1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thực trạng và công tác cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện việt tiệp hải phòng năm 2013

68 691 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo WHO, năm 2000 tai nạn giao thông là nguyên nhân thứ chín gây tử vong, chiếm 2,8% trong tổng số tử vong và trung bình mỗi ngày hơn 3000 người chết trong các tai nạn giao thông trên t

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tai nạn giao thông một vấn đề được xã hội ngày càng quan tâm, bởi số

tử vong cũng như di chứng để lại do tai nạn giao thông mà khi nghe những con số này không ai không khỏi băn khoăn Tai nạn giao thông thực sự trở thành “đại dịch” ở tất cả các nước trên thế giới, mỗi năm có hơn 1,2 triệu người chết vì tai nạn giao thông đường bộ và khoảng 50 triệu người khác bị thương (theo báo cáo của WHO và World Bank), nó để lại những hậu quả nặng nề cho người dân (tàn phế, giảm hoặc mất sức lao động, mất mát tinh thần, vật chất…) ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế quốc gia mỗi nước [21]

Với tốc độ phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ cuối thế kỷ

XX đầu thế kỷ XXI, sự ra đời của phương tiện giao thông tốc độ cao, quá trình đô thị hóa nhanh chóng, hạ tầng cơ sở dành cho giao thông phát triển mạnh mẽ… Tai nạn giao thông cũng gia tăng không ngừng, nó đồng hành phát triển cùng với các bệnh nan y khác như ung thư, HIV/AIDS…[16], [37]

Theo WHO, năm 2000 tai nạn giao thông là nguyên nhân thứ chín gây

tử vong, chiếm 2,8% trong tổng số tử vong và trung bình mỗi ngày hơn 3000 người chết trong các tai nạn giao thông trên thế giới Nếu cứ đà này đến năm

2020 số người chết và thương tật hằng ngày trên các nẻo đường trái đất sẽ tăng hơn 60%, tai nạn giao thông sẽ đứng thứ ba trong các nguyên nhân gây

tử vong ở người nếu chính phủ các nước không có biện pháp ngăn chặn [21]

Ở Việt Nam, tai nạn giao thông thực sự đang là quốc nạn , tác động xấu tới nhiều mặt trong cuộc sống [1] Không những Bộ Y tế mà nhiều bộ, ngành khác như Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công an,… cũng tham gia vào chương trình phòng chống tai nạn giao thông Đài truyền hình Việt Nam có hẳn một thời lượng riêng dành cho điểm tin an toàn giao thông vào mỗi chương trình thời sự buổi sáng Thống kê ngành y tế cho thấy mỗi năm toàn quốc có trung

Trang 2

bình khoảng hơn 400.000 trường hợp mắc tai nạn giao thông với trên 15.000 trường hợp tử vong [49]

Hải Phòng là thành phố đô thị loại I cấp quốc gia, giao thông có đầy đủ: đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không Với dân số trên 1.837.000 (theo số liệu điều tra dân số năm 2009), lưu lượng người và phương tiện tham gia giao thông ngày một tăng, trong khi đường xá và ý thức người tham gia giao thông chưa cải thiện rõ rệt… Hậu quả là số vụ tai nạn giao thông, số nạn nhân bị tử vong hoặc thương tích do tai nạn giao thông cũng tăng Theo báo cáo của Sở Y tế Hải Phòng năm 2013, số tai nạn giao thông là 6750 trường hợp với số tử vong là 44 người, trong đó trường hợp tai nạn giao thông trong độ tuổi lao động từ 20-60 tuổi là 4357 người (chiếm tỉ lệ 64,5%) [43]

Tai nạn giao thông là một vấn đề có nội dung và phạm vi nghiên cứu rất rộng Để giúp cho Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng, ngành Y tế và các ngành hữu quan như Sở Giao thông vận tải, Sở Công an… có thêm dữ liệu trong việc hoạch định chiến lược phòng chống thương tích do tai nạn giao thông tại cộng đồng có hiệu quả, nhằm kiềm chế và giảm thiểu số vụ tai nạn giao thông, số nạn nhân tai nạn giao thông Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Thực trạng và công tác cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng năm 2013” với hai mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng tai nạn giao thông đường bộ được cấp cứu tại Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng năm 2013

2 Mô tả công tác cấp cứu, xử trí, điều trị các bệnh nhân tai nạn giao thông đường bộ nói trên tại bệnh viện

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Kiến thức chung về tai nạn giao thông

1.1.1 Khái niệm về tai nạn giao thông

Tai nạn giao thông (TNGT) thực chất là một hiện tượng xã hội xuất hiện trong quá trình tham gia giao thông, vận tải hàng hóa của con người TNGT bắt đầu xuất hiện cùng với sự ra đời và phát triển của các phương tiện giao thông TNGT mang đặc tính xã hội sâu sắc, tình trạng TNGT ở mỗi quốc gia có những biểu hiện khác nhau Sự khác nhau này phụ thuộc vào các yếu

tố kinh tế, văn hóa, xã hội và trình độ quản lý của mỗi quốc gia trong việc xây dựng các tiêu chuẩn pháp lý để nhận diện TNGT [23]

Ở Việt Nam việc phòng ngừa, đấu tranh làm giảm TNGT được Chính phủ cũng như cả xã hội quan tâm Tuy nhiên việc nhận diện, đánh giá về TNGT ở nước ta vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: “TNGT là việc xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của người điều khiển phương tiện giao thông di chuyển trên đường giao thông… do vi phạm các quy tắc an toàn giao thông đã gây thiệt hại nhất định cho người và tài sản” [23]

Ở quan điểm trên, việc nhìn nhận về TNGT còn hạn hẹp và thiếu chính xác, vì TNGT xảy ra không chỉ do lỗi vi phạm các quy tắc về an toàn giao thông của người điều khiển phương tiện giao thông mà trong nhiều trường hợp còn do lỗi của các đối tượng tham gia giao thông khác (người phơi rơm

ra đường, người dựng lều quán lấn chiếm lòng, lề đường làm hạn chế tầm nhìn về giao thông…), cũng có trường hợp không có lỗi (trường hợp bất khả kháng, trong thế cấp thiết…) Hơn nữa, TNGT xảy ra không chỉ là ngoài ý

Trang 4

muốn của người điều khiển phương tiện giao thông mà nó còn là sự kiện bất ngờ, xảy ra ngoài ý muốn của cả người bị hại và người xung quanh Đó là trường hợp để phân biệt các trường hợp tự tử với những người bị hại trong một vụ TNGT [23]

Quan điểm thứ hai lại cho rằng: “TNGT là tai nạn xảy ra trên lĩnh vực giao thông, gây thiệt hại cho người và tài sản ngoài ý muốn chủ quan của người gây tai nạn” [23] Với quan điểm này việc xác định TNGT lại quá tràn lan không chỉ rõ được chủ thể hành vi, cũng như tính chất hành vi và không gian địa điểm xảy ra hành vi gây tai nạn Bởi vì trong thực tế không phải bất

cứ loại tai nạn nào xảy ra trên lĩnh vực giao thông cũng là TNGT [23]

Quan điểm thứ ba là quan điểm khá phổ biến thì cho rằng: “TNGT là

sự việc xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc địa bàn công cộng gây thiệt hại về sức khỏe, tính mạng con người hoặc tài sản” [23] Quan điểm này tuy khắc phục được một số yếu điểm cơ bản nhưng chưa xác định chính xác

“tính chất bất ngờ, ngoài ý muốn con người” của hậu quả trong TNGT Do đó

sẽ dẫn đến nhầm lẫn giữa TNGT và một số loại tội phạm khác do liên quan đến hoạt động giao thông (giết người, cố ý gây thương tích, cố ý hủy hoại tài sản của công dân… bằng phương tiện giao thông)

Về mặt lý luận, TNGT là một loại tai nạn cụ thể Vì vậy TNGT thể hiện đặc tính bao trùm nhất của tai nạn nói chung: “Tính bất ngờ, rủi ro, nằm ngoài

ý muốn chủ quan của con người và hậu quả xảy ra” [23] Xuất phát từ quan điểm này khi phân tích, đánh giá về một vụ TNGT giáo sư Pan LB Weson- Chủ nhiệm bộ môn khoa học cảnh sát trường Đại học Sarramento Califolia cho rằng: “Tai nạn giao thông được mô tả như một biến cố, một sự việc xảy ra một cách bất ngờ, không dự liệu, có tính may rủi và không tránh được việc dẫn đến một hậu quả không hay, không mong muốn đã xảy ra”

Trang 5

Hơn nữa TNGT là một loại tai nạn cụ thể của tai nạn xã hội, mang tính đặc thù của hoạt động giao thông, nên nó chỉ xảy ra khi các đối tượng tham gia đang hoạt động trên đường giao thông Trên cơ sở phân tích đó, TNGT được khái niệm như sau: “Tai nạn giao thông là sự kiện bất ngờ, nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người Nó xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng Nhưng do chủ quan

vi phạm các quy tắc an toàn giao thông hoặc do gặp phải tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, đã gây ra những thiệt hại nhất định cho tính mạng sức khỏe con người hoặc tài sản của Nhà nước và nhân dân” [23]

Nạn nhân TNGT là những nạn nhân đang chuyển động trên đường giao thông (đi bộ, đi xe đạp, đi xe máy, đi ô tô…) tự ngã hoặc bị phương tiện khác đâm phải mình và ngược lại Dẫn đến bị vết thương phần mềm, chảy máu, gãy xương, CTSN… cần đến sự chăm sóc hoặc điều trị y tế, hoặc bị hạn chế sinh hoạt hàng ngày mất tối thiểu một ngày [58], [59]

Tử vong do TNGT là những nạn nhân tử vong do nguyên nhân TNGT trong vòng một tháng khi xảy ra tai nạn [11]

1.1.2 Mô hình dịch tễ học tai nạn giao thông

TNGT được coi là nhóm bệnh hay quá trình bệnh, chứa đựng đầy đủ các cấu phần của diễn biến bệnh, lịch sử tự nhiên của bệnh và các yếu tố dịch

tễ học của bệnh [11] [61]

TNGT luôn luôn tồn tại tối thiểu dưới dạng của các tình trạng bệnh, các biện pháp kiểm soát TNGT rất phong phú và được sử dụng rộng rãi J.E.Gordon từ khoảng hơn 30 năm trước đã cho rằng TNGT khi được đặc tính hóa theo vụ dịch, thay đổi mang tính chất mùa, xu hướng dài và các sự phân

bố theo vùng địa lý, kinh tế xã hội, thành thị nông thôn thì nó tự thể hiện theo nhiều khía cạnh hay phương diện khác nhau giống như các bệnh truyền nhiễm rất cổ điển và các dạng bệnh họ khác đã được thể hiện cặn kẽ Trong thực tế

Trang 6

tất cả các phân bố TNGT được biết thì rất không ngẫu nhiên theo khía cạnh thời gian, nơi chốn và con người [5], [64], [66]

Dựa trên kinh nghiệm của những người tiền nhiệm trong việc điều tra, nghiên cứu các bệnh truyền nhiễm, nhiều nhà dịch tễ học về TNGT đã tiến hành điều tra của họ khi lưu tâm đến mô hình lý thuyết được các nhà bệnh truyền nhiễm phát triển Các khía cạnh trọng tâm của quá trình này bao gồm vật chủ (người bị TNGT), tác nhân gây TNGT, vật hay vector chuyên chở tác nhân, cũng như các yếu tố môi trường khác [60]

So sánh dịch tễ học của bệnh sốt rét và chấn thương sọ não do đi xe máy bị TNGT [65]

Vật truyền trung gian Muỗi Anopheles Xe máy

Yếu tố cá thể/vật chủ Đáp ứng miễn dịch

thấp

Say rượu, trẻ tuổi, nam giới, mệt mỏi…

Yếu tố phương tiện Màn chống muỗi Xe máy

Yếu tố môi trường

Nhà không được phun thuốc muỗi, gần ao, mưa nhiều

Đường cua không có biển báo, mặt đường trơn do mưa, mặt đường lồi lõm

Yếu tố thời gian/khả

Trang 7

Dịch tễ học TNGT tìm tòi, xác định yếu tố nguy cơ, các nhóm đích và trả lời các câu hỏi: Ai? Cái gì? Khi nào? Ở đâu? Tại sao? Khi sự kiện TNGT xảy ra [62], [63]

1.1.3 Nguyên nhân gây tai nạn giao thông

TNGT là những tai nạn xảy ra trên đường công cộng dành cho con người và các phương tiện giao thông đi lại Có hậu quả là một hoặc nhiều người bị chết, hoặc bị tổn thương, và có ít nhất một phương tiện giao thông liên quan Các TNGT cũng bao gồm cả những va chạm người, xe cộ, động vật, vật cố định trên đường Những trường hợp do tự ngã trên đường (không

va chạm với bất cứ ai, cái gì trên đường) cũng được tính là TNGT [18], [23]

Có năm nguyên nhân chính sau:

Một là, công tác quản lý về trật tự ATGT còn lỏng lẻo, công tác tuyên truyền hướng dẫn luật lệ giao thông chưa thường xuyên và liên tục [18]

Hai là, hiện tượng coi thường kỷ cương trật tự giao thông, vi phạm pháp luật, chuyển hướng thiếu thận trọng, chở quá quy định, say bia rượu, chất kích thích khi điều khiển phương tiện giao thông [18]

Chứng tỏ nguyên nhân dẫn đến TNGT là do người điều khiển phương tiện tham gia giao thông do chính ý thức chủ quan của họ, do thiếu hiểu biết luật lệ giao thông hoặc có hiểu biết luật lệ giao thông nhưng cố tình vi phạm

Với người điều khiển phương tiện giao thông có giấy phép lái xe chiếm

tỉ lệ tương đối cao nhưng thực chất việc học luật và sát hạch cấp giấy phép lái

xe chất lượng không cao, lấy giấy phép lái xe chỉ để đối phó khi lực lượng cảnh sát giao thông kiểm tra, còn mục đích để hiểu biết và chấp hành nghiêm túc luật lệ giao thông bị cọi nhẹ Do đó số vụ TNGT mà phần lớn là người điều khiển có giấy phép lái xe, những lỗi gây tai nạn mà chủ yếu là do không chấp hành luật lệ giao thông

Trang 8

Ba là, cơ sở hạ tầng giao thông (đường xá, cầu cống, tổ chức chỉ huy giao thông, biển báo, tín hiệu giao thông của mạng lưới giao thông đường bộ) còn nhiều yếu kém, chưa đáp ứng được với sự phát triển và nhu cầu của giao thông vận tải (GTVT) Cộng với sự tàn phá làm hư hỏng, xuống cấp đường

xá, cầu cống do thiên tai, khí hậu Từ đó ảnh hưởng tới an toàn giao thông và tai nạn tăng Đặc biệt công tác tổ chức giao thông ở các thành phố lớn chưa khoa học, chưa hợp lý, trật tự ATGT chưa được đảm bảo [18]

Bốn là, do phương tiện ô tô, mô tô, xe gắn máy… tăng quá nhanh về số lượng chủng loại, chất lượng không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn cũng

là nguyên nhân gây TNGT [18]

Những năm gần đây số lượng mô tô, xe gắn máy, ô tô lưu hành ở nước

ta tăng quá nhanh Nhà nước cho phép nhập cả xe đã qua sử dụng, xe mới đa dạng về chủng loại của tất cả các nước, chưa có sự phối hợp của Bộ GTVT và

Bộ Nội vụ do đó số lượng phương tiện này tăng vọt Trong khi cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được, cơ quan chức năng kiểm định kỹ thuật an toàn đối với loại phương tiện này đang buông lỏng để tự do tham gia giao thông cũng là một nguyên nhân làm tăng TNGT

Năm là, các lực lượng có chức năng kiểm tra, kiểm soát xử lý vi phạm

về trật từ ATGT chưa triệt để, chưa nghiêm theo Nghị định 49/CP… của Chính phủ [10], [23]

1.1.4 Xu hướng của tai nạn giao thông

Theo WHO thì số liệu thống kê trong những năm gần đây cho thấy tỷ lệ các bệnh truyền nhiễm có xu hướng thuyên giảm nhưng tỷ lệ thương tích do TNGT vẫn không thay đổi mà có xu hướng gia tăng [55], [57]

Với những nước đang phát triển người ta cho rằng: “Chuyển dịch dịch

tễ học” tình hình bệnh tật từ chủ yếu là bệnh truyền nhiễm sang các bệnh không truyền nhiễm trong đó có thương tích do TNGT [55], [57]

Trang 9

Những thay đổi về dân số học (cấu trúc tuổi, đô thị hóa) đã tác động lên dịch tễ học thương tích TNGT một cách cơ bản thông qua việc tăng những trượng hợp TNGT ở lứa tuổi trẻ và nam giới [57]

Sự gia tăng cơ giới hóa giao thông ở các nước đang phát triển là một ví

dụ thuyết phục nhất cho hậu quả có hại không mong muốn của sự thay đổi công nghệ Ví dụ ở Thái Lan tỉ lệ tử vong do ô tô tăng 30% mỗi năm, chỉ riêng tử vong do giao thông đã chiếm nhiều hơn cả Lao và Sốt rét cộng lại [62], [65]

1.1.5 Các yếu tố gây tai nạn giao thông

Ở các nước đang phát triển TNGT như là hậu quả của sự thay đổi công nghệ và phát triển kinh tế, đó là cái giá phải trả cho sự phát triển [55]

Sự gia tăng cơ giới hóa giao thông, sự đô thị hóa, thay đổi công nghệ ở các nước đang phát triển là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng TNGT ở các nước này Điển hình là ở Thái Lan, năm 1947 nguyên nhân

tử vong do TNGT chỉ đứng hàng thứ sáu nay chuyển lên hàng thứ nhất Chỉ riêng các trường hợp tử vong do TNGT đã chiếm số năm sống tiềm tàng bị mất nhiều hơn cả các trường hợp tử vong do Lao và Sốt rét cộng lại [26]

Theo Lopez ở các nước đang phát triển: Nam giới có nguy cơ TNGT thường cao hơn nữ giới, những người uống rượu có nguy cơ TNGT cao hơn người không uống, những trẻ được giáo dục ATGT thấp có nguy cơ TNGT cao hơn những trẻ được giáo dục ATGT cao [56]

1.1.6 Vấn đề kiềm chế và phòng ngừa tai nạn giao thông

Phòng ngừa chủ động: Đòi hỏi có sự tham gia và cộng tác của cá nhân tham gia giao thông Điều này dẫn đến hậu quả của phòng ngừa phụ thuộc vào việc sử dụng đúng biện pháp phòng ngừa Mục đích là thay đổi hành vi [57]

Trang 10

Phòng ngừa thụ động: Là biện pháp có hiệu quả nhất trong kiềm chế TNGT, không đòi hỏi có sự tham gia của cá nhân, biện pháp phòng ngừa hay bảo vệ chủ yếu được thiết kế để có thể tự động tham gia vào phòng ngừa Mục đích là thay đổi môi trường hay phương tiện sử dụng [57]

GTVT phát triển ngày càng nhanh để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước thì yêu cầu về đảm bảo trật tự ATGT càng cấp bách và nặng nề Muốn kiềm chế sự gia tăng của TNGT phải tiến hành đồng

bộ các biện pháp Trước hết xóa bỏ, khắc phục hạn chế những nguyên nhân nêu trên, nhất là con người, phương tiện và phát triển hạ tầng cơ sở giao thông [18]

Cụ thể là:

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến hướng dẫn luật lệ giao thông Vì trên 80% số vụ TNGT do người tham gia giao thông gây ra, nên việc tuyên truyền để tất cả người tham gia giao thông nắm vững và tự giác thực hiện là biện pháp chiến lược có ý nghĩa quyết định làm giảm sự gia tăng của TNGT Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng, phát động các cuộc thi tìm hiểu luật lệ giao thông Đặc biệt sớm đưa môn học luật lệ giao thông vào học chính khóa trong các trường phổ thông Vì đây là biện pháp sâu rộng và thiết thực nhất giáo dục công dân từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường đã hiểu biết và nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ ATGT Trong tuyên truyền cá biệt cần tập trung vào những người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới, người làm ăn sinh sống trên các trục lộ giao thông, nhất là nơi nâng cấp, làm mới vì thường TNGT tăng vọt ở nơi này Tuyên truyền giáo dục người đi xe mô tô nghiêm chỉnh chấp hành luật bắt buộc đội mũ bảo hiểm

và sử dụng mũ bảo hiểm đủ chất lượng để an toàn tính mạng Vì hầu hết các

vụ TNGT của xe mô tô chết là do CTSN Nếu không có biện pháp giáo dục và thực hiện có hiệu quả luật lệ giao thông thì đường có mở rộng, làm tốt bao

Trang 11

nhiêu thì tai nạn vẫn xảy ra và có thể xảy ra nhiều hơn vì tốc độ xe lại tăng cao hơn, nhất là đường chính tốt xe chạy nhanh [18], [49]

Chú trọng công tác tổ chức giao thông để chủ động phòng ngừa TNGT Đây là việc có tác dụng lớn, cơ bản để ngăn ngừa TNGT trong khi ý thức của người tham gia giao thông chưa tự giác cao/thiếu hiểu biết cần thiết về luật lệ giao thông, biển báo chỉ dẫn giao thông và cơ sở hạ tầng còn lạc hậu/chưa đồng bộ Tiến hành công tác này cần lưu ý: Những nơi giao cắt, những điểm

mở, giải phân cách cũng nên nghiên cứu làm bằng vật liệu mềm đề phòng khi ngã có thể lao đầu vào Những quốc lộ mới, nâng cấp đạt tốc độ cao có đoạn phải hạn chế tốc độ để làm giảm TNGT, có thể dùng đường mấp mô để ngăn ngừa TNGT và cắm biển báo hiệu hạn chế tốc độ… [10]

Tăng cường công tác quản lý nhà nước về trật tự ATGT (về tăng cường phương tiện giao thông công cộng, về quản lý kiểm định phương tiện cơ giới,

về đào tạo người điều khiển phương tiện xe cơ giới, về quản lý phương tiện giao thông…)

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về trật tự ATGT, nhất là bộ luật giao thông để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về trật tự ATGT

Tăng cường công tác tuần tra kiểm soát (TTKS), xử lý vi phạm Đây là hoạt động công khai thường xuyên và có tác dụng nhiều mặt như: làm tăng tính tự giác của người tham gia giao thông, ngăn ngừa hạn chế các trường hợp

vi phạm, xử lý kịp thời các trường hợp sai phạm và còn tạo tâm lý yên tâm cho người tham gia giao thông trên các tuyến đường Đồng thời sự có mặt của lực lượng TTKS cũng có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm, chặn đứng được tệ nạn đua xe, lạng lách, đánh võng…

Tóm lại, kiềm chế sự gia tăng TNGT cần có nhiều biện pháp, giải pháp

và phải được tiến hành một cách đồng bộ, quyết liệt, liên tục Điều này chắc

Trang 12

chắn sẽ góp phần thực hiện ATGT, đó là hạnh phúc của mọi người, mọi gia đình

1.2 Tình hình tai nạn giao thông và các nghiên cứu trên thế giới

Cuối thế kỷ XIX, năm 1896 khi chiếc ô tô đầu tiên ra đời, chạy thử ở nước Anh thì 10 ngày sau đã cán chết 02 người, đó là vụ TNGT đầu tiên Ba năm sau 1899, sau khi ô tô phát triển sang Mỹ cũng xảy ra cán chết 01 người

và các năm sau cho đến thập kỷ sau TNGT cứ thế tăng lên, cho đến cuối thế

kỷ XX đầu thế kỷ XXI tai nạn giao thông tăng lên một cách kinh khủng trên hầu hết các nước trên thế giới [65]

Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, theo Liên hợp quốc hàng năm toàn cầu có khoảng 25.000 người chết, khoảng 07 triệu người bị thương do TNGT [64]

Đến những năm cuối thế kỷ XX, theo số liệu của Viện giao thông đường bộ Thụy Điển, trên thế giới hàng năm có khoảng 300.000 người chết, 10-15 triệu người bị thương do TNGT Số trường hợp cấp cứu vì TNGT đường bộ chiếm trên 10% tổng số người bị bệnh ở các bệnh viện [65]

Nhiều nước chi phí cho TNGT lớn hơn 50% ngân sách quốc phòng Riêng Mỹ đến hết năm 1988, số người chết từ khi lập quốc lớn hơn số người chết trong chiến tranh ở Triều Tiên [65]

Vậy TNGT có tác hại như một cuộc chiến tranh thực sự, cả về con người lẫn tiền của Hiện nay toàn thế giới ủng hộ đấu tranh chống TNGT, cụ thể như việc Đại hội đồng liên hợp quốc đã công bố Nghị quyết một thập kỉ hoạt động vì ATGT đường bộ 2011- 2020 (A/64/L.44/Rev.1) được đề xuất bởi chính phủ Liên bang Nga và có sự ủng hộ của hơn 90 quốc gia [25]

Theo thống kê của WHO, những năm gần đây cho thấy tỉ lệ TNGT có

xu hướng gia tăng, sự gia tăng do nguyên nhân gia tăng về dân số, cơ sở hạ tầng về giao thông chưa đáp ứng kịp, ý thức người sử dụng phương tiện chưa

Trang 13

cải thiện rõ rệt… Tỉ lệ bệnh truyền nhiễm có xu hướng thuyên giảm nhưng tỉ

lệ mắc và tử vong do TNGT có xu hướng tăng

Ở các nước đang phát triển TNGT đường bộ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và gánh nặng bệnh tật cho nam giới [4], [26]

Ở Ấn Độ trong năm 1992 nhà nước thông báo có hơn 57.000 người chết do TNGT

Ở Trung Đông và Châu Phi số lượng xe ô tô tăng lên đáng kể vào những năm thập kỷ 80 Tỷ suất tử vong liên quan đến giao thông tính trên 100.000 dân: 2,5 ở Ethiopia, 13,4 ở Kenia và 10 ở Thụy Điển Khi tính tỷ lệ

tử vong do giao thông trên số ô tô đăng ký thì tỷ lệ tử vong đó vượt quá Mỹ

và các nước Châu Âu [65]

1.3 Tình hình tai nạn giao thông và các nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam sự bùng nổ của các loại phương tiện giao thông đã kéo theo sự gia tăng đến mức báo động của chấn thương do TNGT Theo số liệu của Cục cảnh sát giao thông (Bộ Nội Vụ) từ năm 1990 đến tháng 5 năm 1997 trên phạm vi cả nước đã xảy ra 92.071 vụ TNGT làm chết 31.385 người Từ năm 1991 đến nay TNGT luôn luôn gia tăng trung bình năm sau tăng hơn năm trước 2.000 vụ

Theo số liệu của cuộc hội thảo phòng ngừa TNGT đường bộ năm 1993

tỷ lệ tử vong trên phương tiện giao thông là 12/10.000 [6], [26]

Qua nghiên cứu các số liệu của Bệnh viện Việt Đức, Trung tâm cấp cứu

115 Hà Nội, Trung tâm cấp cứu 115 Thái Bình, Trung tâm cấp cứu 115 Hải Phòng, về số ca cấp cứu chấn thương do TNGT gây lên có khoảng 50% là CTSN, gãy xương các loại, vỡ nội tạng, còn lại khoảng 50% là vết thương phần mềm và bong gân [38]

Theo thống kê của Giáo sư Đỗ Kim Sơn- Bệnh viện Việt Đức Hà Nội thì từ năm 1995- 1997 tỷ lệ do TNGT chiếm 65% số người bệnh tử vong của

Trang 14

bệnh viện, và trong số nạn nhân tử vong do TNGT thì 93% tử vong do CTSN, chi phí để cứu chữa những nạn nhân bị TNGT chiếm 1/5 toàn bộ chi phí quyết toán ngân sách cho tất cả hoạt động bệnh viện [37]

Một số nghiên cứu từ năm 1999- 2006 cho thấy 30- 50% nạn nhân TNGT được sơ cấp cứu trước khi chuyển đến bệnh viện, trong đó chỉ có khoảng 10% được thực hiện bởi các nhân viên y tế [30]

Tình hình TNGT ở Việt Nam, theo số liệu của Ủy ban ATGT quốc gia, hiện nay trung bình mỗi ngày có khoảng 30 người chết và 80 người bị thương

do TNGT Chủ yếu là số vụ TNGT đường bộ [36], [52]

Các số liệu trên tuy không trùng hợp nhưng đều cho thấy sự gia tăng liên tục và nhanh chóng của tình hình tử vong do TNGT trong những năm gần đây Đó là tỷ lệ đặc trưng cho một nước đang phát triển trong giai đoạn cơ giới hóa mạnh mẽ các loại phương tiện giao thông, tỷ lệ tử vong thấp trên khía cạnh quần thể nhưng cao trên khía cạnh liên quan tới số phương tiện giao thông

Tình hình TNGT đường bộ, đường sắt trong toàn quốc trong các năm 2000- 2006 [36], [39], [52]:

Năm Số vụ Số người chết Số bị thương

Trang 15

năm 2010 ở Việt Nam có trên 15000 trường hợp tử vong do TNGT, con số này cao hơn số liệu báo cáo của Cảnh sát Giao thông và tương đương số liệu theo dõi của ngành Y tế thông qua số tử vong A6 Tử vong do các nguyên nhân tai nạn thương tích chiếm 12,8% trong tổng số nguyên nhân tử vong trên quần thể TNGT là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai trong toàn bộ các nguyên nhân gây tử vong ở Việt Nam và có ảnh hưởng rất lớn tới lứa tuổi trong độ tuổi lao động [29]

Con số TNGT những năm gần đây như sau [1], [21], [25]:

Năm Số vụ Số người chết Số bị thương

số va chạm giao thông là 19479 và làm bị thương 23968 người; trong đó riêng

số vụ TNGT đặc biệt nghiêm trọng là 58 vụ làm chết 219 người và 203 người

bị thương [25]

Mặc dù ở nước ta Đảng, Chính phủ luôn coi việc giữ gìn tật tự ATGT

là nhiệm vụ trọng tâm, đã có nhiều kế hoạch, biện pháp, giải pháp quyết liệt

Trang 16

kiên quyết nhằm chặn đứng, đẩy lùi, giảm nhẹ thiệt hại do TNGT gây ra như Nghị định 36/CP, 39/CP, 40/CP, Luật ATGT (1995), hạn chế thiệt hại TNGT (chỉ thị 661/TTg), Nghị quyết 32/2007/NQ_CP ngày 29/6/2007 qui định bắt buộc đội mũ bảo hiểm đối với người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy từ 15/9/2007 trên các quốc lộ và từ 15/12/2007 trên tất cả các tuyến đường… Cùng với sự vào cuộc, cố gắng nỗ lực của các ngành Công an, Giao thông, Y tế… Nhưng với sự gia tăng nhanh chóng của các loại xe có động cơ (ô tô, xe máy) số lượng TNGT vẫn tăng cả về số vụ và số người bị thương, số tử vong tuy có giảm nhưng chưa bền vững Điều này gây thiệt hại không nhỏ về người

và của, theo WHO ước tính khoảng 1% tổng thu nhập quốc gia, như vậy Việt Nam chỉ riêng một năm (1999) phải chi khoảng 270 triệu USD cho TNGT [9] Theo số liệu bảng trên thì hiện nay mỗi ngày có khoảng 25 người đi ra đường vĩnh viễn không trở về nhà

Tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh mật độ xe cá nhân (chủ yếu là xe máy) lớn nên phần đường dành cho xe buýt cũng tới hạn, xe buýt nội đô khó

có đất tăng chuyến tăng xe Riêng vận tải bánh sắt (ngầm, trên cao, mặt đất) với một số dự án đang được triển khai, phải mất vài năm mới đưa vào sử dụng Nói tóm lại, vấn đề “chung sống với xe máy” cũng như việc hạn chế phương tiện giao thông cá nhân và phát triển vận tải khách công cộng ở đô thị nói riêng còn phải mất nhiều năm để giải quyết

1.4 Tình hình tai nạn giao thông ở Hải Phòng

Thành phố Hải Phòng nằm ở vùng Đông Bắc, trên bờ biển thuộc Vịnh Bắc bộ Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình Với dân số 1.837.000 người, diện tích 1519,2km²

Mạng lưới giao thông liên tỉnh có tuyến quốc lộ 5 dài 106km (Hải Phòng-Hải Dương-Hà Nội), đoạn qua Hải Phòng dài 29km Tuyến quốc lộ 10

Trang 17

(Hải Phòng-Thái Bình, Hải Phòng-Quảng Ninh) chạy từ nam Cầu Đá Bạc đến Cầu Nghìn dài 60km

Mạng lưới giao thông nội đô có cấu trúc phức tạp dạng hỗn hợp, bao gồm trục chính hướng tâm, xuyên tâm, kết hợp với một số tuyến vòng cung, khu vực trung tâm có cấu trúc giải quạt, kết hợp dạng bàn cờ Toàn bộ nội thành có 216 đường phố với chiều dài 169,9km

Mạng lưới giao thông ngoại thành chủ yếu là các tỉnh lộ với chiều dài 130,2km Hiện trạng vận tải đường bộ Thành phố HP [42]:

Tổng số chuyến đi bình quân 01 ngày toàn Thành phố là 2.228.385 chuyến/ngày

+ Hệ số đi lại bình quân 01 người là 1,29 lượt/người/ngày

+ Hệ số đi lại bình quân 01 người khu vực nội thành là 1,81 lượt/người/ngày, khu vực ngoại thành là 1,01 lượt/người/ngày

+ Phương tiện xe máy đảm nhận 37,6% tổng số chuyến đi, xe đạp đảm nhận 61,9%, xe buýt công cộng và xe cơ quan đảm nhận 0,5%

Theo số liệu thống kê của Sở Y tế Hải Phòng về số vụ TNGT, số nạn nhân tử vong hàng năm của một số năm gần đây như sau [43]:

Trang 18

Cùng với sự gia tăng phương tiện giao thông đường bộ (số ô tô, xe máy đăng ký mới tăng), sự phát triển của dịch vụ vận tải hàng hóa qua Cảng Hải Phòng tiếp tục tăng Trong đó có tới 70% hàng hóa được vận chuyển trên đường bộ bằng những phương tiện lớn (đầu kéo chở Container, Sơ mi rơ moóc, các loại xe siêu trường, siêu trọng) [39]

Tình hình vi phạm trật tự ATGT diễn biến phức tạp Một bộ phận nhỏ người tham gia giao thông chưa tôn trọng pháp luật, ý thức chấp hành luật giao thông chưa cao, khi có lực lượng kiểm tra kiểm soát (KTKS) thì chấp hành, nhưng khi không có lực lượng KTKS thì vi phạm Khá phổ biến đó là tình trạng thanh niên đi xe mô tô với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng… Tình trạng chiếm dụng hành lang ATGT đường bộ để kinh doanh buôn bán còn diễn ra khá phổ biến

Hải Phòng được xác định là một trong những địa bàn giáp danh, trọng điểm làm cho các hoạt động giao thông Thành phố luôn sôi động, ảnh hưởng trực tiếp đến trật tự ATGT [36], [39]

Để thực hiện công tác đảm bảo trật tự ANGT, giảm số vụ TNGT đường

bộ, ngay từ những ngày đầu năm 2006 UBND Thành phố đã chỉ đạo các ngành, các cấp cần tập trung quyết liệt thực hiện các mục tiêu đề ra Cụ thể như: cấm hoạt động xe công nông trên địa bàn toàn Thành phố từ 01/01/2006 Tăng cường quản lý vận tải bằng ô tô, điều tra số lượng chất lượng phương tiện và người điều khiển các phương tiện trên địa bàn Thành phố, giả tỏa các hình thức vi phạm hành lang ATGT, tăng cường các hoạt động hưởng ứng tháng ATGT, tổ chức các hội thi tuyên truyền luật an toàn giao thông trong các tổ chức quần chúng, chỉ đạo Sở Văn hóa thông tin và các cơ quan tuyên truyền của Thành phố tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục luật giao thông đường bộ [36], [39]

Trang 19

Công tác TTKS xử lý vi phạm là một trong những biện pháp mạnh để đảm bảo trật tự ATGT luôn được duy trì, làm thường xuyên và rộng khắp trên tất cả các tuyến đường [42]

1.5 Hậu quả của tai nạn giao thông

Xin nêu một vài số liệu của tổ chức Y tế thế giới để dẫn chứng cho mức

độ nghiêm trọng của hậu quả do TNGT gây ra:

Chấn thương do TNGT đứng hàng thứ nhất hoặc thứ hai trong các nguyên nhân phải vào viện điều trị và là nguyên nhân chính gây tàn phế, làm mất khả năng sống tiềm tàng, chiếm 11% gánh nặng bệnh tật toàn cầu [20]

Theo R.Gracer, trung bình mỗi năm có khoảng 4.200.000 người tử vong và 78.000.000 người bị tàn phế bởi chấn thương do TNGT Chúng tôi xin nêu một ví dụ của một quốc gia Châu Á-Thái Lan: từ năm 1969 chấn thương do TNGT là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới tử vong và từ năm 1979-

1982 thì tỷ lệ tử vong tăng gấp đôi [20]

Theo WHO, ước tính 13% dân số thế giới bị tàn tật Trong số đó có 15% do các tai nạn gây lên, trong số các tai nạn thì TNGT là nguyên nhân chính [20]

Nguyên nhân gây tử vong chính của TNGT đó là chấn thương sọ não, nguyên nhân gây tàn phế của TNGT là do gãy xương các loại, mất một phần

cơ thể gây lên hạn chế vận động, can lệch, vẹo, sẹo, cụt chân, tay… Làm mất hoặc giảm khả năng lao động, thẩm mỹ… Cuối cùng dẫn tới làm giảm chất lượng cuộc sống của nạn nhân và để lại gánh nặng bệnh tật cho toàn xã hội, gia đình, đây là thiệt hại lớn về con người

Thiệt hại về tinh thần, đó là sự mất mát người thân trong gia đình do TNGT cướp đi sinh mạng của những nạn nhân Thiệt hại đó không gì bù đắp nổi

Trang 20

Cuối cùng là thiệt hại về kinh tế, do phải chi phí phục hồi sức khỏe cho các nạn nhân, do mất mát và hư hỏng các phương tiện và hạ tầng giao thông Theo WHO thì thiệt hại về người và của TNGT gây ra ước tính 1% tổng thu nhập quốc gia [19]

TNGT đường bộ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và gánh nặng bệnh tật cho nam giới [4], [26]

Tai nạn thương tích giao thông là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở Việt Nam (với tỉ suất 26,7/100.000 dân) Với trẻ nhỏ đa phần tai nạn thương tích giao thông xảy ra khi trẻ đi bộ, cới những nhóm tuổi lớn hơn từ trên 15 tuổi tai nạn do đi xe máy trở thành vấn đề hàng đầu dẫn đến các tai nạn thương tích cho trẻ [40]

Ở các nước thu nhập cao thương tích giao thông đường bộ, thương tích

cố ý và xung đột cá nhân là ba nguyên nhân hàng đầu gây tử vong trong nhóm tuổi 15-44 (UNICEF) [29]

Phần lớn TNGT đều để lại di chứng cho nạn nhân tùy thuộc mức độ nặng nhẹ: can lệch, sẹo, hạn chế vận động, suy giảm hoặc mất chức năng các

cơ quan, mất một phần cơ thể và trở lên tàn phế Nó để lại cho nạn nhân nhiều khó khăn trong cuộc sống sinh hoạt (giảm chất lượng cuộc sống) là gánh nặng bệnh tật cho nạn nhân và toàn xã hội [10]

Davis Wemer định nghĩa tàn tật như sau: “Trong cộng đồng của bạn có những người không đi học, không nghe thấy, không nói được, không vận động được, không nhìn thấy hoặc có hành vi không giống những người cùng lứa tuổi, cũng có những người có những cơn động kinh hay không có cảm giác ở tay, chân hoặc không có những hành động giống như người cùng lứa tuổi Những người như vậy gọi là những người tàn tật”

Trang 21

Ở Việt Nam, trung bình mỗi năm có hơn 11.000 người chết và hàng chục nghìn người bị thương do TNGT đường bộ, ước tính mỗi năm thiệt hại

do TNGT đường bộ gây ra tại Việt Nam là trên 14.000 tỷ đồng [8]

Số người chết vì TNGT mỗi năm ở nước ta nêu trên tương đương dân

số 1 xã, hoặc 1 phường, gấp nhiều lần số người chết hàng năm vì đại dịch HIV/AIDS [19]

1.6 Giao thông Việt Nam dưới con mắt người nước ngoài

Một phóng sự trên đài truyền hình Việt Nam nói đến một người Nhật Bản đến Việt Nam công tác dài ngày, ông đưa sang xe con loại “xịn” và tự lái nhưng chỉ vài ngày sau ông ta hoa mắt, chóng mặt vì giao thông ở Việt Nam hỗn loạn quá sức tưởng tượng, ông đành thuê tài xế người Việt

Hình ảnh du khách nước ngoài hốt hoảng mỗi khi sang đường bởi xe cộ

đi lại loạn xạ thường hay bắt gặp

Ông Alfred Riedl, nguyên Huấn luyện viên trưởng đội tuyển bóng đá Việt Nam chia sẻ: “Giao thông là vấn đề rất lớn đối với người ngoại quốc như chúng tôi Tôi nói các bạn đừng giận nhé: Người Việt Nam rất dễ mến, nhưng khi ra đường thì thú thật họ như là… mất trí Đó là lý do khiến tôi rất ngại đi

Mỹ, nhà toán học hàng đầu thế giới sang Việt Nam giúp ta giải quyết vấn đề ATGT đã bị xe máy tông khi ông đến giảng đường Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, ông bị thương nặng, hôn mê sâu phải đưa về Mỹ cấp cứu [19]

Trang 22

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm 519 nạn nhân TNGT đường bộ tại địa bàn Thành phố Hải Phòng được cấp cứu, điều trị tại BVVT Hải Phòng năm

2013

2.1.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

Nạn nhân phải là nạn nhân TNGT đường bộ, xảy ra trên địa bàn Hải Phòng năm 2013

Nạn nhân TNGT đường bộ là những nạn nhân đang chuyển động trên đường giao thông (đi bộ, đi xe đạp, đi xe máy, ô tô…) tự ngã, hoặc bị phương tiện khác đâm phải mình và ngược lại

Nạn nhân tự ngã, bị phương tiện khác đâm phải mình hoặc ngược lại phải nằm ngoài ý muốn chủ quan của con người

Nạn nhân có thương tích do TNGT phải nhập viện và điều trị nội trú tại BVVT

2.1.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Nạn nhân không phải là do TNGT đường bộ, xảy ra không trên địa bàn Hải Phòng, năm xảy ra không phải năm 2013

Nạn nhân tai nạn nằm trong ý muốn chủ quan của nạn nhân hoặc đối tượng khác

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Địa bàn nghiên cứu là: Thành phố Hải Phòng, thành phố đô thị loại I thuộc vùng duyên hải Bắc bộ với đầy đủ các loại hình giao thông (đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không)

Trang 23

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 2/2014 đến tháng 12/2014

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả hồi cứu các nạn nhân TNGT

đủ tiêu chuẩn lựa chọn Điều tra nạn nhân TNGT đường bộ tại Hải Phòng năm 2013 được cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Việt Tiệp trong thời gian 01 năm từ ngày 01/01/2013 đến ngày 31/12/2013 Lấy số nạn nhân tối thiểu bằng

Khi α=0,05, độ tin cậy 95% thì khi đó hệ số tin cậy Z1−𝛼 2⁄ =1,96

Δ: Khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ thu được từ mẫu nghiên cứu

và tỷ lệ thực p của quần thể Ở đây chọn Δ=0,02

Trang 24

Từ các dữ liệu trên chúng tôi tính được cỡ mẫu cho nghiên cứu này là:

n ≅ 430

Thực tế chúng tôi đã nghiên cứu 519 trường hợp

2.2.2.2 Chọn mẫu

519 bệnh án chọn vào nghiên cứu bằng cách:

 Lập danh sách bệnh án đủ tiêu chuẩn theo tiêu chuẩn chọn mẫu trên

 Chọn ngẫu nhiên hệ thống với khoảng cách mẫu là 4

 Số chọn ngẫu nhiên đầu tiên vào nghiên cứu là 3

2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin

 Các thông tin chung về nạn nhân (tuổi, giới, nghề nghiệp)

 Các thông tin về thời gian xảy ra tai nạn, nguyên nhân tai nạn

Trang 25

 Các thông tin về tình hình sơ cứu, vận chuyển, cấp cứu

 Hình thái tổn thương lâm sàng

 Thời gian điều trị, phương pháp điều trị, kết quả điều trị

Nguồn lấy từ hồ sơ bệnh án của nạn nhân trong quá trình điều trị tại bệnh viện

2.2.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu

Mục tiêu 1  Tuổi

 Giới

 Nghề nghiệp

 Nạn nhân TNGT phân theo khu vực

 Nạn nhân bị tai nạn và tự gây tai nạn phân theo các nhóm tuổi

 Nạn nhân TNGT với việc sử dụng mũ bảo hiểm, tình trạng uống bia/rượu

 Nạn nhân sử dụng mũ bảo hiểm, uống bia/rượu với CTSN

 Tác nhân gây TNGT cho nạn nhân

 Phương tiện nạn nhân sử dụng trước khi bị TNGT

 Đường giao thông nơi nạn nhân bị TNGT, loại đường

 Thời điểm trong ngày, tháng trong năm nạn nhân bị TNGT

Phiếu điều tra nạn nhân TNGT (phụ lục)

Trang 26

Mục tiêu 2  Nơi sơ cấp cứu ban đầu cho nạn nhân

 Mức độ tổn thương (đơn, đa chấn thương),

cơ cấu tổn thương (chia theo vùng cơ thể)

 Thời gian điều trị, phương pháp điều trị, kết quả điều trị

Phiếu điều tra nạn nhân TNGT (phụ lục)

2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu

Xử lý thô số liệu: Sau khi kết thúc cuộc điều tra người nghiên cứu đọc

và bổ xung, hoàn chỉnh lại toàn bộ phiếu điều tra trước khi nhập máy vi tính

Các số liệu thu được sẽ xử lý theo phương pháp thống kê Y học thực hiện trên máy vi tính với phần mềm SPSS 13

Các chỉ số được tính theo tỉ lệ % Kết quả phân tích được trình bày theo các bảng tần số và hình theo quy định

Sử dụng thuật toán so sánh ²

Trang 27

2.2.6 Biện pháp khắc phục sai số

Tăng cỡ mẫu nghiên cứu

Xử lý số liệu thô trước: kết thúc điều tra người nghiên cứu đọc lại, bổ xung, hoàn chỉnh toàn bộ mẫu thu thập thông tin trước khi nhập máy vi tính

2.2.7 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Các thông tin về nạn nhân TNGT được đảm bảo giữ bí mật

Nghiên cứu chỉ nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe cộng đồng không nhằm mục đích nào khác

Đã được Hội đồng thông qua đề cương luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Y tế công cộng trường Đại học Y Dược Hải Phòng ngày 9 tháng 3 năm 2014 đồng ý

Nghiên cứu được sự đồng ý của BVVT

Trang 28

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thực trạng tai nạn giao thông đường bộ

Bảng 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi

Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 37,42

Nhóm tuổi 20-29 chiếm tỉ lệ TNGT cao nhất 35,6%

Nhóm tuổi <15 chiếm tỉ lệ TNGT thấp nhất 1,0%

Trang 29

Bảng 3.2 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới

Nạn nhân TNGT Giới

Trang 30

Bảng 3.3 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp

Nạn nhân TNGT là Nông dân chiếm tỉ lệ cao nhất 28,3%

Nạn nhân TNGT là Học sinh chiếm tỉ lệ thấp nhất 6,4%

Bảng 3.4 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo khu vực

Số nạn nhân TNGT khu vực ngoại thành chiếm tỉ lệ tai nạn 54,5% cao

hơn khu vực nội thành, tỉ lệ tai nạn khu vực nội thành chiếm 45,5%

Trang 31

Bảng 3.5 Phân bố đối tượng nghiên cứu bị tai nạn giao thông và tự gây tai nạn theo độ tuổi lao động

Trang 32

Bảng 3.6 Tỉ lệ sử dụng mũ bảo hiểm ở đối tượng nghiên cứu

Tỉ lệ nạn nhân TNGT sử dụng mũ bảo hiểm cao nhất 69,0%

Tỉ lệ nạn nhân TNGT không sử dụng mũ bảo hiểm thấp nhất 15,0%

Bảng 3.7 Tỉ lệ nạn nhân sử dụng mũ bảo hiểm với chấn thương sọ não

Trang 33

Bảng 3.8 Tỉ lệ nạn nhân tai nạn với tình trạng uống bia/rượu

Trang 34

Bảng 3.10 Tác nhân gây tai nạn giao thông cho nạn nhân

Nạn nhân TNGT Tác nhân gây tai nạn SL Tỉ lệ %

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới - Thực trạng và công tác cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện việt tiệp hải phòng năm 2013
Hình 3.1. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo giới (Trang 29)
Bảng 3.3. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp - Thực trạng và công tác cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện việt tiệp hải phòng năm 2013
Bảng 3.3. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp (Trang 30)
Hình 3.3. Tỉ lệ tai nạn giao thông theo loại đường bộ - Thực trạng và công tác cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện việt tiệp hải phòng năm 2013
Hình 3.3. Tỉ lệ tai nạn giao thông theo loại đường bộ (Trang 36)
Hình 3.4. Tỉ lệ tai nạn giao thông theo địa điểm xảy ra tai nạn - Thực trạng và công tác cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện việt tiệp hải phòng năm 2013
Hình 3.4. Tỉ lệ tai nạn giao thông theo địa điểm xảy ra tai nạn (Trang 37)
Hình 3.5. Phân bố số ca tai nạn giao thông theo tháng trong năm - Thực trạng và công tác cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện việt tiệp hải phòng năm 2013
Hình 3.5. Phân bố số ca tai nạn giao thông theo tháng trong năm (Trang 39)
Hình  3.6.  Phân  bố  số  ca  tai  nạn  giao  thông  theo  nơi  sơ  cấp  cứu  ban - Thực trạng và công tác cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện việt tiệp hải phòng năm 2013
nh 3.6. Phân bố số ca tai nạn giao thông theo nơi sơ cấp cứu ban (Trang 40)
Hình 3.7. Phương tiện cấp cứu ban đầu - Thực trạng và công tác cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện việt tiệp hải phòng năm 2013
Hình 3.7. Phương tiện cấp cứu ban đầu (Trang 41)
Bảng 3.12. Phương tiện cấp cứu ban đầu - Thực trạng và công tác cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện việt tiệp hải phòng năm 2013
Bảng 3.12. Phương tiện cấp cứu ban đầu (Trang 41)
Bảng  3.13.  Phương  tiện  vận  chuyển  nạn  nhân  tai  nạn  giao  thông  tới  bệnh viện Việt Tiệp - Thực trạng và công tác cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện việt tiệp hải phòng năm 2013
ng 3.13. Phương tiện vận chuyển nạn nhân tai nạn giao thông tới bệnh viện Việt Tiệp (Trang 43)
Bảng  3.15.  Phân  bố  số  ca  tai  nạn  giao  thông  nhập  viện  theo  khoảng - Thực trạng và công tác cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện việt tiệp hải phòng năm 2013
ng 3.15. Phân bố số ca tai nạn giao thông nhập viện theo khoảng (Trang 45)
Hình 3.10. Hướng xử trí của bệnh viện Việt Tiệp sau cấp cứu nạn nhân - Thực trạng và công tác cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện việt tiệp hải phòng năm 2013
Hình 3.10. Hướng xử trí của bệnh viện Việt Tiệp sau cấp cứu nạn nhân (Trang 46)
Bảng 3.17. Hình thái chấn thương trong đơn chấn thương - Thực trạng và công tác cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện việt tiệp hải phòng năm 2013
Bảng 3.17. Hình thái chấn thương trong đơn chấn thương (Trang 47)
Bảng 3.18. Hình thái đa chấn thương - Thực trạng và công tác cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện việt tiệp hải phòng năm 2013
Bảng 3.18. Hình thái đa chấn thương (Trang 48)
Bảng 3.19. Phương pháp điều trị tại bệnh viện Việt Tiệp - Thực trạng và công tác cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện việt tiệp hải phòng năm 2013
Bảng 3.19. Phương pháp điều trị tại bệnh viện Việt Tiệp (Trang 49)
Bảng 3.20. Tỷ lệ thời gian điều trị theo mức độ tổn thương - Thực trạng và công tác cấp cứu tai nạn giao thông đường bộ tại bệnh viện việt tiệp hải phòng năm 2013
Bảng 3.20. Tỷ lệ thời gian điều trị theo mức độ tổn thương (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm