Tổng kết của UNICEF về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại khu vực Châu Á năm 2002 cho thấy tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi trong 2 tuần là khá cao: Nepal là 43,1%; P
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng công trình nghiên cứu này là do tự bản thân tôi thực hiện, không trùng lặp với bất kỳ một công trình nào của các tác giả khác Các số liệu trong bản luận văn là trung thực Tôi xin chịu trách nhiệm
về lời cam đoan này
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành bản luận văn thạc sỹ chuyên ngành Y tế công cộng, tôi xin bày tỏ tình cảm và những lời cảm ơn trân trọng đặc biệt nhất tới:
- PGS.TS.Đinh Văn Thức – Trưởng phòng Đào tạo Sau đại học trường đại học Y Dược Hải Phòng, người thầy đã tận tình ủng hộ, động viên, giúp
đỡ và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành bản luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành tới:
- Đảng ủy, Ban giám hiệu trường Đại học Y Hải Phòng
- Phòng đào tạo sau Đại học trường Đại học Y Hải Phòng
- Đảng ủy, Ban giảm đốc Bệnh viện Trẻ Em Hải Phòng
- Tập thể khoa Hô Hấp - Bệnh viện Trẻ Em Hải Phòng
- Toàn bộ cán bộ, giảng viên khoa Y tế công cộng - trường Đại học Y Hải Phòng
- Phòng kế hoạch tổng hợp Bệnh viện Trẻ Em Hải Phòng
Cuối cùng tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, các bạn đồng nghiệp cùng tập thể anh chị em học viên lớp cao học Y tế công cộng khoá 7 đã động viên ủng hộ tôi rất nhiều trong quá trình hoàn thành luận văn này
Trang 3K.A.S Knowledge Attitude Skill
(Kiến thức - Thái độ - Kỹ năng)
KVP Không viêm phổi
NC Nghiên cứu
NKHHCT Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
NVYT Nhân viên y tế
NXB Nhà xuất bản
PTTH Phổ thông trung học
SDD Suy dinh dưỡng
THCS Trung học cơ sở
TTGDSK Truyền thông giáo dục sức khỏe
UNICEF United Nations Internaltional Children’s Emergency Fund (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc)
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
ĐẶT VẤN ĐỀ v
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái niệm, phân loại nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 3
1.1.1.Khái niệm 3
1.1.2.Phân loại các trường hợp nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 3
1.2 Chương trình NKHHCT 4
1.3 Tình hình mắc NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới và tại Việt Nam 6
1.3.1 Tình hình mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi trên Thế giới 6
1.3.2 Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại Việt Nam 8
1.4 Kiến thức và thực hành của bà mẹ về NKHHCT 11
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 15
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 15
2.3 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu 17
2.4 Các biện pháp khắc phục sai số 21
2.5 Xử lý số liệu: 22
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu 22
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đặc điểm dịch tễ học NKHHCT ở trẻ từ 2 tháng – 5 tuổi tại khoa Hô hấp – bệnh viện Trẻ Em Hải Phòng 23
Trang 53.2 Một số thông tin chung về mẹ 27
3.2.1 Kiến thức của bà mẹ có con 02 tháng – 5 tuổi về NKHHCT 30
3.2.2 Thực hành chăm sóc trẻ mắc NKHHCT 37
3.2 Kiến thức – thực hành của bà mẹ về NKHHCT 42
Chương 4: BÀN LUẬN 47
4.1 Đặc điểm dịch tễ học bệnh nhiễm khuẩn hô cấp tính ở trẻ từ 02 tháng - 5 tuổi tai khoa Hô Hấp – bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2013 47
4.2 Kiến thức, thực hành của bà mẹ có con dưới 5 tuổi về NKHHCT 54 4.2.1 Kiến thức của bà mẹ về NKHHCT 54
4.2.2 Thực hành của bà mẹ về NKHHCT 58
KẾT LUẬN 63
1 Tỷ lệ về NKHHCT ở trẻ từ 2 tháng – 5 tuổi 63
2 Kiến thức – thực hành của bà mẹ về NKHHCT 63
KHUYẾN NGHỊ 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
PHỤ LỤC 73
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Tình hình NKHHCT ở một số nước Châu Á [8] 6 Bảng 1.2 Số liệu tử vong trẻ em do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại một số nước trên Thế giới [25] 7 Bảng 3.1 Phân bố tỷ lệ trẻ mắc NKHHCT điều trị tại khoa Hô hấp theo số bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện 23 Bảng 3.2 Phân bố trẻ mắc NKHHCT điều trị tại khoa Hô hấp theo tháng vào viện 24 Bảng 3.3 Phân bố trẻ từ 02 tháng – 5 tuổi mắc NKHHCT theo nhóm tuổi 25 Bảng 3.4 Phân bố trẻ từ 02 tháng – 5 tuổi mắc NKHHCT theo giới 25 Bảng 3.5 Phân bố trẻ từ 02 tháng – 5 tuổi mắc NKHHCTtheo địa dư 26 Bảng 3.6 Phân bố trẻ từ 02 tháng – 5 tuổi mắc NKHHCT theo chẩn đoán vào viện 26 Bảng 3.7 Phân bố bà mẹ có con 02 tháng – 5 tuổi theo nhóm tuổi và kiến thức, thực hành của bà mẹ về NKHHCT 27 Bảng 3.8 Phân bố nghề nghiệp của các bà mẹ có con 02 tháng – 5 tuổi theo kiến thức, thực hành của bà mẹ về NKHHCT 28 Bảng 3.9 Phân bố trình độ học vấn của bà mẹ có con 02 tháng – 5 tuổi theo chẩn đoán bệnh của con 29 Bảng 3.10 Phân bố kiến thức của bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi về NKHHCT theo chẩn đoán bệnh của con 30 Bảng 3.11 Kiến thức của bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi về các triệu chứng khi trẻ mắc NKHHCT 31 Bảng 3.12 Kiến thức của bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi về mốc thở nhanh ở trẻ dưới 5 tuổi 32 Bảng 3.13 Kiến thức của bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi về các dấu hiệu của viêm phổi nặng 32
Trang 7Bảng 3.14 Kiến thức của bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi về các dấu hiệu cần phải đưa trẻ đến các cơ sở y tế khám bệnh 33 Bảng 3.15 Tỷ lệ các bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi biết về phòng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 34 Bảng 3.16 Tỷ lệ bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi cho rằng NKHHCT có thể phòng được 34 Bảng 3.17 Phân bố các phương pháp bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi biết
để phòng NKHHCT cho trẻ 35 Bảng 3.18 Tỷ lệ các nguồn thông tin có con từ 02 tháng – 5 tuổi bà mẹ biết về phòng nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 36 Bảng 3.19 Phân bố các bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi theo chế độ nuôi con bằng sữa mẹ 37 Bảng 3.20 Phân bố bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi theo thời gian bà mẹ cai sữa cho con 38 Bảng 3.21 Phân bố thời điểm mà bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi bắt đầu cho trẻ ăn sam theo kiến thức, thực hành của bà mẹ vềNKHHCT 39 Bảng 3.22 Phân bố tỷ lệ cho con đi tiêm chủng của các bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi theo kiến thức, thực hành của bà mẹ vềNKHHCT 40 Bảng3.23 Tỷ lệ hút thuốc lá trong gia đình các bà mẹ có con từ 02 tháng –
5 tuổi theo chẩn đoán bệnh của trẻ 41 Bảng 3.24 Tỷ lệ loại bếp đun gia đình các bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi sử dụng 41 Bảng 3.25 Tỷ lệ bà mẹ có con 02 tháng – 5 tuổi đếm nhịp thở chính xác 42 Bảng 3.26 Tỷ lệ bà mẹ có con 02 tháng – 5 tuổi nhận biết dấu hiệu rút lõm lồng ngực 42 Bảng 3.27 Địa điểm bà mẹ các bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi thường đưa trẻ tới khám bệnh 43
Trang 8Bảng3.28 Thực hành sử dụng thuốc cho trẻ bị NKHHCT của bà mẹ các bà
mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi 44 Bảng 3.29 Tỷ lệ các triệu chứng bà mẹ các bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi thường theo dõi khi trẻ mắc NKHHCT 45 Bảng 3.30 Cách bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi cho trẻ ăn , uống khi trẻ
bị mắc NKHHCT 46
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất
ở trẻ em dưới 5 tuổi tại bệnh viện và ở cộng đồng trong đó hơn 90% các trường hợp tử vong tập trung ở các nước đang phát triển[14],[26],[32] Ở nhiều quốc gia, NKHHCT là nguyên nhân chính gây mắc bệnh và tử vong nhiều nhất cho trẻ em dưới 5 tuổi, tử vong do NKHHCT chiếm trên 30% tử vong chung ở trẻ em dưới 5 tuổi
Theo số liệu của Tổ chức y tế thế giới, hàng năm có khoảng 14 triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong (95% ở các nước đang phát triển) thì có tới 4 triệu trẻ chết vì NKHHCT
Tổng kết của UNICEF về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại khu vực Châu Á năm 2002 cho thấy tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi trong 2 tuần là khá cao: Nepal là 43,1%; Pakistan là 24,0%; Ân
Tại Việt Nam, chương trình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính đã được triển khai từ rất sớm và đã đạt được những kết quả đáng kể Tuy vậy, báo cáo hàng năm của Bộ Y tế cho thấy nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính luôn nằm
Trang 10trong nhóm bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất đặc biệt là ở trẻ dưới 5 tuổi [5] Các thống kê, nghiên cứu ở cả tuyến bệnh viện và ở cộng đồng đều cho thấy tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ em trong những năm gần đây không có
xu hướng thuyên giảm Tỷ lệ này là 37,50% số trẻ tại bệnh viện và 39,75% khi nghiên cứu cắt ngang tại cộng đồng [14],[24],[27]
Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc NKHHCT chiếm hàng đầu trong các bệnh ở trẻ em dưới 5 tuổi, tần suất mắc NKHHCT trung bình hàng năm ở trẻ dưới
5 tuổi là 4,1 lần/trẻ/năm Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi đến khám và điều trị NKHHCT luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong mô hình bệnh tật của trẻ dưới 5 tuổi tại các cơ sở y tế, đồng thời tử vong do NKHHCT luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng số tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi Tại các Bệnh viện có khoảng 30-40% số trẻ dưới 5 tuổi chết do NKHHCT, trong đó đa phần là chết trong vòng 24h đầu sau khi nhập viện [13]
Các nghiên cứu trên Thế giới và Việt Nam về tử vong do NKHHCT chỉ ra rằng một trong những nguyên nhân khiến cho tỷ lệ tử vong trong những giờ đầu của trẻ khi đến cơ sở y tế là do trẻ không được đưa tới các
cơ sở y tế kịp thời, bà mẹ tự điều trị tại nhà, không được xử trí trước khi đưa đến Bệnh viện hoặc xử trí nhưng không thích hợp [27]
Với những lý do như trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này với 2 mục tiêu sau:
1 Mô tả đặc điểm bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ 02 tháng - 5 tuổi điều trị tại khoa Hô Hấp- bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2013
2 Khảo sát kiến thức, thực hành về chăm sóc trẻ nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của các bà mẹ có con từ 02 tháng - 5 tuổi điều trị tại khoa
Hô Hấp- bệnh viện Trẻ em Hải Phòng năm 2013
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm, phân loại nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) được định nghĩa là tất cả các trường hợp nhiễm khuẩn (do vi khuẩn hoặc virus) ở đường hô hấp từ mũi họng cho đến phế nang Thời gian bị bệnh kéo dài không quá 30 ngày [14],[28],[43]
1.1.2 Phân loại các trường hợp nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
- Phân loại theo vị trí tổn thương (vị trí giải phẫu)
Theo TCYTTG ranh giới để phân chia nhiễm khuẩn đường hô hấp trên và đường hô hấp dưới là nắp thanh quản: đoạn trên nắp thanh quản là đường hô hấp trên, đoạn dưới nắp thanh quản là đường hô hấp dưới
Nhiễm khuẩn hô hấp trên thường hay gặp và nhẹ như ho - cảm lạnh, viêm họng cấp, viêm V.A, viêm Amiđan, viêm xoang, viêm tai giữa
Tỷ lệ trẻ mắc NKHHCT dưới gặp ít hơn (1/3 trường hợp) nhưng thường là nặng và dễ tử vong như: Viêm thanh quản, viêm nắp thanh quản, viêm thanh khí phế quản cấp, viêm phế quản cấp, viêm phổi, đặc biệt là viêm phổi cấp tính ở trẻ nhỏ có tỷ lệ tử vong cao nhất [8]
- Phân theo mức độ nặng nhẹ của bệnh
Theo TCYTTG có thể đựa vào các dấu hiệu cơ bản như ho, thở nhanh, rút lõm lồng ngực và một số dấu hiệu nguy hiểm khác để phân loại xử trí theo mức độ nặng nhẹ của bệnh
- Không viêm phổi ( nhiễm khuẩn hô hấp nhẹ): Trẻ chỉ có dấu hiệu
ho, chảy nước mũi, không thở nhanh, không rút lõm lồng ngực
- Viêm phổi ( NKHHCT thể vừa): Trẻ có dấu hiệu thở nhanh, không rút lõm lồng ngực
Trang 12- Viêm phổi nặng( NKHHCT thể nặng ): Rút lõm lồng ngực, không tím tái, vẫn uống được
- Bệnh rất nặng: Trẻ có một trong các dấu hiệu nguy hiểm sau: không uống được, co giật, ngủ li bì khó đánh thức, thở rít khi nằm yên, suy dinh dưỡng nặng Ở trẻ dưới 2 tháng có dấu hiệu bỏ bú, sốt hoặc hạ nhiệt độ, thở khò khè [8],[27],[56]
1.2 Chương trình NKHHCT
Đứng trước tính cấp bách của vấn đề NKHHCT đối với sức khoẻ trẻ
em, vào năm 1982 TCYTTG đã đề nghị xây dựng chương trình phòng chống NKHHCT ở trẻ em trên toàn cầu Mục tiêu của chương trình bao gồm [42]:
1 Giảm tử vong do NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi trong đó chủ yếu là viêm phổi
2 Từng bước giảm tỷ lệ mắc bệnh NKHHCT ở trẻ em
3 Hạn chế sử dụng thuốc, đặc biệt là kháng sinh, không hợp lý trong điều trị NKHHCT
Hiện nay Bộ y tế đang thực hiện chương trình xử trí lồng ghép bệnh trẻ em ( IMCI ) với sự tài trợ của WHO và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc trong đó có phần xử trí và phòng chống bệnh NKHHCT Việt Nam là nước thứ 2 tên thế giới(sau Brazil) thành lập và triển khai chương trình này Bộ y
tế Việt Nam đã sớm đưa chương trình phòng chống NKHHCT vào một trong các chương trình Y tế quốc gia và bắt đầu triển khai trên cả nước từ năm 1984, điều này thể hiện sự quan tâm, chú trọng của Đảng và ngành y
tế đối với việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe trẻ em Theo chương trình Hợp tác Quốc gia, tình đến năm 2000 thì 100% số xã trong cả nước đã triển khaii chương trình phòng chống NKHHCT cho trẻ dưới 5 tuổi với 3 mục tiêu chính là giảm tỷ lệ mắc, chết và sử dụng kháng sinh trong điều trị
Trang 13NKHHCT Chiến lược và các hoạt động của chương trình để đạt được mục tiêu được trình bày theo sơ đồ dưới đây [42]
tử vong do viêm phổi phối hợp với các nguyên nhân khác (sởi, ho gà, suy dinh dưỡng…) cũng giảm rõ rệt [28]
Trẻ mắc NKHHCT
được đưa đến CSYT
kịp thời
Trẻ mắc NKHHCT đến CSYT được chẩn đoán, điều trị đúng
Bà mẹ hiểu
biết về
NKHHCT
CSYT ở gần dân, được dân tin
CBYT được huấn luyện, có trình độ
Thuốc và trang thiết bị đầy đủ
TT-GDSK
Xây dựng, củng cố mạng lưới
y tế
Đào tạo, huấn luyện
Cung cấp thuốc, trang thiết bị
Chiến lược
Hoạt động
Trang 141.3 Tình hình mắc NKHHCT ở trẻ dưới 5 tuổi trên thế giới và tại Việt Nam
1.3.1 Tình hình mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ dưới 5 tuổi trên Thế giới
Hiện nay, trên thế giới, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính được thống kê là bệnh có tỷ lệ mắc và tử vong cao nhất trong các bệnh nhiễm khuẩn ở trẻ dưới 5 tuổi Theo số liệu của WHO, mỗi trẻ trung bình trong một năm mắc NKHHCT từ 4 - 9 lần, ước tính trên toàn cầu mỗi năm có khoảng 2 tỷ lượt trẻ mắc NKHHCT, trong đó khoảng 40 triệu lượt là viêm phổi và cũng theo thống kê của WHO hàng năm có khoảng 15 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong, trong đó có 4,3 triệu trẻ chết do viêm phổi (VP) cấp tính Như vậy có khoảng trên 10.000 trẻ chết do viêm phổi cho mỗi ngày, trong đó hơn 90%
số tử vong tập trung ở các nước đang phát triển [8],[25]
Bảng 1.1 Tình hình NKHHCT ở một số nước Châu Á [8]
Nước Trẻ < 5 tuổi mắc NKHHCT
trong 2 tuần (%)
Trẻ mắc NKHHCT được chăm sóc (%)
Tại hội nghị Washington (1991) về NKHHCT ở trẻ em, báo cáo về tỷ
lệ mới mắc viêm phổi hàng năm/10 0 trẻ ở Bangkok (Thái Lan) là: 7,0/100 trẻ, tại Gadchirol (Ân Độ) là 13,0/100 trẻ Các nước khu vực Châu Phi có tỷ
lệ mới mắc VP ở trẻ cao hơn như Basse (Gambia) là 17,0/100 trẻ, Maragua
Trang 15(Kenya) là 18,0/100 trẻ, trong khi đó tại các nước phát triển, tỷ lệ này thấp hơn hẳn như Chapel Hill (Mỹ) là 3,6/100 trẻ còn tại Setle (Mỹ) là 3,0/100 trẻ Như vậy các kết quả nghiên cứu về NKHHCT cho thấy đây là bệnh phổ biến ở các nước thuộc thế giới thứ 3 - các nước đang phát triển [26]
Nghiên cứu ở 19 điểm tại 16 nước đang phát triển đã cho thấy tỷ lệ tử vong do NKHHCT chiếm khoảng 1/3 so với tử vong chung ở trẻ dưới 5 tuổi, dao động từ 21% - 62% và như vậy trung bình có khoảng 7 - 20 trẻ chết /1000 trẻ/ năm là do NKHHCT Nghiên cứu tại Bangladesh cho thấy
tỷ lệ tử vong do viêm phổi chiếm 75,4% trong tổng số tử vong; tại Nepal,
tỷ lệ này là rất cao 79,8% [8]
Trẻ càng nhỏ tuổi thì tử vong do NKHHCT càng cao Thống kê hàng năm tại các nước đang phát triển, tỷ lệ tử vong do NKHHCT xảy ra ở trẻ dưới 2 tháng tuổi dao động từ 20 - 25% chết, ở trẻ dưới 1 tháng tỷ lệ tử vong dao động từ 50 - 60%, rất ít tử vong xảy ra ở trẻ em trên 5 tuổi [8] Như vậy NKHHCT ở trẻ thực sự là vấn đề thời sự của nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
Bảng 1.2 Số liệu tử vong trẻ em do nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại một
số nước trên Thế giới [25]
Địa điểm nghiên cứu Tử vong NKHHCT
Trang 161.3.2 Tình hình nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính tại Việt Nam
Ở nước ta hiện nay kinh tế đang trên đường phát triển, hệ thống và dịch vụ y tế đã có nhiều tiến bộ, rất nhiều các chương trình, dự án về y tế được triển khai, trong đó có chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ trẻ em nói chung
đã có kết quả tương đối tốt Tuy vậy hiện nay NKHHCT vẫn là nguyên nhân gây mắc bệnh và tử vong cao nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi [21]
Kết quả điều tra tại cộng đồng của dự án NKHHCT trẻ em cho thấy tần xuất mắc NKHHCT ở trẻ em dưới 5 tuổi từ 4 - 5 lần/ trẻ/ năm Ước tính ở nước ta hiện nay có 9 triệu trẻ em dưới 5 tuổi thì mỗi năm có khoảng
36 - 45 triệu lượt trẻ mắc NKHHCT ở các thể [8],[11]
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chiếm tỷ lệ cao nhất (40 - 50%) trong tổng số trẻ đến khám và chữa bệnh tại các cơ sở y tế Hiện nay tại các cơ sở chữa bệnh từ tuyến Trung ương, tuyến tỉnh, đến tuyến huyện đều quá tải do trẻ mắc NKHHCT vào điều trị [8]
Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính ở trẻ em cũng là nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở bệnh viện và cộng đồng Theo số liệu báo cáo của Bộ Y tế năm 2004 đã cho thấy tình hình mắc bệnh và tử vong do NKHHCT ở trẻ
em ở một số bệnh viện như sau: Bệnh viện Nhi Trung ương, tỷ lệ trẻ nhập viện do NKHHCT là 32,5% , tỷ lệ tử vong chiếm 20,2% tổng số tử vong ở trẻ Tỷ lệ nhập viện do NKHHCT cao gấp gần 2 lần so với bệnh tiêu chảy cấp (17,7 %) và đứng đầu trong các nguyên nhân nhập viện ở trẻ; Số trẻ mắc NKHHCT vào viện điều trị tại khoa nhi bệnh viện đa khoa thành phố
Đà Nẵng là 45,6%, số trẻ chết do viêm phổi 32,5%; Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La tử vong do viêm phổi ở trẻ em chiếm 63,2% trong tổng số tử vong ở trẻ dưới 5 tuổ i; Tại bệnh viện Chiêm Hoá, tỉnh Tuyên Quang số trẻ mắc NKHHCT vào điều trị 92,8%, tử vong do viêm phổi 88,9% ,[14],[16]
Về tử vong trẻ em trước 24 giờ tại bệnh viện: Thái Nguyên 63,5%,
Trang 17bệnh viện Nhi Trung ương 18,8%, Sơn La 41,7% [10],[30]
Theo báo cáo "Đánh giá hoạt động y tế cơ sở" năm 2004 của dự án NKHHCT trẻ em, hiện nay viêm phổi vẫn là nguyên nhân tử vong cao nhất (31,3%) trong tổng số các nguyên nhân gây tử vong trẻ, cao gấp 6 lần so với tử vong do tiêu chảy (5,1%) Trong số trẻ chết do viêm phổi chỉ có 52% trẻ được chăm sóc trước khi tử vong [5] Nguyên nhân trẻ không được chăm sóc y tế trước khi tử vong hoặc tử vong trước 24 giờ tại bệnh viện cao là vì các bà mẹ không phát hiện được dấu hiệu của bệnh, hoặc khi trẻ mắc bệnh không được chữa trị đúng đắn, đến khi bệnh nặng chuyển đi bệnh viện thì bệnh đã quá nặng [6],[29],[30]
Điều tra 14.290 trẻ dưới 5 tuổi tại 18 xã thuộc đồng bằng sông Hồng của Viện Lao và bệnh phổi cho thấy tỷ lệ tử vong là 7/1000 trẻ đẻ sống trong đó tử vong do nhiễm khuẩn hô hấp là 2,7/1000 trẻ đẻ sống [5] Kết quả điều tra ở một số phường tại Hà Nội cho thấy tỷ lệ tử vong chung là 5,2% trong đó do NKHHCT là 2,8% [13],[14]
Tác giả Nguyễn Thu Nhạn (2001) cũng nhận thấy tình hình tử vong trẻ em tại các khoa Nhi bệnh viện tỉnh trong 2 năm 1998 - 1999 tập trung vào 10 nhóm bệnh và đứng đầu vẫn là nhóm bệnh nhiễm khuẩn hô hấp Trong khi tỷ lệ tử vong chung ngày một giảm thấp, thì tỷ lệ tử vong do viêm phổi chýa giảm nhiều (nãm 1970 là 37%, nãm 1990 là 42% nãm
1995 là 35% và nãm 2000 là 40%) Như vậy tỷ lệ tử vong do viêm phổi hầu như không giảm trong suốt 30 năm qua [23],[24]
Nghiên cứu của chương trình phòng chống NKHHCT trên 8.799 trẻ tại 50 xã đồng bằng thấy tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi mắc bệnh NKHHCT cao gấp
từ 1,2 đến 2 lần so với trẻ từ 1-5 tuổi [5]
Để giải quyết vấn đề NKHHCT ở trẻ em, chương trình phòng chống NKHHCT được Bộ Y tế Việt Nam sớm đưa vào một trong các chương
Trang 18trình Y tế Quốc gia và bắt đầu triển khai trên cả nước từ năm 1984, chỉ sau
1 năm WHO triển khai chương trình ARI trên toàn cầu năm 1983 và là nước thứ 2 trên thế giới triển khai chương trình này (sau Brazil) [11] Điều này thể hiện sự quan tâm và chú trọng của Đảng và Ngành y tế đối với việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho trẻ em Theo chương trình Hợp tác Quốc gia, tính đến năm 2000 thì 100% số xã trong cả nước đã triển khai chương trình phòng chống NKHHCT cho trẻ dưới 5 tuổi với 3 mục tiêu chính là giảm tỷ lệ mắc, giảm tỷ lệ chết và giảm tỷ lệ sử dụng kháng sinh trong điều trị NKHHCT Tuy vậy theo các nghiên cứu hàng năm về NKHHCT cho thấy tỷ lệ mắc NKHHCT ở trẻ nhỏ vẫn không thuyên giảm trong những năm gần đây [23]
Trong suốt 2 thập kỷ triển khai thực hiện chương trình ARI, người ta thấy rằng tiến hành những chương trình hoạt động riêng biệt cho một đối tượng là trẻ em mặc dù có sự thành công nhất định nhưng bên cạnh đó lại bộc lộ nhiều mặt hạn chế như tốn thời gian, nhân lực, kinh phí Mặt khác, trên thực tế, hầu hết trẻ bị bệnh thường có triệu chứng của nhiều bệnh kết hợp, xử trí từng bệnh có thể dẫn đến việc điều trị thiếu toàn diện Để nâng cao hiệu quả của các chương trình y tế, WHO kết hợp UNICEF đưa ra một chiến lược mới nhằm quan tâm toàn diện đến trẻ em đó là hoạt động lồng ghép chăm sóc trẻ bệnh (IMCI) Đây là một hoạt động nhằm mục đích giảm tỷ lệ tử vong, giảm tỷ lệ mắc, giảm nguy cơ mắc bệnh nặng và hạn chế di chứng cho trẻ em tại cộng đồng, đồng thời cải thiện sức khỏe trẻ em
ở các nước đang phát triển Một trong những điểm nổi bật của chương trình này là nhấn mạnh việc phát hiện sớm bệnh cho trẻ, phân loại và xử trí đúng bệnh ngay tại tuyến cơ sở [21],[11]
Như vậy NKHHCT ở trẻ thực sự là vấn đề thời sự của nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam
Trang 191.4 Kiến thức và thực hành của bà mẹ về NKHHCT
* Kiến thức về NKHHCT của bà mẹ
Nghiên cứu của WHO cho thấy nếu bà mẹ biết dấu hiệu của viêm phổi và đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời, đồng thời nếu trẻ được xử trí đúng thì sẽ giảm được tỷ lệ mắc và tử vong do viêm phổi ở trẻ [45] Nghiên cứu tiến hành ở vùng thành phố tại Ethiopia, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính chiếm tỷ lệ 33% trong tổng số các bệnh ở trẻ nhỏ và 20% trong số tử vong
ở trẻ dưới 5 tuổi [40] Trong nghiê cứu này, tác giả đã tiến hành phỏng vấn
222 bà mẹ, hầu hết các bà mẹ không nhận biết được các dấu hiệu của viêm phổi bao gồm thở nhanh và rút lõm lồng ngực Một số các mẹ nhận biết được dấu hiệu này nhưng không phân tích lý giải được tình trạng nặng của bệnh Nghiên cứu này đã đưa ra kết luận bằng cách đưa ra các khuyến cáo
là cần tăng cường công tác giáo dục sức khoẻ và nghiên cứu sâu hơn về niền tin của cộng đồng đối với NKHHCT ở trẻ, đặc biệt nhấn mạnh vào các dấu hiệu, triệu chứng của NKHHCT mà các gia đình có thể xác định được có phải con cái của họ có bị mắc NKHHCT hay không [40]
Nghiên cứu được tiến hành tại một cơ sở y tế tại Enugu, miền đông Nigeria để xác định kiến thức của các bà mẹ về việc nhận biết viêm phổi ở trẻ trước tuổi đi học [45] Nhóm tác giả phỏng vấn 400 bà mẹ bằng bảng câu hỏi có cấu trúc và thấy rằng 65% bà mẹ nhận biết được viêm phổi qua dấu hiệu khó thở, 42% bà mẹ nhận biết được dấu hiệu thở nhanh và 26,5% biết dấu hiệu ho ở trẻ Chỉ rất ít bà mẹ nhận biết được viêm phổi qua dấu hiệu: Rút lõm lồng ngực (8,5 %) và tím tái (1%) Nghiên cứu này cũng cho thấy điểm kiến thức của các bà mẹ về các dấu hiệu viêm phổi gia tăng một cách có ý nghĩa với trình độ học vấn và tầng lớp xã hội của các bà mẹ (p
<0,05) Trong khi đó 51% các bà mẹ tin rằng dấu hiệu thở nhanh là một dấu hiệu quan trọng để xác định viêm phổi ở trẻ, một số khá lớn các bà mẹ
Trang 20(87,5%) không tin tưởng rằng các dấu hiệu muộn như là rút lõm lồng ngực, tím tái có phải là dấu hiệu biểu hiện của tình trạng bệnh nặng hay không Trên cơ sở các các tiêu chuẩn của WHO, nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng nhận biết viêm phổi ở trẻ em của các bà mẹ ở mức trung bình, trong khi đó kiến thức của các bà mẹ về các dấu hiệu chỉ điểm viêm phổi nặng ở mức rất kém Vì thế cần đẩy mạnh công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ về NKHHCT cho các bà mẹ đặc biệt là cách nhận biết các biểu hiện của viêm phổi và viêm phổi nặng [45]
* Thực hành của bà mẹ về NKHHCT
Một thực tế là dù CBYT có giỏi, được trang bị đủ thuốc men và các
phương tiện, nhưng bà mẹ không biết phát hiện dấu hiệu, chỉ đưa trẻ dến cơ
sở y tế khi bệnh đã nặng, thì khả năng cứu sống trẻ cũng rất thấp Cho nên, trong nhiều năm qua, một chiến lược mà TCYTTG cũng như chương trình NKHHCT ở Việt Nam đề ra là nâng cao khả năng phát hiện dấu hiệu NKHHCT cho bà mẹ, để đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời [16] Một số nghiên cứu đã cho thấy nên bảo bà mẹ phát hiện dấu hiệu VP và đưa trẻ đến cơ sở y tế kịp thời, đồng thời trẻ được xử lý đúng sẽ làm giảm khả năng
tử vong khoảng 20% Cách chăm sóc trẻ của bà mẹ cũng ảnh hưởng đến sức khoẻ của trẻ Bà mẹ biết cho trẻ bú sữa mẹ cũng có ảnh hưởng đến sức khoẻ của trẻ Bà mẹ biết cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu, đồng thời biết cho trẻ ăn bổ sung đúng, đủ chất dinh dưỡng sẽ phòng ngừa được 10% tử vong do NKHHCT
Với tất cả những ưu thế đó, Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu chỉ ra, nhờ được hướng dẫn về tác dụng của sữa mẹ mà đa số các bà mẹ hiện nay biết cho trẻ bú ngay sau khi trẻ sinh ra Bà mẹ cũng cho trẻ bú sữa non mà không vắt đi, trẻ được bú mẹ sau 12 tháng tuổi là phổ biến Tuy nhiên tỷ lệ trẻ ăn thêm sớm từ tháng thứ 2 còn khá phổ biến, đa số bà mẹ biết sữa mẹ
Trang 21là thức ăn tốt nhất cho trẻ, có thể cho trẻ bú đến 2 tuổi, nhưng do bận làm không thể về nhà cho trẻ bú thường xuyên được, nên phải cho trẻ ăn thêm sớm ở nông thôn đa số sau khi sinh khoảng 2 tháng đã phải đi làm, nên trẻ
đã phải cho ăn thêm khi mẹ vắng nhà, có một số bà mẹ do thiếu hiểu biết nên cho rằng sau khi sinh khoảng 2- 3 tháng sữa mẹ bị nhạt, cho nên phải cho trẻ ăn thêm sớm mới đủ cho nhu cầu của trẻ [13]
Hiện nay ở các nước đang phát triển, vẫn còn nhiều bà mẹ không biết nhận biết dấu hiệu NKHHCT, cũng như không biết chăm sóc đúng cho trẻ mắc NKHHCT [20] Một nghiên cứu ở El Alto, Bolovia cho thấy 57%
số bà mẹ được phỏng vấn không biét dấu hiệu NKHHCT, 99% trẻ mắc NKHHCT không được chăm sóc đúng, 42% số tử vong do NKHHCT và tiêu chảy là không được đưa đến cơ sở y tế kịp thời Tình trạng lạm dụng kháng sinh đẻ chữa ho, sốt đơn thuần rất phổ biến TCYTTG ước tính mỗi năm trên toàn thế giới tiêu tốn hàng tỷ đô la chỉ để chữa triệu chứng ho và sốt, trong đó một phần là do bà mẹ và gia đình tự ý mua kháng sinh chữa bệnh cho trẻ Một tổng kết của TCYTTG về điều tra hoạt động của tuyến y
tế cơ sở ở 19 nước trên thế giới (1997) cho thấy chỉ khoảng 35% bà mẹ biết dấu hiệu thở nhanh, khó thở; 57,6% bà mẹ tự mua thuốc chữa cho trẻ, nếu không đỡ mới đưa đến cơ sở y tế [35] Tại Việt Nam qua các cuộc điều tra
hộ gia đình và điều tra về kiến thức và thực hành của bà mẹ về NKHHCT cũng cho thấy, chỉ khoảng 40% bà mẹ biết dấu hiệu thở nhanh hoặc khó thở, khoảng 27% bà mẹ đã tự ý dùng thuốc kháng sinh để chữa ho cho trẻ [11]
Tình trạng cho trẻ ăn kiêng khi trẻ ho, sốt không còn phổ biến Đa số
bà mẹ cho rằng, khi trẻ có ho, sốt mà cho trẻ ăn kiêng, trẻ sẽ lâu khỏi bệnh hơn, có thể dẫn đến suy dinh dưỡng Chính vì vậy mà nhiều bà mẹ biết cho con mình ăn ngon hơn, mỗi lần cho ăn ít một, ăn nhiều bữa trong một ngày
Trang 22Tuy vậy vẫn còn nhiều bà mẹ không chú ý cho trẻ uống nhiều nước khi trẻ
ho, sốt; nhiều bà mẹ không biết được tại sao trẻ có ho, sốt lại phải cho trẻ uống thêm nước Những bà mẹ đó đều cho rằng họ không được ai giải thích
và hướng dẫn Do thiếu hiểu biết nên có nhiều bà mẹ chỉ coi trọng về bú và
ăn của trẻ chứ không chú ý đến trẻ cần uống thêm nước [16], [20]
Để bà mẹ dễ nhớ và có thể áp dụng được trong thực tế, TCYTTG khuyến cáo là cần hướng dẫn bà mẹ phát hiện 2 dấu hiệu VP quan trọng nhất là thở nhanh và rút lõm lồng ngực Thực tế ở Việt Nam cho thấy việc phát hiện dấu hiệu rút lõm lồng ngực là rất khó, ngay cả với CBYT cơ sở Hơn nữa, khi trẻ có dấu hiệu rút lõm lồng ngực thì có nghĩa là trẻ đã bị viêm phổi nặng, như thế không phải là phát hiện sớm Một thực tế khác là còn nhiều bà mẹ tự ý dùng kháng sinh cho trẻ, mà không có chỉ định của CBYT Vì các lý do đó, trong nhiều năm qua, trên các kênh truyền thông giáo dục sức khoẻ, Chương trình chỉ tập trung hướng dẫn cho bà mẹ một số nội dung như sau [45]:
* Khi trẻ có ho, sốt cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để khám và điều trị
* Phát hiện dấu hiệu thở bất thường hoặc thở khác thường (tương đương với thở nhanh hoặc khó thở-kết quả nghiên cứu về sử dụng thuật ngữ địa phương của bà mẹ)
* Khi trẻ có ho, sốt, nếu thấy trẻ bất thường cần đưa trẻ đến ngay CSYT
* Chỉ sử dụng kháng sinh cho trẻ khi có chỉ định của CBYT
* Tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch cho trẻ
Trang 23Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:
Trẻ từ 2 tháng đến 5 tuổi bị nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính điều trị tại khoa hô hấp bệnh viện Trẻ Em Hải Phòng trong thời gian nghiên cứu và các bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi mắc NKHHCT điều trị tại khoa hô hấp trong thời gian nghiên cứu
2.1.1.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Trẻ có độ tuổi từ 02 tháng – 5 tuổi được phân loại là NKHHCT theo tiêu chuẩn của TCYTTG (WHO)
● Viêm phổi(NKHHCT thể vừa) : trẻ có dấu hiệu thở nhanh( trẻ từ 2 tháng- 1 tuổi tần số thở ≥ 50l/p, 1tuổi – 5 tuổi ≥ 40l/p), không rút lõm lồng ngực, không có dấu hiệu nguy kịch
● Viêm phổi nặng( NKHHCT thể nặng) : Trẻ có dấu hiệu rút lõm lồng ngực
● Bệnh rất nặng : Nếu trẻ có một trong các dấu hiệu nguy hiểm sau : Không uống được, ngủ li bì khó đánh thức, co giật, thở rít khi nằm yên, suy dinh dưỡng nặng ở trẻ dưới 2 tháng tuổi có dấu hiệu bỏ bú, sốt hoặc hạ nhiệt độ, thở khò khè
- Những bệnh nhân trên được phân loại và điều trị do các bác sỹ chuyên khoa hô hấp bệnh viện Trẻ Em Hải Phòng
- Các bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi mắc NKHHCT điều trị tại khoa
hô hấp trong thời gian nghiên cứu
2.1.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
- Trẻ không viêm phổi( NKHHCT nhẹ): Trẻ chỉ có dấu hiệu ho, chảy nước mũi, không thở nhanh, không RLLN và không có dấu hiệu nguy kịch
Trang 24- Bà mẹ bị câm, điếc hoặc mắc các bệnh tâm thần
- Các bà mẹ có con từ 5 tuổi trở lên nhập khoa Hô Hấp
- Các bà mẹ không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Thời gian nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/8/2012 đến tháng 31/7/2013
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện tại khoa Hô Hấp - bệnh viện Trẻ em Hải Phòng
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
* Mẫu điều tra tỷ lệ NKHHCT ở trẻ từ 02 tháng -5 tuổi:
Lấy toàn bộ 3395 trẻ từ 02 tháng đến 05 tuổi điều trị tại khoa hô hấp từ
Trong đó: n: Cỡ mẫu cho điều tra
Z 2 (1-α /2): Giá trị Z được lấy ở ngưỡng α = 0,05 (Z 2 (1-α /2)= 1,96)
p: Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy Hương( p= 0.65) [22]
q: = 1 – p
d: Hệ số tương đối so với tỷ lệ ước tính, được lấy là d = 0,4
Cỡ mẫu đã tiến hành nghiên cứu là 350 Việc chọn mẫu được thực hiện theo kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên đơn Chọn tất cả các bà mẹ có con từ 02
Trang 25tháng- 5 tuổi bị NKHHCT điều trị tại khoa Hô hấp bệnh viện Trẻ Em Hải
Phòng từ ngày 01 tháng 03 năm 2013 đến khi đủ cỡ mẫu Trung bình 1
ngày khoa Hô hấp có từ 10 – 15 bệnh nhân nhập khoa, như vậy một ngày
phỏng vấn ngẫu nhiên 10 bà mẹ (sáng phỏng vấn 6 người, chiều phỏng vấn
4 người)
2.3 Các biến số và chỉ số trong nghiên cứu
Mục tiêu Tên biến Định nghĩa biến thập số liệu Cách thu
+từ 36 -60 tháng tuổi
Nam hoặc nữ -Nội thành Hải Phòng, ngoại thành Hải Phòng
các tỉnh khác Chẩn đoán: VP, VPN, VPRN
mẹ bằng bộ câu hỏi được chuẩn
Trang 26-Thở nhanh
+ Biết đọc, biết viết
là những người học chưa hết lớp 4/10 hoặc 5/12
+ Tiểu học là những người đã học hết lớp 4/10 hoặc 5/12
+ Trung học cơ sở là những người đã học hết lớp 7/10 hoặc lớp 9/12
+ Phổ thông trung học là những người
đã học hết lớp 10/10 hoặc lớp12/12
- Ho là phản xạ của đường hô hấp để tống đờm dãi ra ngoài
- Sốt khi nhiệt độ ≥ 37.5C, Hạ thân nhiệt khi nhiệt độ < 35C
- Thở nhanh khi:
+ Sơ sinh: > 60 lần/phút
bị trước
Cấu trúc bộ câu hỏi bao gồm 2 phần
Phần 1: Thu
thập thông tin chung về bà mẹ
có con dưới 5 tuổi, bao gồm các nội dung sau: tên, tuổi, nghề nghiệp, số con, học vấn, thu nhập,tình trạng tiêm chủng, tình trạng bú mẹ…
Phần 3: Thu
thập thông tin
về kiến thức, thực hành của
bà mẹ về NKHHCT Các câu hỏi được thiết kế
để đánh giá bà
mẹ về kiến thức
Trang 2740 lần/ phút
- Rút lõm lồng ngực (RLLN) là phần phía trên bờ sườn hoặc phần dưới xương ức lõm vào mỗi khi trẻ hít vào
- Thở rít là: Tiếng
thở thô ráp của trẻ hít vào
- Tiếng thở khò khè:
Là tiếng thở êm dịu hơn tiếng thở rít, nghe được khi trẻ thở ra
phát hiện dấu hiệu bệnh
trẻ, kiến thức
xử trí khi trẻ mắc NKHHCT, kiến thức dự phòng
NKHHCT cho trẻ
Trang 28- Cho trẻ ăn, uống
- Theo dõi: ho, sốt, nhịp thở, ăn, bú, uống
Tự mua, theo CBYT, khác
- Nuôi bằng sữa mẹ: + Nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ
+ Sữa mẹ và sữa bò + Không được nuôi bằng sữa mẹ
- Thời gian cho trẻ
ăn sam khi trẻ ≥ 4 tháng
+ Tiêm chủng đủ, đúng lịch: là tiêm
Trang 29đúng thời gian theo lịch tiêm chủng, đồng thời đủ số mũi tiêm và loại vacine theo độ tuổi của trẻ tại thời điểm điều tra
+ Tiêm chủng không
đủ, hoặc đủ nhưng không đúng lịch: là không đảm bảo 1 trong 3 điều kiện: đủ
số mũi, đủ loại vacine theo độ tuổi, đúng thời gian
2.4 Các biện pháp khắc phục sai số
- Sai số ngẫu nhiên do chọn mẫu: tăng cỡ mẫu lên gấp đôi
- Sai số hệ thống thu thập số liệu: Xây dựng bảng trống lấy số liệu, khám lâm sàng tỉ mỉ và chính xác
- Xây dựng bộ câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp
- Tổ chức tập huấn cho cán bộ điều tra, tiến hành điều tra thử nghiệm trước khi tiến hành điều tra chính thức
- Chuẩn bị đầy đủ phương tiện và vật tư cần thiết
Trang 302.5 Xử lý số liệu:
- Số liệu của đề tài được xử lý theo phương pháp thống kê y học, được thực hiện bởi phần mềm SPSS 16.0 để nhập, phân tích và xử lý số liệu
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được sự đồng ý và phê duyệt của Hội đồng Khoa học trường Đại học Y Hải Phòng, lãnh đạo bệnh viện Trẻ Em Hải Phòng Đối tượng được thông báo đầy đủ về mục đích và nội dung triển khai nghiên cứu Chỉ những đối tượng nào đồng ý tham gia nghiên cứu mới chọn vào nghiên cứu, tư vấn cho bà mẹ về các biện pháp chăm sóc và cách phòng bệnh để nâng cao sức khỏe cho trẻ
Nghiên cứu chủ yếu là phỏng vấn theo bộ câu hỏi, không gây ảnh hưởng tới sức khoẻ người tham gia nghiên cứu và được sự ủng hộ của ngành y tế, ban Giám đốc bệnh viện Trẻ Em Hải Phòng
Các thông tin cá nhân được tôn trọng bảo mật theo yêu cầu của đối tượng tham gia nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm mục đích góp phần bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho trẻ nhỏ mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp tính
Trang 31Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm dịch tễ học NKHHCT ở trẻ từ 2 tháng – 5 tuổi tại khoa
Hô hấp – bệnh viện Trẻ Em Hải Phòng
Bảng 3.1 Phân bố tỷ lệ trẻ mắc NKHHCT điều trị tại khoa Hô hấp theo số bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện
Tổng số bệnh nhân nhập viên trong thời gian từ 01/8/2012 đến 31/7/2013
là 26613 trẻ, trong đó có 4595 bệnh nhi nhập khoa và điều trị tại khoa hô hấp, chiếm 17,3% tổng số bệnh nhân điều trị nội trú
Trong số bệnh nhân nhập và điều trị tại khoa Hô Hấp, có 3395 trẻ có
độ tuổi từ 02 tháng đến 5 tuổi bị mắc NKHHCT, chiếm tỷ lệ 73,9%
Trang 32Bảng 3.2 Phân bố trẻ mắc NKHHCT điều trị tại khoa Hô hấp
theo tháng vào viện
346 332
386
467 434 523
Biểu đồ 3.1 Phân loại trẻ NKHHCT theo tháng vào viện
Số bệnh nhân
Trang 33Nhận xét: Bệnh nhân vào điều trị tại khoa quanh năm, cao nhất là tháng 1
Đối tượng nghiên cứu phân bố không đều giữa các nhóm tuổi
- Nhóm tuổi từ 2 tháng đến 12 tháng chiếm tỷ lệ cao nhất: 75%
- Nhóm tuổi từ trên12 tháng – 36 tháng chiếm 20,4%
- Nhóm tuổi từ trên 36 tháng – 60 tháng chiếm 4,6%
Bảng 3.4 Phân bố trẻ từ 02 tháng – 5 tuổi mắc NKHHCT theo giới
Trang 34Bảng 3.5 Phân bố trẻ từ 02 tháng – 5 tuổi mắc NKHHCTtheo địa dư
Trang 353.2 Một số thông tin chung về mẹ
Bảng 3.7 Phân bố bà mẹ có con 02 tháng – 5 tuổi theo nhóm tuổi và
Trang 36Bảng 3.8 Phân bố nghề nghiệp của các bà mẹ có con 02 tháng – 5 tuổi
theo kiến thức, thực hành của bà mẹ về NKHHCT
Tổng
Không đạt
n (%) n (%) n (%) n (%) n (%) Làm ruộng 5 20,8 19 79,2 1 4,2 23 95,8 24 6,9 Công nhân 15 23,4 49 76,6 19 29,7 45 70,3 64 18,3 Cán bộ viên
chức
9 31,1 20 68,9 6 60,7 23 39,3
29 8,3
Buôn bán 10 27,7 26 72,3 5 13,9 31 86,1 36 10,3 Nội trợ 28 26,9 76 73,1 29 27,9 75 72,1 104 29,7 khác 24 25,8 69 74,2 19 20,4 74 79,6 93 26,6
P < 0.05 P <0.05 Nhận xét:
Nghề nghiệp của các bà mẹ chủ yếu là nội trợ chiếm tỷ lệ 29,7%, công nhân chiếm tỷ lệ 18,3%, các nghề khác(kế toán, giáo viên,nhân viên y tế ) chiếm tỷ lệ 26,6% Thấp nhất là các bà mẹ làm nghề buôn bán với tỷ lệ 10,3% và cán bộ công chức là 8,3%
Sự khác nhau về kiến thức, thực hành giữa nghề nghiệp của các bà mẹ có ý
nghĩa thống kê với p < 0,05
Trang 37Bảng 3.9 Phân bố trình độ học vấn của bà mẹ có con 02 tháng – 5 tuổi
theo chẩn đoán bệnh của con
Tổng
Không đạt
n (%) n (%) n (%) n (%) n (%) Tiểu học 1 12,5 7 87,5 0 0 8 100 8 2,3 Trung học
Trình độ học vấn của các bà mẹ chủ yếu là qua trường lớp chuyên nghiệp chiếm tỷ lệ 42,6%, PTTH chiếm 30,9%, THCS chiếm 24,3%, thấp nhất là Tiểu Học chiếm 2,3% Sự khác nhau về trình độ học vấn của mẹ có ý nghĩa thống kê
Trang 383.2.1 Kiến thức của bà mẹ có con 02 tháng – 5 tuổi về NKHHCT
Bảng 3.10 Phân bố kiến thức của bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi về
NKHHCT theo chẩn đoán bệnh của con
Trang 39Bảng 3.11 Kiến thức của bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi về các triệu
Trang 40Bảng 3.12 Kiến thức của bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi về mốc thở
nhanh ở trẻ dưới 5 tuổi
Bảng 3.13 Kiến thức của bà mẹ có con từ 02 tháng – 5 tuổi về các dấu
hiệu của viêm phổi nặng
Dấu hiệu Số bà mẹ biết