1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng sử dụng thuốc tại nhà của người dân huyện an lão hải phòng năm 2012

67 619 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 821,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu của hai tác giả Đặng Thị Hường, Trịnh Hữu Vách năm 2005 tại Thái Bình cho thấy 49% người dân sử dụng kháng sinh không có đơn của thầy thuốc [31].. Ngay cả tại bệnh việ

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

“ Sức khoẻ là vốn quý nhất của con người ”, hay ‘’Có sức khoẻ là có tất cả’’, ‘’Khi không có sức khoẻ thì mong ước duy nhất là có sức khoẻ’’ Nhận biết được tầm quan trọng này mà mọi người ngày càng quan tâm đến vấn đề chăm sóc sức khoẻ cho bản thân, gia đình, bạn bè, cộng đồng Với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin… Sự đa dạng hoá về các loại hình bệnh viện, từ công lập đến tư nhân, các phòng khám chuyên khoa, đa khoa… đã và đang từng bước tác động mạnh mẽ đến vấn đề chăm sóc sức khoẻ, đưa người bệnh dần trở thành những “khách hàng’’

Tuy nhiên việc lạm dụng thuốc hay kê nhiều loại thuốc trong một đơn, việc tự do mua và bán thuốc…đang có chiều hướng gia tăng ở các nước phát triển trong đó có Việt Nam Có tới 90-99% số thuốc chỉ được phép bán theo đơn, đã được bán không cần đơn của thày thuốc (Nguyễn Thị Kim Chúc 2003) Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Việt Nam thuộc một trong những nước có tỷ lệ vi khuẩn kháng kháng sinh cao nhất thế giới [2] Tại lễ mít tinh hưởng ứng Ngày sức khoẻ thế giới (7/4/2011) với chủ đề “Chống kháng thuốc: Không hành động hôm nay, ngày mai không thuốc chữa” Nguyên bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu nhấn mạnh: “Sự phát triển khả năng kháng thuốc của vi khuẩn là một quá trình tự nhiên sớm muộn cũng sẽ xảy ra với mọi loại thuốc Thế nhưng, quá trình tự nhiên này ngày càng xảy ra nhanh hơn và được củng cố bởi chính sự lạm dụng một cách bừa bãi của con người, coi kháng sinh là “thần dược” với tất cả các loại bệnh nhiễm trùng, sử dụng kéo dài….” Sức khoẻ là thuộc về mỗi người, mỗi người cần có trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ, nâng cao sức khoẻ của bản thân và cộng đồng, nhưng không có nghĩa là trở thành “ bác sĩ ’’ khi bị bệnh, tự dùng thuốc mà không

có đơn của thầy thuốc

Trang 2

Những bất cập trong sử dụng thuốc ở nước ta là một thực tế tồn tại dai dẳng từ nhiều năm nay và đã gây ra không ít những hậu quả đáng tiếc Mặc

dù ngành y tế đã có rất nhiều nỗ lực nhằm cải thiện tình hình, nhưng do nhiều nguyên nhân vấn đề này vẫn còn phổ biến trong xã hội Giải quyết những bất cập này là một nhiệm vụ hết sức khó khăn và phức tạp, đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ nhiều giải pháp, sự tham gia tích cực của nhiều cơ quan ban ngành, không chỉ riêng ngành y tế [20]

Chính người dân là những người sử dụng thuốc, vậy họ có suy nghĩ, nhìn nhận về vấn đề sử dụng thuốc như thế nào? Chúng tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu: “Thực trạng sử dụng thuốc tại nhà của người dân huyện An Lão, Hải Phòng năm 2012” Tuy nhiên, do nguồn lực có hạn nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu vấn đề sử dụng thuốc tây y với hai mục tiêu như sau:

1 Mô tả thực trạng sử dụng thuốc tây y tại nhà của người dân huyện An Lão, Hải Phòng năm 2012

2 Đánh giá kiến thức về sử dụng thuốc tây y tại nhà của người dân huyện An Lão, Hải Phòng năm 2012

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Vấn đề sử dụng thuốc hợp lý

Thuốc là những chất có nguồn gốc từ thực vật, động vật hoặc được tổng hợp, dùng để phòng bệnh, chữa bệnh hoặc dùng cho chẩn đoán bệnh Thuốc có một tên gốc và nhiều tên biệt dược do các hãng sản xuất khác nhau đặt cho [9]

WHO đã định nghĩa: “ Sử dụng thuốc hợp lý là việc đảm bảo cho người bệnh nhận được các thuốc thích hợp với yêu cầu của lâm sàng, liều lượng phù hợp với từng cá thể, trong một thời gian vừa đủ và với giá thành thấp nhất cho mỗi người cũng như cho cộng đồng của họ” Trong y học, sử dụng thuốc hợp

lý bao gồm các tiêu chuẩn sau:

- Thuốc đảm bảo chất lượng

- Chỉ định thích hợp, hay lý do kê đơn là dựa vào các xét nghiệm y học

- Thuốc thích hợp

- Liều lượng, đường dùng, thời gian dùng thích hợp

- Người bệnh thích hợp

- Phân phối đúng

- Người bệnh tuân thủ điều trị [62]

Căn cứ hợp pháp để sử dụng thuốc là bệnh án (đối với bệnh nhân điều trị nội trú), và đơn thuốc (đối với những thuốc phải kê đơn ở bệnh nhân điều trị ngoại trú )

Để đảm bảo thuốc được sử dụng hợp lý, cần coi trọng việc kê đơn và đây là một vấn đề khó khăn Có người khuyên cần cung cấp nhiều thông tin hơn cho thầy thuốc, cũng như cần đào tạo thường xuyên, xong vẫn còn thiếu những bằng chứng về hiệu quả của các can thiệp này [58]

Trang 4

1.2 Thực trạng sử dụng thuốc ở các nước

1.2.1 Sử dụng thuốc ở các nước phát triển:

Ở các nước phát triển như Đức, Pháp, Hà Lan… thì vấn đề sử dụng thuốc (SDT ) được quản lý chặt chẽ như: việc kê đơn thuốc, mua bán thuốc, chất lượng thuốc… Thị trường thuốc trên thế giới ngày càng phát triển mạnh

mẽ với hàng ngàn công ty dược phẩm ra đời [26] Theo đó là xu hướng kê nhiều loại thuốc trong một đơn vẫn đang gia tăng Điều này đã gây sự lệ thuộc vào thuốc như nhóm thuốc an thần ( Diazepam) [2] Tình trạng kháng kháng sinh (KKS) cũng là một vấn đề nan giải của nhiều nước như Mỹ, Pháp, Balan, Hàn Quốc, [68], [70]

1.2.2 Sử dụng thuốc ở các nước đang phát triển

Mặc dù tại các nước đang phát triển, nơi mà gánh nặng bệnh tật lại rất lớn, thị trường dược phẩm lại nhỏ [72], nhưng tình trạng SDT của người dân đang là một vấn đề thách thức với sức khoẻ cộng đồng Một nghiên cứu tại Philippin về việc điều trị các chứng bệnh thông thường như ho, cảm lạnh, tiêu chảy cho trẻ em cho thấy có 80% trường hợp được cha mẹ tự điều trị và hầu hết các trường hợp là không đúng và không cần thiết, nhóm thuốc giảm đau

hạ sốt được dùng nhiều nhất, các nhóm thuốc cầm tiêu chảy, kháng sinh, được dùng rộng rãi, gây lãng phí và nguy hiểm [71] Tình trạng kê đơn của các thầy thuốc ở các nước đang phát triển có xu hướng chung là sử dụng nhiều loại thuốc [72] Khi sử dụng nhiều loại thuốc, nhất là thuốc tiêm đã gây ra những hậu quả lớn

Mặt khác, ở các nước phát triển, các thầy thuốc thường bán thuốc sau khi thăm khám bệnh , điều này một phần do thị hiếu và nhu cầu của người bệnh, một phần do cơ chế cũng như sự quản lý lỏng lẻo Bên cạnh đó, chất lượng thuốc tại các nước đang phát triển còn nhiều tranh cãi, và tại các nước

Trang 5

phát triển như Ấn độ, Brazil lại là nơi sản xuất thuốc giả để bán ra nước ngoài [66]

1.2.3 Sử dụng thuốc ở Việt nam

Việt Nam là một nước đang phát triển nên cũng có các đặc điểm về SDT như trên Song song với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, công nghệ quảng cáo,…thì ngày càng xuất hiện nhiều hiệu thuốc, kể

cả hình thức bán thuốc đơn sơ, tự do ( không có đăng ký kinh doanh) luôn đáp ứng nhu cầu về thuốc của người dân Thuốc được bán tự do, ai mua cũng được, càng nhiều càng tốt kể cả các loại kháng sinh bắt buộc phải kê đơn (Theo đánh giá của Sở Y tế Bắc Giang năm 2008) [44] Hiện tượng kinh doanh thuốc không rõ nguồn gốc, mua bán không hóa đơn chứng từ, gian lận thương mại… còn rất phổ biến tại các cơ sở bán lẻ thuốc, dẫn đến thuốc không kiểm soát được về nguồn gốc, chất lượng trong đó có kháng sinh gây ảnh hưởng xấu tới người tiêu dùng (Theo báo cáo tổng kết của Cục quản lý Dược- Bộ Y Tế năm 2009) [10] Bên cạnh đó, những người trực tiếp bán thuốc và tư vấn cho người mua chủ yếu là người giúp việc thì trình độ chuyên môn còn rất hạn chế như dược sĩ trung học, dược tá… Theo quy định thì tất

cả các dược sĩ phụ trách chuyên môn của nhà thuốc phải có mặt khi nhà thuốc

mở cửa nhưng theo một nghiên cứu về nhân lực của các nhà thuốc quận Ba Đình- Hà Nội, thực tế thì không phải nhà thuốc nào cũng thực hiện như quy định Theo kết quả nghiên cứu của hai tác giả Nguyễn Văn Yên, Nguyễn Thị Minh Hương năm 2011 tại các nhà thuốc quận Ba Đình- Hà Nội thì có tới 73,3% dược sĩ chủ nhà thuốc chưa chấp hành đúng quy định này [55] Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng phục vụ nếu người giúp việc bán thuốc không có kỹ năng nhất định Cũng theo kết quả của nghiên cứu trên thì ngoài vấn đề về nhân lực ra, việc duy trì các tiêu chí về cơ sở vật chất nhà thuốc sau khi thẩm định cấp phép có xu hướng giảm dần, đặc biệt tiêu chí “có bàn tư

Trang 6

vấn” giảm một cách rõ rệt chỉ còn 6,2% nhà thuốc duy trì Bên cạnh đó việc giám sát, theo dõi điều kiện vi khí hậu tại nhà thuốc được thực hiện với 8,2% nhà thuốc đảm bảo, 91,8% nhà thuốc không duy trì hoặc ghi chép hình thức, nhiều nhà thuốc chưa đảm bảo thuốc theo đúng quy định về “ độ ẩm, nhiệt độ

và thuốc tránh ánh sáng ” Vì vậy, nhiều nhà thuốc vẫn chưa thực hiện đúng theo tiêu chuẩn “ Thực hành tốt nhà thuốc ” mà Bộ Y Tế đã ban hành [8]

Trong xu thế phát triển y tế hiện nay thì y tế tư nhân là một bộ phận quan trọng của hệ thống y tế quốc gia, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu khám chữa bệnh cho người dân, tạo điều kiện cho người dân lựa chọn các dịch vụ y

tế phù hợp với khả năng chi trả của họ, giúp cho việc phát hiện sớm bệnh và điều trị kịp thời Đồng thời giảm sự quá tải của các cơ sở nhà nước, góp phần thúc đẩy xã hội hóa công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Tuy nhiên, nhiều cán bộ y tế vẫn hoạt động khám chữa bệnh mà không được cấp phép, không đúng chuyên khoa, chuyên môn hay chưa đủ thâm niên công tác…đã và đang ảnh hưởng đến sức khỏe của người bệnh Tại nhiều cơ sở y

tế tư nhân, vẫn mang nặng về vấn đề kinh tế, họ vừa khám bệnh vừa bán thuốc cho bệnh nhân mặc dù không được cấp phép bán Vì lợi nhuận mà người bệnh có thể được chỉ định sử dụng nhiều loại thuốc cùng một lúc mà không cần thiết, có thể vừa gây tốn kém vừa gây phụ thuộc vào thuốc và làm tăng tình trạng kháng thuốc Vì vậy loại hình y tế tư nhân cũng đặt ra cho ngành Y tế nhiều vấn đề cần giải quyết, đòi hỏi phải tăng cường công tác quản lý, giám sát, kiểm tra, nhằm hạn chế những tồn tại, thiếu sót, ngăn ngừa những sai phạm trong hành nghề y tư nhân (Theo đánh giá của các tác giả Trần Quang Trung, Lê Ngọc Trọng, Nguyễn Văn Hưng về công tác quản lý hành nghề y tư nhân tại thành phố Đà Nẵng năm 2007-2009)” [53]

Sử dụng thuốc không hợp lý tại các cơ sở y tế gây lên rất nhiều hậu quả, nó không chỉ gây tốn kém, làm ảnh hưởng đến sức khỏe cho người sử

Trang 7

dụng mà còn làm tăng nguy cơ kháng thuốc cũng như gia tăng các phản ứng không mong muốn của thuốc, gây lãng phí trong cộng đồng [57] Các thầy thuốc khi kê đơn thường có xu hướng kết hợp nhiều loại thuốc không cần thiết, đặc biệt tình trạng lạm dụng kháng sinh, vitamin, steroid và các thuốc kháng viêm, giảm đau [7] Theo Đào Văn Phan (1996), 90% trình dược viên không biết đến tiêu chuẩn đạo đức trong quảng cáo thuốc Các thông tin về thuốc mới giúp cho thầy thuốc kê đơn chủ yếu được cập nhật từ các trình dược viên, báo chí, tạp chí và tờ rơi…Các thông tin này còn nhiều thiếu sót, nhưng các thầy thuốc hầu như không được tiếp nhận thêm các thông tin khác chính thống hơn từ Bộ Y tế, các trường đại học [40]

Theo nhận định của Bộ y tế: “ Tình trạng sử dụng thuốc không hợp lý,

an toàn, kém hiệu quả nghiêm trọng trên nhiều mặt: sức khoẻ nhân dân, mô hình bệnh tật, lãng phí ngân sách, vấn đề vi sinh vật kháng kháng sinh đang rất đáng lo ngại ” [54] Kết quả nghiên cứu của hai tác giả Đặng Thị Hường, Trịnh Hữu Vách năm 2005 tại Thái Bình cho thấy 49% người dân sử dụng kháng sinh không có đơn của thầy thuốc [31] Kết quả nghiên cứu của hai tác giả Nguyễn Văn Tập, Nguyễn Thị Lộc Hải năm 2009 tại bệnh viện Phong Điền- Huế thì số bệnh nhân cho rằng dễ mua thuốc kháng sinh (KS) không cần đơn chiếm tỷ lệ rất cao (96%) [46] Điều này đã góp phần gây ra tình trạng KKS ngày càng tăng Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Trịnh Thị Xuân Hoà và cộng sự tại bệnh viện Việt Tiệp- Hải Phòng thì phẩy khuẩn tả kháng cao với Biseptol (96,6%), với Doxycyclin (86,2%) [23] Và kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Nguyệt, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Trần Văn Hợp năm 2010 thì vi khuẩn Helicobacter Pylori dường như kháng hoàn toàn với Metronidazol là 95,50%, tỷ lệ kháng Clarithromycin của H.pylori là 26,67% [39]

Trang 8

Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Doãn Dũng, Lê thanh Tùng, Vũ Bảo Châu tại bệnh viện 175 năm 2008 thì vi khuẩn gram âm gây nhiễm khuẩn phụ khoa đề kháng khá cao với một số kháng sinh thông thường như Sulfamethoxazol/ Trimethoprim, Chloramphenicol và Streptomycin [12] Ngay cả tại bệnh viện, các bác sỹ cũng phải rất khó khăn trong việc lựa chọn kháng sinh để điều trị cho bệnh nhân vì theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Lý Ngọc Kính, Ngô Thị Bích Hà và cộng sự năm 2010 tại một số cơ sở khám chữa bệnh thì tình trạng kháng thuốc ngày càng gia tăng, tỷ lệ kháng thuốc khá cao trên 50% với hầu hết các kháng sinh hiện có trên thị trường như: nhóm Cefalosporin III/ IV có tỷ lệ kháng từ 66-83% [33] Nhìn chung, việc sử dụng không đúng và lạm dụng thuốc (LDT) kháng sinh đang là mối

đe dọa lớn tới sức khỏe cộng đồng, làm gia tăng tình trạng kháng thuốc và tăng chi phí chăm sóc sức khỏe quốc gia [64], [73]

Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Phương Anh, Nguyễn Vĩnh Ngọc năm 2009 thì sự lạm dụng Corticoid trong các bệnh khớp cũng đang ngày một gia tăng: 48,7% là tự bệnh nhân mua, 20,5% do người bán thuốc chỉ dẫn, gây ra sự phụ thuộc và những tác hại không mong muốn cho người bệnh [35] Bên cạnh đó, theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Sáu năm 2010 về tình hình dị ứng thuốc tại bệnh viện Da Liễu Trung ương thì số bệnh nhân dị ứng thuốc năm

2009 tăng 2,9 lần so với năm 2007 và chiếm 0,46 % tổng số bệnh nhân mắc bệnh về da [42] Sự LDT không những ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ con người mà còn gây thiệt hại về kinh tế Nguồn tài chính mua thuốc chủ yếu là

hộ gia đình năm 2007: 58% tự mua thuốc điều trị, 14% chi khi đi khám chữa bệnh, còn lại là từ Nhà nước, Bảo hiểm y tế, khác (Bộ Y tế, Tài khoản Y tế quốc gia 1998-2008)

Trang 9

Thường người dân khi ốm lựa chọn phương pháp tự điều trị 54% theo kết quả điều tra của các tác giả Nguyễn Phương Hoa, Phạm Văn Thao tại Ba

Vì năm 2008 [22], thậm chí theo kết quả của nghiên cứu Nguyễn Thị Thái Hằng, Lê Viết Hùng tại trường Đại học Dược Hà Nội là 80% người dân thường đến hiệu thuốc và kể bệnh để mua thuốc hoặc yêu cầu hiệu thuốc bán cho mình theo “kinh nghiệm ” hay theo đơn cũ [16] Ngoài dùng đúng thuốc thì còn cần phải đúng liều lượng, đúng thời gian Tuy nhiên, nhiều người dân

đã tự ý giảm liều lượng thuốc hay cũng có khi tăng liều gấp 2, 3 lần để mong bình phục Nhiều người bệnh không dùng thuốc đúng giờ (49,75%), hầu hết

là dùng thuốc vào thời điểm thuận tiện, vào lúc nghỉ ngơi hoặc chỉ dùng khi đau Đa số họ dùng thuốc theo thói quen, thường uống sau khi ăn hoặc trước khi đi ngủ (theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Tập, Nguyễn Thị Lộc Hải năm 2009 [46]) Theo nghiên cứu của Đặng Thị Hường, Trịnh Hữu Vách tại hai xã tỉnh Thái Bình năm 2004: Thời gian sử dụng kháng sinh của người dân trong đợt điều trị từ 1 đến 3 ngày chiếm tỷ lệ 42,6% [31], sử dụng kháng sinh không đúng bệnh như cho các triệu chứng ho, cảm cúm, ỉa chảy…( theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Thu Thuỷ, Nguyễn Tự Cường, Nguyễn Châu Giang [49])

Đặc biệt, người dân còn có thói quen dự trữ thuốc tại nhà Thuốc tồn trữ tại nhà là một trong các thông tin phản ánh sự tự SDT của các hộ gia đình Việc tồn trữ thuốc tại nhà mà có tủ thuốc riêng, có sự bảo quản cẩn thận và người dùng có sự hiểu biết về những loại thuốc thông dụng như Paracetamol, một số thuốc cảm khác,…thì rất thuận tiện cho gia đình khi có người ốm đau nhẹ Tuy nhiên nếu quá lạm dụng tủ thuốc tại nhà để tự điều trị có thể gây ra những hậu quả đáng tiếc, nhất là việc tự sử dụng thuốc KS và các thuốc phải

kê đơn Mặt khác, người sử dụng thuốc dự trữ sẽ khó tránh khỏi phải dùng thuốc mất phẩm chất do bảo quản không tốt, do quá hạn sử dụng ( HSD)

Trang 10

Điều này cũng gây ra sự lãng phí về kinh tế Một số tác giả nước ngoài như Kiyingi cũng đã chỉ rõ việc dự trữ thuốc vừa lãng phí vừa nguy hiểm [61] Thuốc dự trữ có thể do dùng thừa, bỏ thuốc điều trị của những lần điều trị trước hoặc do mua về dự trữ phòng khi ốm đau thì dùng Hộ gia đình có dự trữ thuốc ở nhà chiếm tỷ lệ khá cao 73,3% theo kết quả nghiên cứu của tác giả Trần Thị Thoa và cộng sự tại hai xã Thiệu Long và Cẩm Bình, tỉnh Thanh Hóa [47] Còn theo kết quả của điều tra y tế quốc gia năm 2002 tỷ lệ các hộ

dự trữ thuốc tại nhà là 68% [5]

1.2.4 Kiến thức và các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc

Theo quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn, đối với các thuốc phải kê đơn thì các hiệu thuốc chỉ bán thuốc khi có đơn của bác sĩ, nhưng thực tế, các hiệu thuốc vẫn bán thuốc mà không cần đơn Theo một nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Hùng, Ngô Thị Thanh Thuỷ tại một số khu vực đô thị của Việt Nam thì có tới 80% khách hàng đi mua thuốc không có đơn (KCĐ) [30] Theo nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Tập, Nguyễn Thị Lộc Hải tại bệnh viện Phong Điền- Huế thì số bệnh nhân cho rằng khó mua thuốc KS vì người bán thuốc yêu cầu cần có đơn chiếm tỷ lệ rất thấp (6%) [46] Thực trạng thuốc nói chung và thuốc KS nói riêng không kiểm soát được nguồn gốc

và chất lượng thuốc (Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Sinh, Từ Minh Koóng tại công ty cổ phần Dược Phẩm Bắc Giang năm 2010) [43] Nguyên nhân của vấn đề này là do số lượng các hiệu thuốc lẻ quá lớn và lực lượng thanh tra, kiểm tra, giám sát còn mỏng, và chế tài chưa thực sự có ý nghĩa để bắt buộc các hiệu thuốc thực hiện quy chế [3]

Thị trường thuốc Việt Nam những năm gần đây đã có nhiều phát triển, với tỷ lệ nhiễm khuẩn luôn đứng hàng đầu trong mô hình bệnh tật của các nước phát triển trong đó có Việt Nam thì kháng sinh là nhóm thuốc được ưu tiên phát triển nhất [15] Do đó, thuốc KS là một thị trường lớn và có nhiều

Trang 11

loại biệt dược nên nếu người sử dụng dùng từ hai loại biệt dược trở nên có cùng hoạt chất thì rất dễ bị những tác hại do quá liều Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Xuân Hoài, Hoàng Kim Huyền thì đa số người dân mua theo “ kinh nghiệm ” hoặc do “ người khác mách ”, mua theo đơn cũ

“ đã từng dùng ” hoặc mua theo tư vấn của người bán thuốc [24] Nhiều người

dễ dàng tiếp cận các thuốc kể cả thuốc độc tiềm tàng Những thuốc độc tiềm tàng, có thể từ các thuốc điều trị tại nhà như methyl salicylat tới các thuốc không cần kê đơn như Paracetamol để giảm đau Nhiều người đã dùng những thuốc này để tự tử Một số người cũng có thể tiếp cận các thuốc do lạm dụng như Heroin, Cocain và Amphetamin Những người nghiện thường dùng quá liều các thuốc này

Việc chi trả phí khám chữa bệnh có thể trở thành gánh nặng cho nhiều

hộ gia đình, điều này dẫn đến việc trì hoãn tìm kiếm các dịch vụ y tế hoặc lựa chọn các dịch vụ kém chất lượng nhưng có giá thành rẻ hơn trong đó có hành

vi đến các hiệu thuốc để mua thuốc tự điều trị Trong khi các hộ gia đình có thu nhập cao thường chọn các cơ sở y tế có chất lượng như bệnh viện [69], [74]

Nhiều người bệnh tự dùng thuốc mà không có đầy đủ các kiến thức về các thành phần có hiệu lực của thuốc, liều lượng, thời gian dùng thuốc Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hiếu tại Hà Tây có 75% bà mẹ có quan niệm sai lầm rằng nếu trẻ hết triệu chứng thì dừng uống thuốc mà không quan tâm đến thời gian sử dụng thuốc và 94% cho rằng dễ mua thuốc không cần có đơn [21] Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Tập, Nguyễn Thị Lộc Hải tại bệnh viên Phong Điền- Huế về hiểu biết của bệnh nhân về chỉ định dùng kháng sinh thì chỉ có 55,29% nhận biết đúng dùng kháng sinh khi

bị nhiễm trùng, 24,12% dùng cho bất cứ bệnh gì, 0,88% dùng khi cảm cúm, còn lại là không biết Hiểu biết về thời gian sử dụng KS có 39,41% bệnh nhân

Trang 12

hiểu đúng về thời gian sử dụng kháng sinh, bệnh nhân cho rằng chỉ dùng 1 đến 2 ngày là đủ chiếm 0,59%, dùng 3 đến 4 ngày: 22,06 %, không biết: 18,53%, dùng theo chỉ định trong đơn: 19,41% [46] Theo nghiên cứu của Đặng Thị Hường, Trịnh Hữu Vách tại Thái Bình thì có tới 34% người dân cho rằng dùng kháng sinh khi bị cảm cúm, dùng KS khi ho sốt: 58,30% , dùng

KS khi mụn nhọt: 74,80% và nhiều người dân cho rằng sử dụng KS không đúng cách là có hại nhưng cụ thể tác hại đó là gì thì họ lại không biết, chỉ có rất ít (9,60%) biết được tác hại là làm cho vi khuẩn kháng thuốc [31] Sự hiểu biết về triệu chứng và bệnh của người dân còn nhiều hạn chế Khi họ cho rằng dùng kháng sinh nếu có nhiễm trùng nhưng như thế nào là nhiễm trùng thì lại nhận thức không đúng: có 65,90% cho rằng nhiễm trùng là có biểu hiện ho, đau nhức: 29,30%, suy nhược cơ thể: 9,80% (Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Thu Thuỷ, Nguyễn Tự Cường, Nguyễn Châu Giang tại Hà Nội) [49] Chính vì vậy mà KS được sử dụng cho những trường hợp không cần thiết

Bên cạnh đó là sự thiếu hiểu biết của người bệnh và người thân trong gia đình chăm sóc người bệnh cũng là nguyên nhân chính của việc sử dụng thuốc không đúng bệnh, quá liều Họ ít quan tâm đến tên thuốc như theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Thu Thuỷ, Nguyễn Tự Cường, Nguyễn Châu Giang tại Hà Nội thì chỉ có 14,20% số người quan tâm đến tên thuốc [49] Hầu hết các người bệnh hoặc người chăm sóc chỉ biết đến tên biệt dược của thuốc mà không biết tên của những hoạt chất này Họ có thể dùng các thuốc có tên biệt dược khác nhau nhưng lại có cùng hoạt chất Một số người bệnh muốn nhanh chóng bình phục nên cố ý dùng liều thuốc gấp hai hoặc gấp ba liều kê đơn [6] Ngoài ra, họ còn ít quan tâm đến HSD của thuốc: 2,50% số người quan tâm đến HSD, nhưng thực tế lại không biết cách kiểm

Trang 13

tra hạn dùng (Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thị Thu Thuỷ, Nguyễn Tự Cường, Nguyễn Châu Giang tại Hà Nội) [49]

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Tập, Nguyễn Thị Lộc Hải tại bệnh viện huyện Phong Điền- tỉnh Thừa Thiên Huế [46] thì ngay cả khi có đơn của thầy thuốc thì vẫn có tới 71,25% bệnh nhân thực hành sử dụng thuốc theo đơn không đúng, trong đó: số bệnh nhân dùng không đúng liều các loại thuốc là 56,50% Phần lớn trong số này, bệnh nhân dùng ít hơn so với liều chỉ định Số bệnh nhân dùng không đủ liều các loại thuốc là 67,75% Ngoài ra trong nghiên cứu này, bệnh nhân còn tự ý mua thêm thuốc để dùng chiếm khá cao 66,75% Việc tự ý mua thêm và dùng thuốc không theo chỉ dẫn của thầy thuốc sẽ gây nhiều hậu quả như kháng thuốc, lệ thuộc thuốc, tăng thêm phản ứng có hại của thuốc, làm tổn hại đến sức khỏe và kinh tế của cộng đồng Đặc biệt, số bệnh nhân trong nghiên cứu này không dùng đủ liều kháng sinh là 34,41% Hầu như bệnh nhân chỉ dùng cho đến khi thuyên giảm thì tự ý ngừng dùng, có bệnh nhân chỉ dùng được 1- 2 ngày, thậm chí 1-2 lần Ngay cả khi điều trị ngoại trú thì bệnh nhân cũng không dùng đủ và đúng liều các loại thuốc được ghi trong đơn Điều này chắc chắn sẽ gây nên hiện tượng KKS, hiệu quả điều trị thấp và sẽ gây khó khăn cho những lần điều trị sau

Trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, WHO đã khẳng định truyền thông giáo dục sức khỏe là nội dung số một, là nội dung quan trọng nhất trong tám nội dung chăm sóc sức khỏe ban đầu [65] Truyền thông giáo dục sức khỏe đã mang lại những kiến thức, hiểu biết về các thông tin liên quan đến sức khỏe, tuy nhiên nếu chỉ truyền thông gián tiếp như qua loa đài, tivi, sách báo, mà ít

sử dụng truyền thông trực tiếp như tổ chức buổi nói chuyện, tư vấn, đến tận

hộ gia đình để truyền thông thì khó có thể thay đổi được hành vi tự SDT của người dân, nhất là hành vi đó đã trở thành thói quen, đi sâu vào nếp sống hàng ngày của họ Trong nghiên cứu của các tác giả Trần Thị Nga, Nguyễn Văn

Trang 14

Hiến, Lê Thị Tài và cộng sự tại huyện Bình Lục- tỉnh Hà Nam thì truyền thông giáo dục sức khỏe trực tiếp được đánh giá là một hoạt động còn nhiều hạn chế [38]

Mặc dù có sự phát triển đa dạng các loại hình khám chữa bệnh nhưng người dân vẫn đến các hiệu thuốc mua thuốc sử dụng với lý do chủ yếu là do gần, thuận tiện và thái độ vui vẻ…Với áp lực công việc ngày càng cao, đòi hỏi người dân, đặc biệt là những người công nhân viên chức cần tiết kiệm thời gian để giành cho công việc và gia đình Họ đã lựa chọn hình thức đến hiệu thuốc mua thuốc với sự hướng dẫn của người bán thuốc, hoặc do “kinh nghiệm” của bản thân ở những lần đau ốm trước… vừa nhanh chóng vừa thuận tiện Các hình thức quảng cáo về thuốc cũng ngày càng đa dạng đôi khi

có ảnh hưởng nhiều đến nhận thức và hành vi sử dụng thuốc của người dân

Họ tự đoán bệnh cho mình hay cho người thân và dựa vào quảng cáo để mua thuốc sử dụng

Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc lựa chọn các loại hình dịch vụ y

tế bị ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố trong đó có sự hài lòng của người dân về

sự tiện lợi cũng như chất lượng dịch vụ [63], [69] Nhu cầu chăm sóc sức khỏe (CSSK) của nhân dân ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng Mô hình bệnh tật thay đổi, một số bệnh truyền nhiễm có xu hướng quay trở lại, các bệnh không truyền nhiễm, tai nạn, thương tích, các yếu tố tác động xấu đến sức khỏe ngày càng gia tăng Tuy nhiên, khả năng đáp ứng của ngành y tế vẫn còn hạn chế, cơ sở vật chất, trang thiết bị chưa được đồng bộ, cán bộ y tế còn thiếu, trình độ chưa cao, cơ cấu và phân bổ cán bộ y tế mất cân đối, chi tiêu công cho y tế còn thấp, một số chính sách ngành còn chậm đổi mới [51] Các bệnh viện, đặc biệt là bệnh viện công cũng ngày càng nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, có uy tín nhưng lại bị quá tải, thiếu nhân lực y tế và

áp lực công việc của các nhân viên y tế nên cũng phần nào ảnh hưởng đến sự

Trang 15

lựa chọn của người dân Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Huỳnh Hiền Trung, Đoàn Minh Phúc, Nguyễn Thị Thúy Hà và cộng sự tại khoa khám bệnh- bệnh viện Nhân dân 115 thì thời gian mà nhân viên y tế giành để chăm sóc cho người bệnh còn rất thấp, vì vậy có thể ảnh hưởng đến mức độ hiểu biết của bệnh nhân về liều dùng thuốc, kéo dài thời gian điều trị do bệnh nhân không tuân thủ sử dụng thuốc, tốn nhiều chi phí [52] Bên cạnh đó, các bác sỹ điều trị cũng có thể mắc những sai lầm trong công tác sử dụng thuốc hợp lý,

an toàn như: sử dụng thuốc không chú ý đến tác dụng không mong muốn của thuốc, không phù hợp với chẩn đoán bệnh, không chú ý đến tương tác thuốc khi phối hợp thuốc trong điều trị, chưa hợp lý về đường dùng và thời gian dùng, lạm dụng thuốc, đặc biệt là kháng sinh trong điều trị cũng góp phần ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh (Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tiến Dẫn tại các bệnh viện Bộ công an và kết quả nghiên cứu của các tác giả Lương Ngọc Khuê, Trần Quang Huy tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương năm 2009) [11], [34]

Còn các trạm y tế xã, nơi rất gần dân nhưng cũng không hoàn toàn thu hút được nhiều người dân đến chữa bệnh do nhiều nguyên nhân Bảo hiểm y

tế cho trạm y tế có giới hạn nên nhiều khi người dân vẫn phải bỏ tiền ra mua những thuốc thông thường để điều trị [30] Đặc biệt, theo kết quả nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Hậu tại các xã của huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng năm 2011 thì còn một số tồn tại về chất lượng thuốc như: 20% thuốc không rõ nguồn gốc, hai trạm có thuốc hết hạn sử dụng, một trạm bảo quản thuốc không đúng cách [17] Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Bá Dụng tại Hải Phòng năm 2007 và kết quả nghiên cứu của tác giả Đỗ Thế Khánh tại Ba Vì-

Hà Nội năm 2007 cho thấy cơ sở vật chất (số phòng làm việc), trang thiết bị (các dụng cụ khám chuyên khoa) của các trạm y tế còn thiếu [13], [32] Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Mạn tại trạm y tế xã tỉnh Cao

Trang 16

Bằng năm 2005 thì tồn tại tình trạng thiếu nhân lực, đặc biệt là bác sỹ và người dân mong muốn có bác sỹ về làm việc tại trạm [37], một kết quả nghiên cứu của các tác giả Ngô Huy Hoàng, Hoàng Thị Kim Huyền tại các trạm y tế huyện Mỹ Lộc tỉnh Nam Định năm 2007 cho thấy chỉ có 6/11 trạm

có bác sỹ (mỗi trạm có một bác sỹ) [25] Kiến thức, thực hành khám chữa bệnh của các y bác sỹ tại trạm còn hạn chế, “Gần một nửa số bác sỹ (46%) cho rằng chưa thực hiện được khám chữa bệnh theo chuẩn quốc gia …đa số bác sỹ chưa thực hiện được các kỹ năng ngoại khoa theo phân tuyến kỹ thuật cho tuyến xã” (Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Hùng tại các trạm y tế xã của Hải Phòng ) [28] Sự lựa chọn KS và bệnh tại trạm chưa phù hợp, khi xem xét liều dùng cũng cho thấy một tỷ lệ khá lớn các đơn kê hoặc là không đủ liều một ngày, hoặc không đủ đợt 7 ngày như được khuyến cáo (Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Ngô Huy Hoàng, Hoàng Thị Kim Huyền tại trạm y tế xã Mỹ Lộc tỉnh Nam Định năm 2009) [25]

Theo nghiên cứu của tác giả Đỗ Thế Khánh tại Ba Vì- Hà Nội năm

2007 tại huyện Ba Vì- Hà Nội thì KS là thuốc được sử dụng nhiều nhất cho trẻ dưới 5 tuổi (92,80% đơn), trong đó kháng sinh chủ yếu thuộc nhóm β lactam (79,90%) và là dạng uống (97,30%) [32] Một số lý do đưa ra trong nghiên cứu này là do cán bộ y tế còn thiếu hiểu biết về nguyên tắc sử dụng

KS, dẫn tới thực hành kê đơn, bán thuốc kháng sinh chưa tốt Khảo sát kiến thức của cán bộ y tế về sử dụng thuốc KS tại các trạm y tế xã cho thấy tỷ lệ trả lời đúng rất thấp, thậm chí 0% ở những cán bộ y tế thâm niên trên 16 năm (Theo kết quả nghiên cứu của các tác giả Ngô Huy Hoàng, Hoàng Thị Kim Huyền tại các trạm y tế xã Mỹ Lộc- tỉnh Nam Định) [25] Ngoài ra, vấn đề y đức của các nhân viên y tế cũng đang là một vấn đề tồn tại ảnh hưởng đến công tác CSSK cho người dân

Trang 17

Dưới đây có thể tóm tắt một số yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến sử dụng

thuốc [1]

Sử dụng thuốc

Thiếu hiểu biết

Thông tin không đầy đủ

Thói quen

Văn hoá

Ảnh hưởng của công nghiệp

Mối

Trang 18

1.3 Một số đặc điểm về tình hình kinh tế xã hội, chăm sóc sức khỏe của huyện An Lão thành phố Hải Phòng

An Lão là một huyện đồng bằng, cách trung tâm thành phố Hải Phòng

18 km về phía Tây Nam, phía bắc giáp quận Kiến An, phía nam giáp huyện Tiên Lãng, phía Đông giáp huyện Kiến Thuỵ, phía tây giáp huyện Thanh Hà, Hải Dương An Lão có diện tích tự nhiên rộng 11.246,92 ha, chiếm 7,40% diện tích Hải Phòng, với dân số 127.622 người, gồm thị trấn An Lão, thị trấn Trường Sơn và 15 xã Nghề sản xuất chính là nông nghiệp và ngành tiểu thủ công nghiệp, ngoài ra còn một số ngành nghề phụ nhằm ổn định đời sống kinh tế của nhân dân

Hệ thống chăm sóc y tế cho nhân dân huyện An Lão bao gồm: 01 bệnh viện huyện An Lão, Trung tâm y tế dự phòng huyện, Phòng Y tế, 02 hai trạm

y tế thị trấn, 15 trạm y tế xã Trong CSSK cho nhân dân, tuy còn gặp nhiều khó khăn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh tế cũng như nguồn nhân lực… nhưng các đơn vị, nhân viên y tế vẫn hoàn thành tốt công việc được giao như công tác khám chữa bệnh, truyền thông giáo dục sức khỏe, phòng chống bệnh dịch, an toàn vệ sinh thực phẩm, các chương trình mục tiêu y tế quốc gia…

Trang 19

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng người dân huyện An Lão từ 18 tuổi trở lên

Loại trừ: người bị bệnh tâm thần, người không hợp tác

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

- Thời gian điều tra: từ tháng 6 đến tháng 8 năm 2012

- Địa điểm nghiên cứu: tại thị trấn Trường Sơn và 2 xã An Tiến, Quốc Tuấn huyện An Lão, Hải Phòng

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

2.2.1 Thiết kế: Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu và cách chọn mẫu:

* Đơn vị mẫu: Hộ gia đình

2 / 1

) 1 (

d

p p Z



n: cỡ mẫu nghiên cứu

Chọn α=0,05 với độ tin cậy 95% thì Z

120 hộ

* Cách chọn mẫu:

- Bước 1: Bằng phương pháp rút thăm chúng tôi chọn được thị trấn Trường Sơn trong 2 thị trấn và 2 xã An Tiến, Quốc Tuấn trong 15 xã

Trang 20

- Bước 2: Chọn ngẫu nhiên ở thị trấn hai khu dân cư, mỗi xã hai thôn chúng tôi chọn được 2 khu dân cư là Văn Tràng 1 và An Tràng, 4 thôn là Đông Nham 1, Đâu Kiên, An Luận, Tiên Hội để điều tra

- Bước 3: Lập danh sách các hộ gia đình ở các khu dân cư và các thôn đã chọn Chọn ngẫu nhiên hộ đầu tiên theo cách quay cổ chai, chọn hộ tiếp theo bằng cách cổng liền cổng cho đến khi đủ cỡ mẫu Trong quá trình điều tra các

hộ vắng hoặc đóng cửa hoặc từ chối tham gia nghiên cứu sẽ được thay thế bằng các hộ kế tiếp Mỗi hộ gia đình phỏng vấn chủ hộ hoặc người đại diện

* Kỹ thuật thu thập thông tin: Chúng tôi tiến hành phỏng vấn đối tượng bằng bộ câu hỏi tại nhà về thực trạng và kiến thức sử dụng thuốc, kết hợp với quan sát tủ thuốc, hộp thuốc của hộ gia đình, quan sát lượng thuốc dự trữ có biến đổi về màu sắc, hình dạng hay không (mang tính chất cảm quan), hạn sử dụng của thuốc theo bảng quan sát Chúng tôi lựa chọn 10 điều tra viên để tiến hành thực hiện nghiên cứu là các bác sỹ tại ba trạm y tế thị trấn, xã và các bác sỹ của trường Đại học Y Hải Phòng

Trang 21

2.2.3 Các biến số nghiên cứu:

Mục

tiêu Biến số Định nghĩa biến

Phương pháp thu thập thông tin

Công

cụ thu thập thông tin Các

- Tính theo năm dương lịch

- Phân giới nam, nữ

- Nghề chính hiện đang làm, hoặc trước đó đã làm đối với những người về hưu

- Tính theo cấp học

- Có hoặc không

- Tình trạng hiện tại

- Tính tổng thu nhập bằng đồng Việt Nam trong 1 năm

- Số con hiện đang sống

Phỏng vấn

Bộ câu hỏi phỏng vấn

- Số người và số lần bị bệnh của mỗi người bệnh tính từ đầu năm đến khi nghiên cứu

- Bệnh và triệu chứng theo khai báo của người dân

Phỏng vấn, tham khảo giấy ra viện, sổ

y bạ

Bộ câu hỏi phỏng vấn

Trang 22

- Tỷ lệ người đi mua thuốc không có đơn

- Tỷ lệ người đi mua thuốc

- Hiệu quả theo người bệnh

là khỏi, hoặc vào khám chữa tại trạm, bệnh viện

- Các biểu hiện bất thường sau khi tự dùng thuốc

- Các địa chỉ cung cấp thông tin về sức khoẻ cho người dân

Bảng quan sát

Trang 23

- Thay đổi của

thuốc

- Những biến đổi về hình dạng, màu sắc so với ban đầu

- Các loại biệt dược khác nhau của một hoạt chất

- Những tác dụng không mong muốn của thuốc

- Có đơn thuốc hay không

- Các mức độ từ rất cần thiết đến không cần

Phỏng vấn

Bộ câu hỏi phỏng vấn

2.2.4 Xử lý số liệu

Các số liệu được mã hoá và xử lý bằng phương pháp thống kê y học trên phần mềm SPSS 15.0, sử dụng test χ2 để so sánh các tỷ lệ với mức ý nghĩa thống kê p< 0,05

2.2.5 Sai số và cách khống chế:

* Những sai số có thể:

- Sai số nhớ lại

Trang 24

- Sai số do thu thập thông tin (phụ thuộc vào tính chủ quan của đối tượng nghiên cứu, của cộng tác viên)

* Cách khống chế sai số:

- Bộ phiếu điều tra được kiểm duyệt qua các chuyên gia và được điều tra thử 10 hộ gia đình

- Tập huấn cho các điều tra viên về bộ câu hỏi, bảng quan sát

- Giới hạn thời gian của một số câu hỏi trong bộ phiếu điều tra

- Hỏi lại đối tượng và hỏi nhiều câu hỏi liên quan đến vấn đề chưa rõ, quan tâm

- Tôn trọng những ý kiến của đối tượng được phỏng vấn

- Kiểm tra số liệu, chất lượng phiếu hàng ngày

2.2.6 Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành có sự đồng ý của lãnh đạo địa phương Mục tiêu nghiên cứu được giải thích và được sự đồng ý hợp tác bằng miệng của đối tượng nghiên cứu, đảm bảo bí mật những thông tin mà họ cung cấp

Nội dung nghiên cứu được triển khai đúng nội dung đề cương đã được hội đồng đánh giá đề cương phê duyệt

Trang 25

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong 2 tuần thực hiện nghiên cứu tại huyện An Lão, thực tế chúng tôi

đã điều tra được 450 hộ gia đình với sự phân bố như sau: Thị trấn Trường Sơn: 172 hộ, xã An Tiến: 150 hộ, xã QuốcTuấn: 128 hộ

3.1 Thực trạng sử dụng thuốc của người dân huyện An Lão, Hải Phòng 3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi và nghề nghiệp

Nghề nghiệp

Nhóm tuổi Nông dân Công nhân viên chức Công, Khác Tổng

SL % Thị trấn

Trang 26

3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới và trình độ học vấn

Trung học cơ sở 47 62 28 16 21 66 240 53,33 Trung học phổ thông 13 19 35 30 6 8 111 24,67

Nhận xét: Đối tượng điều tra nữ nhiều hơn nam giới, trình độ học vấn chủ yếu

là trung học cơ sở (53,33%), trung học phổ thông (24,67%), không biết chữ chiếm 2,44 %, chuyên ngành y 0,45%

Bảng 3.3 Số con của đối tượng

Trang 27

Nhận xét: Số gia đình điều tra có ≤ 2 con chiếm tỷ lệ 80,89%, ≥ 3 con là 19,11%

3.1.2 Thực trạng sử dụng thuốc của người dân tại huyện An Lão

Bảng 3.4 Số người và số lượt bị bệnh trong năm theo nhóm tuổi

Nhận xét: Số người có bị bệnh là 220 (48,89%) với số lượt bị bệnh là 1,50 (8,70% số người không nhớ số lần ốm) Nhóm người bị bệnh có tỷ lệ cao nhất là từ 50-59 tuổi chiếm 13,33%, bị bệnh ít nhất là nhóm người dưới 30

Địa điểm Nhóm tuổi

Thị trấnTS n= 172

Xã AT n= 150

Xã QT n=128

tuổi

Số người trong năm bị bệnh 13 23 13 49 10,89 Trung bình số lượt bị bệnh 1,20 1,60 2,00 1,50 40-49

tuổi

Số người trong năm bị bệnh 21 13 14 48 10,67 Trung bình số lượt bị bệnh 1,20 1,30 2,10 1,40 50-59

Trang 28

tuổi Nhóm người ≥ 60 tuổi có tỷ lệ bị bệnh thấp hơn là 8,22%, tuy nhiên trung bình số lượt bị bệnh ở nhóm này lại cao nhất chiếm 1,80

Bảng 3.5 Nơi khám chữa bệnh của người dân

Địa điểm

Nơi khám

chữa bệnh

Thị trấn TS (1), n=80

Xã AT (2), n= 70

Xã QT (3), n= 70

Tổng, n=220

Số lượt chọn

Số lượt chọn

Số lượt chọn

Số lượt chọn %

Nhận xét: Người dân 3 xã chọn phương pháp tự điều trị khi bị bệnh chiếm tỷ

lệ cao nhất 56,82%, tiếp theo là đến trạm y tế (29,09%) và cơ sở y tế tư (25,91%), bệnh viện huyện chiếm 18,64%, còn các cơ sở tuyến trên và đến thầy lang, cúng bái thì được lựa chọn ít hơn Quốc Tuấn là xã có tỷ lệ lựa chọn tự điều trị cao nhất 61,43%, tiếp theo là xã An Tiến, thấp nhất là thị trấn

Trang 29

Trường Sơn với tỷ lệ 50% Sự khác biệt này giữa các xã không có ý nghĩa thống kê với p>0,05

Bảng 3.6 Tỷ lệ mắc một số bệnh và triệu chứng của người dân

Ỉa chảy 1 3 3 6 1 6 5 2,94 15 4,82 20 4,16

Đau khớp, cột sống 4 19 1 4 15 8 20 11,76 31 9,97 51 10,60 Bệnh tim mạch 6 4 1 1 7 4,12 5 1,61 12 2,49 Suy nhược cơ thể 4 8 1 2 1 7 4,12 9 2,89 16 3,33 Bệnh phụ khoa 1 8 2 10 3 4 6 3,53 22 7,07 28 5,82 Tai nạn, thương

Khác 9 12 5 3 16 13 30 17,65 28 9,00 58 12,06 Tổng 57 118 48 109 65 84 170 35,34 311 64,66 481 100

Nhận xét: Các bệnh và triệu chứng chiếm tỷ lệ cao nhất ở cả 3 xã trong cả hai trường hợp có đơn hay không có đơn: cảm cúm (30,35%); ho , sốt (27,24%) Nhóm bệnh này trong trường hợp không có đơn chiếm tỷ lệ cao hơn có đơn Còn nhóm bệnh khác như tim mạch, tai nạn thương tích chiếm tỷ lệ thấp hơn

và ở trường hợp không đơn thì có tỷ lệ thấp hơn ở trường hợp có đơn

Trang 30

Bảng 3.7 Phương pháp điều trị

Địa điểm

Phương pháp

Thị trấn TS (1)

Xã AT (2)

Xã QT

Số lượt % lượt Số % lượt Số % lượt Số % Tây y 65 77,38 70 93.33 62 82,66 197 84,19

Nhận xét: Người dân sử dụng phương pháp điều trị bằng tây y là phổ biến Tỷ

lệ người dân sử dụng phương pháp tây y để điều trị ở xã An Tiến cao hơn ở thị trấn Trường Sơn, và cũng cao hơn ở xã Quốc Tuấn Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p< 0,05

Bảng 3.8 Tỷ lệ sử dụng thuốc tây y có hay không theo đơn và nơi mua thuốc

Địa điểm

Đơn thuốc

Hiệu thuốc Nhà thầy thuốc Chợ Khác Tổng

Số lượt %

Số lượt %

Số lượt %

Số lượt %

Số lượt %

Có 71 27,95 16 6,30 5 1,97 3 1,57 95 37,40 Không có 102 40,16 48 18,90 5 1,97 4 1,18 159 62,60 Tổng 173 68,11 64 25,20 10 3,94 7 2,75 254 100

Trang 31

Nhận xét: Người dân sử dụng thuốc tây y có đơn chiếm 37,40% tổng số lượt

sử dụng, thấp hơn khi sử dụng không có đơn (62,60%) Đa số người dân đến mua thuốc theo đơn hoặc không có đơn tại hiệu thuốc, tiếp theo là tại nhà thầy thuốc

Bảng 3.9 Phân bố sử dụng thuốc theo đường dùng

Địa điểm

Đường dùng

Thị trấn TS

Trang 32

Bảng 3.10 Phân bố sử dụng thuốc theo nhóm thuốc

giảm đau 24 35 31 73 43 51 98 34,15 159 35,73 Thuốc giảm ho 12 29 9 14 16 21 37 12,89 64 14,38 Thuốc chống

Trang 33

Nhận xét: Các loại thuốc hay sử dụng nhiều nhất là hạ sốt, giảm đau 34,15% (có đơn), 35,73% ( không có đơn), rồi đến kháng sinh 25,78% (có đơn), 22,92 (không có đơn), tiếp theo là thuốc giảm ho, vitamin Tỷ lệ sử dụng kháng sinh không có đơn ở xã An Tiến cao hơn thị trấn Trường Sơn, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p< 0,05

Bảng 3.11 Tỷ lệ tuân thủ điều trị theo đơn

Địa điểm

Tuân thủ

điều trị

Thị trấn TS (1)

Xã AT (2)

Xã QT

Có 30 85,71 18 81,82 26 83,87 74 84,09 Không 5 14,29 4 18,18 5 16,13 14 15,91

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.3. Số con của đối tượng. - Thực trạng sử dụng thuốc tại nhà của người dân huyện an lão hải phòng năm 2012
Bảng 3.3. Số con của đối tượng (Trang 26)
Bảng 3.5. Nơi khám chữa bệnh của người dân. - Thực trạng sử dụng thuốc tại nhà của người dân huyện an lão hải phòng năm 2012
Bảng 3.5. Nơi khám chữa bệnh của người dân (Trang 28)
Bảng 3.7. Phương pháp điều trị. - Thực trạng sử dụng thuốc tại nhà của người dân huyện an lão hải phòng năm 2012
Bảng 3.7. Phương pháp điều trị (Trang 30)
Bảng 3.11. Tỷ lệ tuân thủ điều trị theo đơn. - Thực trạng sử dụng thuốc tại nhà của người dân huyện an lão hải phòng năm 2012
Bảng 3.11. Tỷ lệ tuân thủ điều trị theo đơn (Trang 33)
Bảng  3.13.  Thời  gian  sử  dụng  kháng  sinh  không  có  đơn  trong  một  đợt  điều trị - Thực trạng sử dụng thuốc tại nhà của người dân huyện an lão hải phòng năm 2012
ng 3.13. Thời gian sử dụng kháng sinh không có đơn trong một đợt điều trị (Trang 35)
Bảng 3.14. Các biểu hiện bất thường sau khi sử dụng thuốc. - Thực trạng sử dụng thuốc tại nhà của người dân huyện an lão hải phòng năm 2012
Bảng 3.14. Các biểu hiện bất thường sau khi sử dụng thuốc (Trang 35)
Hình 3.1.  Lý do của việc tự mua thuốc sử dụng. - Thực trạng sử dụng thuốc tại nhà của người dân huyện an lão hải phòng năm 2012
Hình 3.1. Lý do của việc tự mua thuốc sử dụng (Trang 36)
Hình 3.2. Nguồn cung cấp thông tin sức khoẻ cho người dân. - Thực trạng sử dụng thuốc tại nhà của người dân huyện an lão hải phòng năm 2012
Hình 3.2. Nguồn cung cấp thông tin sức khoẻ cho người dân (Trang 37)
Bảng 3.17. Đặc điểm của thuốc dự trữ tại nhà của người dân. - Thực trạng sử dụng thuốc tại nhà của người dân huyện an lão hải phòng năm 2012
Bảng 3.17. Đặc điểm của thuốc dự trữ tại nhà của người dân (Trang 38)
Bảng 3.18. Các nhóm thuốc dự trữ tại hộ gia đình. - Thực trạng sử dụng thuốc tại nhà của người dân huyện an lão hải phòng năm 2012
Bảng 3.18. Các nhóm thuốc dự trữ tại hộ gia đình (Trang 39)
Hình 3.3. Kiến thức của người dân về điều kiện trong việc mua thuốc. - Thực trạng sử dụng thuốc tại nhà của người dân huyện an lão hải phòng năm 2012
Hình 3.3. Kiến thức của người dân về điều kiện trong việc mua thuốc (Trang 46)
Hình 3.4. Kiến thức của người dân về tên gọi của thuốc. - Thực trạng sử dụng thuốc tại nhà của người dân huyện an lão hải phòng năm 2012
Hình 3.4. Kiến thức của người dân về tên gọi của thuốc (Trang 47)
Bảng 3.26.  Sự quan tâm đến tên thuốc của người dân khi sử dụng thuốc. - Thực trạng sử dụng thuốc tại nhà của người dân huyện an lão hải phòng năm 2012
Bảng 3.26. Sự quan tâm đến tên thuốc của người dân khi sử dụng thuốc (Trang 49)
Bảng 3.27. Sự quan tâm đến liều dùng của người dân khi sử dụng thuốc. - Thực trạng sử dụng thuốc tại nhà của người dân huyện an lão hải phòng năm 2012
Bảng 3.27. Sự quan tâm đến liều dùng của người dân khi sử dụng thuốc (Trang 49)
Hình 3.5: Sự cần thiết phải dùng thuốc theo đơn - Thực trạng sử dụng thuốc tại nhà của người dân huyện an lão hải phòng năm 2012
Hình 3.5 Sự cần thiết phải dùng thuốc theo đơn (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w