1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam chi nhánh tỉnh thái nguyên

137 228 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 137
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hệ thống các ngân hàng thương mại NHTM, một trong những kênh phân phối vốn lớn của nền kinh tế có thể tồn tại, phát triển, hoạt động thông suốt, điều hòa, cần phải nâng cao chất lượng

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGUYỄN VĂN TUẤN

NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH NHẰM HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUỐC TẾ VIỆT NAM -

CHI NHÁNH TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Tiến Long

THÁI NGUYÊN - 2013

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ “Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Thái Nguyên” đã đƣợc tiến hành nghiên cứu chủ yếu tại Ngân hàng TMCP

Quốc tế chi nhánh tỉnh Thái Nguyên là công trình nghiên cứu độc lập; số liệu sử dụng và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chƣa đƣợc sử dụng để bảo vệ cho bất cứ một học vị nào

Tác giả đã sử dụng nhiều nguồn thông tin liên quan khác nhau để phục vụ cho việc nghiên cứu, các nguồn thông tin đã đƣợc xử lý và chỉ rõ nguồn gốc Mọi

sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài đã đƣợc cảm ơn./

Thái Nguyên, tháng 08 năm 2013

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Tuấn

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện Luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp

đỡ của Quý thầy, cô, bạn bè

Trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Tiến Long - Trưởng phòng

QLKH&QHQT trường ĐH Kinh tế và QTKD, người Thầy đã định hướng cho chủ

đề nghiên cứu; nghiêm túc về mặt khoa học và tận tình giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu; các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Kinh tế; cán bộ và chuyên viên Phòng QLĐT Sau Đại học - Trường ĐH Kinh tế và QTKD

đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi về các điều kiện trong quá trình thực hiện luận văn

Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc, các phòng chức năng và cán bộ, nhân viên Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam Chi nhánh tỉnh Thái Nguyên; các Phòng chuyên môn của Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên; Sở Kế hoạc và Đầu tư tỉnh Thái Nguyên đã cung cấp thông tin, tài liệu và hợp tác giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Để có được kiến thức như ngày hôm nay, cho phép em gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Quý thầy, cô trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh thuộc Đại học Thái Nguyên trong thời gian qua đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu Trân trọng cảm ơn sự quan tâm của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Thái Nguyên, tháng 08 năm 2013

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Tuấn

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vii

DANH MỤC CÁC BẢNG viii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ ix

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ ix

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ ix

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Những đóng góp của luận văn 2

5 Kết cấu của luận văn 3

Chương 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH NHẰM HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại 4

1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại 4

1.1.2 Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại 10

1.2 Khả năng cạnh tranh của ngân hàng thương mại 12

1.2.1 Khái niệm về cạnh tranh 12

1.2.2 Phân loại cạnh tranh 13

1.2.3 Khả năng cạnh tranh của ngân hàng thương mại 14

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của NHTM 18

1.2.5 Nâng cao khả năng cạnh tranh của NHTM 25

1.3 Huy động vốn của ngân hàng thương mại 25

1.3.1 Vốn và huy động vốn của ngân hàng thương mại 25

1.3.2 Các nguồn huy động vốn trong NHTM tại Việt Nam 28

1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động vốn của NHTM 32

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

1.4 Bài học kinh nghiệm về nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn của

ngân hàng thương mại 35

1.4.1 Kinh nghiệm của một số NHTM trên thế giới 35

1.4.2 Kinh nghiệm của một số ngân hàng trong và ngoài tỉnh Thái Nguyên về nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn 36

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ HỆ THỐNG CÁC CHỈ TIÊU NGHIÊN CỨU 40

2.1 Câu hỏi nghiên cứu của đề tài 40

2.2 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 40

2.2.1 Phương pháp luận và cách tiếp cận 40

2.2.2 Những phương pháp nghiên cứu 41

2.3 Mô hình và hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 44

2.3.1 Mô hình các nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh của ngân hàng 44

2.3.2 Mô hình cạnh tranh năm lực lượng của Michael Porter 45

2.3.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu về khả năng cạnh tranh và huy động vốn của VIB chi nhánh tỉnh Thái Nguyên 45

Chương 3: THỰC TRẠNG VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH NHẰM HUY ĐỘNG VỐN CỦA VIB CHI NHÁNH TỈNH THÁI NGUYÊN, GIAI ĐOẠN 2009 - 2012 60

3.1 Khái quát về tỉnh Thái Nguyên 60

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 60

3.1.2 Các điều kiện kinh tế- xã hội 61

3.2 Khái quát về ngân hàng TMCP Quốc tế chi nhánh tỉnh Thái Nguyên (VIB Thái Nguyên) 64

3.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của VIB Thái Nguyên 64

3.2.2 Cơ cấu tổ chức của VIB Thái Nguyên 64

3.2.3 Chức năng của VIB Thái Nguyên 66

3.2.4 Lĩnh vực kinh doanh của VIB chi nhánh tỉnh Thái Nguyên 67

3.3 Thực trạng khả năng cạnh tranh của VIB chi nhánh tỉnh Thái Nguyên 67

3.3.1 Sản phẩm và dịch vụ của VIB Thái Nguyên 67

3.3.2 Hệ thống phân phối và xúc tiến thương mại của VIB Thái Nguyên 70

3.3.3 Thị phần nguồn vốn huy động của VIB Thái Nguyên 72

3.3.4 Cơ cấu nguồn vốn và sự đa dạng trong các hình thức huy động vốn 73

3.3.5 Hệ thống các dịch vụ liên quan phục vụ cho hoạt động huy động vốn 76

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

3.3.6 Ứng dụng công nghệ hiện đại nâng cao khả năng cạnh tranh trong huy động

vốn của VIB Thái Nguyên 78

3.3.7 Hệ thống chi nhánh, phòng giao dịch 79

3.3.8 Thực trạng đội ngũ cán bộ, nhân viên hoạt động trong lĩnh vực huy động vốn của VIB Thái Nguyên 80

3.3.9 Yếu tố thương hiệu của VIB Thái Nguyên 85

3.3.10 Mức độ bền vững của VIB Thái Nguyên 85

3.3.11 Yếu tố bằng chứng hữu hình của VIB Thái Nguyên 86

3.3.12 Hoạt động marketing của VIB Thái Nguyên 86

3.4 Phân tích đối thủ cạnh tranh của VIB Thái Nguyên 87

3.4.1 Xác định đối thủ cạnh tranh của VIB Thái Nguyên 87

3.4.2 Đánh giá về các đối thủ cạnh tranh của VIB Thái Nguyên 88

3.5 Đánh giá chung về khả năng cạnh tranh của VIB Thái Nguyên 89

3.5.1 Điểm mạnh 89

3.5.2 Điểm yếu và nguyên nhân 91

3.6 Phân tích tình hình huy động vốn của VIB Thái Nguyên giai đoạn 2009 - 2012 91

3.6.1 Quy mô vốn huy động 91

3.6.2 Cơ cấu vốn 93

3.6.3 Chi phí huy động vốn 97

3.6.4 Mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn của VIB Thái Nguyên 98

3.6.5 Đánh giá chung về huy động vốn của VIB Thái Nguyên 99

3.7 Các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại VIB Thái Nguyên 101

3.7.1 Nhóm nhân tố chủ quan (từ phía VIB) 101

3.7.2 Nhóm nhân tố khách quan 104

Chương 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH NHẰM HUY ĐỘNG VỐN TẠI VIB CHI NHÁNH TỈNH THÁI NGUYÊN ĐẾN NĂM 2015 107

4.1 Ảnh hưởng của bối cảnh trong và ngoài tỉnh tới khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn của VIB Thái Nguyên 107

4.1.1 Bối cảnh trong tỉnh Thái Nguyên 107

4.1.2 Bối cảnh ngoài tỉnh Thái Nguyên 108

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

4.2 Mục tiêu, định hướng nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn của

VIB Thái Nguyên 110

4.2.1 Mục tiêu 110

4.2.2 Định hướng nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn của VIB Thái Nguyên 111

4.3 Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại VIB chi nhánh Thái Nguyên 111

4.3.1 Mở rộng mạng lưới kinh doanh 111

4.3.2 Phát triển các sản phẩm mới 112

4.3.3 Xây dựng chính sách lãi suất hợp lý, linh hoạt 114

4.3.4 Tăng cường hoạt động Marketing 115

4.3.5 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 117

4.3.6 Đổi mới và hiện đại hóa công nghệ ngân hàng cho VIB Thái Nguyên 118

4.3.7 Nâng cao hiệu quả của hoạt động cho vay của VIB Thái Nguyên 119

4.3.8 Phát triển sản phẩm và dịch vụ của VIB Thái Nguyên 120

4.3.9 Tích cực xây dựng và quảng bá thương hiệu 121

4.3.10 Nâng cao tính cạnh tranh của công cụ giá 121

KẾT LUẬN 124

TÀI LIỆU THAM KHẢO 126

Trang 8

SMEs Small and Medium Enterprises Doanh nghiệp nhỏ và vừa

VIB Vietnam International Bank Ngân hàng thương mại cổ phần

Quốc tế Việt Nam

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Bảng tiêu chí khảo sát, đánh giá chất lượng dịch vụ của VIB Thái Nguyên so

với NHTM khác trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (theo thang điểm 10) 68 Bảng 3.2: Thị phần huy động vốn các NHTM ở tỉnh Thái Nguyên, năm 2012 73 Bảng 3.3: Số lượng máy ATM của các NHTM ở tỉnh Thái Nguyên năm 2012 77 Bảng 3.4 Hệ thống mạng lưới Chi nhánh - Phòng giao dịch các NHTM trên địa bàn

tỉnh Thái Nguyên (trong đó có VIB Thái Nguyên) năm 2012 79 Bảng 3.5 Mức độ hoàn thành kế hoạch huy động vốn của NHTMCP VIB Thái

Nguyên (Từ năm 2009 - 2012) 93 Bảng 3.6: Cơ cấu huy động vốn theo đối tượng tại VIB Thái Nguyên, 2009 - 2012 94 Bảng 3.7: Cơ cấu tiền gửi của dân cư và TCKT theo thời hạn tại VIB Thái Nguyên, 2009 - 2012 95 Bảng 3.8: Cơ cấu huy động vốn theo loại tiền tại VIB Thái Nguyên, 2009 - 2012 96 Bảng 3.9: Chi phí huy động vốn bình quân VIB Thái Nguyên, 2009 - 2012 97 Bảng 3.10: Thu nhập từ vốn huy động của VIB Thái Nguyên, 2009 - 2012) 97 Bảng 3.11 Cơ cấu vốn huy động và sử dụng vốn theo kỳ hạn, loại tiền 98

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Đánh giá chất lượng dịch vụ của VIB Thái Nguyên so với một số ngân

hàng khác trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 68

Biểu đồ 3.2: Số lượng mạng lưới chi nhánh của ngân hàng VIB Thái Nguyên và các ngân hàng cạnh tranh khác ở tỉnh Thái nguyên (2008 - 2012) 71

Biểu đồ 3.3: Thị phần huy động vốn các NHTM ở tỉnh Thái Nguyên, năm 2012 73

Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ Số lượng máy ATM của các NHTM ở tỉnh Thái Nguyên năm 2012 77

Biểu đồ 3.5: Cơ cấu nhân lực của VIB Thái Nguyên 83

Biểu đồ 3.6 Quy mô và tăng trưởng huy động vốn của VIB Thái Nguyên, 2009 - 2012 92

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ Hình 2.1: Mô hình nhân tố tác động tới khả năng cạnh tranh của NHTM 44

Hình 2.2: Mô hình cạnh tranh 5 lực lượng của M Porter 45

Hình 2.3: Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ 53

Hình 2.4: Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng các quốc gia EU 54

Hình 2.5: Mô hình lí thuyết về chỉ số hài lòng khách hàng của các ngân hàng 57

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Chức năng của ngân hàng thương mại 7

Sơ đồ 1.2: Môi trường cạnh tranh của NHTM (mô hình 5 lực lượng) 21

Sơ đồ 2.1 Mô hình cơ cấu tổ chức của VIB chi nhánh tỉnh Thái Nguyên 65

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Hoạt động tài chính - ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc phát triển kinh tế - xã hội Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế Hoạt động tài chính ngân hàng được ví như hệ thống “huyết mạch” của “cơ thể” kinh tế - xã hội Để hệ thống các ngân hàng thương mại (NHTM), một trong những kênh phân phối vốn lớn của nền kinh tế có thể tồn tại, phát triển, hoạt động thông suốt, điều hòa, cần phải nâng cao chất lượng huy động vốn nhằm tạo nguồn vốn dồi dào, da dạng phục vụ đầu tư tăng trưởng kinh tế, ổn định giá trị đồng tiền và tạo công ăn việc làm cho toàn xã hội

Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc Kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO ngày 07/11/2006, tốc độ hội nhập kinh tế quốc tế của nền kinh tế Việt Nam càng diễn ra nhanh chóng vừa là cơ hội, vừa là thách thức lớn đối với hoạt động của hệ thống các NHTM Việt Nam Bên cạnh việc học hỏi được kinh nghiệm quản lí, kinh nghiệm kinh doanh…, các NHTM trong nước luôn phải đối mặt với áp lực phải tìm kiếm nguồn vốn có chất lượng cao phục vụ cho nền kinh tế trong môi trường cạnh tranh khốc liệt với các NHTM trong và ngoài nước

Ngân hàng Quốc tế chi nhánh Thái Nguyên thuộc hệ thống NHTM Cổ phần Quốc tế Việt Nam - một trong những ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu Việt Nam đã có nhiều thành công trong công tác huy động vốn trên thị trường Tuy nhiên, phải đương đầu với những bất cập trong các chính sách về tài chính tiền tệ,

về tỷ giá, với tình trạng khủng hoảng suy thoái kinh tế và với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường tài chính - ngân hàng…, ngân hàng Quốc tế (VIB) chi nhánh Thái Nguyên đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế về quy mô, về lãi suất, về áp dụng các hình thức huy động vốn…Có nhiều nguyên nhân, nhưng cơ bản nhất vẫn là khả năng cạnh tranh của ngân hàng còn hạn chế

Sau một thời gian khảo sát nghiên cứu tình hình thực tiễn công tác huy động vốn tại VIB chi nhánh Thái Nguyên, với mong muốn được góp phần nâng cao hiệu quả

huy động vốn của chi nhánh, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nâng cao khả năng cạnh

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

tranh nhằm huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế Việt Nam chi nhánh tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Phân tích thực trạng về khả năng cạnh tranh trong huy động vốn tại VIB chi nhánh tỉnh Thái Nguyên, từ đó đề xuất các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong huy động vốn cho VIB trong giai đoạn tới

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Khả năng cạnh tranh, hoạt động huy động vốn và các nhân tố tác động đến nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn của VIB chi nhánh Thái Nguyên làm đối tƣợng nghiên cứu cho đề tài của luận văn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng giai đoạn 2009 - 2012,

giải pháp đến 2015

- Phạm vi về không gian: nghiên cứu khả năng cạnh tranh nhằm huy động

vốn của VIB chi nhánh tỉnh Thái Nguyên, có so sánh với một số ngân hàng khác và các đối thủ cạnh tranh để xác định vị trí của ngân hàng so với đối thủ cạnh tranh ở tỉnh Thái Nguyên

- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về khả năng cạnh tranh

của VIB chi nhánh Thái Nguyên, nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn cho VIB chi nhánh Thái Nguyên; các nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh của VIB chi nhánh tỉnh Thái Nguyên Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại VIB chi nhánh Thái Nguyên giai đoạn tới

4 Những đóng góp của luận văn

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

- Bổ sung và làm sáng tỏ những vấn đề khoa học mang tính lý luận và thực tiễn về huy động vốn, khả năng cạnh tranh của ngân hàng (doanh nghiệp) và nâng cao khả năng cạnh tranh để huy động vốn cho ngân hàng

- Phân tích nguyên nhân của những hạn chế của hoạt động huy động vốn và khả năng cạnh tranh thấp của VIB chi nhánh Thái Nguyên

- Đề xuất được hệ thống giải pháp hữu hiệu nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn của VIB chi nhánh Thái Nguyên, các điều kiện để thực hiện giải pháp đó

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể làm tài liệu quan trọng cho lãnh đạo VIB để xây dựng định hướng và chiến lược cạnh tranh trong huy động vốn cho ngân hàng; là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu có liên quan

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn kết cấu 4 Chương:

Chương 1: Lý luận cơ bản về nâng cao khả cạnh tranh nhằm huy động vốn của ngân hàng thương mại

Chương 2: Phương pháp và hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng về khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn của VIB chi nhánh tỉnh Thái Nguyên, giai đoạn 2009 - 2012

Chương 4: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại VIB chi nhánh tỉnh Thái Nguyên đến năm 2015

Trang 14

1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại

1.1.1.1 Sự ra đời của ngân hàng thương mại

Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế Ngân hàng bao gồm nhiều loại tuỳ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế nói chung

và hệ thống tài chính nói riêng, trong đó ngân hàng thương mại thường chiếm tỷ trọng lớn nhất về quy mô tài sản, thị phần và số lượng các ngân hàng

Ngân hàng là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất trong hầu hết mọi nền kinh tế Hàng triệu cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế - xã hội đều gửi tiền tại ngân hàng Ngân hàng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình Ngân hàng là tổ chức cho vay chủ yếu đối với các doanh nghiệp, cá nhân,

hộ gia đình và một phần đối với nhà nước…

Ngân hàng là một trong những tổ chức trung gian tài chính quan trọng nhất Ngân hàng thực hiện các chính sách kinh tế,đặc biệt chính sách tiền tệ, vì vậy là một kênh quan trọng trong chính sách kinh tế của Chính phủ nhằm ổn định kinh tế

Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hoá Qúa trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát triển của ngân hàng, đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế

1.1.1.2 Khái niệm ngân hàng thương mại

Tùy theo trình độ phát triển và mức độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng, phong tục tập quán cũng như quan điểm của Chính phủ mỗi quốc gia,

thương m (NHTM) được hiểu theo các khái niệm khác nhau Khái niệm phổ biến hiện nay về NHTM được xây dựng dựa vào các chức năng của ngân hàng là một loại ngân hàng trung gian Ở mỗi nước có một cách định nghĩa riêng về NHTM thí dụ: Ở Mỹ NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính

và các hoạt động dịch vụ tài chính, ở Pháp NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức kí thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính Ở Ấn Độ NHTM là cơ sở nhận các khoản kí thác để cho vay hay tài trợ và

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

đầu tư Ở Thổ Nhĩ Kỳ, NHTM là hộ trách nhiệm hữu hạn thiết lập nhằm mục đích nhận tiền kí thác và thực hiện các nghiệp vụ hối đoái, nghiệp vụ công hối phiếu, chiết khấu và những hình thức vay mượn khác…Còn ở Việt Nam theo Pháp lệnh

Ngân hàng ngày 23-5-1990 của Hội Đồng Nhà Nước Việt Nam xác định “NHTM là

tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt đông chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền kí gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”

Ngân hàng thương mại có vai trò tập trung vốn của nền kinh tế Bởi trong nền kinh tế có những chủ thể có dư tiền và khoản tiền đó chưa được sử dụng một cách triệt

để (ví dụ như vẫn còn cất giấu trong nhà chưa được mang ra lưu thông) nhưng họ cũng muốn tiền này sinh lời cho mình và họ nghĩ là cho vay và có những chủ thể cần tiền để hoạt động kinh doanh Nhưng chủ thể này không quen biết nhau và cũng có thể không tin tưởng nhau nên tiền vẫn chưa được lưu thông NHTM với vai trò trung gian của mình, nhận tiền từ người muốn cho vay, trả lãi cho họ và đem số tiền ấy cho người muốn vay tiền Muốn thực hiện được điều này ngân hàng thương mại huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, mặt khác với số vốn này NHTM sẽ đáp ứng được nhu cầu vốn của nền kinh tế để phục vụ trong hoạt động sản xuất kinh doanh Qua đó nó thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển

Ngân hàng thương mại vừa là người đi vay vừa là người cho vay và với số lãi suất chênh lệch có được nó sẽ duy trì hoạt động của mình Vài trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu trái phiếu,…NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư, chuyên giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán, đảm nhận việc mua trái phiếu công ty…

Trong phạm vi đề tài này việc nghiên cứu NHTM được hiểu như sau:

- Là định chế hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ

- Mục tiêu hoạt động chính của ngân hàng là thu lợi nhuận

- Chức năng và phạm vi hoạt động: thực hiện toàn bộ các dịch vụ về huy động vốn, tín dụng, cung cứng các phương tiện và dịch vụ thanh toán

Khác với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, NHTM được phép nhận tiền gửi không kỳ hạn và làm dịch vụ thanh toán

Các cách định nghĩa về NHTM cũng rất khác nhau Có thể định nghĩa dựa vào chức năng, dựa vào các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp hoặc có khi là vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế Tuy vậy, với sự phát triển không ngừng của thị trường tài chính, ngày càng có nhiều các tổ chức như công ty chứng khoán, các công ty bảo hiểm, các quỹ tiết kiệm…đang cung cấp một số dịch vụ của ngân hàng

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

và ngược lại ngân hàng cũng đang tìm cách mở rộng các dịch vụ cung cấp để tìm kiếm thêm lợi nhuận, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng Có thể tham khảo một số quan niệm về NHTM như sau:

Tại Anh, ngân hàng được xem là tổ chức tài chính cung cấp 3 loại hình dịch

vụ chính là dịch vụ trung gian tài chính (nhận tiền gửi và cho vay); dịch vụ thanh toán và các loại hình dịch vụ khác

Tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác thì “ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” [15]

Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam “hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi

và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”

Như vậy, có nhiều cách tiếp cận khác nhau để đưa ra các khái niệm về ngân hàng thương mạ ệm đưa ra thông qua chứ , thông qua các dịch vụ hoặ ò của ngân hàng thương mại trong nền kinh

tế Đặc trưng của các ngân hàng thương mại so với các tổ chức tài chính khác là chuyên về nhận tiền gửi, cho vay và cung cấp các dịch vụ

thương mại hay tổ chức tài chính nào đều hoạt động trong phạm vi pháp luật cho phép

và đề ựa trên cơ sở sự phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế Cách tiếp cận có tính logic hơn là xem xét ngân hàng thương mại trên phương diện những loại hình dịch vụ cung cấp Theo đó, Luật các tổ chức tín dụng của

Việt Nam ban hành năm 2010 [18] đã định nghĩa: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp được thành lập theo quy định Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”

1.1.1.3 Chức năng của ngân nhàng thương mại

Ngày nay, trong nền kinh tế hiện đại, ngân hàng đóng một vai trò đặc biệt quan trọng và không thể thiếu trong đời sống kinh tế xã hội Ngân hàng là tổ chức cung cấp tín dụ ục vụ cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp

và với hầu hế

vay chủ yếu đối với các cá thể và hộ gia đình Khi doanh nghiệp và người tiêu dùng

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

phải thanh toán các khoản mua hàng hoá, dịch vụ, họ có thể thay thế việc dùng tiền mặt bằng việc sử dụng séc, thẻ tín dụng hay tài khoản của hệ thống ngân hàng

Sơ đồ 1.1: Chức năng của ngân hàng thương mại

( : [7])

Ngân hàng thương mại vừa là người đi vay vừa là người cho vay và với số lãi suất chênh lệch có được nó sẽ duy trì hoạt động của mình Vài trò trung gian này trở nên phong phú hơn với việc phát hành thêm cổ phiếu trái phiếu,…NHTM có thể làm trung gian giữa công ty và các nhà đầu tư, chuyển giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán, đảm nhận việc mua trái phiếu công ty…

Trong phạm vi đề tài này việc nghiên cứu NHTM được hiểu như sau:

- Là định chế hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ

- Mục tiêu hoạt động chính của ngân hàng là thu lợi nhuận

- Chức năng và phạm vi hoạt động: thực hiện toàn bộ các dịch vụ về huy động vốn, tín dụng, cung cứng các phương tiện và dịch vụ thanh toán

Khác với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, NHTM được phép nhận tiền gửi không kỳ hạn và làm dịch vụ thanh toán

Như vậy, ngân hàng thương mại vừa có chức năng là trung gian tài chính, trung gian thanh toán đồng thời ngân hàng thương mại cũng có chức năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng Theo David Cox (1997) [6] thì ngân hàng thương mại có các chức năng như sau:

(i) Chức năng trung gian tài chính

Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là huy động mọi nguồn vốn từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân,

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

doanh nghiệp, các thành phần kinh tế trong xã hội và chuyển toàn bô nguồn vốn này thành đầu tư, cho vay trong nền kinh tế Có thể nói chức năng trung gian tài chính là một trong những chức năng cơ bản và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại

(ii) Chức năng trung gian thanh toán

Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay ở hầu hết các quốc gia Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh toán giá trị hàng hoá dịch vụ Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận tiện và tiết kiệ

iều hình thức thanh toán như thanh toán bằng séc, uỷ nhiệm chi, nhờ thu, các loại thẻ ạng lưới thanh toán điện tử Các ngân hàng còn thực hiện thanh toán bù trừ với nhau thông qua ngân hàng trung ương Công nghệ thanh toán qua ngân hàng càng đạt hiệu quả ụng

(iii) Chức năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng

Trong điều kiệ ế xã hội ngày càng phát triển, ngân hàng thương mại còn có thêm chức năng cung ứng các dịch vụ ngân hàng Nhiều ngân hàng đang phấn đấu cung cấp đủ các dịch vụ tài chính cho phép khách hàng thoả mãn mọi nhu cầu Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào khả năng cung ứng và thực hiện các dịch vụ ngân hàng có hiệu quả

1.1.1.4 Vai trò của ngân h

Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, hệ thống ngân hàng cũng có những thay đổi về quy mô, cơ cấu tổ chức lẫn phương thức hoạt động…

để phù hợp với tình hình mới Nền kinh tế càng phát triển, hệ thống ngân hàng càng có vai trò quan trọng, ta có thế thấy ngân hàng thương mại có các vai trò sau:

Ngân hàng thương mại là trung gian cung cấp vốn cho nền kinh tế Bằng các kênh huy động khác nhau, NHTM thu hút các luồng tiền nhàn rỗi trong dân cư, các

tổ chức kinh tế sau đó truyền tải đến cho các đối tượng cần sử dụng vốn phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Nhờ NHTM mà các nhu cầu về vốn, đặc biệt là vốn ngắn hạn của các doanh nghiệp được đáp ứng đầy đủ, kịp thời Nhờ đó hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh tế được diễn ra liên tục, nhịp nhàng

Ngân hàng thương mại góp phần quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Doanh nghiệp phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định khi tham gia vào quan hệ tín dụng với ngân hàng như: tiền vay phải sử dụng đúng mục đích, cam kết hoàn trả đủ vốn và lãi đúng hạn, thực hiện bảo đảm

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

tiền vay…Ngân hàng chỉ tài trợ cho các dự án hiệu quả về kinh tế-xã hội, đúng pháp luật, vì vậy ngân hàng không chỉ là người cung cấp vốn cho các doanh nghiệp kinh doanh mà còn gián tiếp giúp nhà nước quản lý doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, đúng pháp luật

Ngân hàng thương mại là trung gian tài chính giúp chính phủ thực thi chính sách tiền tệ Qua hoạt động của NHTM, Ngân hàng Nhà nước( NHNN) có thể điều chỉnh khối lượng tiền trong lưu thông, tập hợp và phân chia vốn của thị trường một cách hợp lý và có hiệu quả hơn Cũng từ đó, chính phủ nắm bắt các tín hiệu phản hồi của thị trường thông qua NHTM để hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô

Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Hiện nay, với chính sách đối ngoại mở rộng, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, NHTM Việt Nam có vai trò rất quan trọng với các nghiệp vụ thanh toán quốc tế, nghiệp vụ hối đoái, bảo lãnh, tài trợ xuất khẩu, huy động vốn nước ngoài…một mặt, tạo điều kiện giao lưu hàng hóa giữa các quốc gia, giúp các doanh nghiệp hội nhập thuận lợi vào khu vực và quốc tế, là cầu nối nền tài chính quốc gia và quốc tế

1.1.1.5 Phân loại ngân hàng thương mại

, xét từ góc độ dịch vụ trung gian tài chính chủ yếu mà NHTM thực hiện, NHTM chia thành các loại: (i) Ngân hàng thông thường; (ii) Ngân hàng tín thác; (iii) Ngân hàng tín dụng dài hạn

Tuy nhiên, xu hướng chuyển đổi thành các trung gian tài chính kinh doanh tổng hợp đã khiến cho cách phân loại trên không còn được sử dụng nhiều

, xét theo không gian địa lý hoạt động chủ yếu, ta có thể chia các NHTM thành: (i) NHTM đô thị; (ii) NHTM nông thôn

Ba l , căn cứ các loại theo hình thức sở hữu thì NHTM gồm có:

(i) NHTM nhà nước: do Chính phủ sở hữu toàn bộ vốn điều lệ;

(ii) NHTM cổ phần: vốn điều lệ được chia thành các cổ phần, song các tập đoàn kinh tế nhà nước hay các tổng công ty nhà nước có thể chia nhau sở hữu toàn

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

1.1.2 Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại

Khi nền kinh tế phát triển hơn, các hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng và phức tạp Do đó các nhu cầu giao dịch tài chính ngày càng phong phú Để đáp ứng nhu cầu này, các dịch vụ ngân hàng xuất hiện ngày càng nhiều và ngày càng hoàn thiện hơn

Ngân hàng thương mại có các nghiệp vụ sau:

Huy động vốn, lợi nhuận các khoản tín dụng giúp ngân hàng tồn tại và phát triển, do đó các ngân hàng luôn tìm cách mở rộng quy mô cho vay trong những điều kiện nhất định Tuy vậy, vốn để cho vay thuộc sở hữu của ngân hàng không nhiều , nên ngân hàng phải huy động vốn để đáp ứng nhu cầu vay của khách hàng Nguồn vốn huy động của ngân hàng rất đa dạng, có thể là tiền gửi, tiền nay hoặc các quỹ… Nghiệp vụ này huy động những khoản vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển đến cho những đối tượng cần vốn để sản xuất kinh doanh, tạo thu nhập cho người gửi tiền, thúc đẩy lưu thông tiền tệ

Cho vay, tài trợ dự án Trong cho vay bao gồm, thứ nhất là cho vay thương mại, ban đầu các ngân hàng chiết khấu thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với người bán Và sau đó chuyển sang cho vay với người mua, giúp họ có vốn để mua hàng hó dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh Thứ hai là cho vay tiêu dùng, sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong cho vay đã buộc các ngân hàng hướng tới người tiêu dùng như khách hàng tiềm năng Hiện nay ở Việt Nam, tín dụng tiêu dùng có những điều kiện thuận lợi để phát triển và tăng trưởng Bên cạnh các hình thức cho vay truyền thống, các ngân hàng ngày càng trở nên năng động trong việc tài trợ cho xây dựng máy mới đặc biệt là trong các ngành công nghệ cao Mặc dù rủi ro trong loại hình tín dụng này cao nhưng lãi thu được lớn, nên vẫn hấp dẫn các ngân hàng tham gia

Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán Khi các doanh nhân gửi tiền vào ngân hàng, ngân hàng không chỉ bảo quản tiền mà còn thực hiện các lệnh chi trả cho khách hàng của người gửi tiền Thanh toán qua ngân hàng mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, tức là người gửi tiền chỉ cần viết giấy chi trả cho khách và khách mang giấy đến ngân hàng sẽ nhận được tiền Các tiện ích của thanh toán không dùng tiền mặt đã góp phần rút ngắn thời gian và nâng cao thu nhập cho các doanh nhân Khi các ngân hàng mở thêm chi nhánh, mở rộng phạm vi hoạt động, cung cấp thêm nhiều tiện ích sẽ thu hút các doanh nhân gửi tiền để nhờ ngân hàng thanh toán hộ Như vậy tài khoản tiền gửi được phát triển, cho phép người gửi tiền thực hiện chi trả cũng như nhận tiền một cách nhanh chóng, tiết kiệm

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

chi phí Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều hình thức thanh toán được phát triển như: Ủy nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thanh toán bằng điện, thẻ…

Cung cấp dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán Các ngân hàng phấn đấu ngày càng cung cấp nhiều các dịch vụ tài chính nhằm thỏa mãn mọi nhu cầu của khách hàng Do đó, hiện nay các ngân hàng đã thành lập các công ty chứng khoán hoặc công ty môi giới chứng khoán nhằm cung cấp cho khách hàng những dịch vụ môi giới chứng khoán, các cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu

Cho thuê thiết bị trung và dài hạn Nhằm để bán được các thiết bị, đặc biệt các thiết bị có giá trị lớn, nhiều hãng sản xuất và thương mại đã cho thuê các thiết bị, cuối hợp đồng thuê khách hàng có thể mua lại Để cạnh tranh, các ngân hàng tích cực mua các máy móc thiết bị sau đó cho khách hàng thuê thông qua hợp đồng thuê mua Hợp đồng này thường phải thỏa mãn yêu cầu là khách hàng phải trả tới 2/3 giá trị tài sản cho thuê Hình thức cho thuê này cũng có nhiều điểm giống như cho vay

và được xếp vào tín dụng trung và dài hạn

Kinh doanh ngoại tế Ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ Việc mua bán ngoại tệ yêu cầu phải có trình độ chuyên môn cao, do mức độ rủi ro rất cao Do vậy, mua bán ngoại tệ thường chỉ do các ngân hàng lớn thực hiện

Bảo quản vật có giá Ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho khách hàng trong kho bảo quản, và trao cho khách giấy biên lai Do khả năng chi trả bất kỳ lúc nào của giấy biên nhận nên chúng được sử dụng như tiền để thanh toán nợ trong phạm vi ảnh hưởng của ngân hàng phát hành Hiện nay khách hàng phải trả phí bảo quản

Bảo lãnh Do khả năng thanh toán của ngân hàng cho một khách hàng là lớn

và do ngân hàng nắm giữ tiền gửi của khách hàng nên ngân hàng có uy tín cao trong việc bảo lãnh cho khách hàng Để thu hút và tạo mối liên hệ mật thiết với khách hàng, ngân hàng thường bảo lãnh cho khách hàng của mình mua chịu hàng hóa và trang thiết bị, phát hành chứng khoán, vay vốn của tổ chức tín dụng khác, dự thầu, xuất nhập khẩu…trong những năm gần đây nghiệp vụ bảo lãnh ngày càng đa dạng

và phát triển mạnh

Cung cấp dịch vụ ủy thác và tư vấn Các ngân hàng có rất nhiều chuyên gia

về quản lý tài chính, do đó, nhiều khách hàng đã nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính hộ Dịch vụ ủy thác phát triển cả ủy thác vay hộ, ủy thác cho vay hộ, ủy thác phát hành, ủy thác đầu tư…với nhiều khách hàng ngân hàng

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

còn là chuyên gia tư vấn tài chính Ngân hàng sẵn sàng tư vấn về đầu tư, về quản lý tài chính, về thành lập, mua bán và sát nhập doanh nghiệp

Cung cấp các dịch vụ đại lý Các ngân hàng không thể thiết lập văn phòng đại diện, chi nhánh ở khắp nơi Do đó, nhiều ngân hàng lớn đã cũng cấp dịch vụ ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như: thanh toán hộ, phát hành hộ các chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ…

Tài trợ các hoạt động của chính phủ Với khả năng huy động và cho vay với khối lượng lớn, ngân hàng đã trở thành trọng tâm chú ý của các chính phủ Các chính phủ thường phải chi tiêu nhiều và gấp, trong khi thu không đủ, nên điều muốn tiếp cận với các khoản cho vay của các ngân hàng Hiện nay các chính phủ đều giành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát ngân hàng, do vậy các ngân hàng được cấp phép thành lập với điều kiện là phải tài trợ và thực hiện một mức độ nào

đó các chính sách của chính phủ

Quản lý ngân quỹ Nhiều cá nhân và doanh nghiệp mở tài khoản và gửi tiền ở ngân hàng Các ngân hàng, bên cạnh mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng, cùng kinh nghiệm quản lý ngân quỹ và thu ngân, đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ Theo đó, ngân hàng quản lý việc thu- chi cho khách hàng và đầu tư các nghiệp vụ tài chính ngắn hạn thu lợi, cho đến khi khách hàng cần tiền để thanh toán

1.2 Khả năng cạnh tranh của ngân hàng thương mại

1.2.1 Khái niệm về cạnh tranh

Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong nền kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia ….vv Điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra là quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia mà thôi Trong khi đối với doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân vv…

Theo từ điển bách khoa Việt Nam (tập 1): “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

“Cạnh tranh là hoạt động liên quan đến hai hoặc các công ty, trong đó mỗi

công ty cố gắng thuyết phục mọi người thích mua hàng hóa của công ty mình hơn là hàng hóa của công ty khác” (Trích Collins Cobuild English Dictionary)

Theo kinh tế học, cạnh tranh là sự tranh giành thị trường (khách hàng) để tiêu thụ sản phẩm giữa các doanh nghiệp Như vậy, một nền kinh tế thị trường luôn đòi hỏi phải có cạnh tranh mà cạnh tranh theo nghĩa là tranh giành thị phần chỉ có trong khuôn khổ của nền kinh tế thị trường

1.2.2 Phân loại cạnh tranh

Dựa vào các tiêu thức khác nhau, cạnh tranh được phần ra thành nhiều loại

1.2.2.1 Căn cứ vào chủ thể tham gia thị trường cạnh tranh

(i) Cạnh tranh giữa người mua và người bán: Người bán muốn bán hàng hoá

của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn bán hàng hoá của mình với gía cao nhất, còn người mua muốn mua với giá thấp nhất Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữ hai bên

(ii) Cạnh tranh giữa những người mua với nhau: Mức độ cạnh tranh phụ

thuộc vào quan hệ cùng cầu trên thị trường Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lên, người mua phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá mà họ cần

(iii) Cạnh tranh giữa những người bán với nhau: Là cuộc cạnh tranh nhằm

giành giật khách hàng và thị trường, kết quả là giá cả giảm xuống và có lợi cho người mua Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thị phần của mình cho các đối thủ mạnh hơn

1.2.2.2 Căn cứ theo phạm vi ngành kinh tế

(i) Cạnh tranh trong nội bộ ngành:là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịch vụ Kết quả của cuộc cạnh tranh này là làm cho kỹ thuật phát triển

(ii) Cạnh tranh giữa các ngành:Là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất Trong quá trình này có sự phận bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân

1.2.2.3 Căn cứ vào tính chất cạnh tranh

(i) Cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition):Là hình thức cạnh tranh giữa nhiều người bán trên thị trường trong đó không người nào có đủ ưu thế khống chế giá cả trên thị trường Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng thức, tức là không khác nhua về quy cách, phẩm chất mẫu mã Để chiến thắng trong cuộc

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

cạnh tranh các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc làm khác biệt hoá sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh

(ii) Cạnh tranh không hoàn hảo (Imperfect Competition): Là hình thức cạnh tranh giữa những người bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau.Mỗi sản phẩn đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau cho nên để giành đựơc ưu thế trong cạnh tranh, người bán phải sử dụng các công cụ hỗ trợ bán như: Quảng cáo, khuyến mại, cung cấp dịch vụ, ưu đãi giá cả, đây là loại hình cạnh tranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay

(iii) Cạnh tranh độc quyền (Monopolistic Competition): Trên thị trường chỉ

có một hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ vào đó, giá cả của sản phẩm hoặc dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu

1.2.2.4 Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh

(i) Cạnh tranh lành mạnh: Là cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với chuẩn mực xã hội và được xã hội thừa nhận, nó thướng diễn ra sòng phẳng, công bằng và công khai

(ii) Cạnh tranh không lành mạnh: Là cạnh tranh dựa bào kẽ hổ của luật pháp, trái với chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án (như trốn thuế buôn lậu, móc ngoặc, khủng bố )

1.2.3 Khả năng cạnh tranh của ngân hàng thương mại

1.2.3.1 Khái niệm khả năng cạnh tranh của ngân hàng thương mại

Cạnh tranh là một quy luật tất yếu của ngành ngân hàng cũng không nằm ngoài quy luật này mà phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển Tuy theo quan điểm nghiên cứu, cạnh tranh có các khái niệm khác nhau tùy theo phương pháp và góc nhìn

để đánh giá cạnh tranh Khi nói đến cạnh tranh, người ta thường chia làm ba cấp độ: cạnh tranh của quốc gia, cạnh tranh của doanh nghiệp và cạnh tranh của sản phẩm Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, Luận văn này sẽ tập trung vào cạnh tranh doanh nghiệp (vì NHTM là một doanh nghiệp) và sản phẩm của NHTM Cạnh tranh trên thị trường phải là cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không phải để tiêu diệt đối thủ của mình mà là đem lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn để khách hàng được thỏa mãn tối đa nhu cầu của họ, nhằm thu hút khách hàng

Khả năng cạnh tranh được định nghĩa khác nhau tùy theo cách tiếp cận: trên

góc độ chi phí sản xuất, Fafchamps cho rằng: “Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp (NHTM) là khả năng doanh nghiệp đó có thể sản xuất ra dịch vụ với chí phí

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường” Trên góc độ thị phần, Randall cho rằng “Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp (NHTM) là khả năng giành được và duy trì thị phần trên thị trường với lợi nhuận nhất định” Với góc

nhìn chung, khả năng cạnh tranh của một NHTM là khả năng sử dụng các nguồn lực bên trong và khai thác các yếu tố tác động bên ngoài để xây dựng được lợi thế cạnh tranh bền vững cho ngân hàng thông qua việc cung cấp các dịch vụ tài chính đáp ứng tối đa yêu cầu hợp lý của khách hàng, từ đó duy trì, mở rộng thị phần và đồng thời với lợi nhuận tăng

Tóm lại: “Cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng được hiểu là sự ganh đua hợp pháp giữa các ngân hàng để nhằm đạt đến các mục tiêu cụ thể như thị phần, lợi nhuận, vốn, nhân lực hay đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh” [9]

1.2.3.2 Vai trò của cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh của NHTM

Mức độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng không cao bằng một số ngành kinh doanh khác Đặc điểm này xuất phát từ việc bị kiểm soát chặt chẽ bởi Chính phủ Thông qua các quy định pháp luật về thủ tục cấp giấy phép thành lập ngân hàng mới, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hạn mực cho vay…Ngân hàng Nhà Nước đã làm giảm mức độ cạnh tranh trong ngành ngân hàng và làm cho các NHTM không thể tùy ý sử dụng nguồn lực để cạnh tranh theo mức độ rủi ro đã chọn

Cạnh tranh của NHTM không phải là cạnh tranh “một mất một còn” Hợp tác

kinh doanh và hạn chế hiệu ứng xấu lan tràn xảy ra “hiệu ứng domino” buộc các NHTM không thể áp dụng mọi phương pháp cạnh tranh để chiến thắng hoàn toàn đối thủ Giải pháp để loại bỏ đối thủ là cạnh tranh chủ yếu là mua lại và sáp nhập (M&A)

Lợi thế cạnh tranh dưa vào sự khác biệt hóa dịch vụ thường không duy trì lâu bằng các ngành khác Do đặc điểm dịch vụ ngân hàng dễ sao chép nên tính khác biệt của dịch vụ sẽ nhanh chóng bị sao chép dẫn đến việc không hiệu quả và bị xóa

bỏ bởi đối thủ cạnh tranh nếu ngân hàng đó không ngừng tự đổi mới để tạo ra những điểm khác biệt mới về sản phẩm và dịch vụ

Đối với ngân hàng, việc xây dựng thương hiệu và để tạo uy tín là những phương thức cạnh tranh hiệu quả vì đặc điểm hoạt động kinh doanh của ngân hàng dựa trên cơ sở tín nhiệm

Nguồn nhân lực và công nghệ là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng lợi thế cạnh tranh trong ngành ngân hàng và việc cải tiến chất lượng dịch vụ là hoạt động phải có tính liên tục

1.2.3.3 Các loại hình cạnh tranh của NHTM

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

(i) Cạnh tranh trong huy động tiền gửi: Tức là cạnh tranh trên cơ sở lãi suất

tiền giử hấp dẫn, một số ngân hàng bị cho rằng đã tăng cường huy động tiền gửi từ công chúng bằng cách đưa ra lãi suất không dựa trên các tính toán hiệu quả kinh tế Trong một vài trường hợp, hình thức này được các phương tiện thông tin gọi là

“cuộc chiến lãi suất tiền gửi” Theo những người được phỏng vấn thì hình thức

cạnh tranh này gây tổn hại cho các ngân hàng nhỏ có nguồn lực hạn chế Một số ngân hàng tuyên bố sử dụng chương trình khuyến mại hào phóng như rút thăm

trúng thưởng với giá trị quà tặng lớn “ô tô hay là ngôi nhà” để mở rộng thị phần

Hoạt động này, theo một số người được phỏng vấn nhìn chung không giúp nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng bởi nó chỉ khai thác thói quen đánh bạc của khách hàng Nếu không ngăn cấm sự lạm dụng này thì thay vì phải cạnh tranh với nhau bằng cách cung cấp các dịch vụ tốt hơn và giá rẻ hơn, các ngân hàng sẽ tham gia

vào “cuộc đua khuyến mại”

(ii) Quảng cáo sai hay dễ gây hiểu nhầm: Một số ngân hàng bị coi là đã sử

dụng các quảng cáo dễ gây hiểu nhầm hoặc thậm chí trong một số trường hợp trái ngược với bản chất để thu hút thêm khách hàng Thông tin dễ gây hiểu nhầm thường về khả năng tài chính của ngân hàng, mạng lưới hoạt động và các dịch vụ của ngân hàng (mà đôi khi còn chưa có)

Cung cấp dịch vụ dưới giá thành: Một số người được phỏng vấn - phần lớn

thuộc các ngân hàng tư nhân đều nói rằng họ bị cạnh tranh khốc liệt từ các ngân hàng thương mại Nhà nước với các dịch vụ giá rẻ hơn Mặc dù cạnh tranh giá cả là một hình thức cạnh tranh phổ biến nhưng một số người được phỏng vấn cho rằng trong một số trường hợp các ngân hàng nhà nước cung cấp các dịch vụ với giá cả “không thể tin được” Đặc biệt là các dịch vụ mà ngân hàng tư nhân có lợi thế Đáng lưu ý là hầu hết những người được phỏng vấn đều đồng ý rằng các ngân hàng Nhà nước có lợi thế về quy mô kinh tế, mạng lưới tốt hơn, nền tảng tài chính mạnh và mạng lưới dịch

vụ rộng rãi cho khách hàng lựa chọn Tuy nhiên, họ nói rằng trong một số trường hợp, mức giá này được chào thấp hơn chi phí để thu hút khách hàng

1.2.3.4 Phương thức cạnh tranh của NHTM

(i) Phát triển các sản phẩm/dịch vụ: Hệ thống NHTM Việt Nam đã phát

triển khá nhanh về số lượng các ngân hàng và số lượng chi nhánh/phòng giao dịch, cùng với quá trình hoàn thiện các sản phẩm các dịch vụ truyền thống và phát triển các dịch vụ mới, nên doanh số và tỷ trọng dịch vụ tăng qua các năm, trong đó dịch

vụ huy động vốn và cho vay đây vẫn là dịch vụ mang lại nguồn thu chủ yếu cho các NHTM hiện nay và có mức tăng trưởng khá cao

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

(ii) Phương thức giá: Giá cả trong hoạt động kinh doanh ngân hàng bao gồm

lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay và phí dịch vụ Mức giá được công bố thường mang tính chất danh nghĩa cao vì chi phí thực tế mà khách hàng phải trả có thể khác

so với giá công tố Ví dụ: Khi mở L/C, mức phí thực tế sẽ cao nếu tỷ lệ ký quĩ đảm bảo cho L/C cao vì khách hàng đã mất một khoản tiền lời từ việc ký quỹ trên Chính

vì vậy, mức giá mà ngân hàng áp dụng phải đem lại sự hài lòng cho khách hàng

(iii) Hệ thống phân phối: Hệ thống phân phối là cầu nối giữa khách hàng và

ngân hàng, Một hệ thống phân phối tốt sẽ giúp cho ngân hàng tiếp cận được với khách hàng một cách nhanh chóng hơn và hiệu quả hơn Một hệ thống phân phối tốt phải có những yếu tố sau:

- Dễ tiếp cận: Kênh phân phối phải đặt ở nơi dễ tiếp cận, thuận tiện trong việc giao thông và có nơi gửi xe tiện lợi, ở nơi trung tâm kinh tế nơi xẩy ra những giao dịch kinh tế thường xuyên, yếu tố này sẽ làm tăng tính hiệu quả của một kênh phân phối nhất định

- Yếu tố vật lực: Với hệ thông phân phối hay kênh phân phối hoàn thiện phải đạt được yếu tố vật lực như: không gian căn phòng giao dịch phải đủ sáng, sạch sẽ, không có mùi, có đầy đủ những công cụ cần thiết cả bên cung ứng dịch vụ “ngân hàng” và có công cụ phục vụ tốt cho khách hàng được thỏa mãn vật chất và tâm lý khi thực hiện giao dịch

- Yếu tố nhân lực: Thể hiện thông qua chuyên môn của nhân viên trong hành

vi phục vụ đối với khách hàng, thái độ, ngô ngữ, ăn mặc, tóc tai phải thật lịch sự và sạch sẽ để hạn chế không gây ấn tượng xấu tới đôi mắt của khách hàng, bởi nhân viên là mặt mũi của ngân hàng cho nên yếu tố này phải cần rất nghiêm chỉnh và chú trọng trong việc thực hành thường xuyên

- Yếu tố an toàn: Kênh phân phối diễn ra hoạt động giao dịch ngân hàng là tiền và vật có giá trị, cho nên yếu tố an toàn là rất quan trọng không chỉ bảo đảm cho ngân hàng mà cả khách hàng Ngân hàng phải quan tâm tới hoạt động bảo vệ một cách an toàn, trật tự, nghiêm chỉnh với mức độ tốt nhất, để tránh tình trạng xấu xảy ra ảnh hưởng đến khách hàng và nhân viên…

(iv) Chất lượng và dịch vụ: Chất lượng của dịch vụ mà ngân hàng đem lại thể

hiện thông qua sự hài lòng của khách hàng Mức độ hài lòng của khách hàng là mức

độ trạng thái cảm giác của khách hàng bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu được

từ dịch vụ so với những kỳ vọng của họ về dịch vụ Những kỳ vọng này được nhờ vào kinh nghiệm của những lần sử dụng dịch vụ trước, ý kiến của bạn bè, người

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

thân và các thông tin từ các nguồn khác cũng như từ chính thái độ, cam kết và chất lượng dịch vụ của ngân hàng Bằng việc đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu và đưa lại sự hài lòng cho khách hàng, các NHTM nâng cao mức độ trung thành của khách hàng

và nhận được những lợi ích sau:

- Giảm chi phí phục vụ (chi phí duy trì tài khoản, chi phí thiết lập lại hạn mức tín dụng …)

- Giảm thời gian nắm bắt các yêu cầu từ phía khách hàng

- Có cơ hội bán chéo dịch vụ đang có và các dịch vụ mới

- Thu hút khách hàng mới thông qua kênh quảng cáo “truyền miệng” từ những khách hàng trung thành

1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của NHTM

1.2.4.1 Các nhân tố bên ngoài ngân hàng

Các nhân tố bên ngoài chính là môi trường hoạt động của ngân hàng, các yếu

tố này ảnh hưởng chung đến toàn bộ hệ thống NHTM Tác động của các nhân tố bên ngoài đến khả năng cạnh tranh trong của ngân hàng bao gồm:

(i) Môi trường chính trị và hành lang pháp lý: Kinh doanh ngân hàng là một

trong những ngành kinh doanh chịu sự giám sát chặt chẽ của luật pháp và các cơ quan chức năng của Chính phủ Hoạt động của các ngân hàng thường được điều chỉnh rất chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật Môi trường pháp lý sẽ đem đến cho ngân hàng một hoạt các cơ hội mới và cả những thách thức mới, như việc dỡ bỏ các hạn chế về huy động tiền gửi nội tệ sẽ mở đường cho các ngân hàng nước ngoài phát triển các sản phẩm để huy động tiền gửi và các sản phẩm về cho vay nội tệ Còn sự nới lỏng trong quản lý của luật pháp cũng có thể đặt cho các ngân hàng nguy cơ cạnh tranh mới, như những thay đổi trong luật ngân hàng của một nước cho phép thành lập các ngân hàng nước ngoài sẽ đặt các ngân hàng của nước đó vào tình thế bị cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn

(ii) Sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế: Nền kinh tế ở trong giai

đoạn tăng trưởng phát triển cao, nhu cầu về vốn đầu tư tăng mạnh thì nó tạo điều kiện thuận lợi cho ngành ngân hàng phát triển, nhu cầu huy động vốn tăng cao Đồng thời khi nền kinh tế phát triển thì khả năng tích lũy của người dân cũng tăng mạnh Đây chính là nguồn tài nguyên lớn cho công tác huy động vốn của NHTM,

và ngược lại Sự ổn định của nền kinh tế cũng ảnh hưởng đến lãi suất, tỷ giá, lạm phát, thu nhập, chu kỳ chi tiêu của người dân Các yếu tố này đều có tác động không nhỏ đến khả năng huy động vốn của NHTM Sự tăng trưởng và phát triển

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

của nền kinh tế vừa tạo cho ngân hàng những cơ hội kinh doanh, đồng thời tạo ra cả những thách thức đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng Sự thành công hay thất bại của chiến lược cạnh tranh của một ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào tình hình kinh tế trong nước, khu vực và toàn cầu Do vậy, mỗi một ngân hàng phải nắm bắt được kịp thời sự biến đông trên để chủ động đưa ra những phương thức huy động vốn mới cho phù hợp với sự biến động của môi trường kinh doanh

(iii) Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng: Trong xu thế hội nhập và phát triển

như hiện nay, các NHTM đang phải hoạt động kinh doanh trong một môi trường cạnh tranh vô cùng khốc liệt Bởi các NHTM sử dụng một loại nguyên liệu đặc biệt

đó là tiền - loại nguyên liệu có tính xã hội cao và vô cùng nhạy cảm Bên cạnh đó lại rất khó tạo được sự khác biệt trong sản phẩm ngân hàng vì khi một ngân hàng tung ra một sản phẩm mới thì nhanh chóng các NHTM khác cũng có thể tung ra thị trường một sản phẩm tương tự, thậm chí tính năng còn ưu việt hơn do khắc phục được các nhược điểm

Nghiên cứu để hiểu rõ đối thủ cạnh tranh, từ đó xây dựng chiến lược cạnh tranh là một yêu cầu quan trọng trong công tác huy động vốn Số lượng các đối thủ cạnh tranh càng nhiều thì cường độ cạnh tranh càng cao, nếu các đối thủ có năng lực cạnh tranh mạnh mẽ sẽ thu hút, chiếm lĩnh thị phần của ngân hàng, làm giảm khả năng cạnh tranh của ngân hàng Để nâng cao khả năng cạnh tranh đòi hỏi các ngân hàng phải phân tích đối thủ cạnh tranh, nắm bắt các hoạt động đang và sẽ thực hiện trong tương lai của họ Trên cơ sở đó, ngân hàng sẽ chủ động trong xác định thị trường mục tiêu, phát huy lợi thế cạnh tranh, đồng thời cũng phải không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ

(iv) Tâm lý của người dân: Một quốc gia có dân số cao, tỷ lệ người dân có

thu nhập cao lớn là điều kiện thuận lợi cho các NHTM có thể thu hút được một lượng vốn lớn Ngoài ra, tâm lý người dân cũng ảnh hưởng không nhỏ đến công tác huy động vốn của các NHTM vì nó ảnh hưởng đến việc ra quyết định gửi tiền của người dân Nếu người dân vẫn còn thói quen dùng tiền mặt hoặc tích trữ tiền mặt tại nhà thì đó là khó khăn lớn đối với hoạt động huy động vốn Và ngược lại, nếu người dân đã quen với việc thanh toán điện tử, thấy được lợi ích của việc gửi tiền vào ngân hàng thì đây là điều kiện tốt cho các ngân hàng huy động vốn Hoặc khi người dân dự đoán lạm phát cao hoặc sẽ xảy ra những biến động về kinh tế, chính trị thì nhu cầu tiết kiệm, gửi tiền và nắm giữ nội tệ giảm, do đó cơ cấu huy động vốn của NHTM phải có sự điều chỉnh

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

(v) Sự phát triển của thị trường tài chính: Một quốc gia có thị trường tài

chính phát triển là điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng, trong đó có hoạt động huy động vốn Thị trường tài chính càng phát triển sẽ có càng nhiều công cụ

nợ cũng như nhiều sản phẩm dịch vụ mới hữu hiệu và thiết thực cho công tác huy động vốn của ngân hàng Thị trường tài chính phát triển còn tạo ra sự cạnh tranh giữa các NHTM Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt thì các chính sách mà các ngân hàng đưa ra để thu hút vốn ngày càng nhiều và hiệu quả hơn, góp phần hoàn thiện hơn thị trường tài chính, đẩy mạnh sự phát triển kinh tế nói cung và đem lại nhiều lợi ích cho người gửi tiền

(vi) Sự phát triển của khoa học công nghệ: Ngân hàng là một trong những

ngành rất quan tâm đến việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kinh doanh Ngày này hoạt động của ngân hàng không thể tách rời được sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin

Trên thực tế, những thay đổi của công nghệ thông tin đã tác động mạnh mẽ tới hoạt động kinh doanh ngân hàng Công nghệ mới cho phép ngân hàng đổi mới không chỉ quy trình nghiệp vụ, mà còn giúp phát triển sản phẩm dịch vụ mới như sự phát triển của mạng lưới máy tính mạng cho phép ngân hàng cung cấp dịch vụ 24/24 Những thay đổi công nghệ vừa tác động mạnh mẽ tới cách thức sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng của dân cư vừa tạo ra những nhu cầu, đòi hỏi mới về sản phẩm dịch vụ ngân hàng và hoạt động ngân hàng như sự ra đời và phát triển của thương mại điện tử đã đặt ra yêu cầu mới cho ngân hàng trong việc cung ứng các dịch vụ thanh toán, các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt

(vii) Hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô: Hệ thống NHTM là một phương

tiện để qua đó NHNN thực hiện sự điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế Các chính sách tài chính tiền tệ như chính sách lãi suất chiết khấu, chính sách chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá, tỷ lệ dự trữ bắt buôc, nghiệp vụ thị trường mở đều ảnh hưởng đến lượng vốn mà NHTM huy động được Khi NHNN muốn thu hẹp cung tiền thì với các công

cụ trên NHNN sẽ tác động làm giảm khả năng huy động vốn khả dụng của các NHTM với mục tiêu kìm hãm sự phát triển quá mức của nền kinh tế và ngược lại

(viii) Các yếu tố môi trường vi mô: Trên cơ sở mô hình cạnh tranh “5 lực

lượng cạnh tranh” của Micheal E Porter, tác động của môi trường vi mô có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng như sau:

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

- Mức độ cạnh tranh của ngành ngân hàng: Mức độ cạnh tranh được đánh giá thông qua số lượng đối thủ trọng ngành, thành phần đối thủ cạnh tranh , nhận dạng khả năng của đối thủ, rào cản gây trở ngại cho việc thoát ra

Sơ đồ 1.2: Môi trường cạnh tranh của NHTM (mô hình 5 lực lượng)

Nguồn: [9]

- Mức độ đe dọa của các sản phẩm hoặc dịch vụ thay thế: (i) Theo kía cạnh chung thì sản phẩm thay thế là sản phẩm làm giảm đi thị phần của sản phẩm mà hiện đáng có mặt trên thị trường, việc bị cắt đi thị phần thị trường doanh nghiệp cũng phải giảm đi chi phí hay tồi tệ hơn nữa ngân hàng phải giảm đi hoạt động phát triển sản phẩm mới với điều này chắc chắn sản phẩm thay thế sớm muộn sẽ gây ảnh hưởng nhất định đối với sản phẩm đang hiện hành; (ii) Theo kía cạnh của ngân hàng thương mại Sản phẩm thay thế là những sản phẩm có chức năng gần giống chức năng của sản phẩm mà ngân hàng đang cung cấp Sản phẩm thay thế có tác động mạnh mẽ đến vòng đời của sản phẩm đồng thời có ảnh hưởng đến lợi nhuận tiềm ẩn của ngân hàng thông qua việc áp đặt mức giá trần cho các sản phẩm Mối đe dọa của sản phẩm thay thế được đánh giá qua sự đa dạng của sản phẩm thay thế và mức độ đáp ứng các nhu cầu của khách hàng

- Đối thủ tiềm ẩn: Mối đe dọa xâm nhập được đánh giá thông qua rào cản xâm nhập của ngành như tính hiệu quả kinh tế theo quy mô, thương hiệu, quy mô kênh phân phối mà các ngân hàng đang kinh doanh đã tạo lập, yếu cầu về vốn, chính sách của Chính phủ…

- Sức mạnh mặc cả của nhà cung ứng: (i) Theo khía cạnh chung thì Nhà cung ứng đóng vai trò cung cấp nguyên vật liệu cần thiết trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà cung ứng có thể trở thành đối thủ khi mà nhà cung ứng có đủ điều kiện

để có thể sản xuất, với lợi thế cung ứng nguyên vật liệu có sẵn điều này làm cho nhà

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

cung ứng có lợi thế về nguyên vật liệu có sẵn trong kho, sẵn sàng đưa vào hoạt động sản xuất Ngoài ra nhà cung ứng còn có thể hợp tác với đối thủ cạnh tranh điều này làm ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp Vì vậy, doanh nghiệp nên tạo mối quan hệ tốt với nhà cung ứng đặc biệt là trong hoạt động hợp tác kinh doanh tránh tình trạng tiêu cực để giảm bớt đối thủ cũng như áp lực trong môi trường kinh doanh; (ii) Theo kía cạnh của NHTM thì Sức mạnh mặc cả của nhà cung ứng được đánh giá qua mức độ độc quyền của nhà cung ứng Nhà cung ứng trong lĩnh vực ngân hàng được phân thành hai nhóm chính như sau: (1) Nhà cung ứng vốn cho hoạt động (Nhà cung ứng vốn bao gồm cá nhân, tập thể, công ty, tổ chức xã hội và thậm chí là các tổ chức tín dụng đang cạnh tranh trực tiếp và ngân hàng nhà nước); (2) Nhà cung ứng cơ sở hạ tầng làm việc như các nhà cung cấp viễn thông, phần cứng vi tính, phần mền quản lý…

- Sức mạnh mặc cả của khách hàng “người mua”: Khách là luôn có tính quyết định đến nhiều yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp (NHTM) như: thị phần, doanh thu, thương hiệu… do đó khách hàng là yếu tố qua trọng của doanh nghiệp vì khách hàng ra đầu ra của sản phẩm và dịch vụ cho nên yếu tố khách hàng

sẽ quyết định sự sống còn của doanh nghiệp, việc đáp ứng đúng nhu cầu thực thế hoặc nhu cầu tiềm ẩn của khách hàng là việc không đơn giảm của doanh nghiệp để thỏa mãn nhu cầu đa đạng đó Người mua trong lĩnh vực ngân hàng là những người

sử dụng dịch vụ như gửi tiền, vay vốn, chuyển tiền….Sức mạnh mặc cả của người mua cũng được đánh giá qua mức độ độc quyền trên thị trường

1.2.4.2 Các nhân tố bên trong ngân hàng

Việc xác định được các công cụ cạnh tranh trước hết phải căn cứ vào các yếu tố nội lực của NHTM Các yếu tố này chẳng những là điều kiện đảm bảo cho hoạt động ngân hàng đáp ứng nhu cầu thị trường, mà còn là yếu tố nâng cao vị thế cạnh tranh của ngân hàng Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải biết cách khai thác hết sức mạnh của nguồn nội lực quan trọng này bằng các chính sách, các biện pháp huy động vốn

(i) Uy tín của ngân hàng: Uy tín của một ngân hàng có lẽ là tài sản quan

trọng nhất và cũng là tài sản vô hình nhất của nó, một loại tài sản có thể phân biệt được những đối thủ thành công nhất trong ngành dịch vụ tài chính so với các đối thủ còn lại Nó là sản phẩm của những thành tích tích lũy được trong quá khứ của một NHTM Uy tín có thể nâng cao bằng nhiều cách khác nhau nhưng nói chung được rút ra từ một khả năng và chuyên môn cụ thể mà thị trường đánh giá cao và bản thân NHTM đó đã phát triển trong một khoản thời gian

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Uy tín của một ngân hàng thường được quyết định qua nhận xét của những khách hàng đã sử dụng dịch vụ ngân hàng Một khi ngân hàng đã tạo dựng được một vị trí trong lòng khách hàng, điều này sẽ là một lợi thế cho ngân hàng trong việc đưa ra các chính sách huy động vốn mới cũng như các dịch vụ gia tăng mới Thị trường ngân hàng rộng lớn và phức tạp với rất nhiều kênh thông tin dày đặc cũng có tính hai mặt của nó Nếu một ngân hàng hoạt động tốt và phục vụ khách hàng tân tình chu đáo, điểm tốt đó sẽ được lan rộng nhanh chóng Và ngược lại, danh tiếng của ngân hàng sẽ bị hạ thấp nhanh chóng Điều này rất có ý nghĩa trong quyết định gửi tiền của các TCKT cũng như các cá nhân

Đặc biệt trong thời kỳ mà nền kinh tế khủng hoảng, biến động thường xuyên

và phức tạp, khó dự báo thi các khách hàng khi gửi tiền thường lựa chọn ngân hàng nào mà họ cho là an toàn nhất, thuận lợi nhất và đó chính là biểu hiện của uy tín ngân hàng đối với khách hàng Thông thường, người gửi tiền thường đánh giá uy tín của ngân hàng thông qua các tiêu thức cơ bản sau: sự hoạt động lâu năm, quy mô hoạt động, vốn chủ sở hữu, lượng vốn huy động được, cơ sở vật chất kỹ thuật, trình

độ quản lý, thái độ của nhân viên giao dịch Do đó, để nâng cao uy tín của mình thì mỗi ngân hàng phải có các biện pháp nâng cao các yếu tố này

(ii) Chính sách lãi suất huy động: Cạnh tranh bằng lãi suất hiện nay đang

được sử dụng rất phổ biến trong hệ thống NHTM tại Việt Nam Cạnh tranh bằng lãi suất được hiểu theo hai khía cạnh đó là lãi suất huy động và lãi suất cho vay Trong khi các NHTM đều cố gắng giảm lãi suất cho vay thì lãi suất huy động lại được đẩy lên cao nhằm tăng lãi cho khách hàng, qua đó thu hút được lượng vốn lớn Chính sách lãi suất của ngân hàng phải đủ độ linh hoạt, hấp dẫn và cạnh tranh được với các ngân hàng khác, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo bù đắp được chi phí và đem lại lợi nhuận cho ngân hàng Để đạt được điều này thì hai loại lãi suất kể trên phải có mối quan hệ mật thiết với nhau và phù hợp với nhau Ngoài những ưu điểm của chính sách lãi suất thì chính sách này cũng được ví như con dao hai lưỡi, mà mặt hại lại nhiều hơn mặt lợi Hậu quả có thể thấy được đó là mức độ rủi ro cao, thu nhập thấp, làm suy yếu sức mạnh tài chính

Tóm lại, cạnh tranh bằng chính sách lãi suất không phải bao giờ cũng đem lại tác dụng mong muốn Để sử dụng công cụ này hiệu quả, các NHTM cần phải có các biện pháp cụ thể và xác đáng

(iii) Chính sách sản phẩm: Đời sống của người dân ngày càng được cải thiện

và nâng cao nên nhu cầu của người dân cũng ngày càng phong phú và đa dạng Việc

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

đưa ra nhiều loại sản phẩm dịch vụ để thỏa mãn được ngày càng nhiều nhu cầu đó

là vô cùng cần thiết trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh trong huy động vốn của các NHTM Các NHTM thường cung cấp các loại hình dịch vụ vừa mang tính chất truyền thống vừa mang tính chất hiện đại như tiền gửi tiết kiệm với nhiều kỳ hạn, kỳ phiếu, trái phiếu đa mệnh giá … Đặc biệt việc phát triển các sản phẩm dịch

vụ mới hiện nay đang được các ngân hàng rất coi trọng và được xem như một chiến lược cạnh tranh giữa các ngân hàng Ngoài ra, các sản phẩm mới này còn tạo ra một phong cách tiêu dùng mới cho người dân theo xu hướng hiện đại, giảm việc sử dụng thanh toán bằng tiền mặt thông qua các hình thức thẻ thanh toán

(iv) Đặc điểm của ngân hàng, hệ thống mạng lưới chi nhánh, quầy giao dịch:

Đặc điểm ngân hàng cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trong nguồn vốn huy động của NHTM Một ngân hàng có địa điểm đẹp, nằm tại các dãy phố chính, khu trung tâm, khu đông dân cư là một thế mạnh để thu hút khách hàng gửi tiền, đặc biệt là các khách hàng mới Ngoài ra, mạng lưới chi nhánh, số lượng quầy giao dịch cũng có ảnh hưởng không nhỏ Ngân hàng nào có mạng lưới lớn thì khả năng tiếp xúc, đi sâu đi sát người dân để vận động họ gửi tiền càng lớn

(v) Nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động được: Ngày nay, khách hàng khi

gửi tiền đặc biệt là các TCKT lớn thường rất quan tâm đến nguồn vốn chủ sở hữu của mỗi ngân hàng và sự tăng trưởng của nguồn vốn huy động qua các năm, cùng với đó là sự quan tâm về tình hình sử dụng nguồn vốn đó ra sao Đây chính là các yếu tố mà các NHTM cần phải quan tâm và sẽ có ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh trong việc thu hút vốn

(vi) Hoạt động Marketing của NHTM: Trong thời đại hiện nay, sự cạnh tranh giữa các NHTM là vô cùng găy gắt, và đặc biệt là cạnh tranh thông tin là một yếu tố

đóng vai trò hết sức quan trọng Để tạo được ấn tượng với khách hàng về tên tuổi,

uy tín, khả năng phục vụ, trình độ công nghệ, loại hình dịch vụ cung cấp thì các NHTM đã sử dụng các phương tiện quảng cáo trên thông tin đại chúng như vô tuyến truyền hình, biểu ngữ quảng cáo trên đường phố, các đợt khuyến mãi, dự thưởng … Các hoạt động đó đã giúp cho người dân nắm bắt được các thông tin về dịch vụ hoặc đơn giản là thương hiệu của ngân hàng để từ đó đến với ngân hàng Đây là điều kiện mà các ngân hàng mong muốn đạt được

(vii) Cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ, trình độ quản lý và nhân viên của NHTM: Đây là các yếu tố tạo nên bộ mặt của NHTM Cơ sở vật chất càng khang

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

trang, công nghệ càng hiện đại, đội ngũ nhân viên càng nhiệt tình, chu đáo thì khả năng làm vừa lòng khách hàng sẽ càng cao, tạo nhiều niềm tin và sự thoải mái cho khách hàng Điều này đóng vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn khách hàng truyền thống cũng như thu hút các khách hàng mới Từ đó góp phần nâng cao vị thế

và khả năng huy động vốn cho ngân hàng

1.2.5 Nâng cao khả năng cạnh tranh của NHTM

Khả năng cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp, của NHTM, của ngành, của quốc gia… có thể bán được nhiều sản phẩm, tăng thị phần, tăng lợi nhuận, tăng điều kiện sống tốt cho người lao động, từ đó tăng trưởng nhanh và bền vững

Nâng cao khả năng cạnh tranh của NHTM là điều kiện để NHTM có thể huy động vốn được nhiều hơn, chatá lượng cao hơn, tăng thị phần, tạo uy tín và thương hiệu trên thị trường Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn đối với NHTM là điều kiện cần thiết, việc nâng cao khả năng cạnh tranh của NHTM chính

là thay đổi các chỉ tiêu phản ánh khả năng cạnh tranh của NHTM (sẽ được trình bầy chi tiết ở chương 2)

1.3 Huy động vốn của ngân hàng thương mại

1.3.1 Vốn và huy động vốn của ngân hàng thương mại

1.3.1.1 Khái niệm vốn và huy động vốn của ngân hàng thương mại

- Vốn của NHTM: Cũng như mọi hoạt động kinh tế khác, NHTM muốn hoạt động thì phải có vốn, nhưng vì hàng hoá mà các ngân hàng kinh doanh là hàng hoá đặc biệt - đó là tiền nên buộc họ phải tìm cách mua vốn trên thị trường tài chính Thực chất là các ngân hàng kinh doanh “quyền sử dụng vốn” tức người cần vốn phải trả lãi cho người có vốn trên thị trường một khoản phí để có được quyền sử dụng vốn trong thời gian xác định Thông qua thị trường, vốn được lưu chuyển rộng rãi, từ đó mới có thể thể hiện đủ bản chất và vai trò của mình

Nhìn chung, vốn của NHTM có thể được hiểu là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập hoặc huy động được dùng để đầu tư, cho vay hoặc thực hiện các dịch

vụ kinh doanh khác Nó chi phối toàn bộ hoạt động của ngân hàng thương mại, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Vốn kinh doanh của ngân hàng thương mại được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như vốn tự có, vốn huy động, vốn trong thanh toán Về bản chất vốn của ngân hàng là một bộ phận thu nhập quốc dân nhàn rỗi trong quá trình phân phối và tiêu dùng mà người chủ sở hữu với các mục đích khác nhau gửi vào ngân hàng

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

Do vậy, nhu cầu về vốn của ngân hàng là rất lớn và việc tạo vốn cho ngân hàng là vấn đề quan trọng hàng đầu trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại, muốn hoạt động kinh doanh có hiệu quả mang lại lợi nhuận cao thì hoạt động huy động vốn cần phải được quan tâm đúng mức Vậy hoạt động huy động vốn là gì?

- Huy động vốn của ngân hàng thương mại: Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có thể hiểu rằng: “Huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho ngân hàng thương mại, là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ lượng tiền nhàn rỗi của các tổ chức kinh tế và các cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn từ nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các tổ chức tín dụng và vay vốn của ngân hàng nhà nước làm nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình”[7]

1.3.1.2 Vai trò, chức năng của vốn và huy động vốn

Vốn huy động chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM, lên tới 70-80%, vì vậy nó đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với hoạt động của NHTM Nguồn vốn huy động là cơ sở để ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình Nhu cầu vốn của nền kinh tế là rất lớn và liên tục gia tăng, không một ngân hàng nào có đủ sức thực hiện cho vay chỉ bằng nguồn vốn tự có của mình Mặt khác, bản chất của NHTM là làm trung gian tài chính do đó nguồn vốn huy động đương nhiên là nguồn vốn quan trọng nhất giúp ngân hàng thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình Quy mô, cơ cấu vốn huy động sẽ trực tiếp quyết định khả năng cho vay của một ngân hàng Các ngân hàng không thể cho vay lớn, kỳ hạn dài trong điều kiện vốn huy động nhỏ, ngắn hạn, không ổn định

Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động kinh doanh cũng phải có vốn, vì vốn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất Đối với ngân hàng cũng vậy, là một doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá đặc biệt đó là tiền, tiền vừa là vốn vừa là hàng hoá Do vậy, muốn kinh doanh có hiệu quả thì ngân hàng cần thực hiện tốt hoạt động huy động vốn vì những lý do sau:

- Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh: Vốn là điểm

đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng, vì khác với doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường, hoạt động kinh doanh tiền của ngân hàng

có những đặc trưng riêng Vốn không chỉ là phương tiện kinh doanh chính mà còn

là đối tượng kinh doanh chủ yếu Ngân hàng là tổ chức kinh doanh hàng hoá đặc biệt trên thị trường tiền tệ và những ngân hàng có lượng vốn dồi dào là ngân hàng

có nhiều thế mạnh trong kinh doanh Vì vậy ngoài nguồn vốn ban đầu cần thiết (vốn

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

điều lệ) theo quy định thì ngân hàng luôn phải chăm lo tới việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình

- Vốn quyết định quy mô tín dụng và các hoạt động khác của ngân hàng:

Trong điều kiện bình thường, đầu vào luôn ảnh hưởng trực tiếp tới đầu ra Đối với ngân hàng vốn là yếu tố đầu vào, còn tín dụng, đầu tư là yếu tố đầu ra Vì vậy, so với ngân hàng lớn các ngân hàng nhỏ có khoản mục đầu tư và cho vay kém đa dạng hơn Hơn nữa, do vốn hạn hẹp nên các ngân hàng nhỏ không phản ứng nhanh nhạy với những đợt biến động lãi suất, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng huy động vốn đầu tư từ dân chúng và các thành phần kinh tế, đồng thời khó có thể mở rộng đầu tư vào cơ sở vật chất hạ tầng, công nghệ để tăng khả năng cạnh tranh, cũng như việc đầu tư vào các danh mục đầu tư dài hạn, tham gia vào thị trường chứng khoán trong điều kiện như hiện nay

- Vốn quyết định năng lực cạnh tranh: Cạnh tranh là một trong những quy

luật của nền kinh tế thị trường Cạnh tranh giúp các doanh nghiệp có khả năng tự hoàn thiện mình hơn Với ngân hàng vốn là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng Thực tế đã chứng minh: quy mô vốn, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật hiện đại là điều kiện tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn, và nguồn vốn lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian, lãi suất Kết quả của sự gia tăng trên giúp ngân hàng kinh doanh đa năng trên thị trường, phân tán rủi ro, và khi đó, tất yếu trên thị trường sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng sẽ tăng lên

- Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng trên thương trường: Ngân hàng hoạt động dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau, vì bản chất của

ngân hàng là “đi vay để cho vay”, nếu không có uy tín thì ngân hàng không thể tồn tại và phát triển Uy tín thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng của ngân hàng Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao khi vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn Vì vậy, loại trừ các nhân tố khác, khả năng thanh toán của ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của ngân hàng nói chung và vốn khả dụng của ngân hàng nói riêng Với tiềm năng vốn lớn, ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nhằm vừa giữ chữ tín, vừa nâng cao thanh thế trên thương trường

Tóm lại, bản chất của ngân hàng là huy động để cho vay hay nguồn vốn ngân hàng huy động được lại là nguồn để các doanh nghiệp khác đi vay nên hoạt động huy động vốn càng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

ngân hàng Do vậy, hoạt động huy động vốn là một mảng hoạt động lớn của các ngân hàng thương mại và nó quyết định rất lớn đến thành công hay thất bại của ngân hàng

1.3.2 Các nguồn huy động vốn trong NHTM tại Việt Nam

1.3.2.1.Vốn chủ sở hữu

Vốn của ngân hàng là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng (nên còn gọi là vốn chủ sở hữu), nó bao gồm vốn tự có và vốn coi như tự có

- Vốn tự có: bao gồm vốn điều lệ và các quỹ dự trữ

- Vốn điều lệ: là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, ghi trong bản điều

lệ của ngân hàng, được hình thành ngay từ khi ngân hàng thương mại được thành lập Gọi là vốn điều lệ vì vốn này được ghi rõ trong điều lệ hoạt động của ngân hàng Vốn điều lệ có thể điều chỉnh được tăng lên trong quá trình hoạt động của ngân hàng Vốn điều lệ có thể do nhà nước cấp nếu đó là ngân hàng thương mại quốc doanh, có thể là vốn đóng góp của cổ đông nếu là ngân hàng thương mại cổ phần Trên thế giới, vốn của hầu hết các ngân hàng thương mại dưới dạng vốn cổ phần coi

số vốn cổ phần là phần vay nợ từ các cổ động Do vậy, việc huy động vốn để thành lập ngân hàng cổ phần cũng được coi là nghiệp vụ vay nợ

Quy mô vốn điều lệ của ngân hàng thương mại lớn hay nhỏ là tuỳ vào quy

mô của ngân hàng với số lượng chi nhánh nhiều hay ít và địa bàn hoạt động là thành thị hay nông thôn, và không được nhỏ hơn vốn pháp định quy đinh cho ngân hàng

đó Đây là số vốn tối thiểu theo luật định mà ngân hàng phải có để đi vào hoạt động

Số vốn pháp định phụ thuộc vào các nghiệp vụ mà ngân hàng thực hiện, địa bàn hoạt động, số chi nhánh mà nó có

Vốn điều lệ được sử dụng vào mục đích mua sắm tài sản, trang thiết bị ban đầu cần thiết cho hoạt động của ngân hàng; góp vốn liên doanh; cho các thành phần kinh tế vay và thực hiện các dịch vụ khác của ngân hàng Các ngân hàng không được phép sử dụng nguồn vốn nào khác ngoài vốn điều lệ để đầu tư vào tài sản cố định của ngân hàng và hùn vốn liên doanh

- Quỹ dự trữ: Được hình thành từ 2 quỹ là quỹ dự trữ để bổ sung vốn điều lệ và

quỹ dự trữ đặc biệt để bù đắp rủi ro Các quỹ này được trích từ lợi nhuận ròng (là lợi nhuận sau khi đã trừ thuế), hàng năm của ngân hàng Việc hình thành các quỹ này nhằm làm tăng vốn tự có của Ngân hàng, đồng thời đảm bảo an toàn trong kinh doanh

- Vốn coi như tự có: Vốn coi như tự có bao gồm các khoản vốn tạm thời nhàn

rỗi của ngân hàng Đây là những khoản vốn đã được phân bổ cho những mục đích chỉ tiêu nhất định nhưng tạm thời chưa được sử dụng, ví dụ: lợi nhuận chờ phân bổ,

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

tiền lương chưa đến hạn thanh toán hoặc các quỹ chuyên dùng chưa sử dụng đến như quỹ phát triển nghiệp vụ ngân hàng, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ khấu hao tài sản cố định

Vốn của ngân hàng thường chiếm tỷ trọng nhỏ (không quá 10%) trong tổng nguồn vốn mà ngân hàng nắm giữ nhưng lại là nguồn vốn có ý nghĩa đặc biệt vì nó phản ánh thực lực tài chính của ngân hàng, do vậy nó quyết định qui mô hoạt động của ngân hàng, là cơ sở để ngân hàng tiến hành kinh doanh, thu hút những nguồn vốn khác và cho vay Nó được ví như một cái đệm để chống đỡ sự giảm giá trị của những tài sản có của ngân hàng, sự giảm giá trị có thể đẩy ngân hàng đến tình trạng mất khả năng chi trả và phá sản

1.3.2.2 Vốn nợ

Vốn nợ là nguồn vốn chủ yếu trong hoạt động ngân hàng, nguồn này rất quan trọng và đa dạng gồm:

(i) Nguồn tiền gửi: Tiền gửi là nền tảng cho sự thịnh vượng và phát triển của

ngân hàng Tiền gửi là cơ sở chính của các khoản cho vay và do đó, nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển trong ngân hàng Đặc điểm chung của tiền gửi

là chúng phải được thanh toán khi khách hàng yêu cầu ngay cả khi đó là tiền gửi kì hạn chưa tới hạn Sự thay đổi của tiền gửi, đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn làm thay đổi cầu thanh khoản của ngân hàng Quy mô của tiền gửi cũng lớn so với các nguồn khác, tiền gửi là đối tượng phải dự trữ bắt buộc, phải mua bảo hiểm, do vậy chi phí tiền gửi thường cao hơn lãi trả cho tiền gửi Tiền gửi, đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn, thường nhạy cảm với các biến động về lãi suất, tỷ giá, thu nhập, chu kỳ chi tiêu và nhiều nhân tố khác Tiền gửi tại ngân hàng có nhiều loại, các ngân hàng thường dựa vào lãi suất để cạnh tranh với nhau Hiện nay, các ngân hàng đã đưa ra nhiều hình thức huy động tiền gửi khác nhau:

- Tiền gửi giao dịch Một trong những dịch vụ nhận tiền gửi lâu đời nhất mà ngân hàng cung cấp là nhận tiền gửi để giữ và thanh toán hộ khách hàng Tiền gửi giao dịch đòi hỏi ngân phải thanh toán ngay lập tức các lệnh rút tiền cho một cá nhân hay cho bên thứ ba, được chỉ rõ là người thụ hưởng Các khoản thu bằng tiền của khác hàng đều có thể nhập vào tiền gửi thanh toán theo yêu cầu lãi suất của tiền gửi giao dịch rất thấp, thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ ngân hàng với mức phí thấp Hiện nay một số ngân hàng kết hợp tài khoản tiền gửi thanh toán với các tài khoản cho vay hoặc nâng lãi suất để cạnh tranh vớ ngân hàng khác

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://lrc.tnu.edu.vn

- Tiền gửi phi giao dịch, là tài khoản tiền gửi tiết kiệm được lập ra để thu hút vốn của những người hay doanh nghiệp muốn dành riêng một khoản tiền cho những mục tiêu hay cho một nhu cầu về tài chính được dự tính trong tương lai Lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi này cao hơn nhiều so vời tiền gửi giao dịch.Tuy chi phí trả tiền lãi cao nhưng chi phí duy trì và quản lý đối với tài khoản tiền gửi tiết kiệm phi giao dịch nói chung là thấp Mặt khác với tiền gửi phi giao dịch, người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán như đối với tiền gửi giao dịch Nếu cần chi tiêu, người gửi phải đến ngân hàng rút tiền ra Tuy phải trả phí cao hơn so với tiền gửi giao dịch nhưng đổi lại tiền gửi phi giao dịch có tính ổn định cao hơn, giúp ngân hàng có thể chủ động lập kế hoạch sử dụng nguồn này một cách có hiệu quả

- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư Khi người dân có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng, trong khả năng có thể tiếp cận với ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm mục tiêu bảo toàn và sinh lợi Để thu hút tiền tiết kiệm, các ngân hàng luôn khuyến khích người dân thay đổi thói quen để tiền tại nhà bằng nhiều phương thức như: mở rộng mạng lưới huy động, lãi suất cạnh tranh, đa dạng hình thức huy động…trong thời gian gần đây tiền gửi tiết kiệm của dân cư ngày càng gia tăng và có tính ổn định cao, đóng vai trò quan trọng trong nguồn vốn của các ngân hàng thương mại

- Tiền gửi của các ngân hàng khác Với mục đích nhờ thanh toán hộ và thu lãi, NHTM này có thể gửi tiền tại ngân hàng khác, tuy nhiên quy mô nguồn này thường không lớn và thời gian thường không lâu Tuy nhiên, nguồn tiền này cũng

có vaia trò quan trọng trong cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng trong những điều kiện nhất định

(ii) Nguồn đi vay: Sau khi đã sử dụng hết vốn, nhưng vẫn chưa đáp ứng được

nhu cầu vay vốn của khách hàng hoặc phải đáp ứng nhu cầu thanh toán và chi của khách hàng, các NHTM có thể đi vay ở ngân hàng trung ương, ở các ngân hàng khác, vay ở thị trường tiền tệ, vay các tổ chức ngoài nước…Vốn đi vay chỉ chiếm một tỷ trọng có thể chấp nhận được trong kết cấu nguồn vốn, nhưng nó rất cần thiết

và có vị trí quan trọng để đảm bảo cho ngân hàng hoạt động kinh doanh một cách bình thường.Dưới đây sẽ xem xét một số nguồn vay chủ yếu:

- Vay ngân hàng trung ương (NHTW) Ngân hàng thương mại phải cho vay tới mức mà NHTW cho phép để tối đa hóa lợi nhuận Nhưng không phải lúc nào hoạt động của ngân hàng cũng đều thuận lợi Dù rất thận trọng trong cho vay, NHTM cũng khó tránh khỏi có lúc thiếu khả năng chi trả hoặc quá kẹt tiền mặt

Ngày đăng: 21/03/2016, 20:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Cục Thống kê Thái Nguyên (2010), Niên giám thống kê năm 2009, Nxb. Thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2009
Tác giả: Cục Thống kê Thái Nguyên
Nhà XB: Nxb. Thống kê Hà Nội
Năm: 2010
2. Cục Thống kê Thái Nguyên (2011), Niên giám thống kê năm 2010, Nxb Thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2010
Tác giả: Cục Thống kê Thái Nguyên
Nhà XB: Nxb Thống kê Hà Nội
Năm: 2011
3. Cục Thống kê Thái Nguyên (2012), Niên giám thống kê năm 2011, Nxb Thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2011
Tác giả: Cục Thống kê Thái Nguyên
Nhà XB: Nxb Thống kê Hà Nội
Năm: 2012
4. Cục Thống kê Thái Nguyên (2013), Niên giám thống kê năm 2012, Nxb Thống kê Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê năm 2012
Tác giả: Cục Thống kê Thái Nguyên
Nhà XB: Nxb Thống kê Hà Nội
Năm: 2013
6. David Cox (1997), Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại
Tác giả: David Cox
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
Năm: 1997
7. Phan Thị Thu Hà (2007), Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng thương mại
Tác giả: Phan Thị Thu Hà
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm: 2007
8. Phan Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thu Thảo (2002), Ngân hàng thương mại quản trị và nghiệp vụ, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng thương mại quản trị và nghiệp vụ
Tác giả: Phan Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Thu Thảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2002
9. Nguyễn Tiến Long (2004), “Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty Cổ phần xây dựng Giao thông I - Thái nguyên”, Luận văn thạc sỹ QTKD, trường ĐH Bách Khoa - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty Cổ phần xây dựng Giao thông I - Thái nguyên
Tác giả: Nguyễn Tiến Long
Năm: 2004
10. Frediric S. Mishkin (1995), Tiền tệ, Ngân hàng và thị trường tài chính, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ, Ngân hàng và thị trường tài chính
Tác giả: Frediric S. Mishkin
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 1995
16. Peter S. Rose (2001), Quản trị Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị Ngân hàng thương mại
Tác giả: Peter S. Rose
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2001
17. Quốc hội (1997), Luật Thương Mại năm 1997, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX năm 1997, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thương Mại năm 1997
Tác giả: Quốc hội
Năm: 1997
18. Quốc hội (2005), Luật Thương Mại năm 1997, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Thương Mại năm 1997
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2005
19. Quốc hội (2010), Luật các tổ chức tín dụng, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật các tổ chức tín dụng
Tác giả: Quốc hội
Năm: 2010
20. SBV (2012), Báo cáo thường niên của NHNN 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên của NHNN
Tác giả: SBV
Năm: 2012
21. SBV (2011), Báo cáo thường niên của NHNN 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên của NHNN
Tác giả: SBV
Năm: 2011
22. SBV (2010), Báo cáo thường niên của NHNN 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên của NHNN
Tác giả: SBV
Năm: 2010
23. SBV (2008), Chiến lược phát triển nghành ngân hàng Việt Nam đến năm 2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược phát triển nghành ngân hàng Việt Nam đến năm 2015
Tác giả: SBV
Năm: 2008
24. SBV (1997), Ngân hàng Việt Nam với chiến lược huy động vốn phục vụ CNH, HĐH đất nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng Việt Nam với chiến lược huy động vốn phục vụ CNH, HĐH đất nước
Tác giả: SBV
Năm: 1997
25. UBND Tỉnh Thái Nguyên (2011), Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ kế hoạch kinh tế -xã hội năm 2011 và nhiệm vụ phương hướng cho năm 2012, Văn phòng UBND tỉnh Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết thực hiện nhiệm vụ kế hoạch kinh tế -xã hội năm 2011 và nhiệm vụ phương hướng cho năm 2012
Tác giả: UBND Tỉnh Thái Nguyên
Năm: 2011
29. WB (2010), “Báo cáo phát triển 2010”, Báo cáo phục vụ Hội nghị các nhà tài trợ cho Việt nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển 2010”, "Báo cáo phục vụ Hội nghị các nhà tài trợ cho Việt nam
Tác giả: WB
Năm: 2010

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Chức năng của ngân hàng thương mại - Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam   chi nhánh tỉnh thái nguyên
Sơ đồ 1.1 Chức năng của ngân hàng thương mại (Trang 17)
Sơ đồ 1.2:  Môi trường cạnh tranh của NHTM (mô hình 5 lực lượng) - Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam   chi nhánh tỉnh thái nguyên
Sơ đồ 1.2 Môi trường cạnh tranh của NHTM (mô hình 5 lực lượng) (Trang 31)
Hình 2.1: Mô hình nhân tố tác động tới khả năng cạnh tranh của NHTM - Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam   chi nhánh tỉnh thái nguyên
Hình 2.1 Mô hình nhân tố tác động tới khả năng cạnh tranh của NHTM (Trang 54)
Hình 2.2: Mô hình cạnh tranh 5 lực lƣợng của M. Porter - Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam   chi nhánh tỉnh thái nguyên
Hình 2.2 Mô hình cạnh tranh 5 lực lƣợng của M. Porter (Trang 55)
Hình 2.3: Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ - Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam   chi nhánh tỉnh thái nguyên
Hình 2.3 Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ (Trang 63)
Hình 2.4: Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng các quốc gia EU - Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam   chi nhánh tỉnh thái nguyên
Hình 2.4 Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng các quốc gia EU (Trang 64)
Hình 2.5: Mô hình lí thuyết về chỉ số hài lòng khách hàng của các ngân hàng - Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam   chi nhánh tỉnh thái nguyên
Hình 2.5 Mô hình lí thuyết về chỉ số hài lòng khách hàng của các ngân hàng (Trang 67)
Sơ đồ 2.1. Mô hình cơ cấu tổ chức của VIB chi nhánh tỉnh Thái Nguyên - Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam   chi nhánh tỉnh thái nguyên
Sơ đồ 2.1. Mô hình cơ cấu tổ chức của VIB chi nhánh tỉnh Thái Nguyên (Trang 75)
Bảng 3.1: Bảng tiêu chí khảo sát, đánh giá chất lượng dịch vụ của VIB Thái Nguyên - Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam   chi nhánh tỉnh thái nguyên
Bảng 3.1 Bảng tiêu chí khảo sát, đánh giá chất lượng dịch vụ của VIB Thái Nguyên (Trang 78)
Bảng 3.2: Thị phần huy động vốn các NHTM ở tỉnh Thái Nguyên, năm  2012 - Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam   chi nhánh tỉnh thái nguyên
Bảng 3.2 Thị phần huy động vốn các NHTM ở tỉnh Thái Nguyên, năm 2012 (Trang 83)
Bảng 3.6: Cơ cấu huy động vốn theo đối tượng tại VIB Thái Nguyên, 2009 - 2012 - Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam   chi nhánh tỉnh thái nguyên
Bảng 3.6 Cơ cấu huy động vốn theo đối tượng tại VIB Thái Nguyên, 2009 - 2012 (Trang 104)
Bảng 3.7: Cơ cấu tiền gửi của dân cư và TCKT theo thời hạn - Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam   chi nhánh tỉnh thái nguyên
Bảng 3.7 Cơ cấu tiền gửi của dân cư và TCKT theo thời hạn (Trang 105)
Bảng 3.10: Thu nhập từ vốn huy động của VIB Thái Nguyên, 2009 - 2012) - Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam   chi nhánh tỉnh thái nguyên
Bảng 3.10 Thu nhập từ vốn huy động của VIB Thái Nguyên, 2009 - 2012) (Trang 107)
Bảng 3.9: Chi phí huy động vốn bình quân VIB Thái Nguyên, 2009 - 2012 - Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam   chi nhánh tỉnh thái nguyên
Bảng 3.9 Chi phí huy động vốn bình quân VIB Thái Nguyên, 2009 - 2012 (Trang 107)
Bảng 3.11. Cơ cấu vốn huy động và sử dụng vốn theo kỳ hạn, loại tiền - Nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm huy động vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần quốc tế việt nam   chi nhánh tỉnh thái nguyên
Bảng 3.11. Cơ cấu vốn huy động và sử dụng vốn theo kỳ hạn, loại tiền (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w