1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh tăng huyết áp trong độ tuổi từ 15 59 tại huyện tứ kỳ hải dương năm 2013

108 498 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chính của nhồi máu cơ tim, suy tim, đột quỵ, sa sút trí tuệ, các thử nghiệm lâm sàng cũng như thực tế lâm sàng đã chứng minh việc điều trị THA làm giảm bệ

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng huyết áp (THA) là một trong những bệnh lý tim mạch phổ biến mãn tính, tăng dần và nguy hiểm gây ra khoảng 4,5 % gánh nặng bệnh tật toàn cầu, bệnh thường gặp ở các nước phát triển, cũng như các nước đang phát triển [1], [2] Tỷ lệ tăng huyết áp trên thế giới năm 2000 là 26,4% (1 tỷ người mắc) sẽ tăng lên 29,2% vào năm 2025 (1,5 tỷ người bị bệnh) Qua các cuộc điều tra dịch tễ học THA tại các tỉnh cũng như khu vực ở Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc bệnh xu hướng tăng lên, tỷ lệ THA trên cộng đồng người Kinh năm 1992 là 11,7% và trên cộng đồng miền Bắc Việt Nam năm 2002 là 16,3%, ở Thành phố Hà Nội năm 2002 là 23,2% [27], [28], ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2004 là 20,5% Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chính của nhồi máu cơ tim, suy tim, đột quỵ, sa sút trí tuệ, các thử nghiệm lâm sàng cũng như thực tế lâm sàng đã chứng minh việc điều trị THA làm giảm bệnh tật và giảm nguy cơ do bệnh tim mạch rất đáng kể Tuy nhiên dù biện pháp điều trị hữu hiệu bằng thuốc cùng cách thức thay đổi lối sống có hiệu quả trong THA nhẹ, tình trạng kiểm soát THA vẫn chưa đạt yêu cầu, tại Việt Nam các nghiên cứu và thống kê y tế cho thấy gánh nặng bệnh tật (biến chứng) do THA gây ra rất đáng lưu tâm (62% do đột quỵ và 49% đau thắt ngực do THA)

và gây ra chết đột ngột hoặc từ từ Người ta gọi THA là kẻ giết người thầm lặng (THA gây giảm tuổi thọ từ 10 - 20 năm), còn về mặt tài chính thì tăng chi phí, về mặt sức khoẻ làm bệnh tăng dần, tàn tật nhiều [1], [2]

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của bệnh tăng huyết áp các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp liên quan đến tuổi giới, thói quen hút thuốc lá, uống rượu, lười vận động, béo phì và các yếu tố kinh tế xã hội, lối sống cũng là yếu tố ảnh hưởng đến THA [13], [18]

Người mắc bệnh THA phải điều trị kiên trì, liên tục, tránh xa các yếu tố nguy cơ làm THA và phải nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc điều trị cũng như những biến chứng nguy hiểm của bệnh [18], [19], [20]

Trang 2

Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước tìm hiểu thực trạng của bệnh nhằm đưa ra chiến lược phòng chống THA

Huyện Tứ kỳ là một huyện nông nghiệp của tỉnh Hải Dương, Huyện gồm

25 xã 01 thị trấn, diện tích 170.03 km2, dân số khoảng 168700 người,mật độ

970 người/ km2, số người trong độ tuổi lao động khoảng 35000 người, chiếm

tỷ lệ 20%, đây là lực lượng góp phần quan trọng đến việc phát triển kinh tế,

xã hội ở hải dương nói chung và Tứ kỳ nói riêng Việc điều tra về tình trạng THA ở độ tuổi này nhằm góp phần bảo vệ nâng cao đời sống sức khoẻ ở cộng đồng, đặc biệt ở độ tuổi lao động Với lý do đó chúng tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài: Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh tăng huyết áp ở

độ tuổi từ 15- 59 tại Huyện Tứ kỳ- Tỉnh Hải Dương năm 2013 Với hai mục tiêu sau:

1- Xác định tỉ lệ THA ở người trong độ tuổi từ 15 đến 59 tại Huyện Tứ

Kỳ - Tỉnh Hải Dương năm 2013

2 - Mô tả một số yếu tố liên quan đến bệnh THA trong đối tượng nghiên cứu ở độ tuổi trên

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Khái niệm về huyết áp và tăng huyết áp

1.1.1 Khái niệm huyết áp

Huyết áp (HA) là áp lực máu có trong động mạch, do tim co bóp đẩy máu từ thất trái vào hệ động mạch, đồng thời cũng do ảnh hưởng của lực cản thành động mạch Kết quả làm cho máu được lưu thông đến các tế bào để cung cấp ôxy và các chất dinh dưỡng cho nhu cầu cơ thể HA mà người ta thường gọi là áp lực máu trong động mạch thường được đo ở động mạch cánh tay [1], [9],[18]

Khi tim co bóp tống máu, áp lực động mạch tăng lên đạt mức cao nhất gọi là HA tâm thu (HATT) Khi tim nghỉ, áp lực đó xuống đến mức thấp nhất gọi là HA tâm trương (HA TTr) [22], [35], [59]

1.1.2 Khái niệm về tăng huyết áp

Cho đến nay, Tổ chức Y tế thế giới và Hội Tăng huyết áp quốc tế (World Health Organization - WHO và International Society of Hypertension - ISH)

đã thống nhất gọi là THA khi HATT  140 mmHg và/hoặc HATTr  90 mmHg Con số này có được là do dựa trên những nghiên cứu lớn về dịch tễ học cho thấy có sự gia tăng đặc biệt nguy cơ tai biến mạch não (TBMN) ở người lớn khi HA  140/90 mmHg Tỷ lệ TBMN ở người có số HA < 140/90 mmHg giảm rõ rệt [58]

THA là khi trị số HA đo được ở trên mức bình thường, THA có thể là tăng cả tâm thu và tâm trương hoặc chỉ tăng 1 trong 2 dạng đó [13], [26]

1.1.3 Chẩn đoán tăng huyết áp

Chẩn đoán tăng huyết áp: dựa vào chỉ số huyết áp đo được sau khi đo huyết áp đúng quy trình [10],[4],[35]

Trang 4

- Người bệnh nghỉ ngơi trong phòng yên tĩnh ít nhất 5 - 10 phút trước khi

đo huyết áp

- Không dùng chất kích thích (cà phê, hút thuốc, rượu bia) trước đo 2 giờ

- Tư thế đo chuẩn: Người được đo huyết áp ngồi ghế tựa, cánh tay duỗi thẳng trên bàn, nếp khửyu ngang mức với tim Ngoài ra có thể đo ở các tư thế nằm, đứng Đối với người cao tuổi hoặc có bệnh đái tháo đường nên đo thêm huyết áp đứng nhằm xác định có hạ HA tư thế hay không

- Sử dụng HA kế thuỷ ngân, HA kế đồng hồ hoặc HA kế điện tử (loại đo ở cánh tay) Các thiết bị đo cần được kiểm chuẩn định kỳ Bề dài bao đo tối thiểu bằng 80% chu vi cánh tay, bề rộng tối thiểu bằng 40% chu vi cánh tay

Cuốn băng cuốn đủ chạy, bờ dưới của bao đo ở trên nếp lằn khưỷu 2cm Đặt máy

ở vị trí để đảm bảo cho cột thuỷ ngân trở về số 0 đặt ngang với mức tim

- Nếu không dùng thiết bị đo tự động, trước khi đo phải xác định vị trí động mạch cánh tay để đặt ống nghe Bơm hơi thêm 30mmHg sau khi không còn thấy mạch đập Xả hơi với tốc độ 2 - 3mmHg/nhịp đập HA tâm thu tương ứng với lúc xuất hiện tiếng đập đầu tiên (pha I của Korotkoff) và HA tâm trương tương ứng với khi mất hẳn tiếng đập ( pha V của Korotkoff)

- Không nói chuyện khi đang đo HA

- Lần đo đầu tiên, cần đo HA ở cả hai cánh tay, tay nào có số đo HA cao hơn sẽ dùng để theo dõi HA về sau

- Nên đo HA ít nhất hai lần, mỗi lần cách nhau ít nhất 1 - 2 phút Nếu số

đo HA giữa hai lần đo chênh nhau trên 10mmHg, cần đo lại một vài lần sau khi đã nghỉ trên 5 phút Giá trị HA ghi nhận là trung bình của hai lần đo cuối cùng

- Trường hợp nghi ngờ, có thể theo dõi huyết áp bằng máy đo HA tự động tại nhà hoặc bằng máy đo HA tự động 24 giờ

Trang 5

- Ghi lại số đo theo đơn vị mmHg dưới dạng HA tâm thu/HA tâm trương, không làm tròn số quá hàng đơn vị và thông báo kết quả cho người được đo Ngưỡng chẩn đoán tăng HA thay đổi tuỳ theo từng cách đo HA

ảng 1.1 ảng các ngưỡng chẩn đoán tăng HA theo từng cách đo

Huyết áp tâm thu

Huyết áp tâm trương

1 Cán bộ y tế đo theo đúng quy

2 Đo bằng máy đo huyết áp tự

3 Tự đo tại nhà (đo nhiều lần)  135 mmHg 85 mmHg

1.1.4 Phân loại tăng huyết áp

Hiện nay Tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) đã có nhiều khuyến cáo và chỉ dẫn về việc phân loại, theo dõi và điều trị THA Hội đồng chuyên viên của TCYTTG năm 1978 chia THA thành các giai đoạn, căn cứ vào các mức độ tổn thương các cơ quan đích Năm 1993 TCYTTG chia THA thành các mức

độ nặng vừa và nhẹ Tuy nhiên các khuyến cáo trên chưa thật hoàn chỉnh vì không đề cập đến các yếu tố nguy cơ cũng như các chỉ dẫn điều trị THA sao

cho thích hợp [35], [60]

Cùng với TCYTTG và Hội THA quốc tế, Liên Uỷ ban quốc gia Hoa Kỳ (United States Joint National Committee - JNC) cũng đưa ra phân loại THA Cách phân loại này dựa trên số HA đo được, đồng thời chú ý đến cả tổn thương cơ quan đích Đến năm 1997, tại kỳ họp lần thứ VI, JNC đã đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá THA một cách hoàn chỉnh hơn bao gồm con số HA đo được, tổn thương cơ quan đích, yếu tố nguy cơ và hướng dẫn điều trị [60] Cuối năm 1998, TCYTTG và Hội THA quốc tế đã hội thảo và đưa ra

“Hướng dẫn của WHO/ISH - 1999 về THA” [60] bằng nhiều chỉ dẫn tương đối cụ thể và hoàn chỉnh về phân độ THA, về yếu tố nguy cơ, tổn thương cơ

Trang 6

quan đích cũng như khuyến cáo khá đầy đủ về phương pháp điều trị và quản

lý bệnh nhân THA, đây là tài liệu có giá trị khoa học và thực tiễn cao

ảng 1.2 Phân loại mức độ huyết áp theo hướng dẫn của JNC VI (1997) hay

một số chỉ dẫn về phân loại và xử trí HA mới nhất [19], [30], [48]

ảng 1.3: Phân loại THA theo JNC VII (2003)

Tiền tăng huyết áp đã được JNC VII đề cập để chỉ những người có nguy

cơ cao bị THA trong tương lai

- Theo phân loại HA mới nhất của JNC VII thì: Con số HA bình thường trước kia là <140/90 mmHg, nay hạ xuống còn dưới 120/80 mmHg Huyết áp

từ 120 – 139/ 80 – 90 mmHg thì JNC VII không coi là bình thường nữa, mà

Trang 7

gọi là tiền THA, nghĩa là có nhiều nguy cơ trở thành THA thực sự sau này gấp 2 lần so với người có HA bình thường < 120/80 mmHg THA giai đoạn 1 (trước đây gọi là THA độ 1) vẫn như cũ, nghĩa là huyết áp 140 – 159/90 – 99 mmHg JNC VII bỏ khái niệm THA giới hạn, THA độ 2 và THA độ 3, nay được JNC VII gộp lại gọi là giai đoạn 2: HATT  160 mmHg hoặc HATTr 

100 mmHg Vì tỷ lệ biến chứng không khác nhau rõ và xử lý giống nhau [19] JNC VII còn nhắc lại rằng tăng HATT nặng hơn tăng HATTr Trước năm

1988, các thử nghiệm lâm sàng đều coi hạ HATTr là mục tiêu, cho nên JNC IV(1988) nhấn mạnh đến HATTr Nhưng từ đó đến nay, nhiều dữ kiện đã chứng tỏ rằng tăng HATT nhiều biến chứng hơn cho nên JNC VII coi mục tiêu điều trị hàng đầu là đạt mục tiêu về HATT Cụ thể là phải đưa HATT về dưới 140 mmHg THA là một bệnh hoặc triệu chứng do bệnh khác gây nên có thể dễ chẩn đoán bằng cách đo HA nhưng nguyên nhân không phải là luôn luôn tìm thấy Vì vậy người ta chia làm 2 loại: THA nguyên phát (Còn gọi là THA vô căn) là các trường hợp THA không tìm thấy nguyên nhân, gọi là bệnh THA chiếm từ 90 – 95% số người bị tăng huyết áp THA thứ phát là các trường hợp THA xảy ra do một bệnh khác, gọi là THA triệu chứng Trong các trường hợp THA thứ phát, người ta tìm thấy nguyên nhân làm cho HA tăng cao, nếu được điều trị bệnh chính thì HA sẽ trở lại bình thường Các bệnh thường gặp có triệu chứng THA là các bệnh về thận như viêm thận, suy thận, lao thận, các bệnh của tuyến thượng thận, [35]

1.1.5 Cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp

Huyết áp động mạch = Cung lượng tim x Sức cản động mạch ngoại vi (Cung lượng tim = Phân số nhát bóp x Tần số tim/phút)

Căn cứ vào công thức trên cho thấy rằng, khi tăng cung lượng tim và hoặc tăng sức cản động mạch ngoại vi sẽ gây tăng huyết áp hệ thống động mạch Tăng hoạt động thần kinh giao cảm gây tăng nồng độ adrenalin và noradrenalin trong máu Sự tăng nồng độ adrenalin và noradrenalin được nhận

Trang 8

cảm bởi các thụ cảm thể alpha, bêta của cơ trơn thành động mạch, gây co mạch làm tăng huyết áp [22]

+ Vai trò của hệ RAA (Renin – Angiotensin –Aldosteron):

- Angiotensin II được nhận cảm bởi các thụ cản thể AT1 và AT2 của cơ trơn thành động mạch gây co mạch làm tăng huyết áp

Angiotensinogen (sản xuất từ gan)

Renin (từ thận)

Ức chế ngược Angiotensinogen I

Angiotensinogen II

Men converting (từ phổi)

Angiotensiasa

(tổ chức)

AngiotensinIII

Thụ cảm thể AT 1 tiếp nhận gây co mạch

Tăng hoạt tính thần kinh giao cảm gây co mạch

Tăng Aldosteron

Tăng giữ nước và Na+

Tăng huyết áp hệ thống động mạch

Sơ đồ 1.4 Hệ RAA trong tăng huyết áp

Trang 9

- Angiotensin II kích thích vỏ thượng thận tăng tiết aldosteron, từ đó gây tăng tái hấp thu muối và nước, gây tăng thể tích dịch trong máu, nên tăng sức kháng động mạch gây tăng huyết áp

- Angiotensin II còn gây tăng hoạt tính giao cảm, dẫn đến THA

+ Tăng cung lượng tim: do tim tăng động, phì đại cơ tim, nhịp tim nhanh + Tăng natri máu hoặc tăng nhạy cảm với natri, tăng tái hấp thu natri ở ống thận + Rối loạn chức năng tế bào nội mạc động mạch, giảm nồng độ các chất gây giãn mạch, tăng tiết các yếu tố gây co mạch (ví dụ như: EDCF, PGH2, TX

A2, endothelin, giảm NO )

+ Những yếu tố khác: kháng insulin, tăng nồng độ axit uric máu, thay đổi hormon sinh dục, giảm chức năng của thụ cảm thể áp lực ở xoang động mạch cảnh

Các thuốc được dùng điều trị triệu chứng THA đều can thiệp vào các khâu của huyết động trong quá trình bệnh lý

- Hoặc làm giảm cung lượng tim

- Hoặc làm giảm sức cản ngoại vi

- Hoặc làm giảm cả hai khâu

Để đưa HA trở về bình thường thông qua các cơ chế:

1- Cơ chế liệt giao cảm

2- Cơ chế giãn mạch trực tiếp

3- Cơ chế giảm natri và giảm thể tích dịch lưu hành

4- Cơ chế can thiệp vào hệ RAA

1.1.6 Điều trị tăng huyết áp

- Nguyên tắc chung [4], [35] :

Trang 10

+ THA là một bệnh mãn tính nên cần theo dõi đều, điều trị đúng và đủ hàng ngày, điều trị lâu dài

+ “Huyết áp mục tiêu” cần đạt là <140/90mmHg và thấp hơn nữa nếu người bệnh vẫn dung nạp được Nếu nguy cơ tim mạch từ cao đến rất cao thì

HA mục tiêu cần đạt là <130/80mmHg Khi điều trị đã đạt huyết áp mục tiêu, cần tiếp tục duy trì phác đồ điều trị lâu dài kèm theo việc theo dõi chặt chẽ, định kỳ để điều chỉnh kịp thời

+ Điều trị cần hết sức tích cực ở bệnh nhân đã có tổn thương cơ quan đích Không nên hạ HA quá nhanh để tránh biến chứng thiếu máu ở các cơ quan đích, trừ tình huống cấp cứu

- Điều trị THA bằng thuốc tại tuyến cơ sở:

+ Chọn thuốc khởi đầu

THA độ 1: có thể lựa chọn một số thuốc trong số các nhóm: lợi tiểu thiazide liều thấp, ức chế men chuyển, chẹn kênh canxi loại tác dụng kéo dài, chẹn beta giao cảm (nếu không có chống chỉ định)

THA độ 2 trở lên: nên phối hợp hai loại thuốc (lợi tiểu, chẹn kênh canxi, ức chế men chuyển, ức chế thụ thể AT1 của angiotensin II, chẹn beta giao cảm)

Từng bước phối hợp các thuốc hạ HA cơ bản, bắt đầu từ liều thấp như lợi tiểu thiazide (hydrochlorothiazide 12.5mg/ngày), chẹn kênh canxi dạng phóng thích chậm (nifedipine 10 -20mg/ngày), ức chế men chuyển (enalapril 5mg/ngày; perindopril 2,5 – 5mg/ngày )

+ Quản lý người bệnh ngay tại tuyến cơ sở để đảm bảo bệnh nhân được uống thuốc đúng, đủ và đều; đồng thời giám sát quá trình điều trị, tái khám, phát hiện sớm các biến chứng và tác dụng phụ của thuốc theo 4 bước quản lý tăng huyết áp ở tuyến cơ sở: bước 1 đánh giá nguy cơ tim mạch tổng thể, bước 2 xác định giai đoạn tăng huyết áp và chiến lược điều trị, bước 3 xác

Trang 11

định huyết áp mục tiêu và phương án điều trị, bước 4 theo dõi định kỳ và giám sát tuân thủ điều trị

+ Nếu chưa đạt HA mục tiêu: chỉnh liều tối ưu hoặc bổ sung thêm một loại thuốc khác cho đến khi đạt HA mục tiêu

+ Nếu vẫn không đạt HA mục tiêu hoặc có biến cố cần chuyển tuyến trên hoặc gửi khám chuyên khoa tim mạch

- Các lý do chuyển tuyến trên hoặc chuyên khoa tim mạch: cân nhắc chuyển đến các đơn vị quản lý THA tuyến trên hoặc chuyên khoa tim mạch trong các trường hợp sau

+ THA tiến triển: THA đe doạ có biến chứng (như tai biến mạch máu não thoáng qua, suy tim ) hoặc khi có biến cố tim mạch

+ Nghi ngờ THA thứ phát hoặc THA ở người trẻ hoặc khi cần đánh giá các tổn thương cơ quan đích

+ THA kháng trị mặc dù đã dùng nhiều loại thuốc phối hợp (  3 thuốc, trong đó ít nhất có một thuốc lợi tiểu) hoặc không thể dung nạp với các thuốc

hạ áp hoặc có quá nhiều bệnh nặng phối hợp

+ THA ở phụ nữ có thai hoặc một số trường hợp đặc biệt khác

- Điều trị tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác ở tuyến trên Quản lý tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác ở tuyến trên bao gồm:

+ Phát hiện tổn thương cơ quan đích ngay ở giai đoạn tiền lâm sàng như nguyên nhân gây THA thứ phát, các yếu tố nguy cơ tim mạch, biến chứng và tổn thương cơ quan đích do tăng huyết áp

+ Loại trừ các nguyên nhân gây THA thứ phát

+ Chọn chiến lược điều trị dựa vào độ HA và mức nguy cơ tim mạch

Trang 12

+ Tối ưu hoá phác đồ điều trị THA: dựa vào các chỉ định bắt buộc hoặc

ưu tiên của từng nhóm thuốc hạ HA trong các thể bệnh cụ thể Phối hợp nhiều thuốc để tăng khả năng kiểm soát HA thành công, giảm tác dụng phụ và tăng việc tuân thủ điều trị của người bệnh

+ Điều trị các bệnh phối hợp và điều trị dự phòng ở nhóm có nguy cơ tim mạch cao hoặc rất cao

+ Sử dụng các thuốc hạ HA đường tĩnh mạch trong các tình huống khẩn cấp như THA ác tính, tách thành động mạch chủ, suy thận tiến triển nhanh, sản giật, THA có kèm nhồi máu cơ tim cấp, hoặc suy tim trái cấp

1.1.7 Tiến triển bệnh tăng huyết áp

THA không được điều trị và kiểm soát tốt sẽ dẫn đến tổn thương nặng các cơ quan đích và gây các biến chứng nguy hiểm như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, phình tách thành động mạch chủ, suy tim, suy thận…thậm chí dẫn đến tử vong [4],[35]

1.1 8 Các biện pháp dự phòng tăng huyết áp

Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống là những biện pháp để phòng ngừa THA ở người trưởng thành, phối hợp với việc giáo dục truyền thông nâng cao nhận thức và hiểu biết về bệnh tăng huyết áp cũng như các biến chứng của THA và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác đó là [1],[2],[4]:

- Có chế độ ăn lành mạnh nhiều rau quả và ngũ cốc nguyên cám, hạn chế

mỡ và giảm muối trong bữa ăn

- Duy trì cân nặng bình thường

- Tăng cường hoạt động thể lực

- Hạn chế rượu, không hút thuốc lá

- Giảm các Stress

1.2 Các yếu tố liên quan đến tăng huyết áp

Trang 13

1.2.1 Tuổi và giới tính

Độ tuổi lao động [10]: Là lứa tuổi đã đạt đến đỉnh cao của sự chín muồi,

trưởng thành về sức khoẻ tâm lý, địa vị xã hội, kinh nghiệm sống Trong lứa tuổi trung niên sự phân hoá của cơ thể chậm lại, sự đào thải cũng chậm xu

hướng tích tụ tế bào mỡ gia tăng

Đối với phụ nữ ở tuổi này có nhiều thay đổi về nhu cầu dinh dưỡng, nội tiết tố không còn giống trước đã bắt đầu có dấu hiệu của sự lão hoá, dấu hiệu của tiền mãn kinh, mãn kinh

Tuổi bắt đầu có THA thông thường là từ 30 tuổi trở lên, theo Pepara có trường hợp THA từ năm 10 tuổi TCYTTG tính khái quát: Ở tuổi 35 cứ 20 người thì có 1 người THA, ở tuổi 45 cứ 7 người thì có 1 người THA và quá

65 tuổi thì cứ 3 người thì có 1 người THA Tại các nước công nghiệp phát triển THA gây tử vong cả trực tiếp lẫn gián tiếp khoảng gần 30% tổng số tử vong, nhìn chung khi HA tăng ở lứa tuổi càng cao thì tỷ lệ tử vong càng lớn [26]

Trong đa số người dân trên thế giới, HATT và HATTr đều tăng theo tuổi cho đến 60 tuổi Sau tuổi này, HATTr có xu hướng giảm, HATT tiếp tục tăng làm cho khoảng cách HATT và HATTr xa ra Trẻ em dưới 10 tuổi, HA ở nam

và nữ như nhau, sau đó HA ở nam tăng nhanh hơn nữ Ở tuổi từ 20 - 40 tuổi, HATT ở nam cao hơn nữ [26], theo Nguyễn Thị Chính thì THA thường ít gặp

ở tuổi dưới 30, tăng rõ ở lứa tuổi 50 - 65 có khoảng 20 - 40% THA ở tuổi 65,

ở tuổi 70 thì HATT thường tăng trong khi HATTr không tăng nên xảy ra tình trạng tăng HATT đơn độc [26]

Kết quả nghiên cứu của Odonnell và CS tại Boston- Hoa Kỳ năm 1997 cho thấy nhóm người cao tuổi THA có nguy cơ mắc các bệnh tim mạch, đặc biệt là TBMN và tử vong do bệnh tim mạch cao hơn người trẻ tuổi [74] Ngoài ra, người già cũng có những thay đổi chức năng khác như tăng hoạt

Trang 14

động thần kinh giao cảm có thể do giảm tính nhạy cảm của các thụ thể , vì vậy có xu hướng gây ra co mạch làm THA [65]

Hầu hết các nguy cơ tim mạch tăng nhanh theo tuổi Tại Anh, phái nam từ 45-74 tuổi có sự gia tăng từ 3-4 lần tử vong do TBMN và bệnh mạch vành ở mỗi nhóm cách nhau 10 tuổi Ảnh hưởng của tuổi lên nguy cơ bệnh làm mạnh thêm ảnh hưởng của HA và yếu tố nguy cơ khác lên sự xuất hiện bệnh [60]

Khả năng mắc bệnh tim mạch gia tăng, trước khi mãn kinh phụ nữ ít bị mắc các bệnh tim mạch hơn đàn ông Nhưng khi nồng độ Oestrogen bắt đầu hạ thấp vào lúc mãn kinh thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch ở phụ nữ tăng lên rõ rệt

Vì thế tăng triglyceric(TG), tăng cholesterol toàn phần(CT), THA, đau thắt ngực

và nhồi máu cơ tim thường xảy ra nhiều ở phụ nữ tuổi 50 trở lên [8]

Người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) có nguy cơ cao đối với bệnh THA, tỷ

lệ mắc, tỷ lệ biến chứng gây tử vong, tàn tật đều cao hơn những người trẻ tuổi Mặc dù sự tăng HATTr sẽ giảm nhẹ dần khi vượt qua 65-70 tuổi nhưng HATT lại tiếp tục tăng theo tuổi đời, có thể gây chứng tăng HATT đơn độc Trước đây đã có ý kiến cho rằng HATTr là quan trọng hơn, năm 1984, TCYTTG đã khẳng định HATT cũng là một yếu tố nguy cơ quan trọng tương đương với HATTr vì dễ gây nên TBMMN [4], [13], [26] THA là bệnh thường gặp ở người cao tuổi, nhưng nếu kiểm soát tốt sẽ giảm được tỷ lệ đột quỵ 35 - 40%, nhồi máu cơ tim 20 - 25% và suy tim trên 50%[40]

Điều tra của Viện Tim mạch 1989-1992 cho thấy tỷ lệ THA là 6% ở lứa tuổi 16-39, tăng lên 21,5% ở tuổi 50-59, 30,6% ở tuổi 60-69 tuổi, ở lứa tuổi 70 trở lên là 47,5%[13]

Nghiên cứu của Phạm Gia Khải và CS năm 1999 cho thấy tuổi càng cao tỷ lệ THA càng tăng Ở độ tuổi 16-24 tỷ lệ này là 2,78%, độ tuổi 45-54 tỷ

lệ này là 22,95%, trên 75 tuổi thì tỷ lệ này là 65,46%[27]

Trang 15

Nghiên cứu của Phạm Gia Khải, Nguyễn Lân Việt và CS thì tần suất THA tăng dần theo tuổi, tỷ lệ THA ở nam cao hơn đáng kể so với nữ (p<0,05), nhưng lại xấp xỉ như nhau ở độ tuổi 45-54 và ở độ tuổi  65 Tỷ lệ THA độ 2 giữa nam và nữ không có sự khác biệt, nhưng tỷ lệ THA tổng cộng, THA độ 1 và THA độ 3 thì nam cao hơn nữ (p< 0,001) Nam giới có nguy cơ mắc THA cao gấp 1,4 lần và cứ tăng thêm 10 tuổi thì nguy cơ xuất hiện THA lại tăng thêm 2,1 lần [28] Theo Phạm Thắng, người cao tuổi mắc bệnh THA nhiều nhất so với các lứa tuổi khác chiếm tỷ lệ 45,6% [48] Tỷ lệ THA theo JNC VI giữa nam và nữ không khác biệt, nhưng tỷ lệ THA tổng cộng, THA mức độ nặng hoặc nhẹ thì ở nam cao hơn hẳn nữ [28]

Trong báo cáo chuyên đề thực trạng các mục tiêu Y tế quốc gia của Tổng cục thống kê năm 2003 cho thấy tỷ lệ THA hiện nay ở những người từ

16 tuổi trở lên của nữ là 12,7%, nam là 15,9% Nếu chỉ tính từ tuổi 25 trở lên thì tỷ lệ THA còn cao hơn 19,7% đối với nam và 17,5% đối với nữ Đối với nam giới ở lứa tuổi 25-34, cứ 10 người thì có gần 1 người bị THA, đến tuổi 35- 44 đã có 1,5 người bị THA và ở tuổi 65-74 cứ 2 người thì có 1 người bị THA Đối với nữ, tuy tỷ lệ THA xuất hiện nhiều ở lứa tuổi cao hơn, khoảng ngoài 40 tuổi, nhưng tốc độ tăng nhanh ở lứa tuổi ngoài 75 Đặc biệt

ở vùng Tây Bắc và Tây Nguyên có tỷ lệ nam và nữ bị THA cao hơn hẳn các vùng khác [54]

1 2 2 Thay đổi sinh lý của huyết áp

Trên một người bình thường, huyết áp không phải lúc nào cũng ổn định

mà nó luôn luôn thay đổi Sự thay đổi này tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng nằm trong một giới hạn nhất định, hay giới hạn sinh lý của huyết áp [13], [22], [35] Huyết áp thay đổi theo thời gian: Trong một ngày huyết áp được ghi nhận nhờ một máy đo huyết áp tự động trong ngày liên tục trong suốt 24 giờ người ta thấy: huyết áp ban ngày cao hơn ban đêm khoảng 20%, từ 22 giờ đến 7 giờ sáng là thời gian huyết áp thấp nhất trong ngày, khi tỉnh dậy

Trang 16

tim làm việc mạnh hơn và huyết áp tăng lên nhanh hơn Trong ngày, huyết

áp giao động nhẹ và tăng cao hơn vào khoảng 9 - 12 giờ trưa và cuối buổi chiều Ban đêm huyết áp lại hạ thấp xuống vào khoảng 3 giờ sáng, hiện tượng này gặp cả ở người bình thường và người THA Ở người THA thì có

tỷ lệ huyết áp ban ngày cũng như huyết áp ban đêm hoặc đảo ngược ban

đêm cao hơn ban ngày [13], [23]

Huyết áp tăng giảm theo thời tiết: Khi thời tiết thay đổi huyết áp cũng dao động theo Khi trời lạnh các mạch máu ngoại vi co lại để làm giảm sự thải nhiệt, giữ nhiệt cho cơ thể, huyết áp tăng lên, ngược lại khi trời nắng nóng, mạch máu ngoại vi dãn ra nhằm tăng sự thải nhiệt, để điều hoà nhiệt độ cho

cơ thể thì huyết áp lại hạ xuống [13], [35]

Huyết áp thay đổi tuỳ theo sự hoạt động của cơ thể, cả lao động trí óc lẫn lao động chân tay Khi cơ thể tăng cường vận động, nhu cầu oxy và chất dinh dưỡng đảm bảo cho hoạt động đó tăng lên, yêu cầu tim phải làm việc nhiều bằng cách tăng tần số và cường độ co bóp Do đó, khi hoạt động nhiều huyết áp tăng lên Khi nghỉ ngơi, huyết áp trở lại bình thường Khi lao động trí óc căng thẳng kéo dài liên tục, huyết áp có thể tăng cao [13], [18], [35] Huyết áp thay đổi theo tuổi; tuổi càng cao, hệ thống động mạch thường

bị xơ cứng nhiều, sự co dãn đàn hồi của thành động mạch kém đi, lòng động mạch cũng bị hẹp hơn vì vậy dễ bị THA nhiều hơn [13], [35]

Huyết áp có thể bị ảnh hưởng bởi thuốc, một số thuốc không kể các loại chuyên điều trị bệnh tăng giảm huyết áp, cũng có thể làm tăng, giảm huyết áp như cam thảo, thuốc tránh thai, corticoids,

Huyết áp thay đổi do trạng thái tâm lý, các trạng thái tâm lý như lo âu, bồn chồn, xúc động, thần kinh căng thẳng, đều ảnh hưởng đến huyết áp

Trang 17

Huyết áp thay đổi theo tư thế, chuyển từ tư thế nằm sang tư thế đứng huyết áp tăng nhẹ 10-20 mmHg để đảm bảo cung cấp máu tốt hơn cho các bộ phận trong cơ thể

Tất cả những thay đổi huyết áp có tính chất sinh lý bình thường chỉ ở giới hạn của huyết áp bình thường hoặc cao hơn bình thường, nhưng sau đó có thể tự

hạ về mức bình thường mà không cần phải điều trị [26], [8], [13]

1.2.3 Tình trạng thừa cân béo phì và béo bụng

Chỉ số khối cơ thể (BMI) được sử dụng để chẩn đoán mức độ béo phì (BP), còn chỉ số WHR (tỷ số VB/VM) được sử dụng để chẩn đoán có béo bụng hay không Theo TCYTTG thì béo bụng khi chỉ số WHR  0,90 ở nam và WHR  0,80 ở nữ [60], [68]

- Chỉ số khối cơ thể (BMI)

Theo phân loại của TCYTTG năm 2000 [26] người béo là những người có chỉ số khối BMI  23 Theo Tiểu ban công tác về béo phì của TCYTTG khu vực Tây Thái Bình Dương và Hội đái tháo đường châu Á

đề nghị thang phân loại béo phì cho người trưởng thành châu Á thì thừa cân khi chỉ số khối BMI  23[33]

Chỉ số khối BMI có liên quan chặt chẽ với tỷ lệ khối mỡ trong cơ thể Đã có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra các bằng chứng có liên quan giữa thừa cân với các bệnh tim mạch và THA, khi BMI tăng, thì tỷ

lệ người có một hay nhiều các tình trạng bệnh tật cũng tăng lên[62] Nghiên cứu của Phạm Gia Khải và CS năm 1999 tại Hà Nội trên 7610 đối tượng thấy chỉ số khối BMI trung bình của quần thể nghiên cứu là 20,09  2,72 kg/m2 Nhóm có BMI từ 22 kg/m2

trở lên đã có nguy cơ THA[27] Nghiên cứu của Tô Văn Hải tại cộng đồng Hà Nội năm 2000 cho kết quả nhóm THA có chỉ số BMI cao hơn rõ rệt so với nhóm không THA(22,6  3,4 kg/m2 so với 20,1  4,6 kg/m2) [17]

Trang 18

Theo Bour 15% dân Pháp bị THA, 3% bị đái tháo đường và trong số tử vong liên quan đến tim mạch có tới 35-40% liên quan chặt chẽ với thừa ăn [56] Béo phì là một bệnh lý độc lập đồng thời là một trong những yếu tố nguy cơ chính của các bệnh mạn tính không lây như bệnh mạch vành, bệnh đái tháo đường týp II, bệnh THA, [29]

Theo Doãn Thị Tường Vi, Nguyễn Thị Lâm và Từ Ngữ thì tỷ lệ đối tượng có chỉ số khối BMI  23 cao nhất là khu vực thành phố và đồng bằng tương ứng là 29,8% và 19,1%, trung du và miền núi chiếm tỷ lệ thấp hơn 15,7% và 14,0% [58]

Theo TCYTTG năm 1999, người thừa cân có tỷ lệ bệnh tật cao hơn ở người bình thường, đặc biệt là các bệnh rối loạn lipid máu (tăng CT máu, giảm HDL, tăng LDL), THA, bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim, , giảm cân khoảng 5 kg giúp giảm được huyết áp phần lớn bệnh nhân THA có thể trọng quá cân 10% và cũng có ích cho yếu tố nguy cơ đi kèm như đái tháo đường, tăng lipid máu, [10], [60]

Theo TCYTTG năm 2003, các yếu tố đã được khẳng định dẫn tới tăng nguy cơ bệnh mạch vành tim, đột quỵ và đái tháo đường là: THA, CT tăng cao (do chế độ ăn), và sử dụng thuốc lá [62]

Chỉ số khối BMI tăng đi kèm bệnh mạch vành tăng So sánh với phái nam gầy, nếu đàn ông có BMI 25-29 kg/m2

có nguy cơ tim mạch tăng 70%, nhưng nếu BMI 29-33 kg/m2

thì nguy cơ này tăng gấp 3 lần [60]

Theo Bùi Minh Đức và Phan Thị Kim, trong nhóm những người THA có 60% có trọng lượng cơ thể thừa cân trên 20%, mà thừa cân lại do ăn uống không hợp lý Béo phì liên quan đến THA, có thể còn do tăng lưu lượng máu, tăng các bệnh về tim và có thể dẫn đến tăng hoạt động của hệ thống thần kinh giao cảm và sức đề kháng của insuline [16]

Trang 19

Theo nghiên cứu của Bùi Thanh Nghị và Phạm Thị Hồng Vân năm

2003 thì nhóm béo phì có tỷ lệ THA cao gấp 4 lần so với nhóm không béo phì, ngoài ra béo phì cũng liên quan với một số yếu tố nguy cơ khác như rối loạn lipid máu, kháng glucose, tăng insulin máu [44]

Tình trạng béo phì có ảnh hưởng rõ rệt tới THA So với người không béo phì, người mới bị tiền béo phì đã có tỷ lệ THA gần gấp đôi ở nam và 1,5 lần ở nữ Tỷ lệ này gần gấp 3 lần ở người béo phì độ 2 đối với cả nam

và nữ [54]

Huang và CS đã ghi nhận tầm quan trọng của việc tránh tăng cân ở

82473 người có HA bình thường tuổi từ 30-55 Tăng 5-10 kg sau 16 năm so với lúc 18 tuổi sẽ tăng gấp đôi nguy cơ xuất hiện THA, 48% nguy cơ này do tăng cân trong thời gian dài Nguy cơ này lớn hơn ở phụ nữ có tuổi, do khối lượng cơ thường ít khi lớn tuổi [72]

Chế độ giảm cân cần đặc biệt nhấn mạnh ở những bệnh nhân nam giới béo phì thể trung tâm (béo bụng) Việc giảm béo phì đã được chứng minh làm giảm được CT và giảm phì đại thất trái Nhưng đặc biệt không được áp dụng ở phụ nữ có thai [59]

- Chỉ số WHR (Tỷ số vòng bụng/ vòng mông)

Béo bụng thường được lượng giá bằng tỷ số vòng bụng/vòng mông (VB/VM), tỷ số này tăng là yếu tố nguy cơ quan trọng gây xơ vữa động mạch Trong nghiên cứu của Phạm Gia Khải và CS năm 1999 thì tỷ số VB/VM > 0,75, điều này có ý nghĩa vòng bụng càng to nguy cơ bị THA càng cao [27] Theo Hà Huy Khôi và Phạm Gia Khải thì khi tỷ số VB/VM > 0,8 là một yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành nói chung và THA nói riêng, vòng bụng càng to thì nguy cơ THA càng cao [27], [31]

Cho đến nay đã có nhiều những nghiên cứu ngắn hạn cũng như dài hạn đều đã khẳng định rằng có mối tương quan rõ rệt giữa chỉ số BMI và

Trang 20

HA Tỷ lệ THA ở người béo phì cao hơn hẳn người không béo phì và đã trở thành vấn đề cần quan tâm trong chăm sóc sức khoẻ cộng đồng Theo Mac- Mahon, thì 60% người THA ở châu Âu là có tăng cân quá mức đến trên 20%, ở Úc nam giới độ tuổi từ 25-44 thì có 2/3 trường hợp THA là có béo phì [10], [73]

Nghiên cứu của Trần Đình Toán và CS năm 1997 so sánh tình trạng dinh dưỡng giữa người THA nông thôn và người THA là cán bộ viên chức cho thấy các chỉ tiêu về cân nặng, BMI, VB, VM, tỷ số VB/VM của người THA đều cao hơn người bình thường và có ý nghĩa thống kê [52]

Ở cả nam và nữ béo phì thường là dự báo trước các bệnh về tim mạch, không phụ thuộc vào chỉ số khối BMI, mà chỉ số WHR thường là chỉ tiêu có ý nghĩa gây bệnh tim mạch so với chỉ số khối BMI [16]

1.2.4 Thói quen về ăn uống

- Muối và thói quen ăn mặn

Một số nghiên cứu quan sát cho thấy ở các quần thể lớn, có thói quen ăn mặn thì tỷ lệ người bị THA cao hơn hẳn so với các quần thể có thói quen ăn nhạt hơn Natri trong chế độ ăn có thể tạo ra từ hai nguồn chính: Phần cho thêm vào thức ăn (phần này phụ thuộc từng người) và nguồn có sẵn trong thực phẩm (trong quá trình chế biến hay có tự nhiên trong thực phẩm)[38]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Lâm cho thấy số người có thói quen ăn mặn gặp ở nhóm người THA nhiều hơn so với nhóm người có

HA bình thường [37]

Công trình nghiên cứu của Phạm Gia Khải và CS năm 1999 cho thấy ăn mặn có liên quan chặt chẽ với THA ở cả nam và nữ độ tuổi từ 24- 44 [27] Theo kết quả nghiên cứu của Phan Thị Kim và CS năm 1988 cho thấy giảm muối ăn từ 4-6 gam/ngày thì sau 1 tháng HATTr giảm trung bình 20 mmHg và HATT giảm trung bình 30 mmHg ở người mắc bệnh THA Kết

Trang 21

quả nghiên cứu còn cho thấy vùng nào có lượng muối ăn vào cao thì tỷ lệ THA cao và đưa ra khuyến nghị cần giảm bớt lượng nước mắm, muối khi nấu món ăn và khi muối dưa cà Tại 6 tỉnh có tỷ lệ THA khác nhau Hà Bắc có tỷ

lệ THA 14,6%, Nghệ Tĩnh có tỷ lệ THA 17,9%, Hà Tây có tỷ lệ THA 10,7%,

Hà Nội có tỷ lệ THA 10,6%, Thừa Thiên Huế có tỷ lệ THA 17,8%, Quảng Nam Đà Nẵng có tỷ lệ THA 13,1% [25]

Theo nghiên cứu của Bùi Thanh Nghị, Phạm Thị Hồng Vân năm 2003 cho thấy nhóm có thói quen ăn mặn có tỷ lệ THA cao gấp 3,22 lần so với nhóm không có thói quen ăn mặn [44]

Giảm muối (NaCl), đã được chứng minh làm giảm số HA và nguy cơ biến chứng ở bệnh nhân THA Chế độ ăn giảm muối nên thực hiện với lượng muối

<6 gam NaCl/ngày hoặc <2,4 gam natri/ngày Duy trì đầy đủ lượng kali khoảng

90 mmol/ngày Bảo đảm đầy đủ calcium và magnesium [59]

Theo Cutler, Follmann và Allender đã kết luận rằng việc giảm hằng ngày khẩu phần natri khoảng 70- 80 mmol có liên quan tới giảm HA ở cả các cá thể

có HA cao và bình thường Các thử nghiệm lâm sàng cũng đã chứng minh các tác động làm giảm HA bền vững của việc giảm natri ở người cao tuổi tạo ra việc điều trị có ích mà không cần thuốc Khẩu phần ăn của natri từ tất cả các nguồn, ảnh hưởng tới mức HA của quần thể và cần được hạn chế để giảm nguy cơ bệnh mạch vành tim và cả 2 dạng đột quỵ (thiếu máu và chảy máu) Việc hạn chế của khẩu phần để đạt được mục tiêu trên thì cần hạn chế khẩu phần muối NaCl hàng ngày dưới 5 gam/ngày, số lượng này cần tính đến tổng lượng natri khẩu phần từ tất cả các nguồn trong chế độ ăn [62]

Đối với người cao tuổi sự nhạy cảm của thành mạch cũng kém hơn so với người trẻ tuổi, chính vì vậy trong điều trị THA ở người cao tuổi cần giảm muối vừa phải trong chế độ ăn, không nên quá chặt chẽ [22]

Theo Vũ Đình Hải, điều tra khẩu phần ăn trong nhân dân từng vùng, các nhà nghiên cứu thấy rằng vùng nào ăn nhiều muối thì tỷ lệ THA càng cao Ở

Trang 22

Nhật, sau khi vận động nhân dân ăn ít muối, chảy máu não giảm 40%, tắc mạch não giảm 24,6% [18]

- Chất béo động vật

Cholesterol là một chất sinh học có nhiều chức phận quan trọng, một phần được tổng hợp trong cơ thể, một phần do thức ăn cung cấp Lượng cholesterol trong khẩu phần có ảnh hưởng đến CT trong huyết thanh, do cholesterol trong chế độ ăn góp phần tạo nên nguy cơ bệnh mạch vành Người

ta nhận thấy các acid béo no làm tăng các lipoprotein có tỷ trọng thấp (LDL- C), vận chuyển các cholesterol từ máu đến các tổ chức và có thể tích luỹ ở thành động mạch, ngược lại các acid béo chưa no làm tăng các lipoprotein có

tỷ trọng cao (HDL-C), vận chuyển cholesterol từ các mô đến tế bào gan để thoái hoá [26], [8], [9]

Do đó một chế độ ăn giảm chất béo động vật (thịt mỡ, mỡ), thay thế bằng dầu thực vật, bớt ăn thịt, tăng ăn cá là có lợi cho người có rối loạn chuyển hoá cholesterol Trong các khuyến cáo về ăn uống người ta khuyên năng lượng do chất béo cung cấp không được vượt quá 30% tổng

số năng lượng, tăng sử dụng dầu thực vật , tăng sử dụng khoai, rau và trái cây Các loại đường ngọt không cung cấp quá 10% tổng số năng lượng, còn năng lượng do protein nên đạt từ 10-15%[10]

Theo Hoàng Thị Bích Ngọc các thông số của người khoẻ mạnh bình thường thì nồng độ TG, CT, LDL- C, HDL- C khác nhau theo giới và tuổi [45]

Rối loạn lipid máu khi có biểu hiện rối loạn một hoặc nhiều thành phần như tăng CT, tăng TG, tăng LDL- C, giảm HDL- C [2], cụ thể:

CT > 5,2 mmol/l

TG > 2,3 mmol/l

LDL- C > 3,12 mmol/l

HDL- C < 0,9 mmol/l

Trang 23

- Thói quen uống rượu

Nghiên cứu quan sát của Mac-Mahon thấy nếu uống nhiều rượu có liên quan với tăng áp lực thành mạch và tỷ lệ THA cao được quan sát thấy ở một

số nghiên cứu [73]

Theo nghiên cứu của Ylima thì đối tượng uống rượu mạnh  50 ml/ngày

có nguy cơ THA cao gấp 4,22 lần so với đối tượng uống < 50 ml/ngày không phân biệt giới, còn đối tượng nam giới uống bia  330 ml/ngày có nguy cơ bị THA gấp 5,24 lần so với đối tượng nam uống bia < 330 ml/ngày [43]

Nghiên cứu của Đinh Thị Bích Thuỷ cho kết quả người uống rượu  3 ngày/tuần bị THA nhiều hơn người không uống rượu 4,24 lần [49]

HATT sẽ tăng theo lượng rượu uống vào, đặc biệt là những người trên 40 tuổi Nếu uống quá 60g rượu/ngày thì khả năng THA càng rõ Những người hút thuốc lá trên 10 điếu trong ngày và uống rượu trên 100

ml trong ngày, liên tục trên 3 năm thì có HA cao hơn những người không uống rượu và không hút thuốc [7]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Lân Việt nếu dùng quá nhiều rượu sẽ làm tăng nguy cơ TBMMN ở bệnh nhân THA Một số điều tra cho thấy nếu dùng lượng rượu thích hợp thì có thể làm giảm nguy cơ bệnh mạch vành Do đó lượng rượu nếu có dùng cần hạn chế ít hơn 30 ml ethanol/ngày (hay ít hơn

720 ml bia, 300 ml rượu vang và 60 ml rượu whisky) Tuy nhiên, với một số dân tộc mà số cân nặng không nhiều như người dân ở nước ta thì lượng rượu nếu có dùng chỉ nên bằng một nửa lượng rượu nói trên [59]

Liên Uỷ ban quốc gia Hoa kỳ về phòng chống THA - JNC VI khuyên mỗi ngày chỉ nên uống không quá 1 ounce (tương đương 29,6 ml) ethanol đối với nam và 1/2 ounce đối với nữ và người nhẹ cân Uống thường xuyên một lượng rượu nhỏ cũng có tác dụng phòng các nguyên nhân gây tử vong

Trang 24

nói chung và do tim mạch nói riêng, bởi vậy cũng không nên cấm hẳn mà chỉ cần điều độ [47]

Trong nghiên cứu của Bùi Thanh Nghị cho thấy nhóm uống nhiều rượu

có tỷ lệ THA cao gấp 2,95 lần so với nhóm không uống nhiều rượu (uống quá nhiều rượu khi uống hơn 3 lần mỗi ngày, mỗi lần khoảng 30ml whisky, 150ml rượu vang hay 330 ml bia [44]

1.2.5 Thói quen hút thuốc lá

Trong thuốc lá có Nicotin, Nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm

co mạch ngoại vi gây THA Hút 1 điếu thuốc lá HATT có thể tăng lên tới 11 mmHg, HATTr tăng lên tới 9 mmHg, kéo dài 20-30 phút Hút nhiều có thể có những cơn THA kịch phát nguy hiểm Nicotin còn làm tăng nhịp tim và THA, tăng nhu cầu oxy của các cơ tim Các oxyt cacbon do hút thuốc lá sinh ra làm giảm khả năng vận chuyển oxy của máu Hút thuốc lá còn là nguồn sản sinh ra các gốc tự do, tăng độ kết dính của tiểu cầu và làm giảm các HDL- C [13]

Hút thuốc lá là một yếu tố đe doạ quan trọng của bệnh, vì nguy cơ mắc bệnh mạch vành ở người THA có hút thuốc cao hơn 50-60% so với những người THA không hút thuốc [61]

Nghiên cứu của Trần Đỗ Trinh cho kết quả nhóm người có THA, tỷ lệ hút nhiều  8 điếu/ngày cao hơn nhóm người bình thường, nếu hút dưới 8 điếu trong ngày thì không khác nhau [55]

Nghiên cứu của Bùi Thanh Nghị cho thấy nhóm hút thuốc lá có tỷ lệ THA cao gấp 3,04 lần so với nhóm không hút thuốc [44]

Olatunbosun S.T., Kaufman J.S., Cooper R.S (2000 Arp) nghiên cứu các số liệu về sinh xã hội học gồm tiền sử hút thuốc lá, uống rượu và mức

độ hoạt động thể lực hàng ngày của người dân thành thị ở châu Phi, kết

Trang 25

quả không thấy có sự liên quan giữa THA với hút thuốc lá, uống rượu và luyện tập thường xuyên [75]

1.2.6 Tiền sử gia đình mắc bệnh tăng huyết áp

Trong nghiên cứu của Trần Đỗ Trinh 1989-1992 khi so sánh giữa 909 cặp của 2 nhóm THA và nhóm người bình thường, thấy tỷ lệ ở người THA có người trong gia đình bị THA cao hơn ở nhóm đối chứng, đặc biệt là đối với

ông bà, bố mẹ và anh chị em (trực hệ)[55]

Theo nhiều thống kê cho thấy người da đen bị bệnh THA cao và nặng hơn các chủng tộc khác Yếu tố gia đình cũng có vai trò quan trọng Những gia đình có cha mẹ THA thì có sẵn nhiều gien chi phối quá trình điều hoà HA

và khi có tác động của các yếu tố bên ngoài thì dễ gây THA [7]

Năm 1995-1996, Trương Thanh Hương nghiên cứu 38 bệnh nhân THA điều trị ngoại trú thì có 5/38 người có người trong gia đình bị THA [21] Năm 1999, Phạm Gia Khải nghiên cứu 1221 trường hợp THA có 188 trường hợp có người trong gia đình bị THA: Có bố bị THA là 80/188, chiếm

tỷ lệ 42,55%, có mẹ bị THA là 71/188, chiếm tỷ lệ 37,76%, anh chị em ruột,

cô dì chú bác bị THA là 37/188, chiếm tỷ lệ 19,68% [27]

Nghiên cứu của Bùi Thanh Nghị nhóm trong gia đình có người bị THA có tỷ

lệ THA cao gấp 9,33 lần so với nhóm trong gia đình không có người THA [44]

1.3 Những nghiên cứu về dịch tễ bệnh THA trên Thế giới và Việt Nam 1.3.1 Trên Thế giới

- Bệnh tăng huyết áp đã xuất hiện trên trái đất từ hơn 100 năm

- Bệnh có thể xảy ra do 1 bệnh khác gọi là THA triệu chứng (THA thứ phát), đa số không tìm được nguyên nhân được coi là THA nguyên phát chiếm 90-95%

- THA có tỷ lệ cao ở những nước có công nghiệp phát triển

Trang 26

- Theo WHO năm 2003 trên thế giới có khoảng 1 tỷ người THA trong 20 năm sau con số này sẽ tăng trên 60% [1] ,[2]

- Năm 2000 có 330 triệu người trưởng thành ở các nước phát triểnvà 639 triệu người trưởng thành ở các nước nghèo bị THA vào năm 2025 tỷ lệ này tại các nước đang phát triển sẽ lớn hơn so với các nước giàu

Theo điều tra đánh giá tình trạng dinh dưỡng và sức khoẻ cộng đồng (National health and nutrition examination survey - NHANES) từ năm 1991-

1994 cho thấy 32% người Mỹ có THA đã không để ý gì tới việc này, tại châu

Âu và Bắc Mỹ tỷ lệ người lớn mắc bệnh THA từ 15-20% [13]

Một nghiên cứu điều tra sức khoẻ tim mạch Canada năm 1995 trên 23.129 đối tượng tuổi từ 18-74 của 20 tỉnh thành đã xác định tỷ lệ THA chung

là 22,0%, nam chiếm 26%, nữ chiếm 19% [76], nghiên cứu ở Ấn Độ năm

1997 tỷ lệ THA là 23,7% [63], nghiên cứu ở Venezuela 1997 là 36,9% cho tỷ

lệ THA ở nam là 45,2% và ở nữ là 28,9% [69]

Theo TCYTTG qua điều tra cộng đồng cho thấy THA không điều trị hoặc điều trị không đầy đủ chiếm khoảng 70 – 75% ở bệnh nhân THA trên toàn thế giới [60] Nghiên cứu về dịch tễ học ở BangKok - Thailand của Assantachai và CS (1998), trên 334 người cao tuổi (trên 60 tuổi) sống ở các vùng khác nhau cho kết quả tỷ lệ THA là 36,5%, trong đó 33,2% là tỷ lệ đã có trước và 3,3% mới phát hiện qua điều tra Tăng HATT đơn độc ở người già là 4,5% [64] Trong một nghiên cứu về tỷ lệ hiện mắc THA và kiểm soát, điều trị THA của người cao tuổi ở Bangladesh, Ấn Độ năm 2001, cho thấy tỷ lệ hiện mắc THA của người cao tuổi là 65%, trong đó có 45% đã được phát hiện

và điều trị, 40% điều trị bằng thuốc và chỉ có 10% là điều trị có hiệu quả [71] Theo thông báo của Hội THA Tây Ban Nha năm 1996, tỷ lệ THA của nước này là 30% ở người trưởng thành, tỷ lệ nhận biết và được điều trị ở thập kỷ 80

là 50%, nhưng sau đó nhờ hoạt động tuyên truyền giáo dục sức khoẻ và quan tâm tích cực của y tế, kết quả tăng thêm 20% [13]

Trang 27

1.3.2 Ở Việt Nam

- Công trình điều tra dịch tễ học bệnh THA năm 1989-1992 của Trần

Đỗ Trinh và CS cho thấy tỷ lệ THA là 11,7% trong đó THA chính thức là 5,1%, THA giới hạn là 6,7%, ngoài ra THA không bền là 0,7% Tỷ lệ THA tăng lên theo tuổi, THA ở nam là 12,2%, cao hơn nữ 11,2% Tỷ lệ THA ở vùng ven biển là 17,8%, cao hơn hẳn các vùng khác và tỷ lệ thấp nhất là vùng đồng bằng sông Hồng 10,7% [55]

- Theo Vũ Đình Hải, dân số Việt Nam năm 1989 có 64,4 triệu, trong

đó có 39,3 triệu người ở tuổi từ 15 trở lên, có trên 4,5 triệu người THA, nhất là những người nhiều tuổi THA lại càng phổ biến hơn, từ 50-59 tuổi

có 21,52% bị THA, từ 60-69 tuổi có 30,6% bị THA, 70 tuổi trở lên có 47,4% bị THA [18]

- Theo điều tra dịch tễ học THA tại tỉnh Khánh Hoà của Lê Viết Định năm 1990 cho thấy tỷ lệ THA từ 16 tuổi trở lên của nhân dân tỉnh Khánh Hoà

là 8,68  0,04 %, nam nhiều hơn nữ, tỷ lệ THA tăng dần theo tuổi và riêng ở lứa tuổi từ 61 trở lên, tỷ lệ THA giữa nông thôn và thành thị có sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê Có 60,12% người THA giai đoạn 1 không biết mình có bệnh và không được điều trị [14]

- Theo công trình nghiên cứu của Viện Bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi năm 1989 - 1991, nghiên cứu tại các vùng đại diện, tỷ lệ THA tương ứng là: thành thị 33%, ven biển 26,2%, nông thôn 19,9% và miền núi 30,5%

- Tô Văn Hải năm 2000 nghiên cứu tỷ lệ THA tại cộng đồng Hà Nội cũng cho kết luận tỷ lệ nhận biết bệnh và ý thức điều trị của người bị THA còn rất thấp, mà tỷ lệ THA ở người cao tuổi lên tới gần 50% [16]

- Kết quả nghiên cứu của Tạ Văn Bình và Hoàng Kim Ước về dịch tễ học bệnh đái tháo đường năm 2000 tỷ lệ THA cao nhất ở khu vực đồng bằng 18,9%, tiếp đến là khu vực thành phố 16,5%, miền núi và Tây nguyên 16,7%, khu vực

Trang 28

trung du có tỷ lệ THA thấp nhất 14,7% Tỷ lệ THA đã điều chỉnh của cả nước là 16,7% [4], [51]

- Nghiên cứu của Phạm Gia Khải, Nguyễn Lân Việt và CS năm

2001-2002 về tần suất THA và các yếu tố nguy cơ ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam trên tổng số 5012 người dân từ 25 tuổi trở lên cho thấy tần suất THA chung theo JNC VI(1997) chiếm tỷ lệ 16,32%, nếu loại trừ những đối tượng THA được điều trị thì tần suất THA chung này còn lại là 15,09% Trong số người phát hiện THA chỉ có 11,5% được điều trị thuốc hạ HA Tần suất THA kể cả nhóm đã điều trị thuốc hạ HA tại các địa phương như sau thành phố Hà Nội 23,2%, tỉnh Nghệ An 16,6%, tỉnh Thái Bình 12,4%, tỉnh Thái Nguyên 13,9% Tần suất THA tăng dần theo tuổi, nam cao hơn nữ, thành thị cao hơn nông thôn Tần suất các rối loạn lipid máu cũng tăng dần theo tuổi tương tự giữa nam và nữ [27]

- Theo nghiên cứu của Đào Duy An năm 2002, điều tra ban đầu chỉ số huyết áp và tỷ lệ THA ở người dân tộc thiểu số tại thị xã Kon Tum cho kết quả tỷ lệ THA của người từ 18 tuổi trở lên là 12,54% và có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các dân tộc khác nhau [2]

- Theo khảo sát của Bộ Y tế, THA đang tăng nhanh chiếm hơn 16%

ngư-ời trên 25 tuổi là một trong 10 nguyên nhân gây tử vong (đứng thứ 4) Theo Hội tim mạch Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp ở người trên 15 tuổi hiện là 12% tuy nhiên tỷ lệ này sẽ cao hơn vì ngày nay huyết áp bình thường quy định dư-

ới 120/80 mmHg chứ không phải là 140/90 mmHg như trước đây

- Năm 1960 điều tra 10.000 người trưởng thành thấy tỷ lệ THA là 1,98

%, đến năm 1990 Trần Đỗ Trinh & các cộng sự đã điều tra THA trên cả nước, kết quả tỷ lệ THA là 11,7 %

- Năm 1999 Phạm Gia Khải và cộng sự điều tra trên địa bàn Thành phố

Hà Nội thấy THA chỉ có 10,5% nhưng đến năm 2001 tỷ lệ THA đã tăng lên 23,06%, năm 2007 là 16,32% đối với cả nước [27], [28]

Trang 29

Tứ kỳ là một huyện thuần nông có diện tích 170,03km2, dân số 168790 người, mật độ dân số 970 người/km2, số người trong độ tuổi lao động là

35000 người, cơ cấu hành chính gồm 26 xã và 1 thị trấn, chia làm 5 vùng địa

lý, kinh tế, văn hoá xã hội Chúng tôi tiến hành chọn ngẫu nhiên mỗi vùng một xă để nghiên cứu: Vùng khu hạ có 05 xã chọn được xã tiên động; vùng khu trung chọn xã văn tố , cộng lạc, phượng kỳ, khu thượng chọn xã tứ xuyên Hệ thống cơ sở hạ tầng của huyện tứ kỳ thuộc huyện nghèo, hưởng chế độ 30A (Điện, Đường, Trường, Trạm mới mới được đầu tư, phát triển) Kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao, đang chuyển dịch cơ cấu vật nuôi cây trồng trong kinh tế nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng công nghiệp, thương mại và dịch vụ Hiện nay tứ kỳ vẫn là 1 huyện nghèo, nền kinh tế phát triển chậm, ngành nghề phụ ít, các khu kinh tế công nghiệp, doanh nghiệp hạn chế, đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.Bình quân thu nhập bình quân đầu người năm đạt 1200.000 – 1.500000đ/năm

Năm 2006 hệ thống Y tế huyện được củng cố và từng bước hoàn thiện (Gồm Phòng y tế, Bệnh viện đa khoa, Trung tâm Y tế dự phòng nay là trung tâm y tế ) Y tế xã, thị trấn trong toàn huyện luôn được kiện toàn và phát triển 100% số thôn có nhân viên y tế hoạt động; 100% số xã có NHS trung học hoặc

y sỹ sản nhi, đến nay huyện tứ kỳ có 37 Bác sỹ/26 Xã và Thị trấn Y tế tuyến

cơ sở luôn được sự quan tâm chỉ đạo, tập huấn về chuyên môn của Y tế tuyến trên, sự quan tâm lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, cùng với sự phối hợp đồng bộ của các ban ngành, đoàn thể ở địa phương Trạm Y tế các xã, thị trấn hàng năm được tăng cường đầu tư nâng cấp, duy tu bảo dưỡng về cơ sở vật chất, bổ sung các trang thiết bị y tế, đội ngũ cán bộ y tế xã, thôn được sắp xếp củng cố đến nay 80% số trạm y tế được xây dựng nhà cấp 4 và trang bị các phương tiện làm việc cơ bản, có 10/ 26 xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế xã

Nhận xét : Tỷ lệ THA ở các vùng địa lý và kinh tế khác nhau cũng rất

khác nhau, cao nhất là vùng thành thị 23,3% sau là duyên hải 16,6% và sau

Trang 30

cùng là vùng đồng bằng 12,4%, trung du 13,9% Thành thị Miền Bắc Việt Nam người bệnh tăng huyết áp chiếm 22,7% trong khi nông thôn 12,26% một

số khu vực thành thị có tỷ lệ người bệnh lớn, Thành phố Vinh 31,9%, Thành phố Hà Nội 23,3%, Thị xã Thái Bình 20,1%, Thành phố Thái Nguyên 10,4% [28]

Tăng huyết áp là bệnh phổ biến trong các bệnh tim mạch nó là “Kẻ giết người thầm lặng” nghĩa là không gây triệu chứng gì ồn ào nhưng lại dẫn đến nhiều biến chứng vô cùng tai hại nhiều khi là những biến chứng giết người [1], [59]

Trang 31

Chương 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng ,địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

+ Tiêu chuẩn lựa chọn

- Người ở độ tuổi từ 15 đến 59 tuổi (Nam và Nữ) đang sinh sống tại các địa bàn dân cư thuộc 5 xã được chọn của huyện Tứ kỳ, Tỉnh Hải Dương, các đối tượng này có thời gian sống trên 5 năm có hộ khẩu tại xã, là những người không mắc bệnh tâm thần, động kinh

+ Tiêu chuẩn loại trừ ( hay đối tượng không thuộc diện nghiên cứu)

Những người dân không có hộ khẩu ở địa bàn nghiên cứu và những người có hộ khẩu nhưng không thường xuyên sống tại đây, có thời gian sinh sống và làm việc dưới 05 năm trong địa bàn

2.1.2 Địa bàn nghiên cứu

Huyện Tứ kỳ Tỉnh Hải Dương có các vùng kinh tế có điều kiện kinh tế tương đương nhau Chúng tôi chọn mỗi vùng một xã bao gồm: Tiên Động,

Cộng lạc, Văn Tố, Phượng kỳ, Tứ xuyên làm địa bàn nghiên cứu

Tổng dân số 5 xã: Tiên Động, Cộng lạc, Văn tố, Phượng kỳ, Tứ xuyên, Huyện Tứ kỳ tại thời điểm 31/12/2013 được phân bố như sau:

ảng 2 Dân số và số người trong độ tuổi lao động của 5 xã

Trang 32

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2.2 Chọn mẫu và cỡ mẫu

- Cỡ mẫu: Cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả cắt ngang

+ Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho 1 tỷ lệ

d

p p

Z

Trong đó: n cỡ mẫu tối thiểu

Z(1 - a/2) với độ tin cậy 95%  Z(1-a/2 ) = 1,96

p : Tỷ lệ THA ước đoán trong quần thể theo các nghiên cứu trước là : 20% (0,2)

d : Mức độ chính xác mong đợi, trong nghiên cứu này chúng tôi chọn d= 5% (0,05)

Thay vào công thức ta có: n = (1,96)2

x 0,2 x 0,8/(0,05)2 = 384

Vì nghiên cứu thực hiện tại cộng đồng để tăng độ chính xác do vậy chúng tôi lấy

cỡ mẫu được chọn nhân đôi:

384 x 2 = 768, làm tròn là 770 người

Dự phòng người dân bỏ cuộc không tham gia 10%

Cỡ mẫu cho nghiên cứu mô tả là 770 + 77 = 847 làm tròn 850 người đã khám

- Chọn mẫu:

Để nghiên cứu tỷ lệ tình trạng bệnh THA Huyện Tứ kỳ, Tỉnh Hải Dương chúng tôi sử dụng khung chọn mẫu chùm để chọn ngẫu nhiên 5 xã, : Tiên động, Cộng lạc, Văn tố, Phượng kỳ, Tứ xuyên, các xã được chọn đó là Số đối tượng chọn vào nghiên cứu được tiến hành theo các bước:

Trang 33

Thống kê, lập danh sách số người ở độ tuổi từ 15- 59 của các thôn 05 xã

đã chọn, trên cơ sở bảng phân tích cơ cấu dân số

Chọn các đối tượng tại mỗi thôn của xã điều tra như sau:

Lập danh sách để đánh số thứ tự các thôn, hộ của 05 xã được chọn nghiên cứu, dùng bảng số ngẫu nhiên để chọn hộ gia đình điều tra thứ nhất,

hộ gia đình tiếp theo lấy theo phương pháp cổng liền cổng

Tại mỗi hộ gia đình chúng tôi khám cho toàn bộ người trong gia đình có người độ tuổi lao động đến khi đạt đủ cỡ mẫu cho nghiên cứu ở mỗi xã

2.3 Kỹ thuật và phương pháp thu thập thông tin

2.3.1 phương pháp thu thập thông tin

- Phỏng vấn:

+ Phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin của các đối tượng nghiên cứu

để tìm các yếu tố liên quan đến bệnh tăng HA (tuổi, tiền sử gia đình, tiền sử bệnh tật, nghề nghiệp, chế độ ăn uống, thói quen sinh hoạt như ăn mặn, uống rượu, hút thuốc lá, thuốc lào)

+ Công cụ là bộ câu hỏi dùng để phỏng vấn đã được sửa đổi và bổ sung sau khi điều tra thử tại cộng đồng

- Phần khám

* Đo huyết áp

+ Dụng cụ đo dùng máy đo huyết áp là huyết áp kế thuỷ ngân LPK2 sản xuất tại Nhật Bản sai số cho phép  5mm Hg

+ Đánh giá, phân loại tăng huyết áp Theo tiêu chuẩn phân loại huyết

áp của Liên uỷ ban quốc gia Hoa Kỳ (Joit National Committee viết tắt là JNC) 1999 (JNC VII)

* Đo chiều cao

Trang 34

* Đo vòng bụng, vòng mông

* Cân nặng

2.3.2 Các biến số nghiên cứu

- Xác định tỷ lệ THA ở người độ tuổi lao động

+ Tỷ lệ THA chung

+ Tỷ lệ THA được điều trị

+ Tỷ lệ THA tâm thu, tâm trương theo địa dư từng xã

+ Thời điểm tăng huyết áp trong ngày

+ Tỷ lệ bệnh nhân THA khám định kỳ và được điều trị đúng phác đồ + Trị số THA trung bình theo giai đoạn và phân loại THA (phân loại theo JNC VII)

+ Số bệnh nhân điều trị và khám định kỳ

- Mô tả các yếu tố liên quan đến THA

+ Tỷ lệ theo mối liên quan giữa giới tính đến THA

+ Tỷ lệ theo mối liên quan giữa tuổi đến THA

+ Tỷ lệ theo mối liên quan giữa trình độ văn hoá đến THA

+ Tỷ lệ theo mối liên quan giữa điều kiện kinh tế đến THA

+ Tỷ lệ theo mối liên quan giữa nghề nghiệp đến THA

+ Tỷ lệ theo mối liên quan giữa thừa cân, béo phì đến THA

+ Tỷ lệ theo mối liên quan giữa thói quen ăn uống đến THA

+ Tỷ lệ theo mối liên quan giữa thói quen hút thuốc đến THA

+ Tỷ lệ theo mối liên quan giữa tiền sử gia đình có người bệnh THA

đến THA

Trang 35

+ Tỷ lệ theo mối liên quan giữa tiền sử gia đình bị bệnh tim mạch, thận, tiểu đường đến THA

+ Tỷ lệ theo mối liên quan giữa chế độ nghỉ ngơi, luyện tập thể dục, thể thao liên đến THA

2.3.3 Các điều kiện và kỹ thuật đo lường

đó

+ Tiến hành đo

Đối tượng phải được nghỉ trước khi đo 5 phút Đo HA cánh tay, lấy

HA tay trái làm chuẩn, đo ở tư thế ngồi

Hoàn cảnh lúc đo: đối tượng không hoạt động mạnh, không được uống cà phê, nước chè, uống rượu, hút thuốc lá trước khi đo, phòng đo phải yên tĩnh, ấm áp

Bao hơi cỡ thông thường (12 x 24 cm) quấn phía trên nếp gấp khuỷu tay

3 cm, mặt trống ống nghe đặt sát gần bờ dưới bao hơi

Bơm nhanh bao hơi lên 200 mmHg hoặc trên mức HATT mà ta có thể nhận biết bằng bắt mạch quay thấy biến mất

Thả hơi ra theo tốc độ tụt cột thuỷ ngân là 2 mmHg/giây

Ghi số HATT khi nghe thấy tiếng đập đầu tiên Số huyết áp lấy tới chữ

số hàng đơn vị mmHg (không lấy tròn chục)

Trang 36

Ghi số HATTr khi mất hẳn tiếng đập

Số lần đo: Đối tượng nghiên cứu được đo 2 lần/ngày, mỗi lần cách nhau

2 phút, đo ở tư thế ngồi, kết quả HA được lấy để đánh giá mức độ HA là trung bình cộng của 2 lần đo trên

Trường hợp huyết áp tăng cao phải bơm bao hơi trên HATT 30 mmHg, sau đó mới thả hơi theo tốc độ

- Đo chiều cao, cân nặng, vòng bụng, vòng mông

+ Dụng cụ

Đo chiều cao bằng thước microtose độ chính xác tính tới 0,1cm

Đo vòng mông, vòng bụng bằng thước dây không giãn sản xuất tại Trung Quốc, độ chính xác tính bằng mm

Cân nặng: Dùng cân bàn điện tử của UNICEF độ chính xác tính bằng 0,1kg + Phương pháp đo

* Đo chiều cao: Trước khi đo đối tượng tháo bỏ dày dép, mũ nón Khi đo

hai gót chân chạm vào nhau, mông, lưng vai chạm vào thước sao cho hai điểm chạm của thước chạm sát vào bờ tường thẳng (nền đặt trước đo phải phẳng), vai buông lỏng, mắt nhìn về phía trước, giữ cho đỉnh đầu ở vị trí cao nhất khi đo, hạ dần thước đo chiều cao từ trên xuống chạm sát đỉnh đầu và đọc số ghi tên thước

* Cân nặng: Đặt cân ở vị trí ổn định trên mặt phẳng, đối tượng không đi dày

dép, không đội mũ hoặc cầm 1 vật gì chỉnh cân ở vị trí 0 Đối tượng đứng trên bàn cân, tay buông thõng, mắt nhìn thẳng về phía trước, ghi số đo trên bàn cân

* Đo vòng bụng: Đo ở co bụng, là điểm giữa bờ dưới của mạng sườn và

điểm trên mào chậu Đối tượng đứng thẳng, tay buông thõng, ngực ưỡn, nhìn thẳng về phía trước và đo ở cuối thì thở ra, đo 2 lần lấy số trung bình của 2 lần đo

Trang 37

* Đo vòng mông: Đo ở mức nhỏ nhất, phía sau mấu chuyển lớn xuơng

đùi chiếu ngang bờ mu Khi đo yêu cầu đối tượng đứng thẳng, cơ mông chùng, bỏ hết vật dụng trong túi quần để có thể chính xác, đo 2 lần sau đó lấy

trị số trung bình của 2 lần đo

2.3.4 Khái niệm và định nghĩa quá trình nghiên cứu

- Tiêu chuẩn chẩn đoán tăng HA – theo tiêu chuẩn của JNC – VII

- Tiêu chuẩn chẩn đoán thừa cân béo phì

Dựa trên chỉ số BMI; được tính bằng cân nặng (kg) chia cho chiều cao (m) bình phương chiều cao và phân loại tiêu chuẩn béo phì đối với người Châu Á [78]

Trang 38

Theo WHO: Béo bụng được chuẩn đoán khi

Đối với nam: Tỷ lệ vòng bụng/vòng mông > 0,90

Đối với nữ : Tỷ lệ vòng bụng/vòng mông > 0,80

Thông thường chia 3 mức

WHR > 0,90

0,90  WHR  0,80

WHR < 0,80

- Khái niệm yếu tố nguy cơ: Bất kỳ 1 yếu tố nào, thuộc bản chất nào (vật

lý, hoá học, sinh học, di truyền, xã hội) góp phần làm cho 1 con người đang khoẻ mạnh mà mắc bệnh thì yếu tố đó được gọi là yếu tố nguy cơ

- Khái niệm thói quen: Thói quen là cách sống, hoạt động lặp đi, lặp lại lâu ngày trở thành thói quen

- Khái niệm về nghiện rượu: Theo Chang – SS và CS nếu uống rượu trên 4l/tuần, mỗi lần trên 100ml và uống thường xuyên hoặc uống trên 400gram alcol/ngày liên tục trên/năm

- Tình trạng hút thuốc lá, thuốc lào được xem là ảnh hưởng tới sức khoẻ khi đã hút 5 điếu trở lên trong một ngày

+ Tập với cường độ cao 30 phút/lần, 3 lần mỗi tuần với hình thức như chạy

bộ, bơi, nhảy, đi xe đạp tốc độ

2.3.5 Hạn chế sai số

Trang 39

- Sử dụng điều tra viên có kinh nghiệm về cộng đồng, Y, Bác sĩ đang công tác tại các địa bàn nghiên cứu đo huyết áp

- Tập huấn kỹ cho tất cả điều tra viên, tiến hành phỏng vấn thử, có thảo

luận góp ý của các điều tra viên và chỉnh, sửa cài lỗi câu hỏi khó trong phiếu

phỏng vấn phù hợp với thực tế, tăng cỡ mẫu

- Các công cụ cân, đo phải được kiểm tra chính xác trước khi xuống thực

địa

- Nêu các định nghĩa về các biến số, các chỉ số, phân loại rõ ràng, tiêu

chuẩn chọn các đối tượng nghiên cứu

- Phiếu phỏng vấn được ghi rõ ràng, ngôn ngữ dễ hiểu

- Nghiên cứu viên trực tiếp tham gia và giám sát kiểm tra chất lượng tại thực địa cùng với điều tra viên

2.4 Phương pháp xử lý số liệu

- Số liệu nhập và được xử lý theo phương pháp thống kê y học bằng phần mềm SPSS version 13.0 tại khoa Y tế công cộng – Trường Đại học Y Hải Phòng Tính tỷ lệ THA và những vấn đề liên quan bằng thuật toán tỷ lệ,

số trung bình, so sánh số trung bình, so sánh tỷ lệ Tính yếu tố nguy cơ bằng

tỷ suất chênh OR (Odds Ratio) tìm mối liên quan giữa một số yếu tố nguy cơ

và tỷ lệ THA thông qua tính tỷ suất chênh, đồng thời sử dụng phương pháp phân tích đơn biến, phân tích hồi quy đa biến các yếu tố nguy cơ để xác định mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ và bệnh THA

2.5 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Tất cả các đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích cụ thể về mục đích, nội dung nghiên cứu để tự nguyện tham gia và hợp tác tốt trong quá trình nghiên cứu

Trang 40

- Mọi thông tin của đối tượng đều được giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu

- Sau khi kết thúc nghiên cứu sẽ báo cáo phản hồi kết quả cho địa phương

- Những người được chẩn đoán là THA sẽ được thông báo về chỉ số HA, được tư vấn về hậu quả của THA

- Hướng dẫn cách phòng, điều trị THA

- Đối tượng tham gia nghiên cứu tự nguyện, mọi sự từ chối, không tham gia, bỏ cuộc đều được chấp nhận

- Nghiên cứu được lãnh đạo địa phương và cán bộ y tế cơ sở ủng

hộ tạo điều kiện

- Đề tài này đã được Hội đồng nghiệm thu đề cương cho tiến hành nghiên cứu

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy An: Cải thiện tình trạng nhận biết, điều trị và kiểm soát tăng huyết áp. Thách thức và vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe.Tài liệu truyền thông và giáo giục sức khoẻ tim mạch cộng đồng 12/2005 (http://www.cimsi.org.vn/http://www.ykhoa.net) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải thiện tình trạng nhận biết, điều trị và kiểm soát tăng huyết áp. Thách thức và vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe
2. Đào Duy An (2002), “Điều tra ban đầu chỉ số huyết áp và tỷ lệ tăng huyết áp ở người dân tộc thiểu số tại thị xã Kon Tum”, Tạp chí Tim mạch học Việt Nam, (35), tr. 47-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra ban đầu chỉ số huyết áp và tỷ lệ tăng huyết áp ở người dân tộc thiểu số tại thị xã Kon Tum”, "Tạp chí Tim mạch học Việt Nam
Tác giả: Đào Duy An
Năm: 2002
3. Tôn Thất Bách, Trần Bình Giang (2002), Phương pháp trình bày công trình nghiên cứu trong y học, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 1-176 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp trình bày công trình nghiên cứu trong y học
Tác giả: Tôn Thất Bách, Trần Bình Giang
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2002
4. Bộ Y tế ngày 20/1/2004, Thông tư hướng dẫn thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi, số 02/2004/TT-BYT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư hướng dẫn thực hiện công tác chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi
5. Tạ Văn Bình và CS (2004), Dịch tễ học bệnh đái tháo đường ở Việt Nam, các phương pháp điều trị, Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp nhà nước, Bệnh viện nội tiết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học bệnh đái tháo đường ở Việt Nam, các phương pháp điều trị
Tác giả: Tạ Văn Bình và CS
Năm: 2004
6. Nguyễn Trung Chính và Trần Đình Toán (2000), Tăng cholesterol máu bệnh thời đại, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 12-73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cholesterol máu bệnh thời đại
Tác giả: Nguyễn Trung Chính và Trần Đình Toán
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2000
7. Nguyễn Thị Chính (2002), Tăng huyết áp đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 1-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng huyết áp đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim
Tác giả: Nguyễn Thị Chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2002
8. Nguyễn Thị Chính (2002), Một số vấn đề người bệnh tim mạch cần quan tâm, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. tr. 14-53 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề người bệnh tim mạch cần quan tâm
Tác giả: Nguyễn Thị Chính
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2002
9. Nguyễn Huy Dung (2003), “Tăng huyết áp, rối loạn chuyển hoá lipid”, 22 bài giảng chọn lọc nội khoa tim mạch, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 57-82 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng huyết áp, rối loạn chuyển hoá lipid”," 22 bài giảng chọn lọc nội khoa tim mạch
Tác giả: Nguyễn Huy Dung
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2003
11. Phạm Tử Dương và CS (1998), “ xử trí chứng rối loạn lipid máu”, kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, tạp chí Tim mạch học Việt Nam, (16), tr. 73- 84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: xử trí chứng rối loạn lipid máu”," kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, tạp chí Tim mạch học Việt Nam
Tác giả: Phạm Tử Dương và CS
Năm: 1998
12. Phạm Tử Dương (2004), “ Các thuốc đều trị bệnh tăng huyết áp”, Thuốc tim mạch, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 339-447 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thuốc đều trị bệnh tăng huyết áp”, "Thuốc tim mạch
Tác giả: Phạm Tử Dương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
13. Phạm Tử Dương (2005), ệnh tăng huyết áp, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ệnh tăng huyết áp
Tác giả: Phạm Tử Dương
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2005
14. Lê Viết Định (1990), “Điều tra dịch tễ học THA tại tỉnh Khánh Hoà”, Tạp chí Nội khoa, (2), tr. 1-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra dịch tễ học THA tại tỉnh Khánh Hoà”, "Tạp chí Nội khoa
Tác giả: Lê Viết Định
Năm: 1990
15. Bùi Minh Đức, Nguyễn Công Khẩn (2004), Dinh dưỡng cận đại, độc học, an toàn thực phẩm và sức khoẻ bền vững, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 261-285 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng cận đại, độc học, an toàn thực phẩm và sức khoẻ bền vững
Tác giả: Bùi Minh Đức, Nguyễn Công Khẩn
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
16. Bùi Minh Đức, Phan Thị Kim (2002), Dinh dưỡng bảo vệ bà mẹ, thai nhi và phòng bệnh mạn tính, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 27-102 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dinh dưỡng bảo vệ bà mẹ, thai nhi và phòng bệnh mạn tính
Tác giả: Bùi Minh Đức, Phan Thị Kim
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2002
17. Tô Văn Hải và CS (2000), Điều tra về tăng huyết áp động mạch ở cộng đồng Hà Nội, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, đại hội tim mạch học Quốc Gia lần thứ IX, tr. 105-111, phụ san đặc biệt phục vụ đại hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra về tăng huyết áp động mạch ở cộng đồng Hà Nội
Tác giả: Tô Văn Hải và CS
Năm: 2000
18. Vũ Đình Hải (2002), Tăng huyết áp, lời khuyên người bệnh, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng huyết áp, lời khuyên người bệnh
Tác giả: Vũ Đình Hải
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2002
19. Vũ Đình Hải (2003), “JNC7 với thực hành điều trị tăng huyết áp”, tạp chí thông tin Y Dược, (12), tr. 12-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: JNC7 với thực hành điều trị tăng huyết áp"”, tạp chí thông tin Y Dược
Tác giả: Vũ Đình Hải
Năm: 2003
20. Hội tim mạch quốc gia Việt Nam, khuyến cáo số 49 (1998), Phân giai đoạn tăng huyết áp, Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa học, đại hội tim mạch học Quốc Gia lần thứ VII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân giai đoạn tăng huyết áp
Tác giả: Hội tim mạch quốc gia Việt Nam, khuyến cáo số 49
Năm: 1998
21. Trương Thanh Hương, Nguyễn Lân Việt và CS (1998), “ Bước đầu đánh giá tác dụng hạ huyết áp của Lacipil”, Tạp chí Tim mạch học Việt Nam,(14), tr. 32-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu đánh giá tác dụng hạ huyết áp của Lacipil”", Tạp chí Tim mạch học Việt Nam
Tác giả: Trương Thanh Hương, Nguyễn Lân Việt và CS
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.4. Hệ RAA trong tăng huyết áp. - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh tăng huyết áp trong độ tuổi từ 15 59 tại huyện tứ kỳ   hải dương năm 2013
Sơ đồ 1.4. Hệ RAA trong tăng huyết áp (Trang 8)
Bảng 3.1.2 : phân bố đối tượng NC theo giới - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh tăng huyết áp trong độ tuổi từ 15 59 tại huyện tứ kỳ   hải dương năm 2013
Bảng 3.1.2 phân bố đối tượng NC theo giới (Trang 42)
Hình 3.1.4: Phân bố đối t-ợng theo trình độ - Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh tăng huyết áp trong độ tuổi từ 15 59 tại huyện tứ kỳ   hải dương năm 2013
Hình 3.1.4 Phân bố đối t-ợng theo trình độ (Trang 43)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w