Việc nghiên cứu đánh giá thực trạng và phân tích một số yếu tố liên quan đến TNLĐ của công nhân cảng Hải Phòng là cơ sở khoa học để khuyến cáo người có trách nhiệm quản lý và người lao đ
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, Cảng Hải Phòng đã không ngừng phát triển, nâng cao năng lực bốc xếp, thu hút một lực lượng lớn nguồn nhân lực, đóng góp quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng phát triển kinh tế xã hội của thành phố Hải Phòng và đất nước Sự phát triển nhanh chóng của Cảng Hải Phòng luôn đi cùng các vấn đề không mong muốn như tai nạn lao động, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và sức khoẻ người dân
Trên Thế giới, tai nạn lao động ngày càng có xu hướng gia tăng đặc biệt
là các nước đang phát triển Theo thống kê của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO), ước tính hàng năm có khoảng 337 triệu vụ tai nạn lao động (TNLĐ) xảy
ra trong đó có 2,3 triệu người chết có liên quan đến TNLĐ [72],[73] Các nghiên cứu cho thấy ở các quốc gia đang phát triển, tần suất TNLĐ chết người là 30 - 43 người /100.000 lao động, mỗi ngày trên thế giới có khoảng 1,5 triệu người bị TNLĐ [72]
Ở Việt Nam, theo đánh giá của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội tai nạn lao động từ năm 2006 đến năm 2010, bình quân mỗi năm có gần 700 người chết do TNLĐ, xảy ra hơn 3.600 vụ TNLĐ và làm hàng nghìn người bị thương Tai nạn lao động làm thiệt hại về người và của, ảnh hưởng đến nền kinh tế, đến trật tự an toàn xã hội[10]
Tai nạn lao động trong các ngành nghề như các ngành công nghiệp nhẹ (dệt, sợi, may mặc ), công nghiệp nặng (luyện kim, cơ khí ), công nghiệp hoá
Trang 2chất (phân bón, giấy, sơn ), công nghiệp đóng tàu, xây dựng đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu
Cảng Hải Phòng hoạt động sản xuất kinh doanh với nhiều ngành nghề khác nhau Người lao động phải sử dụng máy móc chuyên dụng, phương tiện vận tải, bốc xếp hàng hoá trên tàu biển, trong hầm hàng , trong điều kiện môi trường lao động khắc nghiệt, nhưng chưa có tài liệu khoa học đánh giá về tình hình TNLĐ Việc nghiên cứu đánh giá thực trạng và phân tích một số yếu tố liên quan đến TNLĐ của công nhân cảng Hải Phòng là cơ sở khoa học để khuyến cáo người có trách nhiệm quản lý và người lao động thực hiện những nghĩa vụ của mình, tuân thủ những quy định về an toàn lao động làm giảm thiểu những TNLĐ đáng tiếc xảy ra Với lý do trên, chúng tôi thực hiện đề tài:
“ Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tai nạn lao động tại Cảng Hải Phòng trong 5 năm (2007- 2011)” với 2 mục tiêu:
1 Mô tả thực trạng tai nạn lao động và công tác sơ cứu, cấp cứu tai nạn lao động tại Cảng Hải Phòng trong 5 năm (2007 - 2011)
2 Mô tả một số yếu tố liên quan đến tai nạn lao động tại cảng Hải Phòng
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Những khái niệm cơ bản về TNLĐ
1.1.1 Tai nạn lao động:
Tai nạn lao động là những tai nạn xảy ra do tác động của các yếu tố nguy hiểm, độc hại trong lao động gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể người lao động hoặc gây tử vong xảy ra trong quá trình lao động gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động (trong thời gian làm việc, chuẩn bị hoặc thu dọn sau khi làm việc) Những trường hợp tai nạn trong thời gian nghỉ giải lao, ăn giữa ca, tắm rửa sau khi kết thúc công việc, cho con bú theo quy định trong Bộ Luật lao động được coi là TNLĐ [16]
Vụ tai nạn lao động: Là những vụ việc xảy ra do người lao động khi tiếp
xúc, vận hành máy móc, trang thiết bị, do va chạm giao thông, đổ xe, rơi ngã dẫn đến hậu quả gây chấn thương cho người lao động, vụ TNLĐ có thể nhiều hơn một người [13]
1.1.2 Chấn thương và những khái niệm liên quan:
Chấn thương là sự phá hoại bất ngờ tính toàn vẹn của cơ thể ( chức năng sinh lý của tế bào, cơ quan nội tạng của cơ thể), gây tổn thương thực thể trên cơ thể người do tác động của năng lượng bao gồm cơ học, nhiệt, điện, hoá học hoặc phóng xạ với mức độ, tốc độ khác nhau quá sức chịu đựng của cơ thể người Chấn thương còn là thiếu hụt các yếu tố cần thiết cho sự sống ví dụ như: Thiếu ô
xy trong đuối nước, giảm nhiệt trong đông lạnh
Trường hợp chấn thương: Là những chấn thương để lại hậu quả tử vong
hoặc gây thương tích cần đến chăm sóc y tế, hoặc hạn chế sinh hoạt bình thường tối thiểu một ngày
Trang 4+ Ngộ độc: Là những trường hợp hít phải, ăn vào, ngấm vào, tiêm vào cơ thể các loại độc tố dẫn đến tử vong hoặc cần đến sự chăm sóc y tế
+ Chấn thương do máy móc: Là những chấn thương xảy ra do tiếp xúc, vận hành máy móc, trang thiết bị dẫn đến tổn thương thực thể hoặc tử vong[13]
1.2 Tai nạn lao động và các vấn đề cần quan tâm
1.2.1 Trên Thế giới
Theo Tổ chức lao động quốc tế đánh giá sự thiệt hại về kinh tế hàng năm
do TNLĐ, bệnh nghề nghiệp ước tính khoảng 4% tổng sản phẩm kinh tế quốc dân của thế giới, tương đương với 1.251.353 triệu USD [72], [73]
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG), hàng năm những tai nạn và các bệnh có liên quan đến lao động làm chết khoảng 1,1 triệu người trên Thế giới Các số liệu thống kê này, còn thiếu rất nhiều do sự hạn chế về khả năng phát hiện bệnh, trình độ thống kê và quản lý dữ liệu (ước tính ở Châu Mỹ La tinh chỉ có khoảng 1- 4% trường hợp được báo cáo) Tình hình lao động có tuổi cao hiện đang có khoảng 590 triệu người ở độ tuổi 60 trở lên Ước tính đến năm
2020 sẽ là 1 tỷ người Khi đó, 700 triệu người có tuổi là ở các nước đang phát
Trang 5triển Lao động có tuổi đang có xu hướng tăng, đặt ra những vấn đề về y học lao động liên quan Lao động trẻ em trên Thế giới có khoảng 250 triệu trẻ em từ 5 -
14 tuổi làm việc ở các nước đang phát triển, gần 70% làm việc trong điều kiện độc hại Trong số lao động trẻ em đó thì ở Châu Á nhiều nhất (81%) rồi đến Châu Phi (32%), châu Mỹ la tinh (7%) Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ em lao động so với tổng số trẻ em từ 5-14 tuổi thì Châu Phi là cao nhất (41%) rồi đến Châu Á (22%), châu Mỹ la tinh (17%) Lao động nữ tham gia vào lao động xã hội ngày càng tăng Hiện nay lao động nữ trên thế giới trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 42% lực lượng lao động toàn cầu [72]
Theo báo cáo của TCYTTG chỉ có từ 5 - 10% công nhân ở các nước đang phát triển và từ 20 -50% công nhân ở các nước phát triển tiếp cận đầy đủ với dịch vụ y tế lao động Với các doanh nghiệp nhỏ và vừa thì sự tiếp cận với dịch
vụ y tế lao động và thực thi các văn bản luật pháp về bảo đảm an toàn lao động còn khó khăn hơn nhiều Một điểm đáng chú ý là sự thay đổi công nhân khá thường xuyên và việc thuê hợp đồng thời vụ của các doanh nghiệp, đặc biệt các công ty liên doanh đã khiến cho việc theo dõi sức khỏe và ảnh hưởng của tác hại nghề nghiệp lên người lao động gặp nhiều khó khăn [39], [40]
Các số liệu thống kê tại Cộng đồng Châu Âu cho thấy, trong số 115 triệu người lao động của Châu lục này đã có hơn 10 triệu người bị TNLĐ hoặc bệnh nghề nghiệp hàng năm Số người chết vì TNLĐ là hơn 8.000 người/năm Thiệt hại kinh tế khoảng 26 tỉ euro/năm Ở nước Đức, điều kiện lao động xấu gây thiệt hại khoảng 52 tỉ đê-mác/năm Ở nước Anh, chi phí cho người bị tai nạn bằng 4 - 8% tổng lợi nhuận của các công ty thương mại và công nghiệp của Anh Tại Hà
Trang 6Lan, chi phí cho bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động bằng khoảng 4% GNP [72],[73]
Ở nước Mỹ có khoảng 150.000 chấn thương do TNLĐ hàng năm và phải chi tới 400 tỷ đô la Trung bình mỗi ngày tại Mỹ có khoảng 9.000 người bị thương tật do TNLĐ và 153 người chết do TNLĐ Chấn thương do TNLĐ là nguyên nhân gây chết người đứng hàng thứ 3 trong các nguyên nhân gây tử vong Tỷ lệ chết do TNLĐ là 51/100.000 dân Thông thường số liệu về TNLĐ ở các nước khác nhau do phương pháp thống kê khác nhau, mục đích sử dụng và công bố số liệu hoặc do chủ trương giữ bí mật của các nước khác nhau Cũng có trường hợp do những qui định về pháp luật trong việc trả bảo hiểm cho người lao động nên như nước Mỹ, người ta tính cả các thương tích do tai nạn giao thông, bạo lực ở nơi làm việc Do đó các đặc điểm trên nên việc so sánh tình hình TNLĐ trên thế giới chỉ là tương đối và để tham khảo [72], [73]
Công ước 187 về Cơ chế thúc đẩy an toàn và vệ sinh lao động được các nước thành viên của Tổ chức Lao động thông qua ngày 15/6/2006 tại Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế nhằm mục đích: Tiếp tục cải thiện hệ thống quốc gia và thực hiện về an toàn vệ sinh lao động thông qua các chương trình quốc gia về an toàn vệ sinh - Giải pháp tiếp cận hệ thống quản lý Đưa vấn
đề an toàn vệ sinh lao động là ưu tiên tại các chương trình nghị sự của quốc gia.Thúc đẩy việc thực hiện các tiêu chuẩn và các công cụ của ILO về an toàn vệ sinh lao động Thúc đẩy tiến trình phê chuẩn các công ước của ILO về an toàn lao động Ngoài ra, công ước 187 còn có thể sử dụng như một thước đo để đánh giá mức độ quản lý về an toàn vệ sinh lao động của quốc gia [41]
Trang 7Trên thế giới, có nhiều tác giả công bố các công trình nghiên cứu liên quan đến TNLĐ Họ quan niệm TNLĐ là hậu quả tác động bất ngờ của các yếu
tố bên ngoài gây nên chấn thương hoặc nhiễm độc cấp tính cho người lao động trong quá trình sản xuất hoặc thực hiện công việc có liên quan đến sản xuất [61], [62]
Ở Australia, theo Carol O’Dennell, tai nạn lao động trong ngành công nghiệp chiếm 14% ( đứng thứ hai sau TNGT) trong tổng số tai nạn gây chết người Nếu tính theo nghề nghiệp thì công nhân công nghiệp chiếm 27% tổng số tai nạn, đứng đầu các nghề được thống kê tại Australia; trong đó TNLĐ do va đập chiếm 24%, do máy móc cố định chiếm 9%, máy móc di động 11%, do vật liệu 13%, do thiết bị điện 6%, do môi trường lao động 19% và do các nguyên nhân khác là 13%[4]
Tại Singapore, một nghiên cứu về chấn thương trong sản xuất của nhà máy gang thép có số công nhân trên 1.000 người với thời gian 5 năm, cho biết có
921 chấn thương phải nghỉ việc hơn một ngày do tai nạn, có 383 bị tai nạn ở ca sáng (7-15 giờ) chiếm 40% tổng số TNLĐ, 210 ca bị tai nạn trong ca chiều (15-
23 giờ) chiếm 22,8% và chỉ có 150 ca bị tai nạn ở ca đêm chiếm 16,28% Có 2 thời điểm hay xảy ra tai nạn trong ngày là giữa ca sáng (9-10 giờ) và giữa ca chiều (14-15 giờ) Chấn thương chi trên nhìn chung bị nhiều hơn ở ca sáng và ca chiều, chấn thương chi dưới thường xảy ra ở ca đêm Ngã cao là một trong những nguyên nhân chính gây tai nạn ở ca đêm, ngược lại chấn thương do bỏng,
va đập, vật nặng rơi lại xảy ra nhiều hơn ở ca ngày Mặc dù có nhiều tai nạn xảy
ra ở ca sáng và chiều nhưng nhìn chung những tai nạn xảy ra ở ca đêm đòi hỏi phải nghỉ việc nhiều hơn Điều này chứng tỏ tai nạn xảy ra vào ban đêm thường
Trang 8nặng hơn và cũng cho thấy thói quen công việc, hệ thống ca kíp và môi trường lao động có ảnh hưởng đáng kể đến những TNLĐ[91]
Theo Pinnagoda, cũng tại Singapore để dự phòng tai nạn và bệnh tật tại nơi làm việc, người ta kiểm soát tình trạng sức khoẻ và phòng hộ lao dộng với các yếu tố có hại trong lao động bằng phương pháp thông gió chung và cục bộ Trong công nghiệp sử dụng các thiết bị phòng hộ cá nhân, tổ chức tuyên truyền
và đào tạo ATLĐ cho công nhân theo “ phương pháp 4 bước” ( four step method) rất có hiệu quả Phương pháp này chủ yếu sử dụng băng hình video và sách phổ cập dễ hiểu để đào tạo[96]
Các nghiên cứu của nước ngoài chủ yếu tập trung về phân tích các loại hình TNLĐ, liên quan giữa TNLĐ và các yếu tố nguy cơ như: Tuổi đời, tuổi nghề, nhịp sinh học, các nguyên nhân gây TNLĐ
Phân tích về các trường hợp chấn thương nghề nghiệp tại 8 xí nghiệp ở Bắc Kinh - Trung Quốc, các tác giả chỉ ra rằng hầu hết tỷ lệ chấn thương cao xảy
ra đối với công nhân sản xuất cơ khí Các trường hợp chấn thương ở công nhân
cơ khí chiếm 74,2% trên tổng số các trường hợp TNLĐ Loại hình chấn thương chủ yếu là ở chi trên và chi dưới ( 75% - 82%) Các chấn thương thường xảy ra vào 2 giờ cuối của ca làm việc 8 tiếng( 205/438, 46,8%) [75]
Theo Jones và Griffith nghiên cứu trên 63.000 công nhân ngành hoá chất cho biết trong tổng số 133 ca bị tai nạn vào mắt chiếm 8,4% trong tổng số TNLĐ Trang bị bảo vệ mắt thường là không mang, một vài bảo hộ sai quy cách đối với những công việc đặc biệt Trong quần thể này, chấn thương mắt có tỷ lệ mắc 23/1000/năm Hầu hết tai nạn có thể tránh được Cần trang bị BHLĐ, nâng cao giáo dục cho công nhân để giảm tỷ lệ chấn thương mắt [76]
Trang 9Nghiên cứu của Lombardi DA và cộng sự cho biết chấn thương mắt là những chấn thương cơ thể chủ yếu chiếm 5% tổng số trường hợp phải bồi thường, trong số đó chấn thương mắt của công nhân hàn chiếm 25% và chủ yếu
là nam giới ( 97,1%) Các ngành nghề chủ yếu là công nhân trong các nhà máy
cơ khí (70,4%), dịch vụ 11,8%, xây dựng ( 8,4%) Dị vật mắt chiếm 71,7%, bỏng mắt chiếm 22,2% và chấn thương cả hai mắt chiếm 17,6% Các thao tác hoạt động gồm hàn chiếm 31,9%, mài chiếm 22,5% [85]
Bằng phân tích hồi cứu số liệu về chấn thương nghề nghiệp trong 4 năm, các tác giả Trung Quốc cho thấy TNLĐ có xu hướng giảm trong ngành thép, nam giới bị chấn thương nghề nghiệp nhiều hơn nữ giới, tuổi nghề thấp thì tỷ lệ TNLĐ càng cao Chủ yếu là bị chấn thương ở đầu và các chi với loại hình gãy xương và bỏng Hầu hết nguyên nhân gây TNLĐ là vi phạm luật lao động và không chú ý tập trung vào công việc, nguyên nhân khác nữa là do thiết bị sản xuất lạc hậu, điều kiện lao động không thuận lợi[105]
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, một nghiên cứu cho biết tỷ lệ tử vong do TNLĐ 120/1000 trong tổng số TNLĐ Loại hình chấn thương của TNLĐ trong ngành xây dựng 45,1% do ngã từ trên cao, 14,4% do tai nạn xe cộ, 14,4% do điện giật Nguyên nhân gây tử vong chủ yếu là do vật nặng va đập ( 37,9%), chấn thương vùng đầu ( 25,5%) Số người bị TNLĐ dưới một năm tuổi nghề chiếm 41%, chỉ
có 7,7% số ca tử vong được xác định nguyên nhân qua mổ tử thi[63]
Nghiên cứu của Pianosi phân tích 1.259 ca tai nạn lao động được đền bù ở Lombardy, Italia, kết quả cho thấy có sự khác nhau có ý nghĩa giữa sự phân bố địa lý, ngành nghề và số đối tượng công nhân được nghiên cứu Nam công nhân chiếm tỷ lệ 95% tổng số TNLĐ; hơn nửa là số công nhân trẻ và cao tuổi Hầu hết các ca tử vong do bị chấn thương vào đầu, ngực, cột sống TNLĐ trong các xí
Trang 10nghiệp nhỏ chiếm tỷ lệ 25% tổng số TNLĐ Khoảng 50% số TNLĐ liên quan đến sử dụng xe cộ: trong các ca TNLĐ, nạn nhân chủ yếu là lái xe[95]
Một nghiên cứu được tiến hành tại Venezuela từ năm 1986 -1933 về các chấn thương chi trên với mục đích phân tích tần số, tỷ lệ chấn thương và địa điểm xảy ra TNLĐ của những công nhân vùng phía Đông Biển Hồ Maracaibo, bang Zulia Chấn thương chi trên được định nghĩa là một tổn thương thực thể ngón tay, bàn tay và cổ tay người lao động xảy ra khi làm việc tiếp xúc với yếu
tố nguy cơ trong cơ sở sản xuất Những chỉ tiêu được phân tích gồm: Tuổi, hoạt động kinh tế, nguyên nhân cơ học, dạng chấn thương, dạng tai nạn, mức độ nặng
- nhẹ của tai nạn và những hoạt động sản xuất không an toàn Tỷ lệ thường gặp được dùng để phân tích tỷ lệ TNLĐ hay xảy ra Trong thời gian nghiên cứu đã thu thập được 2.456 ca chấn thương chi trên, chiếm 36% tổng số các ca TNLĐ; 95% bị chấn thương nhẹ, 5% mất khả năng lao động và có 2 ca bị chết, 72% bị chấn thương ở các ngón tay, 22% ở cánh tay và 6% ở cổ tay Tần suất chấn thương lớn nhất thường gặp ở ngành khai thác mỏ và khai thác đá với 123/1.000 lao động Nhóm tuổi hầu hết ở độ tuổi 20 - 29 (42%), vết thương bàn tay chiếm
tỉ lệ 39% Nguyên nhân chính gây chấn thương là do di chuyển hoặc bị vật rơi, bắn vào Tác nhân chính gây chấn thương là những nguyên liệu sản xuất, bức xạ nhiệt chiếm tới 45% số trường hợp tai nạn Từ những kết quả trên, các tác giả đã kết luận rằng: Tỉ lệ chấn thương bàn tay là rất cao trong công nhân khai thác mỏ
và khai thác đá và đó cũng chính là nguyên nhân gây tàn tật cho người lao động [
99 ]
Nghiên cứu TNLĐ trong số công nhân được hưởng bảo hiểm xã hội ở Benin các tác giả Fayomi EB, Sohoun T, Housesou R và Vigan L cho thấy: Tần suất TNLĐ qua 5 năm là 4/100.000 lao động Các hình thái tổn thương gồm các vết thương phần mềm (59%), tổn thương xương khớp (20%), bỏng (3%) và vật
Trang 11nhọn gây thương tích (1,8%) Về vị trí chấn thương có 50,5% tổn thương ở các chi: chi trên (25,1%), chi dưới (25,4%), vết thương vùng mặt chiếm 16,3% Những yếu tố nguy cơ cho thấy có 36% TNLĐ ở lứa tuổi 30-39, 37% ở lứa tuổi
40 - 49, lứa tuổi trẻ (dưới 20 ) và lứa tuổi cao (trên 50 tuổi) có số tai nạn ít nhất với các tỷ lệ tương ứng là 2% và 8%, về tuổi nghề tai nạn xảy ra nhiều nhất ở hai nhóm tuổi dưới một năm (22%) và từ 3-6 năm (31%) Nguyên nhân gây tai nạn
do phương tiện giao thông (26,3%), vận chuyển đồ vật (25%), trượt ngã (11,4%),
đồ vật rơi (9,6%), do máy móc (9,1%) và dụng cụ cầm tay (5,5%) [107]
Salmien và Tallberg nghiên cứu 99 ca TNLĐ nghiêm trọng cho thấy: 84% nguyên nhân do yếu tố con người, chủ yếu do kỹ năng tay nghề, vi phạm luật lệ lao động [98]
Những nghiên cứu của Akested [48] và Costa [65] cho thấy công việc theo
ca kíp, đặc biệt ca đêm đã làm tăng rõ rệt tỷ lệ TNLĐ Cũng qua 4.645 chấn thương được ghi nhận trong một năm của một công ty cơ khí lớn áp dụng ba ca làm việc, Smith L, Flokard và Doole C.J cho biết nguy cơ bị TNLĐ cũng như TNLĐ nặng xảy ra ở ca đêm nhiều hơn ca ngày [100] Tỷ lệ chấn thương là 14,4/100 công nhân/năm Cưa máy là nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất trong nhà máy gây chấn thương cho người lao động ( 42% )[49]
Qua nghiên cứu 437 bệnh nhân chấn thương phần dưới cột sống, Mc Coy
CE, Hadjiparlou AG và Overman T cho biết: 33% công nhân bị thương khi thực hiện công việc bình thường, trong số đó tai nạn nhiều nhất là do mang vác vật nặng (66%), bị đẩy hoặc kéo (13%), 67% chấn thương xảy ra do những tình huống bất thường hoặc hoạt động không được miêu tả trong công việc thường ngày của công nhân [87]
Nghiên cứu nguy cơ tai nạn nghề nghiệp phân bố theo tuổi tại một mỏ sắt
ở Thụy Điển từ năm 1980 - 1993, các tác giả Laflamme L và Blank VL cho biết
Trang 12nguy cơ tai nạn tăng cao ở hai giai đoạn đầu và cuối của công việc và ở hai nhóm tuổi trẻ nhất trong số bốn nhóm tuổi [81]
Nghiên cứu về yếu tố con người và TNLĐ, Petz B cho biết: những yếu tố
cá tính và lứa tuổi là cố định, yếu tố tuổi nghề và kinh nghiệm thay đổi theo thời gian, các yếu tố khác là bất ngờ, rượu, ốm đau, mệt mỏi, trạng thái tâm lý [93]
Những nguyên nhân của chấn thương nghề nghiệp được điều tra qua 2.365
ca của tác giả Kingma J cho thấy máy móc và dụng cụ cầm tay là hai nguyên nhân chính (49,9%), 89% nạn nhân là nam giới Nhóm nguy cơ cao nhất là lứa tuổi 19, trong nhóm này tỷ lệ mắc tai nạn của nữ là lớn nhất [79]
Kiểm tra giả thuyết về những tàn phế nói chung làm hạn chế đến khả năng lao động và các khuyết tật nghe nhìn là các yếu tố nguy cơ với các chấn thương nghề nghiệp, các kết quả của Zwerling C, Witten PS, David CS và Sprince NL trên 459.827 công nhân tuổi từ 18 đến 65 trong 10 năm là : Chấn thương nghề nghiệp có kết hợp với tàn tật trước khi làm việc (OR: 1,36% ; 95% CI = 1,19 -1,56); mù (OR : 3,21; 95% CI = 1,17 - 4,12) điếc (OR: 1,34; 95% CI = 1,07 -1,68) Các tác giả kết luận là công nhân bị tàn tật, đặc biệt có khuyết tật cơ quan cảm nhận có nguy cơ tăng cao về chấn thương nghề nghiệp [106]
Nghiên cứu tác động về tuổi, kinh nghiệm nghề nghiệp và tương tác của chúng với sự xuất hiện của tai nạn Cellier, Eyrolle và Bertran chia ra ba nhóm kinh nghiệm với sáu nhóm tuổi cho thấy tuổi và kinh nghiệm tác động có ý nghĩa đến tần suất và mức nghiêm trọng của tai nạn Kết hợp hai yếu tố này cho thấy những đối tượng trẻ nhất (có ít kinh nghiệm làm việc) và già nhất có tỷ lệ cao hơn đáng kể về tần suất và mức nghiêm trọng về tai nạn [60]
Zwerling C nghiên cứu trên 6.854 công nhân tuổi từ 51-61 tuổi, đối chiếu với những nhóm tuổi khác cho thấy phân bố nguy cơ TNLĐ trong các ngành
Trang 13nghề như sau: cơ khí và sửa chữa: OR = 2,27; dịch vụ OR = 1,68; lao động thủ công OR = 2,18; mang vác nặng OR = 2,75 [106]
Nhận xét về mối liên quan giữa tuổi và nguy cơ mắc TNLĐ, Kisner SN và Pratt SG cho biết công nhân ở độ tuổi 65 và già hơn có tỷ lệ chết cao gấp 2,6 lần
so với công nhân ở độ tuổi từ16 đến 64 (4,1/100.000 so với 5,4/100.000) Tỷ lệ chết cao nhất tập trung trong ngành Mỏ, Nông nghiệp và Xây dựng So với công nhân trẻ, công nhân ở độ tuổi mới lớn có nguy cơ tăng cao hơn với nguyên nhân chết do máy móc ở nam và ngã ở nữ giới [80]
Nghiên cứu TNLĐ lứa tuổi 19 đến 51 tuổi trên 1.361 chấn thương ở Dunedin New Zealand, Dufort VM và Kotch JB cho thấy tỷ suất chấn thương là 13,8/200.000 giờ lao động (nam : 20,6/200.000, nữ 5,8/200.000) Những vị trí chấn thương chính là chi trên (hầu hết ở bàn tay), đầu (hầu hết ở mắt) và chi dưới Rách cơ là loại hình chấn thương chính, theo sau là bong gân, trật khớp và
dị vật Những nguyên nhân chính là các vật thể cắt, đâm xuyên, dị vật và vật va đập Ngành nghề chính bị tai nạn là xây dựng, giao thông, cơ khí chế tạo Công nhân phổ thông có nguy cơ nghề nghiệp cao nhất, sau đó đến thợ điều khiển máy, chế tạo sản phẩm chính xác và ngành dịch vụ [66]
Tại Mỹ trong 3 năm kiểm tra những chấn thương nghề nghiệp gây chết người lứa tuổi từ 16 -17 tuổi, từ năm 1990 -1992, Castillo DN và Malit BD phân tích 111 trường hợp tử vong có kết quả tỷ suất chết 3,5/100.000 giờ lao động, nguyên nhân chủ yếu liên quan đến giao thông và máy móc [59]
So sánh chấn thương nghề nghiệp ngành Xây dựng ở Australia và Mỹ từ năm 1988 đến 1991 để xác định những tương tự và khác biệt về nguy cơ, Ore T
và Stout N.A cho biết có 4.158 ca tử vong ở Mỹ và 264 ca tử vong ở Australia,
tỷ suất tương ứng là 13,8/100.000 công nhân/năm và 11,6/100.000 công nhân/năm Những nguyên nhân chính gây tử vong là do ngã, phương tiện vận tải,
Trang 14điện và máy móc ở cả hai nước, với 69% nguyên nhân gây tử vong ở Mỹ và 71%
ở Australia [90]
Nghiên cứu TNLĐ ở Niger của các tác giả Moussa F, Sekou H cho thấy ngành khai thác mỏ có số lượng TNLĐ cao nhất trong ngành nghề (chiếm 50% tổng số các TNLĐ) [108]
Nghiên cứu tỷ lệ chết ở công nhân mỏ than vùng New South Wales, Australia trong giai đoạn năm1973-1992 trên 23.630 người, các tác giả Christie
BG Brown AM, Taylor R, Seccombe MA và Coates MS cho biết có 491 ca tử vong trong thời kỳ nghiên cứu, sau khi chuẩn hóa theo tuổi công nhân ngành than có tỷ lệ chết thấp hơn cộng đồng chung ở New South Wales là 24%; tuy nhiên, tỷ lệ chết không phải do tai nạn giao thông lại vượt quá mức bình thường Hầu hết những tử vong này do tai nạn nghề nghiệp và được xác định chủ yếu trong các mỏ than hầm lò [62]
Qua những trường hợp TNLĐ được đánh giá là nặng, tác giả Salminen đánh giá nguy cơ TNLĐ cao nhất là trong ngành chế tạo, tiếp đến là ngành xây dựng và cuối cùng là giao thông Nạn nhân thường là làm việc năm đầu, tai nạn điển hình là ngã cao, do máy móc và do phương tiện giao thông Những chấn thương phổ biến nhất là gẫy xương, cụt chi và chấn thương nội tạng [98]
Ở Phần Lan, tại các cơ sở sản xuất gỗ dán, đóng tàu, chế biến lâm sản, xây dựng và bốc dỡ hàng hóa, môi trường làm việc an toàn được đánh giá thông qua các phiếu câu hỏi Kết quả thu được khẳng định môi trường làm việc an toàn được xác định chủ yếu là do nhận thức của từng cá nhân về thói quen thực hành
an toàn lao động Môi trường làm việc càng an toàn thì tần suất TNLĐ càng thấp [102]
Trang 15Nghiên cứu của Nag PK và Nag A về nguy cơ của nhiệt độ cao ảnh hưởng đến TNLĐ (ngành dệt may với n = 4.125) và khả năng chịu nhiệt trong một ngày luân phiên (sáng và chiều, n = 16) và người chuyên làm ca đêm (n = 13) trong môi trường nóng - khô và nóng ẩm (nhiệt độ 31- 420C, độ ẩm 50 - 80%) cho thấy: tỷ lệ tai nạn rất cao trong những tháng mùa hè (tháng 5 - tháng 6) khi mà nhiệt độ môi trường ở trong khoảng 42 - 48 0C (nóng khô) Do ảnh hưởng của vi khí hậu nóng là nguyên nhân gây tai nạn cho người lao động Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đối với các hình thức làm ca đêm có nhiều nguy cơ xảy ra tai nạn hơn
và khả năng chịu nóng kém hơn, chênh nhau khoảng 15% (310C) đến 40% , so với công nhân làm luân phiên ban ngày [88]
Tại Iran, để đánh giá được tầm quan trọng của chấn thương nghề nghiệp đối với cộng đồng, các tác giả đã nghiên cứu hồ sơ của trên 8.400 ca nằm viện
do chấn thương tại 6 bệnh viện trong vòng 13 tháng, 14% trong số 8.426 ca chấn thương có yếu tố tai nạn nghề nghiệp (1.180 ca) và 95% là nam giới Độ tuổi từ
19 - 39 tuổi chiếm 63% tổng số bệnh nhân; 11% là bệnh nhân từ 18 tuổi trở xuống Công nhân xây dựng 26%, lao động phổ thông 26%, công nhân thuộc các ngành công nghiệp 17%, tổng cộng chiếm 70% toàn bộ TNLĐ Tai nạn ngã từ trên cao xuống 39% và bị vật nặng rơi vào 29% là tai nạn thường thấy nhất trong ngành cơ khí Hơn 60% bệnh nhân không có bảo hiểm Độ tuổi càng thấp thì khả năng được bảo hiểm càng thấp Tai nạn ở phần đầu (49%), tay và cổ tay (46%), chi dưới và đầu gối (36%) là những phần dễ bị thương nhất [97]
Một nghiên cứu ở Brazil cho thấy: Những tai nạn lao động do các yếu tố nguy cơ tăng có ý nghĩa là sự tiếp xúc kết hợp tiếng ồn, nhiệt, bụi và khói, khí
ga, hơi khí độc, công việc luôn ca kíp, lao động thủ công, làm việc trong xưởng Chương trình giám sát và dự phòng chấn thương nghề nghiệp và TNLĐ từ năm
1997 đến 2002, tỉ lệ chấn thương do TNLĐ trung bình hàng năm ở nhà máy này
Trang 16giảm một cách có ý nghĩa, nhưng ở nhà máy cơ khí không áp dụng chương trình thì có tỷ lệ tương ứng không giảm Chương trình đào tạo an toàn kéo dài đạt kết quả tốt nhất đối với những công nhân trẻ dưới 5 năm tuổi nghề và công nhân có tuổi đời cao[85]
Qua kết quả nghiên cứu trong một cơ sở đóng tàu Italia, tác giả Areacleni
R và cộng sự đưa ra các kiến nghị về phương pháp phòng chống TNLĐ và cải thiện tổ chức lao động cũng như sự cần thiết phải trang bị và sử dụng bảo hộ lao động cá nhân [51]
Tác giả Agrawal OP nghiên cứu trên 270 công nhân nhà máy cán thép bị bỏng cho thấy giáo dục đầy đủ về an toàn cho công nhân trẻ, chuyển nhanh bệnh nhân đến bệnh viện, cơ sở chuyên ngành và cắt bỏ sớm những tổ chức tổn thương có giảm tỷ lệ tử vong và di chứng [50] Nghiên cứu của Cordeiro R ở Brazil về nhận thức của người lao động về các yếu tố nguy cơ cho thấy mức độ nhận thức của công nhân bị TNLĐ thấp hơn công nhân không bị TNLĐ [64]
Một can thiệp sử dụng quản lý y tế, tổ chức lại thiết bị và áp dụng kỹ thuật ergonomic để kiểm soát chấn thương nơi sản xuất của các tác giả Lindvist KS, Brodin H đã cho thấy sau khi can thiệp có sự giảm có ý nghĩa về chấn thương (53/1.000 so với 27/1.000; P < 0,01) và ngày nghỉ việc/ca tai nạn (10,4 so với 6,6
; P <0,01), chi phí y tế và tiền bồi thường giảm 18% [83]
Đánh giá biện pháp quản lý có thể đóng vai trò phòng ngừa chấn thương nơi làm việc qua tư vấn, huấn luyện, sàng lọc có mục tiêu và quản lý can thiệp trường hợp, Feldenstein A, Breen V và Dana N cho biết mức độ giảm có ý nghĩa thống kê về thời gian nghỉ việc do chấn thương sản xuất (17,8 ngày nghỉ/ca chấn thương năm 1991 xuống 15 ngày nghỉ/ca chấn thương năm 1995, P < 0,01) [68]
Trang 17Nghiên cứu kiểm tra mối quan hệ thống kê giữa điểm thanh tra an toàn và
tỷ lệ chấn thương nghề nghiệp ở 11 cơ sở hải quân Mỹ, Lindell MK cho thấy điểm thanh tra an toàn có ý nghĩa thống kê để dự báo về tỷ lệ chấn thương phải nghỉ việc, điểm thanh tra an toàn của các cơ sở này chỉ tăng 1% cũng đã làm giảm 1% tỷ lệ các chấn thương nặng và tiết kiệm được 2 triệu USD chi phí một năm do các tai nạn gây ra Từ những số liệu này gợi ý rằng thanh tra an toàn định
kỳ, toàn diện có kết quả tốt đến việc giảm chấn thương nơi sản xuất [82]
Có nhiều tai nạn liên quan đến điện đã xảy ra trong ngành điện năng và chúng thường gây ra tử vong Trong bối cảnh những tai nạn do điện ở những công ty trên khắp thế giới được điều tra bằng cách kiểm tra những tài liệu khoa học nhằm đưa ra bức tranh về loại, dạng số liệu thống kê có giá trị, những yếu tố được đánh giá tác động đến việc xảy ra TNLĐ, hậu quả của nó cũng như các biện pháp cần khiếm khuyết Trên thế giới, có những số liệu so sánh đáng tin cậy chỉ ra rằng có xu hướng giảm những tai nạn chết người do điện [56] Những khó khăn gặp phải trong việc sưu tập tài liệu mang tính quốc tế bởi vì sự khác nhau giữa những số liệu tai nạn như thế nào thì được định nghĩa và ghi nhận, sự thay đổi bắt buộc cách làm đã quen, thiếu những số liệu phù hợp và các danh mục, những hệ thống bảo hiểm tai nạn và thiếu sự tương xứng giữa kĩ thuật, tài chính
và y tế [57]
1.2.2 Tại Việt Nam:
Ở nước ta, TNLĐ đã được biết là một nguyên nhân gây tử vong rất cao trong quá trình sản xuất Số vụ và người bị TNLĐ tăng nhanh qua các năm Địa phương xảy ra nhiều TNLĐ chủ yếu là các thành phố lớn mật độ dân cư cao, tốc
độ đô thị hóa nhanh, có nhiều khu công nghiệp và khai thác khoáng sản Theo số liệu báo cáo, trong năm 2010, 10 địa phương để xảy ra nhiều vụ tai nạn lao động
Trang 18chết người nhất là TP Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hà Nội, Bình Dương, Hải Phòng, Đồng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu, Long An, Hải Dương và Quảng Bình
Theo báo cáo của 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong năm
2010 trên toàn quốc đã xảy ra 5.125 vụ TNLĐ làm 5307 người bị tai nạn trong
đó số vụ TNLĐ chết người: 554 vụ; số người chết: 601 người; số vụ TNLĐ có hai người bị nạn trở lên: 105 vụ; số người bị thương nặng: 1.260 người; nạn nhân
Số người bị thương nặng
(Nguồn: Bộ Lao động - thương binh và xã hội, 2010)
Phân tích các số liệu thống kê cơ bản về tình hình TNLĐ năm 2010 so với năm 2009 cho thấy: Số vụ TNLĐ và số nạn nhân giảm, nhưng số vụ TNLĐ có người chết và số người chết tăng 9,27%[10]
Trang 19Các địa phương có số vụ TNLĐ chết người ở mức cao trong năm 2010 là những địa phương có nhiều khu công nghiệp, doanh nghiệp khai thác mỏ, xây dựng và sử dụng điện So với năm 2009, năm 2010 các địa phương Hà Nội, Quảng Ninh, Bình Dương số vụ TNLĐ giảm nhưng số TNLĐ nghiêm trọng và
số người chết do TNLĐ lại tăng Đồng Nai là địa phương thống kê được số vụ TNLĐ nhiều nhất, nhưng số vụ chết người và số người chết giảm nhiều so với năm 2009 như vậy tình hình TNLĐ ở Đồng Nai có xu hướng giảm[9], [10]
Tần suất TNLĐ chết người (tính trên 46 địa phương có số liệu thống kê về lực lượng lao động và số liệu thống kê số người chết trên địa bàn) năm 2010 là 7,97/100.000 người lao động [10]
Ở nước ta, TNLĐ đã được biết đến là một nguyên nhân gây tử vong rất cao trong qua trình sản xuất Theo nghiên cứu của Viện Khoa học kỹ thuật BHLĐ, trường hợp TNLĐ tính theo hệ số k ngành dệt thấp nhất ( K=5,5 ), ngành khai thác mỏ có hệ số cao nhất ( K= 63,35 ), hệ số K trung bình trong cả nước là 20,5 [9]
Tổng hợp số liệu thống kê TNLĐ thì những ngành nghề để xảy ra nhiều TNLĐ nghiêm trọng trong năm 2010 vẫn là khai thác mỏ, xây dựng, lao động giản đơn và thợ gia công kim loại, lắp ráp cơ khí[10]
Khai thác mỏ và xây dựng: 122 người chết chiếm tỷ lệ 20,3% trên tổng số người chết vì TNLĐ Lao động giản đơn (trong khai thác mỏ, xây dựng, công nghiệp ): 115 người chết chiếm tỷ lệ 19,1% trên tổng số người chết vì TNLĐ.
Gia công kim loại, cơ khí: 41 người chết, chiếm tỷ lệ 6,8% trên tổng số người
Trang 20chết vì TNLĐ Lắp ráp và vận hành máy: 41 người chết, chiếm tỷ lệ 6,8% trên tổng số người chết vì TNLĐ.
Những yếu tố chấn thương gây chết người có tỷ lệ cao: Rơi ngã có 134 người chết, chiếm tỷ lệ 22,3% trên tổng số người chết vì TNLĐ Điện giật có 98 người chết, chiếm tỷ lệ 16,3% trên tổng số người chết vì TNLĐ Do vật rơi, vùi dập có 75 người chết, chiếm tỷ lệ 12,5% trên tổng số người chết vì TNLĐ Mắc kẹt giữa vật thể có 46 người chết, chiếm tỷ lệ 7,7% trên tổng số người chết vì TNLĐ[10]
Một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ, hợp tác xã, các hộ kinh doanh cá thể, các làng nghề, nông nghiệp chưa được các
cơ quan quản lý Nhà nước hướng dẫn đầy đủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật ATLĐ, chưa tổ chức huấn luyện ATLĐ, vệ sinh lao động cho người sử dụng lao động và người lao động nên việc vi phạm các quy định về An toàn vệ sinh lao động và nguy cơ TNLĐ và bệnh nghề nghiệp là rất lớn [5], [8], [9], [10]
Theo số liệu báo cáo của các địa phương, chi phí do TNLĐ xảy ra trong năm 2010 (chi phí tiền thuốc men, mai táng, tiền bồi thường cho gia đình người chết và những người bị thương, …) là 133,6 tỷ đồng, thiệt hại về tài sản là 3,9 tỷ đồng, tổng số ngày nghỉ (kể cả nghỉ chế độ) do TNLĐ là 75.454 ngày [9],[10]
Một số tác giả trong nước đã quan tâm nghiên cứu về TNLĐ và công bố kết quả Theo thống kê của Nông Tiến Cương và Đỗ Hàm tại Lào Cai cho thấy TNLĐ chiếm 14,4% tổng số người giám định một năm, nam giới chiếm 80,7%
và chủ yếu là độ tuổi dưới 50, tai nạn nơi làm việc chiếm 57,5%; ngành nghề
Trang 21thường gặp là khai thác hầm lò (33,7%), xây dựng (8,83%); chấn thương sọ não chiếm 23,2%[20]
Vũ Đức Lũ và cộng sự (CS), nghiên cứu TNLĐ và thương tích tại tỉnh Nam Định trong 2 năm (2001-2002) Trong tổng số 12.859 trường hợp TNLĐ và thương tích có 7,2% trẻ dưới 6 tuổi, 21,1% ở độ tuổi 7-17 tuổi và 11,6% ở độ tuổi trên 60 Các tác giả đã đề xuất các biện pháp tuyên truyền giáo dục và tăng cường BHLĐ cũng như phổ biến Luật lao động cho người lao động trong các xí nghiệp nhà máy nhằm nâng cao nhận thức để giảm thiểu các TNLĐ[33]
Hoàng Xuân Thảo và CS đã nghiên cứu tình hình mắc TNLĐ tại Hà Nội 5 năm (1998-2002) Qua các thông tin sẵn có từ hồ sơ và bệnh án, kết quả cho thấy: tỷ lệ TNLĐ tăng từ 16,3% năm 1998 lên 25,6% năm 2002 Tỷ lệ TNLĐ cao hơn nam giới Tỷ lệ TNLĐ tăng cao ở các ngành giao thông vận tải 38,5%, xây dựng 21,7% Các dạng TNLĐ chủ yếu là chấn thương sọ não 9,1%, chi trên 25,9% và chi dưới 10,6% Tỷ lệ tử vong trong số người bị TNLĐ là rất cao 17,6% và mất vĩnh viễn khả năng lao động là 6,6% [42]
Một số tác giả đã nghiên cứu về TNLĐ đã được công bố như: Nghiên cứu
về TNLĐ và các yếu tố liên quan tại một cơ sở cơ khí của Đào Ngọc Phong và
CS cho thấy: tỷ lệ tai nạn hàng năm là 4,8% (trong 3 năm 1995- 1997), trong đó nghề bị TNLĐ chủ yếu là nghề rèn 42%; cán thép 32,5%, đúc 22,8%, công nhân
có tuổi nghề dưới 10 năm chiếm 20, 5% và trên 10 năm chiếm 11,0% trong tổng
số TNLĐ; tai nạn chủ yếu xảy ra ở cuối ca 56,8% so với giữa ca là 34,1% và đầu ca: 9,1% Trong 3 năm liên tục, TNLĐ xảy ra các tháng 7,8,9 chiếm tỷ lệ cao từ 63,1% đến 69,6% Với môi trường lao động, các tác giả cho thấy tỷ lệ TNLĐ tăng khi có tiếng ồn lớn (16,5%) so với ít tiếng ồn (6,5%); tỷ lệ TNLĐ tăng ở nơi nhiệt độ cao (16,5%) so với nơi ít nóng (5,08%) Nơi nhiều khói bụi có tỷ lệ
Trang 22TNLĐ cao hơn (25%), nơi ít khói bụi (20%) Về liên quan của việc sử dụng trang bị bảo hộ lao động (BHLĐ), các tác giả cho rằng ở nơi có sử dụng trang bị BHLĐ có tỷ lệ TNLĐ thấp hơn nơi không có trang bị BHLĐ (14,7%-15,6%) so với (11,1% - 13,2%)[35]
Nguyễn Việt Đồng và CS trong nghiên cứu phân bố tai nạn lao động trong ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ và công nghiệp hóa chất cho biết tỷ lệ TNLĐ là 4% Thương tổn chủ yếu là vết thương phần mềm 55,5%; bỏng 18,3%; gãy xương 7,5% Một nghiên cứu khác của tác giả này về tình hình dịch tễ TNLĐ ở một số cơ sở công nghiệp và đánh giá thực trạng sơ cấp cứu tại y tế xí nghiệp, cho thấy tỷ lệ TNLĐ 16%0, tác nhân chủ yếu gây TNLĐ là do máy móc 53,3%; công cụ cầm tay 16,7%; do điện 3,3% Vị trí thương tích ở bàn tay là cao nhất 33,3%; bàn chân 30,0% và thấp nhất ở đầu, mặt, cổ chiếm 10,0% Tai nạn lao động có liên quan đến tuổi nghề: tuổi nghề (từ 0 - 9 năm) và tuổi nghề (20 -
29 năm) đều có tỷ lệ TNLĐ cao hơn các nhóm có tuổi nghề từ 10 -19 năm và nhóm từ 30 - 49 năm (1,97%-2,07% so với 0,89% - 1,03%) Nhóm công nhân không thường xuyên sử dụng trang bị BHLĐ cá nhân có tỷ lệ TNLĐ 5,84% cao hơn nhóm không thường xuyên 0,46% [21]
Trong ngành khai thác khoáng sản, tác giả Đỗ Anh Tuấn nghiên cứu về TNLĐ của 6 mỏ than ở Quảng Ninh, trong tổng số 17.535 công nhân cho thấy tỷ
lệ mắc TNLĐ 0,76%, trong đó công nhân mỏ lộ thiên là 0,25% và công nhân hầm lò là 1,58% Tai nạn thường xảy ra ở nhóm công nhân có bậc nghề thấp và tuổi đời dưới 25 Nguyên nhân gây tai nạn ở mỏ lộ thiên: đồ vật rơi 24,6%; trượt ngã 17%; đổ xe 17%; ở hầm lò: do đá, than rơi 39%; đồ vật rơi 21%; trượt ngã 15,4% Vị trí chấn thương: đầu mặt cổ 24% ở mỏ lộ thiên và 15,4% ở mỏ hầm
Trang 23lò; bàn tay 17% và 38%; chi dưới 13,2% và 14% Chấn thương loại nặng chiếm 45,4% ở mỏ lộ thiên và 44% ở mỏ hầm lò[46]
Trong ngành Giao thông vận tải, Đào Thanh Bình và CS đã nghiên cứu hồi cứu 175.000 công nhân có 2.157 vụ TNLĐ trong vòng 5 năm (1996 - 2000) Trung bình mỗi năm có 433 TNLĐ và 40 trường hợp tử vong Tỷ lệ TNLĐ của công nhân nghề sông biển là cao nhất chiếm 2%; đường bộ 0,06% Tai nạn gây
tử vong cao nhất là trong ngành xây dựng chiếm 0,2% và thấp nhất ở ngành cơ khí đóng tàu Các nguyên nhân chủ yếu gây TNLĐ là không chấp hành an toàn lao động, điều kiện lao động không tốt, do người lao động chưa được tập huấn về
an toàn lao động (ATLĐ) và do uống bia rượu khi làm việc[1]
Trong ngành xây dựng, Lê Thị Thanh Loan và CS đánh giá tình hình TNLĐ trong một đơn vị xây dựng cho biết: nguyên nhân gây TNLĐ do ngã 36,6%; do máy móc 10,6%; vật liệu xây dựng rơi, đổ chiếm 8,7%; do giao thông trong công trường 3,8% Thời điểm xảy ra tai nạn chủ yếu tập trung vào ca I ( 6-14g) 59,7%; ca II (14-22g) 39,4% và ca III (22g-6g) 3,9% Yếu tố liên quan đến không thực hiện đúng quy trình kỹ thuật, quy phạm an toàn 89,5%; không mang thiết bị BHLĐ 2,6% và chưa được huấn luyện ATLĐ 5,2% Điều kiện làm việc không an toàn 47,4% và trang bị BHLĐ không đúng quy chuẩn 2,6%[32]
Nghiên cứu của Nguyễn Thế Công và CS trên 36 cở sở ngành Hoá chất cho thấy số người bị tai nạn lao động trong ngành Hóa chất không cao, dao động trong khoảng 30-40 trường hợp một năm, không có những vụ tai nạn lao động lớn (nhiều người bị, mức độ nặng) Tính theo hệ số tần suất tai nạn lao động, ngành Hoá chất có hệ số K = 3,83 có tần suất tai nạn lao động thấp[19]
Trên thực tế các số liệu về tình hình và nghiên cứu đánh giá TNLĐ ở Việt
Nam còn chưa đầy đủ, có thể là do sự hạn chế của hệ thống báo cáo, kiểm soát
Trang 24TNLĐ của các ngành, cơ quan, đơn vị hoặc do việc chạy theo thành tích mà các đơn vị không muốn báo cáo, đặc biệt là các trường hợp TNLĐ mức độ nhẹ Trong điều kiện hiện nay, các cơ sở sản xuất tư nhân thường không có hệ thống báo cáo và qui định báo cáo TNLĐ cho các cơ quan chủ quản cũng như cho cơ quan y tế nên con số thực tế TNLĐ có thể còn cao hơn nhiều [12]
1.2.3 Tai nạn lao động tại thành phố Hải Phòng
Theo báo cáo của Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Hải Phòng ngày 16/11/2011, tình hình TNLĐ của thành phố năm 2010 và 9 tháng đầu năm 2011 không giảm, tăng cả số vụ và số người chết do TNLĐ Tai nạn lao động tập trung vào các ngành nghề như xây dựng, đóng tàu, vận chuyển bốc dỡ hàng hóa tại cảng Nguyên nhân TNLĐ năm 2010, chủ yếu là do chấn thương (bị ngã cao, vật rơi, đè ép) chiếm 63,2%; bỏng do cháy nổ: 15,8%; điện giật 15,8% Trong 9 tháng đầu năm 2011, nguyên nhân gây ra TNLĐ chủ yếu do chấn thương chiếm 54,5%; điện giật 27,3%; cháy nổ 18,2%[10]
Một số tác giả đã quan tâm nghiên cứu về tình hình TNLĐ tại Hải Phòng
và công bố kết quả như: Nghiên cứu về TNLĐ trong 5 năm (2000 - 2005) của tác giả Tạ Quang Bửu tại thành phố Hải Phòng cho biết số vụ TNLĐ, hệ số K và thiệt hại kinh tế qua các năm điều tăng Số ngày nghỉ trung bình của một ca TNLĐ là 14,5 ngày, chi phí trung bình từ 1,5 triệu đến hàng chục triệu đồng Nguyên nhân chủ yếu do vi phạm qui trình, qui phạm kỹ thuật an toàn 70%[17]
Nguyễn Thị Hà trong nghiên cứu “Đặc điểm thương tật do tai nạn lao động của những trường hợp đến khám tại Hội đồng giám định y khoa thành phố Hải Phòng năm 2009” cho biết trong tổng số người bị TNLĐ đến khám nam giới chiếm 79,3%; nhóm tuổi từ 20 - 29 tuổi chiếm tỷ lệ TNLĐ cao nhất (30,3%);
Trang 25nhóm tuổi nghề ≤5 năm chiếm tỷ lệ cao nhất (44,7%) TNLĐ xảy ra phần lớn tại nơi làm việc (75%) và có tổn thương xương chiếm tỷ lệ cao nhất (82,4%)[23]
1.2.4 Cảng Hải Phòng
Cảng Hải Phòng là một cụm cảng tổng hợp cấp quốc gia, lớn nhất miền Bắc và lớn thứ hai ở Việt Nam Công ty TNHH một thành viên Cảng Hải Phòng
có những công ty, xí nghiệp thành viên như: Công ty CP Cảng Vật cách, Công ty
CP Cảng Chùa Vẽ, Công ty CP Tân cảng, Xí nghiệp xếp dỡ Hoàng Diệu, Xí nghiệp xếp dỡ Bạch Đằng Nhiệm vụ của các công ty, xí nghiệp thành viên của cảng bốc xếp hàng hóa, container từ tàu neo đậu tại cảng hoặc neo đậu trên sông, biển Công ty có lực lượng lao động tham gia trực tiếp sản xuất hơn 3.000 người với kết quả vận chuyển khối lượng hàng hóa qua cảng đạt trên 36 triệu tấn/ năm như trong năm 2011
Người công nhân Cảng phải lao động theo ca và làm việc ngoài trời chịu
sự tác động của thời tiết, khí hậu, trên sông, biển, trên các phương tiện tàu thủy,
ô tô Điều kiện làm việc của người công nhân cảng có những đặc điểm khác với điều kiện làm việc với các ngành nghề khác như chịu sự rung lắc, tiếng ồn, ở trên cao Người công nhân chịu áp lực của cường độ lao động cao, trong điều kiện môi trường làm việc có nhiều mối nguy cơ xảy ra tai nạn khách quan như: đổ vỡ hàng hóa, đứt dây chằng tàu, rung lắc gây trượt ngã và những yếu tố bất lợi khác ảnh hưởng đến sức khỏe Do vậy, người công nhân đòi hỏi phải có kỷ luật lao động cao, làm chủ phương tiện máy móc, có đầy đủ các trang thiết bị BHLĐ cần thiết để giảm thiểu các TNLĐ đáng tiếc xẩy ra
Hệ thống y tế cơ quan của Cảng Hải Phòng đã được lãnh đạo Công ty quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và có đội ngũ y, bác sỹ đáp ứng yêu cầu khám chữa bệnh và phục vụ công tác cấp cứu và xử trí TNLĐ cho cán bộ
Trang 26công nhân viên công ty Các công ty, xí nghiệp thành viên đều có biên chế y tế
cơ quan và công ty có Trung tâm y tế cảng Hải Phòng được trang thiết bị y tế cần thiết phục vụ tốt công tác khám, chữa bệnh và cấp cứu cho cán bộ công nhân viên công ty
Tai nạn lao động gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng người lao động, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Cảng Do vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thực trạng TNLĐ và một số yếu tố liên quan tại Cảng Hải Phòng nhằm có những đánh giá khoa học sát thực về TNLĐ và đề xuất kiến nghị giúp người lao động, các cấp ngành đề ra biện pháp can thiệp kịp thời để giảm thiểu các tai nạn lao động đáng tiếc xẩy ra góp phần bảo đảm an sinh xã hội
Trang 272.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm y tế Cảng Hải Phòng
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2007 đến tháng 12/2011
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả hồi cứu bệnh án của cán bộ, công nhân viên thuộc công
ty TNHH Một thành viên Cảng Hải Phòng bị TNLĐ lưu tại Trung tâm y tế Cảng Hải Phòng trong 5 năm từ tháng 01/2007 đến tháng 12/2011
2.3.2 Cỡ mẫu:
Toàn bộ các đối tượng là CBCNV Cảng Hải Phòng đến khám, cấp cứu và điều trị do bị TNLĐ tại Trung tâm y tế cảng Hải Phòng trong 5 năm (1/2007 - 12/2011)
2.3.3 Kỹ thuật thu thập thông tin:
Xây dựng bảng kiểm (Phụ lục ): Chúng tôi hồi cứu hồ sơ bệnh án, biên bản TNLĐ lưu tại bệnh xá Cảng Hải Phòng trong 5 năm (2007 - 2011) và thu thập thông tin vào bảng kiểm nhằm mục đích đánh giá thực trạng và một số yếu tố liên quan TNLĐ trong 5 năm:
Trang 28- Thông tin chung về người lao động
- Tình trạng thương tích
- Nguyên nhân xảy ra các TNLĐ
- Đặc điểm thương tích do TNLĐ gây nên đối với người lao động
- Công tác sơ cứu, cấp cứu TNLĐ theo tuyến
- Thời gian nghỉ việc điều trị và phục hồi sức khoẻ sau TNLĐ của người lao động
2.3.4 Phân tích và xử lý số liệu
2.3.4.1 Biến số nghiên cứu:
- Tỷ lệ tai nạn lao động theo giới, tuổi đời, tuổi nghề
- Nơi xảy ra tai nạn
- Loại chấn thương, vị trí, mức độ tổn thương
- Các nhóm nguyên nhân gây TNLĐ
- Yếu tố gây chấn thương trong TNLĐ
- Phân bố các trường hợp TNLĐ theo thời gian xảy ra trong năm
- Thời gian điều trị và nghỉ việc của người bị TNLĐ
- Quá trình sơ cấp cứu theo tuyến
2.3.4.2 Các chỉ số đánh giá chấn thương trong tai nạn lao động
Tổng số vụ theo thời gian: Theo chỉ số này TNLĐ được tính theo số vụ, số người bị xảy ra theo khoảng thời gian (ca sản xuất, thời gian trong ngày, tháng, năm) hoặc theo nhịp ngày đêm:
Tổng số vụ trong tháng
Tổng số vụ trong năm
Tổng số người bị TNLĐ trong tháng (nam, nữ)
Tổng số người bị TNLĐ trong năm (nam, nữ)
Trang 29Tổng số vụ TNLĐ xảy ra ban ngày
Tổng số vụ TNLĐ xảy ra ban đêm
Tổng số người TNLĐ xảy ra ban ngày
Tổng số người TNLĐ xảy ra ban đêm
Tổng số người TNLĐ theo ca sản xuất
Tỷ lệ mới mắc và tỷ lệ chết do TNLĐ trong một thời gian xác định được tính như sau:
Số người mới bị mắc TNLĐ/ khoảng thời gian xác định
Tỷ lệ mắc TNLĐ =
Tổng số người lao động có nguy cơ/ khoảng thời gian đó
Số người bị chết doTNLĐ/ khoảng thời gian xác định
Tỷ lệ chết/mắcTNLĐ =
Tổng số người mắc TNLĐ/ khoảng thời gian đó
Số người bị TNLĐ/ 1 năm x 1000
Hệ số K =
Tổng số người lao động / 1 năm
Tai nạn lao động xảy ra ở nơi làm việc và ngoài nơi làm việc:
Tổng số người bị TNLĐ ở nơi làm việc
Tổng số người bị TNLĐ ở ngoài nơi làm việc [13], [15], [47]
* Phân loại tai nạn lao động
Tai nạn lao động được chia thành các mức độ sau :
- Tai nạn lao động chết người: Là những trường hợp tử vong, người bị tai nạn chết ngay tại nơi xảy ra tai nạn, chết trên đường đi cấp cứu, chết trong thời gian cấp cứu, chết trong thời gian điều trị hoặc chết do tái phát của chính vết thương do TNLĐ gây ra trong thời gian 03 tháng kể từ khi bị chấn thương
Trang 30- Tai nạn lao động nặng: Là những thương tích do TNLĐ gây nên làm tổn hại ít nhất một trong những chức năng của các cơ quan trong cơ thể hoặc bị tàn phế sau:
+ Các chi trên:
Do tổn thương xương, thần kinh, mạch máu ảnh hưởng tới vận động của chi trên, tổn thương phần mềm rộng ở các chi trên, bị tổn thương vai, cánh tay, bàn tay làm tổn thương gân; bị dập, gãy, nghiền nát các xương đòn, bả vai, cánh tay, đốt ngón tay; bị trẹo các khớp xương lớn
+ Các chi dưới:
Do bị va đạp mạnh và bị tổn thương các chi dưới gây tổn thương mạch máu, thần kinh, xương, ảnh hưởng tới vận động của các chi dưới; bị tổn thương rộng ở chi dưới, gẫy và dập các xương hông, đùi và các ngón chân
+ Bỏng:
Trang 31Bỏng độ 3, bỏng nhiệt rộng độ 2, độ 3; bỏng nặng do hoá chất độ 2, độ 3; bỏng điện nặng, bỏng lạnh độ 3, bị bỏng lạnh rộng độ 2, độ 3
+ Nhiễm độc các hoá chất sau ở mức độ nặng:
Ô xít các bon (CO): bị ngất, mê sảng, rối loạn dinh dưỡng da, viêm phổi, viêm phế quản do nhiễm độc, Ô xít ni tơ: gây viêm phổi, viêm phế quản; Hydrô sunfua (H2S): kích thích mạnh, trạng thái động kinh, có thể viêm phổi mê sảng; Oxit cacbonic (CO2) ở nồng độ cao: thở chậm, chảy máu mũi, mồm và ruột, bị ngất
-Tai nạn lao động nhẹ: Người bị TNLĐ không thuộc 2 loại tai nạn lao động nói trên[13]
* Thời gian xảy ra tai nạn:
Do đặc thù nghề nghiệp, mức độ nặng nhọc, nguy hiểm khác nhau, đặc điểm về thời gian xảy ra tai nạn có khác nhau
- Số liệu thu được xử lý thống kê bằng phần mềm SPSS 11.5 của Hoa Kỳ
- Trong nghiên cứu mô tả chúng tôi sử dụng n, tỉ lệ %
Trang 32- Trong nghiên cứu phân tích chúng tôi sử dụng test χ2 để phân tích mối liên quan giữa mức độ TNLĐ với một số yếu tố Giá trị P < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê
- Tỷ suất chênh OR (Odd ratio) sử dụng trong nghiên cứu này để đánh giá mức độ liên quan giữa mức độ tai nạn và các yếu tố
2.4 Đạo đức trong nghiên cứu
Đề tài được thông qua Hội đồng khoa học xét duyện đề cương chuyên khoa II Trường Đại học Y Hải Phòng
Nghiên cứu được phép của Lãnh đạo Trung tâm Y tế Cảng Hải Phòng, công ty TNHH Một thành viên Cảng Hải Phòng
Các thông tin về TNLĐ, hồ sơ bệnh án và các đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ được cam kết giữ bí mật
Trang 33Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng tai nạn lao động tại cảng Hải Phòng
3.1.1 Đặc điểm tai nạn lao động
Bảng 3.1 Phân bố tỷ lệ đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi, giới tính
Trang 34Nhận xét:
Trong số 315 đối tượng nghiên cứu, nam giới chiếm chủ yếu (92,4%) Tai nạn lao động gặp nhiều nhất ở nhóm tuổi trẻ từ 20 đến 49 tuổi ( 83,6%) trong đó nhóm từ 20 - 29 tuổi chiếm tỷ lệ TNLĐ cao nhất (34,0%); tiếp đến nhóm từ 30 -
39 tuổi ( 26,7%); nhóm tuổi từ 40 - 49 chiếm 22,8 %; có 14,9 % ở độ tuổi trên 50
bị TNLĐ và nhóm tuổi dưới 19 tuổi có tỷ lệ thấp nhất chiếm 1,6%
Bảng 3.2: Phân bố tỷ lệ tai nạn lao động theo tuổi nghề
Trang 3540.6 14.3
12.4 8.6 7.6 6.3
Hình 3.2 Phân bố tỷ lệ tai nạn lao động theo tuổi nghề
Nhận xét: Trong số TNLĐ xác định được tuổi nghề, nhóm tuổi nghề dưới
5 năm có tỷ lệ TNLĐ cao nhất 40,6%; tiếp đến là nhóm tuổi đời từ 6 đến 10 năm( 14,3%); nhóm tuổi đời từ 11 đến 15 năm( 12,4%); nhóm tuổi nghề trên 30 năm (10,2%), nhóm tuổi nghề từ 16 đến 20 năm( 8,6%), thấp nhất là nhóm tuổi nghề từ 20 - 25 năm( 7,6%) và nhóm tuổi nghề từ 26 - 30 năm chiếm tỷ lệ 6,3%
Bảng 3 3: Phân bố tỷ lệ tai nạn lao động theo nghề nghiệp
Trang 36Nhận xét:
Nghề nghiệp bị TNLĐ nhiều nhất là nghề bốc xếp hàng hoá chiếm tỷ lệ 87,7%; Các nghề khác có tỉ lệ TNLĐ dưới 10%: Thợ bảo dưỡng, sửa chữa máy móc (9,2 %), hành chính (5,1 %), ; điều khiển phương tiện (4,5%), công việc khác (2,5 %)
Bảng 3.4: Tỷ lệ tai nạn lao động theo năm trong 5 năm (2007 – 2011)
Như vậy, so sánh tỉ lệ TNLĐ so với số TNLĐ trong 5 năm: Năm 2008 chiếm gần 1/3, năm 2009 chiếm hơn 1/5; đến năm 2010 và năm 2011, mỗi năm chiếm khoảng hơn 1/10 tổng số TNLĐ