Số người bệnh bị tai biến mạch máu não được cứu sống ngày càng nhiều, nhưng tỉ lệ di chứng và tàn tật do tai biến mạch máu não vẫn còn cao [12], [20], [23] ảnh hưởng trực tiếp rất nhiều
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Tai biến mạch máu não (TBMMN) đã và đang trở thành một vấn đề cấp thiết của y học nói chung và y học phục hồi chức năng nói riêng Đây là bệnh phổ biến trên thế giới Hàng năm, người bệnh bị TBMMN ngày càng tăng cả
về số lượng cũng như mức độ bệnh tật, bổ xung thêm dần vào số lượng người mắc bệnh chưa hồi phục được, làm số người bệnh ngày càng cao Hiện tại ở các nước phát triển TBMMN là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ ba sau các bệnh tim mạch và ung thư, nhưng dự đoán nó có thể trở thành căn bệnh có tỷ
lệ tử vong hàng đầu [13] Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới (1979) hàng năm tỷ lệ người mới mắc TBMMN từ 127 - 746 người trong 100.000 dân [1], [25]
Việt Nam là một nước đang phát triển, số người cao tuổi ngày càng tăng, tất nhiên cũng không nằm ngoài quy luật trên Theo số liệu thống kê của bộ môn Thần kinh Trường Đại học Y Hà Nội, tỷ lệ mắc là 115,92/100.000 dân (1994/) [41] Số người bệnh bị tai biến mạch máu não được cứu sống ngày càng nhiều, nhưng tỉ lệ di chứng và tàn tật do tai biến mạch máu não vẫn còn cao [12], [20], [23] ảnh hưởng trực tiếp rất nhiều tới sức khỏe của bản thân người bệnh như: sa sút trí tuệ, giảm hoặc mất khả năng vận động, thậm chí -
có những người bệnh chỉ nằm một chỗ, vô cảm hoàn toàn với thời gian, kéo theo tình trạng kinh tế gia đình suy sụp, nó thực sự là gánh nặng cho toàn xã hội Trong khi đó, để điều trị, chăm sóc và phục hồi vận động cho người bệnh vẫn còn nhiều nan giải, chưa có một phương pháp nào đặc hiệu riêng biệt mà cần phải phối hợp nhiều phương pháp cùng một lúc Cuộc sống của họ phụ thuộc rất nhiều vào sự chăm sóc và giúp đỡ của người thân trong gia đình Người bị tai biến mạch máu não thường được điều trị cấp cứu, chăm sóc
Trang 2và phục hồi vận động tại bệnh viện từ một đến hai tuần hoặc từ một đến hai tháng [61], [66] Sau đó họ trở về nhà nhưng vẫn cần tiếp tục được chăm sóc
và hồi phục vận động Tuy nhiên với khoảng thời gian này là không đủ để tất
cả người bệnh có thể phục hồi các di chứng Theo điều tra của Lê Anh Tuấn mức độ độc lập của người bị TBMMN sau 12 tháng tốt hơn rõ rệt so với người bị TBMMN bằng hoặc dưới 12 tháng [44] Chăm sóc và phục hồi vận động cho người bị tai biến mạch máu não là một quá trình lâu dài, bền bỉ, khó khăn, tốn kém và không chỉ bao hàm việc cứu sống người bệnh mà còn đảm bảo cho họ tái hội nhập vào xã hội một cách bình đẳng, có cuộc sống bình thường tối đa so với hoàn cảnh của họ
Các khiếm khuyết thần kinh do TBMMN rất nặng nề phức tạp, gây nên nhiều rối loạn các chức năng nên ngoài việc cấp cứu, điều trị thì việc chăm sóc và phục hồi vận động (PHVĐ) tại nhà là cực kỳ quan trọng
Với những lý do như trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng chăm sóc, phục hồi vận động người bệnh tai biến mạch máu não tại khoa Thần kinh- Bệnh viện Việt Tiệp – Hải Phòng năm 2013" với các
mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng chăm sóc, phục hồi vận động người bệnh tai biến mạch máu não tại khoa Thần kinh – bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng
2 Mô tả kiến thức – thái độ - thực hành của người chăm sóc người bệnh tai biến mạch não
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đại cương về tai biến mạch máu não
1.1.1 Định nghĩa tai biến mạch máu não
Theo Tổ chức Y tế thế giới: "Tai biến mạch máu não là dấu hiệu phát triển nhanh trên lâm sàng của một rối loạn khu trú chức năng của não kéo dài trên 24 giờ và thường do nguyên nhân huyết quản Như vậy, trên lâm sàng đây là các biểu hiện bệnh lý bao gồm phần lớn các trường hợp chảy máu trong não, chảy máu dưới nhện, nhồi máu não và không đề cập đến các trường hợp thiếu máu não thoảng qua hoặc bệnh lý mạch máu não lan toả khởi đầu lặng lẽ[21]
1.1.2 Định nghĩa cơn thiếu máu thoáng qua
Cơn thiếu máu thoáng qua là tình trạng rối loạn chức năng não bộ khu trú hay chức năng thị giác có đặc tính diễn biến đột ngột và có nguồn gốc thiếu máu não cục bộ Cơn kéo dài không quá 24 giờ, hồi phục và không để lại di chứng [22]
1.1.3 Khái niệm vùng nửa tối
Ở tổn thương thiếu máu cục bộ não có hai vùng Vùng trung tâm có lưu lượng máu thấp 10 - 15ml/100g não/phút, các tế bào sẽ chết gọi là vùng hoại
tử không có khả năng điều trị Vùng chu vi có lưu lượng máu não 23ml/100g não/phút, tế bào không chết nhưng không hoạt động gọi là vùng nửa tối Nếu được tưới bù do tuần hoàn bàng hệ hoặc nhờ thuốc giúp hấp thụ oxy, vùng này hồi phục, vì vậy gọi là vùng điều trị Thời gian tồn tại vùng nửa tối gọi là cửa sổ điều trị thường là 3-72 giờ, quá thời gian đó tế bào chuyển sang hoại
tử Vì vậy điều trị phải càng sớm càng tốt [15], [69]
Trang 4Việc điều trị sớm còn phụ thuộc người bệnh đến viện sớm, vậy cần truyền thông trong cộng đồng các dấu hiệu cảnh báo TBMMN sau:
- Tê, yếu hoặc liệt mặt, tay và chân thường là một bên của cơ thể
- Rối loạn thị giác ở một hoặc hai bên mắt, như tối mắt, mờ mắt, nhìn đôi
- Lú lẫn, rối loạn ý thức
- Không nói được hoặc nói khó hoặc không hiểu lời nói
- Đi không vững, chóng mặt, mất thăng bằng hoặc mất phối hợp vận động
- Đau đầu dữ dội
Người có một trong các dấu hiệu trên cần được đi khám chuyên khoa ngay [3], [16], [51]
Xử trí tại gia đình người bệnh: khi người nhà phát hiện thấy người bệnh
có dấu hiệu của các triệu chứng với các đặc điểm xuất hiện và hoàn cảnh xuất hiện như trên, thì người nhà người bệnh nên và không nên làm các công việc sau:
+ Chuẩn bị tâm lý cho mọi người trong gia đình, chủ động đón nhận một thời kỳ chăm sóc, điều trị người bệnh lâu dài, vất vả
- Những việc không nên làm:
+ Để người bệnh tại nhà chờ đợi sự thuyên giảm tự nhiên của người bệnh hoặc cho rằng người bệnh tuổi đã cao không cần đưa đi bệnh viện cứu chữa
Trang 5+ Trì hoãn để đưa người bệnh đi khám trong hoàn cảnh tiện lợi (khám theo tuyến, chờ cho đầy đủ các thành viên trong gia đình, chờ cho trời sáng mới đưa người bệnh đi bệnh viện )
+ Tự sử dụng các loại thuốc cấp cứu điều trị mà không có đơn của thầy thuốc [4]
1.2 Tình hình tai biến mạch máu não trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Thế giới
Tai biến mạch máu não là một bệnh thường gặp Theo Tổ chức Y tế Thế giới (1979) số người mắc tai biến mạch máu não là 127-740/100.000 dân/năm [17], [25], [32]
Tổ chức điều trị, dự phòng tai biến mạch máu não Châu Âu (1993) cho biết số người tai biến mạch máu não lần đầu tiên dao động trong khoảng từ
Trang 6Tai biến mạch máu não là nguyên nhân thứ ba gây tử vong (sau bệnh tim mạch và ung thư) và cũng là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra tàn tật [10] Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (Murray, 1996), năm 1990 ước tính
có tới 2,1 triệu người bị tử vong vì tai biến mạch máu não tại châu Á, bao gồm 1,3 triệu người ở Trung Quốc, 448.000 người ở Ẩn Độ và 390.000 người
ở các nơi khác trừ Nhật Bản [20]
Theo một số tác giả khác, tỷ lệ tử vong sau tai biến mạch máu não ở bệnh viện là 21%, trong 30 ngày đầu là 35%, trong sáu tháng đầu là 41%, trong một năm đầu là 21%, trong năm năm đầu là 58% và tỷ lệ tử vong do tai biến mạch máu não gia tăng từ năm 1968 đến năm 1994 ở hầu hết các nước Đông Âu [64]
1.2.2 Việt Nam
Trong những năm gần đây, ở nước ta tai biến mạch máu não đang có chiều hướng gia tăng cướp đi sinh mạng của nhiều người hoặc để lai di chứng nặng nề gây thiệt hại to lớn cho gia đình và xã hội [7], [20], [21]
Theo Nguyễn Văn Đăng, tại khoa Thần kinh bệnh viện Bạch Mai từ năm
1991 đến năm 1993 có 631 trường hợp tai biến mạch máu não tăng gấp 2,5
lần so với thời kỳ 1986 -1989 và tỷ lệ mới mắc là 53,2/100.000 dân/năm [12]
Tại huyện Thanh Trì, số người bệnh bị tai biến mạch máu não năm 1993 tăng 3,2 lần so với năm 1989 [9]
Ở miền Nam (1994-1995), tỷ lệ mắc tai biến mạch máu não là 415/100.000 dân/năm, còn tỷ lệ mới mắc là 161/100.000 dân/ năm [14]
Phạm Hồng Minh và cộng sự nghiên cứu thấy rằng tỷ lệ mới mắc tai biến mạch máu não trung bình là 34/100.000 dân/năm, tỷ lệ hiện mắc tai biến mạch máu não trung bình là 87/100.000 dân/năm và tỷ lệ tử vong trung bình
do tai biến mạch máu não là 25/100.000 dân/năm [29]
Trang 7Tai biến mạch máu não có tỷ lệ tử vong cao: tỷ lệ tử vong do tai biến mạch máu não ở thành phố Hồ Chí Minh là 28%, ở Tiền Giang là 44% và 39% ở Kiên Giang [14]
1.3 Tình hình di chứng và tàn tật do tai bỉến mạch máu não trên thế giới
Các di chứng thường gặp ở bộ máy vận động trong TBMMN bao gồm:
- Đau khớp vai bên liệt do không cử động được hết tầm chiếm 45% người bệnh liệt nửa người
- Gập khớp khuỷu do cơ gập khuỷu ngấn lại chiếm 73%
- Gập khớp cổ tay ở phía lòng bàn tay do mất chức năng gập phía lưng bàn tay và duỗi các ngón tay chiếm 92%
- Quay sấp cổ tay bên liệt 75%
- Khớp gối bên liệt duỗi gây khó khăn đi lại chiếm 88%
- Gân Achille ngắn lại gây “ bàn chân rủ” chiếm 94% [14]
Theo Wade 50% người bệnh sống sót sau tai biến mạch máu não bị tàn tật [75]
1.3.2 Việt Nam
Theo Nguyễn Văn Đăng di chứng nhẹ và vừa chiếm tỷ lệ cao 68,42%, di chứng về vận động chiếm 92,62% [14], [49]
Trang 8Cao Minh Châu nghiên cứu thấy di chứng về vận động chiếm tỷ lệ cao gồm: đau khớp vai chiếm 69,88%, quay sấp cẳng tay chiếm 73, 49%, còn gập phía lòng khớp cổ tay chiếm 87,95% và gập phía lòng khớp cổ chân chiếm 96,39% [2]
Theo Trần Văn Chương, di chứng về vận động do tai biến mạch máu não chiếm tỷ lệ cao, co rút gập mặt lòng cổ tay bên liệt chiếm 87,9% co rút gân gót bên liệt chiếm 93,6%, còn quay sấp cẳng tay bên liệt chiếm 73,4% và khớp háng bên liệt không gấp khi đi bình thường chiếm 90,3% [8]
Hoàng Khánh và cộng sự cho biết tại Thừa Thiên Huế tỷ lệ di chứng vừa
và nặng do tai biến mạch máu não chiếm 65% [25]
1.4 Định nghĩa phục hồi chức năng
Phục hồi chức năng là dùng các biện pháp y học, kinh tế, xã hội học, giáo dục hướng nghiệp và kỹ thuật phục hồi làm giảm tối đa tác động khiếm khuyết, giảm chức năng và tàn tật, đảm bảo cho người tàn tật ( do hậu quả của
ốm đau, tai nạn, tật bẩm sinh, tuổi cao ) hội nhập hoặc tái hội nhập xã hội, có những cơ hội bình đẳng, tham gia vào các hoạt động trong gia đình, xã hội, có cuộc sống bình đẳng tối đa so với hoàn cảnh của họ [11], [30]
1.5 Các hình thức phục hồi chức năng
1.5.1 Phục hồi chức năng dựa vào các viện
Phục hồi chức năng dựa vào các viện đã được triển khai ở Việt Nam và các nước trên thế giới nhiều năm nay Do tập trung nhiều phương tiện và cán
bộ chuyên khoa nên có thể phục hồi những trường hợp khó và nặng Tuy vậy:
- Người tàn tật phải rời bỏ gia đình đến các trung tâm phục hồi chức năng (tách biệt với xã hội)
- Phục hồi chức năng không sát với nhu cầu người tàn tật ở địa phương
họ
Trang 9- Chỉ giải quyết được số ít người có điều kiện, khoảng 3% số người tàn tật
- Chi phí cao, tốn kém
- Do đó, các trung tâm chỉ tổ chức đủ để làm công tác nghiên cứu, đào tạo và phục hồi chức năng những trường hợp khó
1.5.2 Phục hồi chức năng ngoài viện
Đặc điểm của hình thức này là:
- Cán bộ phục hồi của các trung tâm đem phương tiện đi đến địa phương trực tiếp phục hồi chức năng cho người tàn tật Như vậy, chỉ tập trung vào cá nhân tàn tật mà không nhân ra toàn xă hội
- Số người tàn tật được phục hồi chức năng tuy có nhiều hơn, tiến bộ hơn nhưng không thường xuyên liên tục, không được theo dõi được chặt chẽ
vì thiếu cán bộ chuyên môn
- Chi phí tốn kém
- Chưa có đủ cán bộ chuyên môn
1.5.3 Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
- Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng là một biện pháp nằm trong
sự phát triển cộng đồng về phục hồi chức năng, bình đẳng về mọi cơ hội và hội nhập xã hội của tất cả những người tàn tật Theo hình thức này:
+ Người tàn tật được phát hiện và phục hồi chức năng tại cộng đồng theo
kỹ thuật thích nghi Người tàn tật, thân nhân và nhân viên y tế cơ sở trực tiếp thực hiện các kỹ thuật phục hồi dưới sự hướng dẫn của cán bộ phục hồi chức năng
+ Biến công tác phục hồi chức năng thành công tác của cộng đồng (thực chất là thông qua để xã hội hóa công tác phục hồi chức năng)
+ Tỷ lệ người tàn tật được phục hồi cao nhất
Trang 10+ Chất lượng hồi phục cao: người tàn tật được đáp ứng cả năm nhu cầu
cơ bản của con người, đặc biệt đã làm thay đổi thái độ của xã hội đối với người tàn tật
+ Người tàn tật có cơ hội tốt hội nhập xã hội
+ Chi phí vừa phải, chấp nhận được
+ Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng được lồng ghép chặt chẽ trong
hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu tại cộng đồng
+ Giải quyết được tình trạng thiếu cán bộ chuyên khoa ở tuyến dưới
- Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đã trở thành một chương trình được triển khai rộng khắp trên phạm vi toàn quốc, dưới sự điều hành của Ban chủ nhiệm chương trình phục hồi chức năng - Bộ Y tế, với những nguồn kinh phí khác nhau và được triển khai ở 31 trong số 61 tỉnh, thành phố trên phạm
vi toàn quốc
- Mục tiêu của phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng:
+ Xây dựng mô hình lồng ghép trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu, sức khỏe cộng đồng và góp phần phát triển cộng đồng, bao gồm việc phát hiện bệnh sớm, phục hồi chức năng sớm với kỹ thuật thích nghi, giá thành thấp, có biện pháp phòng ngừa tàn tật hữu hiệu
+ Xây dựng dịch vụ phục hồi chức năng theo từng tuyến, chuyển giao kỹ thuật cơ bản về phục hồi chức năng cho người tàn tật, gia đình họ và nhân viên phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng để phát triển phục hồi chức năng
Xã hội hóa công tác phục hồi chức năng trong các lĩnh vực: y học, xã hội, giáo dục và hướng nghiệp cho người tàn tật Biến phục hồi chức năng thành một nhiệm vụ, một bộ phận của quá trình phát triển xã hội
+ Xây dựng được hệ thống quản lý, điều hành, triển khai, theo dõi, đánh giá, duy trì, mở rộng dự án phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng
Trang 11+ Làm thay đổi nhận thức xã hội để người tàn tật được chấp nhận là thành viên bình đẳng trong xã hội
+ Tỷ lệ người tàn tật hòa nhập vào xã hội cao và có chất lượng cuộc sống tốt đẹp hơn
-Tổ chức Y tế Thế giới ước đoán tỷ lệ người tàn tật có thể phục hồi tại các tuyến như sau:
+ Tại xã từ 75% đến 80% số người tàn tật
+ Tại tuyến huyện từ 5 đến 10 % số người tàn tật
+ Tại tuyến tỉnh từ 5 đến 10% số người tàn tậtế + Tại tuyến trung ương từ
Xã Huyện Tỉnh
Trung ương
75-80%
5-10%
5-10%
1-5%
Trang 12phục hồi chức năng cho người sau tai biến mạch máu não sẽ bao gồm các biện pháp: y học kỹ thuật vật lý trị liệu, hoạt động trị liệu, các dụng cụ phục hồi chức năng, các biện pháp về môi trường và xã hội [2], [10], [17]
1.6.1 Mục đích
- Giúp cho bệnh nhân rèn luyện ở tay bị liệt, dùng vai và khuỷu tay để trợ giúp cho những động tác như cầm, nắm và kéo Cho tập luyện có theo dõi
và trợ giúp ở những khoảng cách khoảng 10 m
- Giúp người bệnh tự làm được những công việc trong đời sống và sinh hoạt hàng ngày như tự mặc áo, tắm rửa, vệ sinh
- Giúp bệnh nhân rèn luyện ở tay bị liệt, dùng vai và khuỷu tay để trợ giúp cho những động tác như cầm, nắm và kéo
- Giúp người bệnh thích nghi với những di chứng còn lại
1.6.2 Một số kỹ thuật phục hồi chức năng vận động cơ bản cho người sau tai biến mạch máu não
Có nhiều phương pháp phục hồi chức năng cho người liệt nửa người, nhưng phương pháp của Bobath được phổ biến và áp dụng nhiều nhất Từ năm 1985, sau đợt hội thảo với các chuyên gia phục hồi chức năng của Hà Lan, phương pháp phục hồi chức năng của Bobath cho người liệt nửa người bắt đầu được áp dụng một cách có hệ thống ở Việt Nam với hai mục tiêu chính: chống mẫu co cứng và phục hồi chức năng vận động tự chủ của bên liệt [10], [17]
1.6.2.1 Tư thế chống mẫu co cứng
Liệt nửa người do tai biến mạch máu não lúc đầu là liệt mềm, sau đó dần dần chuyển sang liệt cứng với mẫu co cứng rất đặc trưng: cánh tay khép, cẳng tay gấp, ngón tay gấp, chân duỗi và đổ ra ngoài, bàn chân duỗi và đầu nghiêng về bên liệt Cùng với tăng trương lực cơ, người bệnh không còn khả năng điều khiển bên liệt theo ý muốn, chính vì thế cần có biện pháp chống
Trang 13mẫu co cứng ngay từ đầu, càng sớm càng tốt Để chống mẫu co cứng đến nạy chủ yếu vẫn dùng kỹ thuật “tư thế” trong nằm ngửa, nằm nghiêng bên liệt, nằm nghiêng bên lành với vị thế của chi liệt ngược lại với mẫu co cứng như tay duỗi và dạng, chân gấp và xoay đùi vào trong, đầu thẳng Khi người bệnh
đã ngồi hay đứng, đi cũng cần tiếp tục chống mẫu co cứng
1.6.2.2 Phục hồi vận động bên liệt
Việc phục hồi bên liệt cho người liệt nửa người do tai biến mạch máu não cần tiến hành sớm, tùy theo giai đoạn, tình trạng của người bệnh mà ứng dụng các kỹ thuật cho phù hợp, với những động tác thụ động, chủ động có trợ giúp vận động chủ động và được lặp đi lặp lại, hoàn thiện dàn dần [10], [17]
- Động tác thụ động được áp dụng khi người bệnh không tự làm được, cần có sự trợ giúp hoàn toàn, đó là các vận động cơ bản của khớp (duỗi, gấp, dạng, xoay, khép ) và duy trì cho tới khi xuất hiện co cơ chủ động
- Động tác chủ động có trợ giúp được áp dụng khi người bệnh bắt đầu
có thể thực hiện động tác một phần theo ý muốn hay mệnh lệnh cần sự trợ giúp thêm của người khác để vận động đạt mức tối đa và đúng Quá trình này
có thể tiến hành bằng nhiều cách: bên lành giúp bên liệt, người khác trợ giúp, kết hợp sử dụng một số dụng cụ trợ giúp
- Động tác chủ động thể hiện quá trình phục hồi dần dần của điều khiển thần kinh trung ương, từ động tác giản đom đến hiệp đồng và tư duy phức tạp theo ý muốn, được tiến hành ờ tư thế nằm như lăn trở, vận động chi thể, tàm cầu, dồn trọng lượng về bên liệt, rồi chuyển sang tư thế ngồi tập các động tác chi thể và cột sống, sau đó đến tập đứng và tập đi
Trang 14động chủ động hết tầm, có thể ở tư thế nằm, ngồi, đứng, tùy theo khả nậng của người bệnh
1.7 Một số nghỉên cứu liên quan mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của người sau tai biến mạch máu não trên thế giới và Việt Nam
Việc đánh giá khả năng thực hiện các hoạt động sống hàng ngày liên quan đến tình trạng ăn uống, tắm, kiểm soát đại tiểu tiện, chăm sóc bản thân, thay quần áo, di chuyển , một giai đoạn hết sức quan trọng tạo điều kiện cho quá trình tái hội nhập xã hội và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người tàn tật
Mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày bao gồm:
- Độc lập hoàn toàn
- Trợ giúp ít
- Trợ giúp trung bình
- Phụ thuộc hoàn toàn
Yamashita K và cộng sự khi nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến mức
độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày ở những người bệnh tai biến mạch máu não thấy hai yếu tố chính ảnh hưởng đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày là chĩ số mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày ngay trước khi tiến hành phục hồi chức năng và khoảng thời gian kể từ khi bệnh khởi phát đến khi bắt đầu tiến hành chương trình phục hồi chức năng [78]
Ishikawa R và cộng sự cho rằng sự phục hồi mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày liên quan mật thiết với nhóm tuổi, thời gian nằm viện, thị lực
và khả năng định hướng của người bệnh [63]
Theo Jorgenchou và cộng sự, tỷ lệ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày cao hay thấp phụ thuộc vào mức độ tai biến mạch máu não nặng hay nhẹ Mức độ tai biến mạch máu não càng nặng thì sự phục hồi về chức năng trong sinh hoạt hàng ngày càng khó khăn [64]
Trang 15Nghiên cứu sự khác nhau trong hồi phục về chức năng theo giới tính của
165 người bệnh sau một năm bị tai biến mạch máu não Wyller T B và cộng
sự cho biết mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của nam giới xao hom của nữ giới [77]
Chae J và cộng sự nghiên cứu trên hai nhóm người bệnh chảy máu não
và nhồi máu não, sau phục hồi chức năng thấy rằng mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng này giữa hai nhóm không có sự khác nhau [56]
Một công trình nghiên cứu trong bệnh viện ở Anh, tổng kết dựa vào hỏi người bệnh sống sót sau tai biến mạch máu não ba tháng cho biết, nếu người bệnh ngay từ đầu không tự đi, mặc quần áo, ăn uống, ra khỏi giường để tự ngồi vào ghế bành thì số người may mắn tự làm được việc đó tương ứng là 65
%, 23,54% và 68 %, còn nếu người bệnh có tay liệt sau hai tuần không cử động được thì số người may mắn dùng lại cánh tay đó là 14 % [56]
Indredavik B và cộng sự nghiên cứu cho biết những người bị tai biến mạch máu não đã được áp dụng điều trị và chăm sóc toàn diện khoảng 18,6 ngày nằm viện có 56,3 % độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày sau 6
tuần và tỷ lệ này là 60 % sau 26 tuần bị bệnh, còn đổi với những người không
được điều trị và chăm sóc toàn diện chỉ có 48,8% độc lập hàng ngày sau 6 tuần và tỷ lệ này là 49,4 % sau 28 tuần bị bệnh [62]
Schutte T và cộng sự tiến hành chương trình điều trị phục hồi chức năng cho 72 người sau tai biến mạch máu não với thời gian trung bình là 72,3 ngày thấy rằng hai năm sau tai biến mạch máu não có 76,6 % tiến bộ về chức năng vận động và 61,1% độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày [71]
Tiến hành chương tình điều trị phục hồi chức năng cho 277 người bệnh tai biến mạch máu não với thời gian nằm viện của nam là 57 ± 32 ngày, của
nữ là 60 ± 40 ngày, Maehlum s và cộng sự cho biết có 88 % các trường hợp
độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày khi ra viện [66]
Trang 16Samuelsson M và cộng sự nghiên cứu 81 người bệnh nhồi máu não lần đầu cho biết với thời gian dưới ba năm sau tai biến mạch máu não, mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày chiếm từ 58 % đến 64 %, còn mức độ phụ thuộc hoàn toàn chiếm 12 % đến 24 % [70]
Khi nghiên cứu theo dõi những người sống sót sau tai biến mạch máu não lần đầu tiên, để tìm ra những vấn đề trong chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng, Motegi A và cộng sự cho biết sau hai năm tai biến mạch máu não có 62 % các trường hợp độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày [67]
Bằng phương pháp phỏng vấn qua điện thoại để nghiên cứu ảnh hưởng của tai biến mạch máu não với chất lượng cuộc sống của 199 người bệnh tai biến mạch não lần thứ nhất với độ tuổi từ 17 đến 49 tại cộng đồng Alfassa và cộng sự thấy có 86 % các trường hợp độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày sau một năm bị bệnh, không có sự thay đổi có ý nghĩa về mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày ở năm tiếp theo và họ cho rằng cần phải phát triển mạnh mẽ chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng [50] Indredavik B và cộng sự nghiên cứu 220 người bệnh tai biến mạch máu não được chia thành hai nhóm, mỗi nhóm 110 người bệnh trong đó một nhóm được can thiệp điều trị phục hồi chức năng, còn một nhóm không có can thiệp phục hồi chức năng, kết quả mười năm sau tai biến mạch máu não cho thấy trong số những người còn sống ở nhóm can thiệp điều trị phục hồi chức năng
có 51,85 % độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày, tỷ lệ cần sự trợ giúp
và phụ thuộc trong sinh hoạt hàng ngày chiếm 48,15%, còn ở nhóm không can thiệp điều trị phục hồi chức năng chỉ có 42,86% độc lập hoàn toàn, 57,14% cần sự giúp đỡ và phụ thuộc hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày [61]
Trang 17Jorgenchou và cộng sự khi tiến hành chương trình phục hồi chức năng cho người bệnh tai biến mạch máu não với thời gian trung bình là 37 ngày, sau khi kết thúc chương trình, thấy tỷ lệ các đối tượng có chỉ số Barthel dưới
70 điểm chiếm từ 25% đến 50% và với thời gian sáu tháng sau tai biến mạch máu não chỉ có 4% độc lập hoàn toàn đối với tai biến mạch máu não rất nặng, 37% đối với tai biến mạch máu não trung bình, còn đổi với tai biến mạch máu não nhẹ có 68% độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày [64]
Nguyễn Thùy Hương cho biết, di chứng do tai biến mạch máu não thường là liệt nửa người, do đó ảnh hưởng lớn đến đời sống sinh hoạt hàng ngày [23]
Theo Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự với chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng có 43,5 % người tàn tật hội nhập xã hội, còn khi tìm hiểu nhận thức nhu cầu và nguyện vọng của người tàn tật qua chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại ba tỉnh Thái Bình, Nam Hà, Hòa Bình, thấy rằng sự tiến bộ của người tàn tật về mặt tinh thần, xã hội và thể chất là đáng ghi nhận, tỷ lệ sức khỏe của người tàn tật được cải thiện là 75,5%, người tàn tật có thể tự chăm sóc bản thân nhiều hơn là 54,4% từ khi tham gia vào chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng [31]
Cao Minh Châu qua nghiên cứu tổng kết 83 trường hợp liệt nửa người tại các huyện triển khai chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng có
sử dụng dụng cụ phục hồi chức năng, thấy rằng chức năng của người tàn tật được cải thiện, đề phòng được các di chứng nặng nề, đề phòng được các biến dạng cổ tay, cổ chân so với nơi không có chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng và 81,4 % người bệnh liệt nửa người có sử dụng dụng cụ phục hồi chức năng thì tình trạng tàn tật được cải thiện rõ rệt [2]
Trang 18Theo Dương Xuân Đạm phục hồi chức năng vận động cho người sau tai biến mạch máu não là một quá trình lâu dài, chủ yếu là tại cộng đồng, thời gian khoảng từ 12 đến 18 tháng [10]
Ngô Đăng Thục khi nghiên cứu 43 người bệnh tắc mạch máu não hệ động mạch cành trong thấy rằng 90,75% các trường hợp đều tiến triển tốt,4ều
tự đi lại được, tùy mức độ có thể phục vụ trong sinh hoạt cá nhân cho đến mức tiếp tục làm việc và công tác như trước [43] và khi tiến hành theo dõi điều trị cho 30 người bệnh nhồi máu não bằng thuốc Cavìnton, thấy rằng 8 tuần sau tai biến mạch máu não 67 % các đối tượng có chỉ số Barthel từ 70 đến 89 điểm và không có trường hợp nào đạt được từ 90 đến 100 điểm [42] Nguyễn Văn Đăng cho biết, sau tai biến mạch máu não 15,7% còn cố gắng tự phục vụ được, 33,08% cần sự giúp đỡ một phần và 51,15% cần phục
vụ hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày [12]
Tiến hành theo dõi 27 người sau tai biến mạch máu não đã được điều trị tại khoa Phục hồi chức năng Viện Quân Y 7 ít nhất hai tuần và được hướng dẫn tập luyện tại cộng đồng Nguyễn Văn Triệu thấy ba tháng sau khi ra viện chỉ có 18,52 % độc lập hoàn toàn, 59,26 % cần sự giúp đỡ ít, 14,81 % cần sự giúp đỡ trung bình và 74% phụ thuộc hoàn toàn trong sinh hoạt hàng
ngày[48]
Trên thế giới còn có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này Tuy nhiên, ở nước ta hầu hết các nghiên cứu về phục hồi chức năng cho người bệnh tai biến mạch máu não đã được công bố đều không đề cập đến mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của người sau tai biến mạch máu não, đặc biệt là ở cộng đồng, làm cơ sở cho việc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của người tàn tật nói chung và người sau tai biến mạch máu não nói riêng [9], [23], [37], [57]
Trang 191.8 Chăm sóc người bệnh tai biến mạch máu não
1.8.1 Khái niệm về người chăm sóc người bệnh tai biến mạch máu não
Người chăm sóc là người trực tiếp thực hiện các hành động chăm sóc người bệnh hàng ngày như: bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, người giúp việc
1.8.2 Các hoạt động chăm sóc
1.8.2.1 Một số biện pháp phòng loét và điều trị loét
Một trong những phương pháp điều trị phục hồi vận động cho người bệnh tai biến mạch máu não là phòng loét và điều trị loét, với mục tiêu dự phòng loét là cơ bản, vì khi đã bị loét từ hoại tử da nhanh chóng lan rộng và sâu vào các phần mềm khác, kèm theo nhiễm khuẩn, việc điều trị sẽ gặp khó khăn, gây trở ngại nhiều do quá trình phục hồi, chăm sóc trở lên phức tạp thậm chí có thể tử vong do nhiễm khuẩn hoặc quá suy kiệt Tại cộng đồng có thể áp dụng một số các biện pháp sau:
- Giường nằm có giát bằng tre hoặc gỗ, có vải khô sạch phủ lên trên chiếu, có dùng gối và vỏ chăn chiên
- Thay đổi vị trí thường xuyên, lăn trở người bệnh hai, ba giờ một lần
- Giữ gìn vệ sinh các vùng da dễ bị loét hàng ngày từ một đến hai lần bằng cách dùng khăn mềm dúng nước ấm vắt khô, sau đó lau khô bằng khăn mềm sạch, nhất là sau khi đi đại tiện, tiểu tiện
- Thường xuyên quan sát da, kiểm tra phát hiện sớm các dấu hiệu đe dọa loét tại các điểm tì như: cảm giác ngứa, đau, thay đổi màu da (trắng bợt,
đỏ, tím) để điều trị sớm trước khi trợt da
- Nếu phát hiện dấu hiệu đe dọa loét tại các điểm tì đè thì dùng gối đệm
kê để vùng đó không tiếp tục bị đè ép và giữ không để trợt da Khi loét thì rừa bằng nước muối 9%, dùng kháng sinh [10], [17], [58]
Trang 201.8.2.2 Huấn luyện các hoạt động tự chăm sóc
Huấn luyện các hoạt động tự chăm sóc (ăn uống, mặc, cởi quần áo ), là rất quan trọng và không được xem nhẹ Bởi người sau tai biến mạch máu não
có thể độc lập về chức năng vận động nhưng chưa hẳn đã độc lập trong các hoạt động chăm sóc bản thân nếu như không huấn luyện cho họ, họ sẽ cảm thấy hạnh phúc vì không còn phải phụ thuộc vào người khác, cần hướng dẫn người bệnh thực hiện các động tác này sao cho đom giản, phù hợp với họ theo cách trước đó mà họ đã làm Người bệnh có thể ăn bằng nhiều cách khác nhau, có thể dùng một tay hoặc cả hai tay, có thế dùng thìa hoặc đũa Mặc quần áo đối với người liệt nửa người sau tai biến mạch máu não là khó Trước hết, người tập phải mặc cho người bệnh mặc dù họ không yêu cầu, mặc cho
họ những quần áo thông thường của họ theo khả năng có thể, khi hết khó khăn thì động viên, hướng dẫn người bệnh tự mặc [10], [17]
1.9 Nghiên cứu KAP (Knowledge - Attitute- Practice)
Là nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành
Kiến thức thường bắt nguồn từ kinh nghiệm sống Chúng ta có thể có kiến thức qua những thông tin mà thầy cô giáo, cha mẹ, bạn bè, sách báo, phát thanh và truyền hình cung cấp Kiến thức thường được chúng ta kiểm tra lại xem có đúng hay không
Thái độ bắt nguồn từ kinh nghiệm của bản thân hoặc kinh nghiệm của những người thân Thái độ phản ánh những gì mà chúng ta thích thú với điều này hoặc không thích, cảm giác với điều kia
Thực hành bao gồm thực hành tốt và thực hành không tốt Trong nghiên cứu KAP người ta cần nghiên cứu, tìm hiểu những hành vi/thực hành nào là tốt, có lợi cho sức khỏe cần được duy trì và phát huy, những hành vi/ thực hành nào không tốt, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng cần phải được loại bỏ và thay thế vào đó là những hành vi/thực hành tốt
Trang 21Để thu thập những thông tin về kiến thức, thái độ, thực hành của người chăm sóc, chúng tôi sử dụng các kỹ thuật thu thập thông tin khác nhau như: phỏng vấn, quan sát
Qua các nghiên cứu về người bệnh tai biến mạch máu não cho thấy việc nghiên cứu chăm sóc, phục hồi vận động người bệnh tai biến mạch máu não tại Hải Phòng còn hạn chế, chưa có tính đồng bộ, chưa có đủ trang thiết bị cần
thiết Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng chăm sóc, phục hồi vận động người bệnh tai biến mạch máu não tại khoa Thần kinh- Bệnh viện Việt Tiệp – Hải Phòng năm 2013" để mô tả thực trạng
chăm sóc, phục hồi vận động người bệnh TBMMN và kiến thức, thái độ, thực hành của người chăm sóc qua đó đưa ra các giải pháp thích hợp để chăm sóc, phòng chống, nâng cao sức khỏe cho những người bị TBMMN nói riêng và những người cao tuổi nói chung tại khu vực Hải Phòng [38]
Trang 22Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:
Bệnh nhân: Được chẩn đoán xác định là TBMMN tại khoa Thần kinh- Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 6 năm
2014 đang được điều trị và chăm sóc phục hồi vận động tại khoa Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định TBMMN:
- Theo tiêu chuẩn của TCYTTG “TBMMN là sự xảy ra đột ngột các thiếu sót chức năng thần kinh, thường là khu trú hơn là lan tỏa, tồn tại quá 24 giờ hoặc gây tử vong trong 24 giờ, các khám xét loại trừ nguyên nhân chấn thương”
Người chăm sóc người bệnh tai biến mạch máu não
Là người chủ yếu trực tiếp thực hiện các hoạt động chăm sóc hàng ngày cho người bệnh:, bố, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em, người giúp việc,
Bệnh nhân và người chăm sóc đồng ý tham gia nghiên cứu
Trang 232.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
+ Những bệnh nhân có dấu hiệu thần kinh khu trú, khởi phát đột ngột sau chân thương sọ não
+ Những bệnh nhân u não
+ Những bệnh nhân có liệt khu trú sau động kinh cục bộ, động kinh cơn lớn kèm tiền sử động kinh
+ Những người bệnh liệt nửa người không phải do TBMMN
+ Những người TBMMN thoáng qua (không bị liệt)
+ Người chăm sóc không phải người chăm sóc chính cho bệnh nhân + Những bệnh nhân, người chăm sóc từ chối tham gia nghiên cứu
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại khoa Thần kinh – Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 10/2013 đến tháng 11/2014
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.4.2 Cỡ mẫu- chọn mẫu
2.4.2.1 Mẫu điều tra thực trạng chăm sóc, phục hồi vận động người bệnh tai
biến mạch máu não
- Chọn khoa Thần kinh – Bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng
- Chọn toàn bộ bệnh TBMMN tại khoa đã và đang điều trị trong 6 tháng đầu năm 2014 Tổng số bệnh nhân đạt tiêu chuẩn là 80 người
Trang 242.4.2.2.Mẫu điều tra kiến thức, thái độ và thực hành của người chăm sóc
Những người chăm sóc trực tiếp người bệnh Tổng số người chăm sóc tham gia nghiên cứu là 80 người
2.4.3 Phương pháp thu thập số liệu
2.4.3.1 Công cụ thu thập số liệu
- Chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi có cấu trúc, bộ câu hỏi đóng, mở được thiết kế sẵn để phỏng vấn trực tiếp các đối tượng nghiên cứu bao gồm:
- Bộ câu hỏi phỏng vấn người bệnh TBMMN (phụ lục 1)
- Bộ câu hỏi phỏng vấn người chăm sóc người bệnh TBMMN (phụ lục 2)
- Bảng kiểm đánh giá môi trường xung quanh nơi người bệnh ở, tình trạng
vệ sinh cá nhân của người bệnh
2.4.3.2 Phương pháp thu thập số liệu:
- Phỏng vấn bệnh nhân và người chăm sóc
- Quan sát đánh giá theo bảng kiểm:
+ Tình trạng toàn thân bệnh nhân
+ Môi trường xung quanh nơi người bệnh ở: phòng ở, giường nằm, nơi tắm, nơi vệ sinh
+ Quần áo, đầu tóc, tình trạng da
+ Bên liệt: bên phải hay bên trái
+ Chế độ vận động và luyện tập
+ Các vận động người bệnh có thể làm:
Khi nằm có thể tự lăn để nằm nghiêng sang bên lành và bên liệt được
không ?
Khi nằm có vận động gấp duỗi được tay và chân liệt không?
Người bệnh có thể tự ngồi dậy hay cần phải có người khác giúp?
Người bệnh có thể tự ngồi và giữ thăng bằng được hay cần có người
khác đỡ?
Trang 25Người bệnh có thể vận động được chân tay liệt khi ngồi không?
Người bệnh có thể tự đứng và giữ thăng bằng hay cần phải có người
giúp?
Người bệnh có tự vận động tay, chân bên liệt khi đứng dậy được
không?
Người bệnh có tự đi lại được không?
Người bệnh có thể tự lên xuống cầu thang, bậc thềm nhà được không? Người bệnh có tự làm được những công việc trong đời sống và sinh
hoạt hàng ngày như: ăn uống, tắm rửa, chăm sóc bản thân (chải đầu, mặc quần áo ), tham gia các công việc của gia đình được không?
Các dụng cụ trợ giúp hiện người bệnh đang sử dụng (nạng nách, gậy tập
đi, thanh song song, thanh tường, ròng rọc )
Nhu cầu về dụng cụ trợ giúp của người bệnh
- Bảng kiểm đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày của những người bệnh TBMMN theo thang điểm của Barthel (Barthel index scoring), có điểm tối đa bình thường là 100 và chia làm 4 mức khi đánh giá [35], [36], [45]:
+ Độc lập hoàn toàn : 95 - 100 điểm
+ Trợ giúp ít : 65 - 90 điểm
+ Trợ giúp trung bình : 25 - 60 điểm
+ Phụ thuộc hoàn toàn : 0 - 20 điểm
Trang 26Đánh giá mức độ ADL theo Barthel
4 Kiểm soát đi
tiểu
- Không gặp khó khăn, kiểm soát tốt 10
- Thỉnh thoảng có rối loạn cần giúp đỡ 5
- Rối loạn thường xuyên (bí tiêu, đái dầm) 0
5 Chăm sóc bản
thân
6 Thay quần, áo
- Cần có sự giúp đỡ nhưng người bệnh ít nhất làm được một nửa trong thời gian hợp lý 5
7 Sử dụng nhà
xí
- Tự đi tiêu, ngồi được trong nhà xí 10
- Cần có sự thăng bằng để cởi quần áo, lấy giầy 5
- Cần có sự giúp đỡ tối đa, ngồi được
- Không ngồi được, nằm tại giường
10 -Cần sự giám sát, có sự giúp đỡ ít 5
- Cần có sự giúp đỡ tối đa, ngồi được 0
- K hông ngồi được, nằm tại giường 0
9 Di chuyển
- Tự đi được 50m có người dắt hoặc tay vịn 5
- K - Không bước được tự đẩy hoặc có xe lăn 0
Trang 27- C - Cần sự giúp đỡ hoàn toàn 0
10 Leo bậc thang
- Tự lên, xuống bậc thềm nhà, cầu thang 10
- Leo được nhưng cần dắt, vịn, dùng nạng 5
2.5 Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu thu thập được làm sạch, nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và xử
lý bằng phần mềm SPSS 19.0
Các biến định tính được tính toán tần suất, tỉ lệ ở các nhóm đối tượng với các nhóm mức độ khác nhau Xem xét sự khác biệt tỉ lệ giữa các biến định tính bằng Fisher’s exact test và testc2; xác định mối liên quan với mức ý nghĩa thống kê p<0,05
2.7 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được sự đồng ý và phê duyệt của Hội đồng Khoa học trường Đại học Y Dược Hải PhòngĐối tượng được thông báo đầy đủ về mục đích và nội dung triển khai nghiên cứu
Chỉ những đối tượng nào đồng ý tham gia nghiên cứu mới chọn vào nghiên cứu, tư vấn cho người bệnh và người chăm sóc về biện pháp chăm sóc, phục hồi vận động và cách phòng bệnh để nâng cao sức khỏe
Trang 28Nghiên cứu chủ yếu là phỏng vấn theo bộ câu hỏi, không gây ảnh hưởng tới sức khoẻ người tham gia nghiên cứu và được sự ủng hộ của ngành y tế, chính quyền địa phương
Các thông tin cá nhân được tôn trọng bảo mật theo yêu cầu của đối tượng tham gia nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm mục đích góp phần bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho các người bệnh tai biến mạch máu não tại cộng đồng
Trang 29Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Phân bố người bệnh theo nhóm tuổi và giới
Trang 3052,5% 35%
7,5 % 5%
Mù chữ, tiểu học Trung học cơ sở Trung học phổ thông Trên trung học phổ thông
Hình 3 1: Trình độ học vấn của người bệnh
Nhận xét:
Tỉ lệ bệnh nhân mù chữ hoặc chỉ học đến tiểu học chiếm đa số (52%),
có khoảng 10% bệnh nhân học đến trung học phổ thông và trên trung học phổ thông
Trang 31Bảng 3.2 Phân bố người bệnh theo bên liệt và giới
Trang 32Bảng 3.3 Phân bố người bệnh theo nghề nghiệp
Trang 33Bảng 3.4 Phân bố theo thời gian bị TBMMN và giới
Tỷ lệ (%)
Trang 343.2 Thực trạng chăm sóc phục hồi vận động người bệnh tai biến mạch máu não tại khoa Thần Kinh- Bệnh viện Việt Tiệp – Hải Phòng
3.2.1 Thực trạng chăm sóc người bệnh tai biến mạch máu não
Bảng 3.5 Thể trạng của người bệnh(theo chỉ số BMI)
Đa số bệnh nhân có chỉ số BMI trong ngưỡng bình thường (62,50%),
13, 75% bệnh nhân ở trạng thái thừa cân và 23,75% bệnh nhân ở trạng thái gầy
Trang 35Phòng không đảm bảo vệ sinh
Nhận xét:
Có 75% bệnh nhân nhận định phòng bệnh đủ ánh sang, 67,50% bệnh nhân cho rằng phòng bệnh thoáng, chỉ có 25% bệnh nhân cho rằng phòng bệnh có mùi hôi khai không đảm bảo vệ sinh
Bảng 3.7: Giường nằm của người bệnh
Có 70% bệnh nhân nằm giường cứng trong quá trình điều trị, chỉ có
30% bệnh nhân được nằm giường mềm