chế độ ăn và lối sống có thể dẫn đến nguy cơ BP Nhiều nghiên cứu đã xác định vai trò của các yếu tố di truyền đối với sự phát triển của bệnh BP

1.5.3 Khẩu phần và thói quen ăn uống của trẻ thừa cân, béo phì:

Nghiên cứu tại Mỹ cho thấy thực phẩm chế biến ngoài gia đình chứa năng lượng, chất béo toàn phần, chất béo no, cholesterol và natri cao hơn một cách

có ý nghĩa so với thức ăn được chuẩn bị ở nhà Người dân Mỹ thường ăn ở nhà hàng có xu hướng BMI cao hơn những người ăn ở nhà và có tới 30 - 70%

số trẻ em Mỹ có sử dụng thức ăn nhanh tại các nhà hàng và những trẻ em này tiêu thụ nhiều hơn 187 kcal/ngày, 228g chất ngọt so với trẻ không sử dụng thức ăn nhanh Những người thường ăn ở ngoài nhiều làm tăng tiêu thụ thức

ăn đậm độ năng lượng cao hơn khi ăn ở nhà [34], [35] Tại Mỹ, trong suốt 2 thập kỷ qua, tỷ lệ hộ gia đình ăn ở ngoài và ăn các thức chế biến sẵn có nhiều chất béo tăng từ 16% (năm 1977) đến 27% (năm 1995) Trẻ em từ 6 - 19 tuổi tiêu thụ thức ăn ngoài gia đình tăng từ 55% (năm 1977) lên 66 % (năm 1994) [30] Một số nghiên cứu ở Việt Nam lứa tuổi học đường cho thấy những trẻ

hay ăn bữa phụ nhất là vào buổi tối dễ mắc béo phì [17], [18], [21], [22]

Trang 13

1.5.4 Hoạt động thể lực và béo phì:

Cân bằng năng lượng phụ thuộc vào năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao Ngày nay, sự gia tăng tiêu thụ các thực phẩm giầu năng lượng cùng với giảm hoạt động thể lực của người dân thành thị đang làm gia tăng tình trạng TC, BP Để giảm cân cần phải kết hợp đồng thời giữa việc giảm năng lượng ăn vào và tăng hoạt động thể lực Những thay đổi trong mô hình ăn uống cả ở trẻ em và người lớn luôn song hành với những thay đổi trong mô hình hoạt động thể lực Tình trạng thừa năng lượng của trẻ không chỉ do khẩu phần ăn quá nhiều mà còn do tình trạng không tham gia các hoạt động thể lực, thời gian xem vô tuyến nhiều đã làm giảm tiêu hao năng lượng ở trẻ và tăng nguy cơ mắc TC, BP ở lứa tuổi này [56], [63]

Hoạt động thể lực bao gồm những hoạt động hàng ngày, các công việc liên quan với hoạt động thể lực và luyện tập thể dục thể thao Trẻ em hoạt động thể lực nhiều thì càng có cơ thể khoẻ mạnh, và sẽ ít liên quan đến tăng huyết áp nhất là trẻ dưới 5 tuổi và càng có ít nguy cơ trở thành béo phì khi lớn Hoạt động thể thao có vai trò trong giảm tích mỡ, tăng khối nạc, tuy nhiên sau khi ngừng tập luyện quá trình này đảo lại Thay đổi giữa khối mỡ

và nạc có thể xảy ra mà không thay đổi về cân nặng, nhưng nếu hoạt động thể lực được duy trì thường xuyên trong suốt cuộc đời thì việc tăng khối mỡ có thể bị ngăn chặn [55], [56]

Ngày nay xã hội càng phát triển, chương trình vô tuyến dành cho trẻ em càng đa dạng và hấp dẫn, số giờ phát sóng lại liên tục trong ngày do đó trẻ càng có nhiều cơ hội tiếp cận với vô tuyến[56], [57], [62]

1.5.5 Nhu cầu năng lượng cho vận động, hoạt động:

Hoạt động và vận động của cơ thể gồm 2 phần khác nhau:

- Vận động hàng ngày (làm việc và sinh hoạt)

Trang 14

- Vận động tích cực (tập luyện thể dục thể thao)

1.6 Cơ chế bệnh sinh gây ra béo phì

Cơ thể giữ được cân nặng ổn định là nhờ trạng thái cân bằng giữa năng lượng do thức ăn cung cấp và năng lượng tiêu hao cho lao động và các hoạt động khác của cơ thể Cân nặng cơ thể tăng lên có thể do chế độ ăn dư thừa vượt quá nhu cầu hoặc do nếp sống làm việc tĩnh tại ít tiêu hao năng lượng Người ta nhận thấy 60% - 80% trường hợp béo phì là do nguyên nhân dinh dưỡng, bên cạnh đó còn có thể do các rối loạn chuyển hóa trong cơ thể thông qua vai trò điều tiết của hệ thống thần kinh và các tuyến nội tiết như tuyến yên, tuyến thượng thận, tuyến giáp trạng và tuyến tụy

Khi vào cơ thể, các chất protein, lipit, gluxit đều có thể chuyển hóa thành chất béo dự trữ Vì vậy không nên coi ăn nhiều thịt, nhiều mỡ mới gây béo mà ăn quá thừa chất bột, đường, đồ ngọt đều có thể gây béo Các hành vi

ăn uống có liên quan tới thừa cân và béo phì bao gồm tần suất ăn/ăn vặt, khẩu phần ăn quá dư thừa, ăn uống nhậu nhẹt, ăn thức ăn nhanh ở bên ngoài và vấn

đề bú sữa mẹ hoàn toàn Các yếu tố chất dinh dưỡng được nghiên cứu bao gồm chất béo, các loại carbohydrat (bao gồm các loại carbohydrat tinh chế như đường), chỉ số đường huyết của thực phẩm và chất xơ [10], [41], [59]

Trang 15

Hình 1.1 Mô hình nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh của béo phì

1. 7 Hậu quả của béo phì

1.7.1 Ảnh hưởng tới sức khoẻ:

Thừa cân và béo phì đang là mối đe dọa nghiêm trọng tới sức khỏe con

người Trọng lượng dư thừa ở bất kỳ lứa tuổi nào đều không tốt cho sức khoẻ

Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự tiến triển trực tiếp từ một trẻ béo tới một

người lớn béo Người ta nhận thấy 50% phụ nữ trưởng thành mắc BP có béo

phì ở tuổi thanh thiếu niên, 30% người lớn béo đã béo trong suốt thời kỳ trẻ

em, 80% thanh thiếu niên sẽ tiếp tục béo khi trưởng thành và mức độ béo càng

nghiêm trọng ở trẻ thì béo càng dai dẳng tới tuổi trưởng thành Do sự gia tăng các

nguy cơ bệnh lý cộng với các yếu tố xã hội, người BP trung bình sẽ giảm 6 – 10

Dự trữ mỡ

Trang 16

Bảng 1.4: Béo phì ở trẻ em và nguy cơ béo phì ở tuổi trưởng thành

Béo phì ở trẻ em Nguy cơ béo phì tuổi trưởng thành

- Có béo phì

- Không béo phì

- 41% sẽ thừa cân

- 20% sẽ thừa cân Trẻ em từ 1 – 3 tuổi (Mỹ):

- Có béo phì

- Không béo phì

- 26% sẽ béo phì

- 15% sẽ béo phì Trẻ em từ 7 – 8 tuổi (Anh):

- Có béo phì

- Không béo phì

- 40% sẽ béo phì

- 10% sẽ béo phì Trẻ em từ 12 -15 tuổi (Mỹ):

- Có béo phì

- Không béo phì

- 40% sẽ béo phì -10% sẽ béo phì

Bảng 1.5 Hậu quả của béo phì

Các hậu quả thường gặp Các hậu quả ít gặp

1 Tăng trưởng sớm: Tăng chiều

cao, tuổi xương, dậy thì sớm

1 Tăng huyết áp

2 Rối loạn tâm thần 2 Giả u não

3 Tăng lipit máu 3 Đái tháo đường

4 Không dung nạp glucose 4 Ngừng thở khi ngủ

5 Gan thoái hoá mỡ và sỏi mật 5 Bệnh buồng trứng đa nang

Trang 17

1.7.2 Tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong:

Béo phì là một trong những yếu tố nguy cơ chính của các bệnh mạn tính không lây như bệnh mạch vành, tăng huyết áp, viêm xương khớp, sỏi mật, bệnh đái tháo đường týp II không phụ thuộc insulin Béo phì thường kết hợp với tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong [45]

Béo phì thời thơ ấu có thể dẫn đến mắc bệnh mạn tính không lây như rối loạn dung nạp glucose, kháng insulin, đái tháo đường týp 2, tăng huyết áp, rối loạn lipit máu, gan nhiễm mỡ, rối loạn tiêu hoá, cơn ngừng thở khi ngủ và buồng trứng đa nang khi trưởng thành Đặc biệt, nếu BP lúc còn nhỏ tuổi sẽ

có nguy cơ mắc bệnh đái tháo đường týp 2, bệnh mạch vành khi lớn lên Nghiên cứu cho thấy trẻ mắc BP bắt đầu từ khi bé và kéo dài cho đến tuổi trưởng thành, sẽ có nguy cơ cao mắc các rối loạn trong cuộc sống

Cần quan tâm đến các hậu quả nhiều mặt của BP ở trẻ em Nguy cơ đầu tiên của béo phì ở trẻ em là khả năng kéo dài BP đến tuổi trưởng thành với các hậu quả của nó, đặc biệt là các bệnh tim mạch và tiểu đường Những nghiên cứu gần đây ở Mỹ về thừa cân ở thanh thiếu niên đã chỉ ra: Trẻ có cân nặng/chiều cao cao, hay BMI cao có nguy cơ gia tăng đối với một số bệnh mãn tính ở người lớn và nguy cơ tử vong tăng Các nghiên cứu theo chiều dọc cũng cho thấy BMI tăng ở thanh thiếu niên sẽ dự đoán xảy ra sớm những nguy cơ của các bệnh mãn tính, và BP khởi phát sớm có ảnh hưởng lớn đến bệnh tim mạch hơn là khởi phát muộn [9], [14], [58]

1.8 Chương trình phòng chống thừa cân, béo phì ở trẻ em

Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 - 2020 cần triển khai các giải pháp can thiệp đặc thù cho các vùng miền và các nhóm đối tượng cụ thể Trong đó chú trọng đến vấn đề suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ em, góp phần nâng cao tầm vóc của người Việt Nam Đồng thời, phải kiểm soát tình

Trang 18

trạng thừa cân béo phì để hạn chế sự gia tăng các bệnh mãn tính không lây liên quan đến dinh dưỡng

Đẩy mạnh hoạt động truyền thông – giáo dục sức khỏe (TT - GDSK) là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe, góp phần giúp mọi người đạt được tình trạng sức khỏe tốt nhất Sức khỏe được Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật Sức khỏe là vốn quý nhất của mỗi người, là nhân tố cơ bản trong toàn bộ sự phát triển của xã hội Có nhiều yếu tố tác động đến sức khỏe của mỗi người: Yếu tố xã hội, văn hóa, kinh tế, môi trường và yếu tố sinh học như

di truyền, thể chất Muốn có sức khỏe tốt phải tạo ra môi trường sống lành mạnh và đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực, chủ động của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng vào các hoạt động bảo vệ và nâng cao sức khỏe Đẩy mạnh công tác TT- GDSK là biện pháp quan trọng giúp mọi người dân có kiến thức

về sức khỏe, bảo vệ và nâng cao sức khỏe, từ đó có cách nhìn nhận vấn đề sức khỏe đúng đắn và hành động thích hợp vì sức khỏe [15]

Giáo dục sức khỏe ở trường học có tác động rất lớn đến hình thành các hành vi sức khỏe, lối sống lành mạnh cho học sinh, vì giai đoạn học ở trường của mỗi học sinh thường rất dài Với tất cả mọi người, thời gian học ở trường

là thời gian quan trọng có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ sự phát triển toàn diện,

cả về thể chất, tinh thần và nhân cách, vì đây là giai đoạn nhạy cảm, dễ tiếp thu, học hỏi những kiến thức mới, hình thành thái độ và hành vi vững bền của mỗi người

Giáo dục ở thời kỳ này dễ đem lại hiệu quả cao, nó không chỉ tác động đến các em học sinh mà thông qua các em tác động đến những người xung quanh, như những người trong gia đình, cộng đồng xã hội Mỗi học sinh có

Trang 19

thể trở thành nhân tố tích cực như một nhà “giáo dục sức khỏe tự nguyện” trong cộng đồng [16]

1.9 Tình hình dinh dưỡng tại huyện An Dương

Huyện An Dương là một huyện ở phía Tây thành phố Hải Phòng với diện tích 98,29km2, dân số 164.944, có 15 xã, 1 thị trấn gồm 17 trường tiểu

học, riêng tại xã Đại Bản có 2 trường tiểu học: Đại Bản 1và Đại Bản 2

Hoạt động phòng dinh dưỡng đã được triển khai rộng khắp ở các xã,

TT đặc biệt là các trường tiểu học Nhờ vậy đã nâng cao nhận thức cho toàn thể cộng đồng về dinh dưỡng, đặc biệt là dần thay đổi quan niệm và thói quen của các phụ huynh học sinh tiểu học Nhưng vấn đề thừa cân, béo phì cũng như yếu tố liên quan đến tình trạng này hiện chưa được phụ huynh học sinh quan tâm Vì vậy, nghiên cứu về tình trạng thừa cân, béo phì ở trẻ lứa tuổi tiểu học là cần thiết để biết rõ tình trạng dinh dưỡng của trẻ em trong lứa tuổi này tại địa phương

Trang 20

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

 Học sinh tiểu học từ 6-11 tuổi trên địa bàn huyện An Dương

 Phụ huynh học sinh tiểu học 6-11 tuổi tương ứng

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu:

Nghiên cứu được tiến hành tại huyện An Dương Hải Phòng

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

 Từ tháng 3-9 năm 2013

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang 2.2.2 Cỡ mẫu:

 Cỡ mẫu cho điều tra:

Trang 21

số ảnh hưởng của thiết kế là 2

Vậy cỡ mẫu tối thiểu cần thiết cho nghiên cứu này là 824 trẻ

2.2.3 Cách chọn mẫu:

* Giai đoạn 1: Chọn trường tiểu học:

- Chọn 3 trường tiểu học thuộc 3 xã đại diện cho 3 khu vực kinh tế chính của huyện bao gồm 1 trường thuộc thị trấn (trường tiểu học An Đồng), 1 trường thuộc xã thuần nông (trường tiểu học Nam Sơn) và 1 trường thuộc khu vực trồng cây thương mại (trường tiểu học An Hồng)

* Giai đoạn 2: Chọn lớp học

 Theo số liệu từ các trường, trường tiểu học An Đồng có 924 học sinh phân làm 29 lớp học từ lớp 1 đến lớp 5; trường tiểu học Nam Sơn có 16 lớp, 523 học sinh; và trường An Hồng có 21 lớp học, 751 học sinh Tổng cộng 3 trường có 66 lớp học từ lớp 1 đến lớp 5 Trung bình mỗi lớp học của các trường có 33 học sinh

 Tại mỗi trường thuộc 3 xã đã chọn, lập danh sách toàn bộ các lớp từ lớp

1 đến lớp 5 của các trường của 3 xã đã chọn Xem mỗi lớp học là 1 chùm và là đơn vị mẫu để chọn Chọn lớp học vào nghiên cứu bằng phương pháp chọn ngẫu nhiên phân tầng Tại mỗi trường, chúng tôi chọn ngẫu nhiên 2 lớp trong mỗi khối

Trang 22

 Như vậy tại mỗi trường chúng tôi sẽ chọn được 10 lớp học sinh cho các khối từ lớp 1 đến lớp 5 ứng với khoảng 330 học sinh Tổng cộng 3 xã chúng tôi sẽ chọn mẫu khoảng 990 học sinh để điều tra Số lượng này thoả mãn cỡ mẫu tối thiểu là 824 học sinh

 Phụ huynh được mời vào nghiên cứu là cha/mẹ/ông/bà là người chăm sóc chính tương ứng cho mỗi trẻ

2.2.4 Quy trình tổ chức nghiên cứu và thu thập số liệu

2.2.4.1.Quy trình tổ chức nghiên cứu:

- Nhóm nghiên cứu gồm:

 Nghiên cứu viên chính: 01 người

 Giám sát viên: 03 người/ trường tiểu học (Khoa y tế công cộng, Khoa CSSKSS của Trung tâm Y tế huyện, Trưởng Trạm y tế xã)

 Điều tra viên: 06 người/ trường tiểu học (thuộc các Khoa y tế công cộng, Khoa CSSKSS của Trung tâm Y tế huyện, trạm y tế xã)

 Người hướng dẫn: thầy giáo Phạm Minh Khuê – chỉnh sửa nội dung luận văn, hướng dẫn lấy số liệu

- Người nghiên cứu chính cùng với trạm y tế xã xuống các trường tiểu học

để liên hệ, tổ chức, lên danh sách các học sinh của từng lớp

- Trường tiểu học lập giấy mời, mời các phụ huynh học sinh tham gia

- Phối hợp với Khoa y tế công cộng, Khoa chăm sóc sức khỏe sinh sản, của Trung tâm Y tế huyện, Trạm y tế xã và Trường tiểu học sẽ tổ chức vào đợt khám sức khỏe sức khỏe định kỳ và điều tra dinh dưỡng tại các trường tiểu học

- Điều tra viên của khoa YTCC của Trung tâm Y tế huyện, sẽ cân, đo cho học sinh; khoa CSSKSS và trạm y tế xã phỏng vấn trực tiếp các phụ huynh, thu thập các thông tin

Trang 23

- Người nghiên cứu kết hợp với người hướng dẫn chỉnh sửa, hoàn thành luận văn đúng thời gian theo dự kiến

2.2.4.2 Các biến số và chỉ số nghiên cứu

huynh Phiếu điều tra Thứ tự sinh của trẻ Phỏng vấn phụ huynh Phiếu điều tra

Cân nặng khi sinh của trẻ Phỏng vấn phụ huynh Phiếu điều tra

Đặc điểm hộ gia đình Phỏng vấn phụ huynh Phiếu điều tra

Kiến thức về bệnh béo phì của trẻ Phỏng vấn phụ huynh Phiếu điều tra

Nguyên nhân của gây ra béo phì Phỏng vấn phụ huynh Phiếu điều tra

Trang 24

Điều kiện kinh tế gia đình của trẻ Phỏng vấn phụ huynh Phiếu điều tra

Thái độ với bệnh béo phì khi trẻ bị

béo phì

Phỏng vấn phụ huynh Phiếu điều tra

Khẩu phần và thói quen ăn uống

của trẻ

Phỏng vấn phụ huynh Phiếu điều tra

Sở thích ăn uống của trẻ Phỏng vấn phụ huynh Phiếu phỏng vấn

Thời gian học và ngủ của trẻ Phỏng vấn phụ huynh Phiếu điều tra

Hoạt động thể lực hàng ngày của trẻ Phỏng vấn phụ huynh Phiếu điều tra

Bệnh tật của trẻ Phỏng vấn phụ huynh Phiếu điều tra

Các biện pháp phòng chống béo phì Phỏng vấn phụ huynh Phiếu điều tra Truyền thông dinh dưỡng của phụ

huynh đối với trẻ

Phỏng vấn phụ huynh

Phiếu điều tra

2.2.4.3.Các kỹ thuật thu thập số liệu (Viện dinh dưỡng TW – Bộ Y tế) :

*Cân:

- Sử dụng cân điện tử Seca 770 (độ chính xác 0,1kg)

- Đơn vị đo cân nặng là kg, kết quả được ghi với 1 số lẻ Ví dụ 35,4kg

- Kỹ thuật cân:

Trang 25

 Khi cân, trẻ, phụ huynh chỉ mặc quần áo gọn nhất và trừ bớt cân nặng trung bình của quần áo khi tính kết quả

 Cân được kiểm tra và chỉnh trước khi sử dụng, sau đó cứ cân khoảng 10 trẻ lại kiểm tra và chỉnh cân 1 lần

 Đối tượng đứng giữa bàn cân, không cử động, mắt nhìn thẳng, trọng lượng bổ đều cả hai chân Cân được đặt ở vị trí ổn định và bằng phẳng, chỉnh cân về vị trí cân bằng số 0 [9], [46]

* Đo chiều cao:

- Đo chiều cao đứng bằng thước Microtoise (độ chính xác 1mm)

- Đơn vị đo chiều cao là cm, kết quả được ghi với 1 số lẻ Ví dụ 145,3cm

* Cách tính tuổi của trẻ:

Cách tính tuổi và phân loại lớp tuổi: Sử dụng cách tính tuổi bằng cách lấy ngày tháng năm điều tra trừ đi ngày tháng năm sinh của trẻ và phân loại lớp tuổi của WHO 1983, 1995 Các nhóm tuổi trong đánh giá thừa cân, béo phì như sau:

 6 tuổi: 72 tháng ( 5 năm 11tháng 30 ngày)

 7 tuổi: 84 tháng (6 năm 11 tháng 30 ngày)

 8 tuổi: 96 tháng (7 năm 11 tháng 30 ngày)

 9 tuổi: 108 tháng (8 năm 11 tháng 30 ngày)

Trang 26

 10 tuổi: 120 tháng (9 năm 11 tháng 30 ngày)

 11 tuổi: 132 tháng (10 năm 11 tháng 30 ngày)

Phỏng vấn trực tiếp: Sử dụng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn để thu thập

các thông tin khác nhau về:

- Một số thông tin về gia đình học sinh:

 Sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn để phỏng vấn phụ huynh học sinh nhằm thu nhận các thông tin về gia đình học sinh (xem phụ

lục 1)

- Phỏng vấn điều tra phụ huynh về khẩu phần ăn của trẻ em :

 Điều tra khẩu phần: Người điều tra hỏi và ghi lại toàn bộ các loại lương thực, thực phẩm (bao gồm các bữa ăn ở tại gia đình và ngoài gia đình) mà trẻ sử dụng một cách chính xác theo 6 khoảng thời gian trong ngày như sau:

 Bữa sáng (Bữa 1) :Từ khi thức dây đến ăn xong bữa sáng

 Bữa thêm (Bữa 2):Từ sau bữa sáng đến trước bữa trưa

 Bữa trưa (Bữa 3): Bữa ăn chính, giữa của ngày

 Bữa thêm (Bữa 4):Từ sau bữa trưa đến trước khi ăn bữa tối

 Bữa tối (Bữa 5): Bữa ăn chính, vào buổi tối

Trang 27

 Bữa thêm (Bữa 6):Từ sau bữa tối đến trước khi thức dậy của ngày hôm sau

- Kết quả tính ra mức tiêu thụ lương thực thực phẩm, giá trị dinh dưỡng của khẩu phần cho bình quân đầu người/ngày bằng cách dùng “Bảng thành phần dinh dưỡng thực phẩm Việt nam năm 2007” Từ đó đánh giá được mức đáp ứng nhu cầu theo nhu cầu khuyến nghị cho người

Việt Nam của Viện Dinh dưỡng

2.2.5.Đánh giá tình trạng béo phì của trẻ:

- Gần đây Tổ chức Y tế thế giới khuyên dùng “ chỉ số khối cơ thể” (Body Mass Index, BMI) trước đây gọi là chỉ số Quetelet, để nhận định về tình trạng dinh dưỡng:

BMI ≥85th: Thừa cân

- Người ta nhận thấy cả tình trạng quá nhẹ và quá thừa cân đều liên quan đến

sự gia tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong Chỉ số BMI liên quan chặt chẽ với tỷ lệ khối mỡ trong cơ thể, do đó là một chỉ số được Tổ chức Y tế thế giới khuyến nghị để đánh giá mức độ gầy béo

Trang 28

- Các giá trị biến định lượng được trình bày dưới dạng giá trị trung bình

và độ lệch chuẩn, các giá trị biến định tính được trình bày dưới dạng tần suất và tỷ lệ

- Tính toán giá trị OR và khoảng tin cậy 95% để đánh giá mối liên quan giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc Sự khác biệt được coi là ngưỡng ý nghĩa thống kê khi p<0,05

2.2.7 Các sai số có thể gặp và cách khắc phục:

2.2.7.1 Các sai số có thể gặp:

- Sai số nhớ lại: do trong nghiên cứu có nhiều thông tin cần hồi cứu qua việc hỏi các phụ huynh nên có thể có một số sai sót nhất định

- Sai số do thu thập thông tin:

 Một số thông tin được thu thập qua bộ câu hỏi, do đó có một phần phục thuộc vào tính chủ quan của cộng tác viên trong việc đưa ra câu hỏi hoặc thu thập phản hồi

 Việc thu thập các chỉ số nhân trắc nhiều khi không được thực hiện đúng thường quy

2.2.7.2 Cách khắc phục các sai số:

- Đánh giá thử trước khi tiến hành nghiên cứu từ đó thiết kế bộ câu hỏi

dễ hiểu, không phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan của người hỏi và người trả lời

- Tập huấn kỹ cho các cộng tác viên, thống nhất các thu thập số liệu

- Xây dựng, triển khai tốt hệ thống giám sát…tuân thủ các nguyên tắc điều tra tại cộng đồng

2.3 Đạo đức trong nghiên cứu:

- Lợi ích: Các đối tượng tham gia có thể có lợi ích trực tiếp khi biết được tình trạng dinh dưỡng của mình hoặc con mình, từ đó có chế độ điều

Trang 29

chỉnh Ngoài ra, kết quả nghiên cứu được sử dụng để đưa ra các khuyến nghị nhằm lựa chọn các giải pháp phòng và chống thừa cân, béo phì ở trẻ em tuổi học đường, mà không sử dụng vào các mục đích khác

- Tự nguyện: Các đối tượng tham gia nghiên cứu bao gồm học sinh, phụ huynh học sinh tham gia hoàn toàn tự nguyện, đối tượng có thể ngừng không tham gia ở bất cứ lúc nào trong thời gian nghiên cứu Các cá nhân tham gia nghiên cứu được biết rõ mục tiêu nghiên cứu và các thông tin được sử dụng đúng mục đích nghiên cứu

- Bảo mật thông tin: Mọi thông tin điều tra tuyệt đối bảo mật, chỉ có thành viên của nhóm nghiên cứu mới được biết các thông tin liên quan đến chiều cao, cân nặng, các chế độ dinh dưỡng của trẻ trong phỏng vấn

- Nghiên cứu được thông qua tại hội đồng đánh giá của Trường Đại học

Y Dược Hải Phòng, được sự đồng ý giúp đỡ của Trung tâm y tế huyện

An Dương, các trường tiểu học, trạm y tế xã, chính quyền địa phương

và đặc biệt là sự hưởng ứng của cộng tác viên, cán bộ nghiên cứu

Trang 30

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng dinh dưỡng và thừa cân, béo phì của học sinh 6 -11 tuổi

3.1.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bổ số lượng trẻ được nghiên cứu theo trường

Nhận xét: Tổng số học sinh nghiên cứu tại 3 trường tiểu học trên địa bàn

huyện An Dương là 990 học sinh Số lượng học sinh tại các trường được lựa chọn vào nghiên cứu là: trường An Hồng 318 học sinh đạt tỷ lệ 32,0%, trường

An Đồng 349 học sinh tỷ lệ 35,3%, trường Nam Sơn 323 học sinh tỷ lệ 32,7%

Hình 3.1: Phân bổ số học sinh theo trường tiểu học

Trang 31

Bảng 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới

Nhận xét: Phân bố học sinh được lựa chọn vào nghiên cứu theo nhóm tuổi

nhiều nhất là 8 tuổi 26,1% , sau đó đến 6 tuổi 21,2%, 9 tuổi 20,6%, 7 tuổi 18,3% , 10 tuổi 13,8%

Hình 3.2: Phân bố học sinh theo độ tuổi và giới

Trang 32

Bảng 3.3: Cân nặng và chiều cao trung bình của học sinh theo lứa tuổi

Nhận xét: Bảng 3.3 cho thấy chiều cao trung bình của học sinh nam là

1,24cm, nữ là 1,23cm Cân nặng trung bình học sinh nam là 25,21kg, nữ là 24,76 kg Có sự gia tăng đồng đều cân nặng và chiều cao trung bình của học sinh cả nam và nữ theo tuổi Sự gia tăng cân nặng rõ rệt hơn phát triển chiều cao

Bảng 3.4: Cân nặng và chiều cao trung bình của học sinh theo trường

Trang 33

Nhận xét: Cân nặng trung bình ở nhóm học sinh nam, nữ ở trường An Đồng

nam 25,92kg, nữ 26,22kg là cao nhất, tiếp đến Nam Sơn nam 25,42kg , nữ 24,38kg và thấp nhất là An Hồng nam 24,32kg, nữ 23,03kg Chiều cao trung bình ở nhóm học sinh nam ở trường Nam Sơn 1,26 cm là cao nhất, thấp nhất

là An Đồng 1,23 Ở nhóm học sinh nữ thì chiều cao trung bình ở trường An Đồng 1,25cm là cao nhất, tiếp đến là Nam Sơn, thấp nhất là An Hồng

Nhận xét: Qua bảng 3.5 học sinh là con thứ nhất (đầu lòng, chiếm 55% đối

với trẻ trai, 54% với trẻ gái); sau đó là trẻ là con thứ 2 (42,5% và 43,5%); số

ít là con thứ 3 (2,5%).tự sinh thứ 1 đạt 53,9%, nam (55%) nữ (53%)

Trang 34

Hình 3.3: Phân bổ học sinh theo thứ tự sinh

3 Số con trong gia đình

Nhận xét: Tuổi của phụ huỵn chủ yếu từ 25-40 tuổi chiếm 77%, trình độ văn

hóa chủ yếu là PTTH chiếm 74,5%, tiếp đến là trung học 20,3%, PTTH trở lên 4,6%, tiểu học 0,05% Số con trong gia đình ≤ 2 con chiếm tỷ lệ cao nhất 65,2%

Trang 35

3.1.2 Tỷ lệ thừa cân, béo phì của học sinh từ 6-11 tuổi

Bảng 3.7: Tình trạng dinh dưỡng của học sinh tiểu học tại 3 xã

Trường

Tình

trạng

An Đồng (n= 349)

Nhận xét: Bảng 3.7 cho thấy trong số 990 học sinh tiểu học từ 6-11 tuổi thì có

112 học sinh bị thừa cân chiếm 11,3% Tỷ lệ thừa cân cao nhất ở trường An Đồng chiếm 17,0%, tiếp là trường An Hồng chiếm 9,4%, trường Nam Sơn chiếm tỷ lệ thấp nhất 7,1% Tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất ở trường An Hồng (21,6%), tiếp đến là Nam Sơn ( 14,8%), trường có tỷ lệ SDD thấp nhất là trường An Đồng (12,0%)

Tình trạng dinh dưỡng (BMI) ở mức bình thường trên đối tượng nghiên cứu là tương đương nhau giữa các trường , trường An Đồng (70,2%), trường Nam Sơn (78,0%), trường An Hồng ( 70,0,%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê với p< 0,001

Trang 36

Bảng 3.8: Tình trạng dinh dưỡng của học sinh tiểu học 3 trường

(BMI theo giới tính)

Nhận xét: Khi so sánh giữa 2 giới nam và nữ nhận thấy tỷ lệ thừa cân ở học

sinh nam là 12,3% cao hơn nữ là 10,4%, tỷ lệ suy dinh dưỡng nữ chiếm 17,3% cao hơn nam 15,4%, mức bình thường thì nữ 72,3% , nam 72,4% Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê

15.4

72.3

12.3 17.3

72.4

10.4 0

Hình 3.4: Tình trạng dinh dưỡng theo giới tính

Trang 37

Bảng 3.9: Tình trạng dinh dưỡng của học sinh 3 trường (BMI theo tuổi )

Nhận xét: Xét về nhóm tuổi tỷ lệ thừa cân cao nhất ở nhóm học sinh 9tuổi

(16%), tiếp đến nhóm 8 tuổi (11,0%), 7 tuổi (11,0%), >= 10 tuổi (8,1%), tỷ lệ thừa cân thấp nhất ở nhóm ≤ 6 tuổi ( 3,8%) Tỷ lệ SDD cao nhất ở nhóm tuổi

≤ 6 tuổi ( 42%), thấp nhất ≥ 10 tuổi (0%) Mức bình thường chủ yếu ở nhóm

>= 10 tuổi ( 91,9%) thấp nhất ≤ 6 tuổi ( 54,4%) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,001

Trang 38

Bảng 3.10: Tình trạng dinh dưỡng của học sinh tiểu học 3 trường

(BMI theo tuổi và giới tính)

Trang 39

Nhận xét:

Bảng 3.10 cho thấy tỷ lệ thừa cân là 11,3%, suy dinh dưỡng 16,4%,

mức bình thường 72,3% Khi so sánh giữa 2 giới nam và nữ nhận thấy tỷ lệ thừa cân ở học sinh nam là 12,3% cao hơn nữ là 10,4%

Xét về nhóm tuổi tỷ lệ thừa cân cao nhất ở nhóm học sinh 9tuổi (20,1%), tỷ lệ thừa cân thấp nhất ở nhóm ≤ 6 tuổi ( 3,8%) Tỷ lệ SDD cao nhất ở nhóm tuổi ≤ 6 tuổi (42%), thấp nhất ≥ 10 tuổi (0%) Mức bình thường chủ yếu ở nhóm >= 10 tuổi (91,9%), thấp nhất ≤ 6 tuổi (54,4%) Sự khác biệt

≥ PTTH 69 6,6 715 93,4 784

Tổng cộng 112 29,6 878 164,1 990

Trang 40

Nhận xét: Bảng 3.11 cho thấy nguy cơ thừa cân ở trẻ có bố mẹ có trình độ học

vấn dưới phổ thông trung học cao gấp 2,73 lần (1,8-4,15) so với nguy cơ thừa cân ở trẻ mà mẹ có trính độ học vấn PTTH trở lên Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,001

Hình 3.5: Trình độ văn hóa của phụ huynh với tình trạng thừa cân

Bảng 3.12: Liên quan giữa số con trong gia đình với tình trạng thừa cân

≥ 3 con 65 13,0 280 87,0 345

Tổng cộng 112 22,5 878 177,5 990

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 : Phân loại TTDD dựa theo thang phân loại của WHO - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ 6 11 tuổi tại các trường tiểu học huyện an dương, hải phòng năm 2013
Bảng 1.1 Phân loại TTDD dựa theo thang phân loại của WHO (Trang 10)
Hình 1.1. Mô hình nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh của béo phì - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ 6 11 tuổi tại các trường tiểu học huyện an dương, hải phòng năm 2013
Hình 1.1. Mô hình nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh của béo phì (Trang 15)
Bảng 3.2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ 6 11 tuổi tại các trường tiểu học huyện an dương, hải phòng năm 2013
Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và giới (Trang 31)
Bảng 3.3: Cân nặng và chiều cao trung bình của học sinh theo lứa tuổi. - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ 6 11 tuổi tại các trường tiểu học huyện an dương, hải phòng năm 2013
Bảng 3.3 Cân nặng và chiều cao trung bình của học sinh theo lứa tuổi (Trang 32)
Hình 3.3: Phân bổ học sinh theo thứ tự sinh - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ 6 11 tuổi tại các trường tiểu học huyện an dương, hải phòng năm 2013
Hình 3.3 Phân bổ học sinh theo thứ tự sinh (Trang 34)
Bảng 3.7: Tình trạng dinh dưỡng của học sinh tiểu học tại 3 xã - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ 6 11 tuổi tại các trường tiểu học huyện an dương, hải phòng năm 2013
Bảng 3.7 Tình trạng dinh dưỡng của học sinh tiểu học tại 3 xã (Trang 35)
Hình 3.4: Tình trạng dinh dưỡng theo giới tính - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ 6 11 tuổi tại các trường tiểu học huyện an dương, hải phòng năm 2013
Hình 3.4 Tình trạng dinh dưỡng theo giới tính (Trang 36)
Bảng 3.8: Tình trạng dinh dưỡng của học sinh tiểu học 3 trường - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ 6 11 tuổi tại các trường tiểu học huyện an dương, hải phòng năm 2013
Bảng 3.8 Tình trạng dinh dưỡng của học sinh tiểu học 3 trường (Trang 36)
Hình 3.5: Trình độ văn hóa của phụ huynh với tình trạng thừa cân - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ 6 11 tuổi tại các trường tiểu học huyện an dương, hải phòng năm 2013
Hình 3.5 Trình độ văn hóa của phụ huynh với tình trạng thừa cân (Trang 40)
Hình 3.6:Tỷ lệ giữa số con trong gia đình với tình trạng thừa cân - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ 6 11 tuổi tại các trường tiểu học huyện an dương, hải phòng năm 2013
Hình 3.6 Tỷ lệ giữa số con trong gia đình với tình trạng thừa cân (Trang 41)
Bảng 3.15: Thu nhập hộ gia đình và tình trạng thừa cân - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ 6 11 tuổi tại các trường tiểu học huyện an dương, hải phòng năm 2013
Bảng 3.15 Thu nhập hộ gia đình và tình trạng thừa cân (Trang 43)
Bảng 3.16: Chi phí ăn uốngcủa hộ gia đình và tình trạng thừa cân - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ 6 11 tuổi tại các trường tiểu học huyện an dương, hải phòng năm 2013
Bảng 3.16 Chi phí ăn uốngcủa hộ gia đình và tình trạng thừa cân (Trang 44)
Bảng 3.17: Liên quan giữa cân nặng khi sinh với tình trạng thừa cân - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ 6 11 tuổi tại các trường tiểu học huyện an dương, hải phòng năm 2013
Bảng 3.17 Liên quan giữa cân nặng khi sinh với tình trạng thừa cân (Trang 45)
Bảng  3.21: Mối liên quan giữa hoạt động và tình trạng thừa cân - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ 6 11 tuổi tại các trường tiểu học huyện an dương, hải phòng năm 2013
ng 3.21: Mối liên quan giữa hoạt động và tình trạng thừa cân (Trang 48)
Bảng 3.24: Mối liên quan giữa truyền thông dinh dưỡng của phụ huynh - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến thừa cân, béo phì ở trẻ 6 11 tuổi tại các trường tiểu học huyện an dương, hải phòng năm 2013
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa truyền thông dinh dưỡng của phụ huynh (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w