Kinh tế có phát triển lớn mạnh thì kéo theo tài chính cũng lớn mạnh và ngược lại nguồn tài chính công có lớn mạnh và bền vững sẽ kéo theo kinh tế phồn thịnh giảm tỉ lệ nghèo khó thất ngh
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN ĐẮC THẢO
GIẢI PHÁP TĂNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Đỗ Đức Bình
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực và chưa từng được sử dụng, công bố trong bất kì nghiên cứu nào
Tôi xin can đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong đề tài đều được ghi rõ nguồn gốc
Bắc Ninh, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Đắc Thảo
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và được tạo điều kiện thuận lợi từ nhiều cá nhân và tập thể
Trước hết tôi xin nói lời cảm ơn chân thành nhất tới GS.TS Đỗ Đức Bình,
thầy đã giúp đỡ tận tình và trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian tôi thực hiện nghiên cứu đề tài
Tác giả xin chân thành cảm ơn các ý kiến đóng góp và hướng dẫn của các Thầy, Cô giáo trong khoa Sau Đại học - trường Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên trong suốt thời gian học tập
Tôi xin chân thành cám ơn lãnh đạo Sở Tài chính Bắc Ninh, Cục thuế tỉnh Bắc Ninh, UBND tỉnh Bắc Ninh, các ban ngành cùng với các doanh nghiệp, hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã giúp tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn./
Bắc Ninh, ngày tháng năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Đắc Thảo
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
5 Bố cục của luận văn 3
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGÂN SÁCH VÀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 4
1.1 Khái quát một số vấn đề cơ bản về ngân sách Nhà nước 4
1.1.1 Khái niệm về ngân sách Nhà nước 4
1.1.2 Vai trò của ngân sách Nhà nước 4
1.1.3 Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước 5
1.2 Cơ sở lý luận về thu ngân sách Nhà nước 6
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của thu ngân sách Nhà nước 6
1.2.2 Phân loại và chức năng của thu ngân sách Nhà nước 7
1.2.3 Yêu cầu và nội dung của thu ngân sách Nhà nước 13
1.2.4 Các yếu tổ ảnh hưởng tới thu ngân sách 21
1.3 Kinh nghiệm về quản lý thu ngân sách của một số nước và bài học rút ra 26
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước 26
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm về thu Ngân sách Nhà nước rút ra từ nghiên cứu 30
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 32
? 32
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.1.2 Thực trạng công tác quản lý thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc
Ninh giai đoạn 2010 - 2012 đã diễn ra như thế nào và thu được kết quả gì? 32
2.1.3 Để tăng ? 32
2.1.4 Những giải pháp tăng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong những năm tới? 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 32
2.2.2 Phương pháp tổng hợp thông tin 35
2.2.3 Phương pháp phân tích thông tin 35
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 36
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiện trạng của địa phương 36
36
Chương 3 THỰC TRẠNG THU NGÂN SÁCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 37
3.1 Những đặc điểm chủ yếu của tỉnh Bắc Ninh 37
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 37
3.1.2 Đặc điểm về nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội 38
3.2 Thực trạng thu ngân sách nhà nước của tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010-2012 43
3.2.1 Một số qui định về thu Ngân sách Nhà nước của Nhà nước Việt Nam 43
3.2.2 Khái quát tình hình thực hiện dự toán thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 46
3.2.3 Cơ cấu thu Ngân sách Nhà nước theo nguồn hình thành 50
3.2.4 Cơ cấu thu Ngân sách Nhà nước theo sắc thuế 53
3.3 Phân tích thu ngân sách Nhà nước theo kết quả điều tra 55
3.3.1 Tình hình thu NSNN đối với doanh nghiệp và hộ kinh doanh thông qua kết quả điều tra 55
3.3.2 Tình hình thu NSNN đối với hộ kinh doanh cá thể 60
3.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác thu Ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 65
3.4 Đánh giá thực trạng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 66
3.4.1 Ưu điểm 66
3.4.2 Hạn chế 69
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.4.3 Nguyên ngân của những hạn chế 71
Chương 4 GIẢI PHÁP TĂNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH 77
4.1 Bối cảnh trong nước và thế giới ảnh hưởng tới thu ngân sách Nhà nước của Việt Nam và tỉnh Bắc Ninh 77
4.1.1 Môi trường kinh tế vĩ mô 77
4.1.2 Hội nhập kinh tế thế giới 77
4.2 Quan điểm tăng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 77
Việc tăng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới cần dựa trên các quan điểm sau: 77
- 77
4.2.2 78
4.2.3 78
4.3 Mục tiêu, phương hướng tăng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 79
4.3.1 Mục tiêu tăng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 79
4.3.2 Phương hướng tăng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 79
4.4 Giải pháp tăng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 79
4.4.1 Tạo môi trường ổn định cho sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả và chất lượng tăng trưởng kinh tế (Đây là điều kiện đảm bảo tăng thu NS cho tỉnh) 80
4.4.2 Đổi mới công tác quản lý thu Ngân sách 82
4.4.3 Tăng cường chất lượng công tác lập, quản lý điều hành và quyết toán NSNN 85
4.4.4 Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý NSNN 87
4.4.5 Giải pháp về thu thuế 87
4.4.6 Các biện pháp quản lý thu ngoài thuế 91
4.5 Một số kiến nghị (Điều kiện để thực hiện các giải pháp) 92
4.5.1 Đối với Chính phủ, Bộ Tài chính 92
4.5.2 Đối với UBND tỉnh Bắc Ninh 93
4.5.3 Đối với các địa phương trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh 94
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
PHỤ LỤC 100
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa Công ty TNHH Công ty Trách nhiệm hữu hạn
DN Doanh nghiệp DNNN Doanh nghiệp nhà nước ĐTPT Đầu tư phát triển
GTGT Giá trị gia tăng HĐND Hội đồng nhân dânHTX Hợp tác xã
KBNN Kho bạc nhà nước KTTĐ Bắc Bộ Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ NNL Nguồn nhân lực
SXKD Sản xuất kinh doanh
TW Trung ương Thuế GTGT Thuế Giá trị gia tăng Thuế NK Thuế Nhập khẩu Thuế TNDN Thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế XK Thuế Xuất khẩu
Thuế XNK Thuế Xuất nhập khẩu
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thông tin chung về loại hình doanh nghiệp điều tra 34
Bảng 2.2: Loại hình kinh doanh của hộ điều tra 34
Bảng 3.1: Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2010-2012 41
Bảng 3.2: Tổng thu và tỷ suất thu ngân sách nhà nước so với tổng sản phẩm trong nước 47
Bảng 3.3: Cơ cấu thu ngân sách theo nguồn hình thành 51
Bảng 3.4: Cơ cấu thu ngân sách nhà nước theo sắc thuế 54
Bảng 3.5: Thông tin về tài chính của công ty, doanh nghiệp tại Bắc Ninh 56
Bảng 3.6: Tổng hợp đánh giá của công ty, doanh nghiệp về chính sách thuế và tính chất của các khoản thuế tại Bắc Ninh 58
Bảng 3.7: Tổng hợp doanh thu, mức thuế đang thực hiện 61
Bảng 3.8: Tổng hợp chung đánh giá của hộ về thuế 63
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Các khoản thu Ngân sách Nhà nước 8
Hình 1.2: Hệ thống cơ quan quản lý 10
Hình 1.3: Hệ thống NSNN ở Việt Nam 25
Hình 3.1: Tổng thu Ngân sách Nhà nước tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010 -2012 48
Hình 3.2: Tốc độ thu Ngân sách Nhà nước và tổng sản phẩm trong nước (%) 49
Hình 3.3 Tỷ trọng thu ngân sách tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010-2012 52
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngân sách nhà nước, hay ngân sách chính phủ, là một phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử; là một thành phần trong hệ thống tài chính Sự hình thành và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hóa - tiền tệ trong các phương thức sản xuất của cộng đồng và nhà nước của từng cộng đồng Nói cách khác, sự ra đời của nhà nước, sự tồn tại của kinh tế hàng hóa - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của ngân sách nhà nước
Hiện nay, đất nước ta đang trong quá trình đổi mới và hội nhập Một trong những nhân tố tài chính giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện đường lối đổi mới và hội nhập là ngân sách Nhà nước Một quốc gia được đánh giá là phồn thịnh trước tiên người ta chú ý đến sự lớn mạnh và bền vững về tài chính Kinh tế có phát triển lớn mạnh thì kéo theo tài chính cũng lớn mạnh và ngược lại nguồn tài chính công có lớn mạnh và bền vững sẽ kéo theo kinh tế phồn thịnh giảm tỉ lệ nghèo khó thất nghiệp, bên cạnh đó nó còn là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế, kiềm chế lạm phát, bình ổn giá cả Từ đó thu ngân sách nhà nước được các ngành các cấp chú ý đến Từ Trung ương đến địa phương đã và đang đề ra các nhiệm vụ thiết thực nhằm tăng cường thu ngân sách nhà nước theo hướng bền vững với mục tiêu luôn có nguồn lực tài chính lớn mạnh, ổn định Tỉnh Bắc Ninh là cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, gần sân bay Quốc tế Nội Bài, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh Bắc Ninh có các trục đường giao thông lớn quan trọng chạy qua, nối liền tỉnh với các trung tâm kinh tế, văn hoá và thương mại của phía Bắc Việt Nam
có nhiều tiềm năng về phát triển kinh tế trong quá trình hội nhập, nhất là trong giai đoạn hiện nay Bắc Ninh chuẩn bị đi những bước đầu cho sự phát triển lên một tỉnh phồn thịnh đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính lớn mạnh chủ yếu là từ thu ngân sách nhà nước Cùng với tiến độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tỉnh Bắc Ninh dần dần thay đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ với các khu công nghiệp mới Bên cạnh đó là sự phát triển của các làng nghề truyền thống trên địa bàn
để phục vụ cho thành công mục tiêu đã đề ra bên cạnh sự hỗ trợ nguồn lực từ ngân sách cấp trên cần phải có ngân sách địa phương
Tuy nhiên trong những năm qua, Việt Nam nói chung và tỉnh BN nói riêng đang đối mặt với không ít khó khăn Trong số đó phải kể đến hầu hết các doanh nghiệp,các
Trang 12nhà kinh doanh trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh gặp không ít khó khăn bởi tác động của khủng hoảng và suy thoái kinh tế Nhiều doanh nghiệp, làng nghề giảm quy mô sản xuất hoặc đóng cửa… Đây là lực lượng quan trọng đóng góp nguồn thu cho tỉnh
Vấn đề đặt ra là làm thế nào tăng nguồn thu ngân sách nhà nước một cách bền vững trong năm nay và những năm tới Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Giải pháp tăng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh” làm luận văn thạc sĩ
2 Mục tiêu nghiên của đề tài
2.1 Mục tiêu nghiên cứu chung
ực trạng quản lý thu ngân sách tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2010-2012, chỉ rõ những thành công, bất cậ ề xuất một số giả ằm nâng cao hiệu quả ản lý thu ngân sách tại tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới
2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về NSNN và thu NSNN;
- Đánh giá thực trạng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề quản lý thu ngân sách và tăng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Vấn đề thu ngân sách và tăng ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh
3.2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
- ời gian: Số liệu sử dụng cho phân tích thực trạng từ năm
2010 - 2012 đề xuất giải pháp cho những năm 2013-2020
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận
và thực tiễn về quản lý và sử dụng ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc
Trang 13Ninh, yếu tố ảnh hưởng (thuế, phí và lệ phí từ các doanh nghiệp trên địa bàn) , thực trạng thu ngân sách giai đoạn 2010 - 2012 của tỉnh Bắc Ninh và các giải pháp tăng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn tới
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Đề tài hệ thống hóa được lý luận và thực tiễn
về vấn đề NSNN việc tăng cường thu NSNN
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
5 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo Luận văn gồm có 4 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về ngân sách và thu ngân sách Nhà nước Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh Chương 4: Giải pháp tăng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ NGÂN SÁCH VÀ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Khái quát một số vấn đề cơ bản về ngân sách Nhà nước
1.1.1 Khái niệm về ngân sách Nhà nước
Có nhiều quan niệm về Ngân sách nhà nước Các nhà nghiên cứu kinh tế cổ điển cho rằng: Ngân sách nhà nước là một văn kiện tài chính mô tả các khoản thu, chi của Chính phủ được thiết lập hàng năm Nhiều nhà nghiên cứu kinh tế hiện đại thì cho rằng Ngân sách nhà nước là bảng liệt kê các khoản thu chi bằng tiền mặt trong một giai đoạn nhất định của Nhà nước
Theo Luật của Quốc Hội nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 về ngân sách nhà nước thì Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (Luật Ngân sách số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002)
Bên cạnh những điểm khác biệt thì các định nghĩa có một số điểm nhất trí sau:
- Ngân sách là kế hoạch hoặc dự toán thu, chi của một chủ thể nhất định, thường là một năm - gọi là năm tài chính;
- Ngân sách nhà nước của một quốc gia là một đạo luật được cơ quan lập pháp của quốc gia đó ban hành
1.1.2 Vai trò của ngân sách Nhà nước
Có thể nhìn nhận vai trò của NSNN trên hai phương diện:
- Một là, Nhà nước có nhiều chức năng, nhiệm vụ Để thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ đó Nhà nước cần có lực lượng vật chất nhất định Một trong đó là NSNN Đối với bất kỳ quốc gia, NSNN luôn có vị trí quan trọng trong việc đảm bảo nguồn tài chính cho sự thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
- Hai là, Ngân sách là một công cụ kinh tế vĩ mô quan trọng tác động vào nền
kinh tế Ngân sách là nguồn lực đầu tư quan trọng giúp cho nền kinh tế phát triển, điều chỉnh cơ cấu kinh tế; thúc đẩy quá trình đô thị hóa, động viên mọi thành viên trong xã hội tham gia vào quá trình phát triển; ngân sách cùng với các công cụ khác
Trang 15hỗ trợ sự hình thành đồng bộ các yếu tố của kinh tế thị trường, đồng thời tham gia khắc phục các thất bại của chính nền kinh tế thị trường, đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh, bảo đảm tính công bằng và hiệu quả kinh tế - xã hội
NSNN có vai trò quan trọng, quốc gia nào cũng xây dựng một hệ thống ngân sách hợp lý, với các chính sách nhằm mục tiêu phân phối và sử dụng có hiệu quả nhất
Với vai trò của mình, NSNN là công cụ của Nhà nước để cùng với thị trường tác động tích cực vào nền kinh tế; tạo động lực khuyến khích mọi thành phần kinh tế phát triển, hạn chế cơ chế quản lý trực tiếp, mệnh lệnh hành chính;
mở rộng và tăng cường sử dụng tích cực các công cụ tài chính tiền tệ, sửa đổi bổ sung các chính sách tài chính phù hợp với quy luật kinh tế thị trường NSNN cần
ưu tiên lựa chọn mục tiêu trung tâm, trọng điểm, đào tạo nhân lực, phát triển nội lực, thu hút, huy động và chuyển hóa ngoại lực thành nội lực nhằm phát triển nhanh nền KTXH
Trước đây, nhiều nhà kinh tế học chủ trương xây dựng một số NS tối thiểu và cân bằng, có qui mô thu chi vừa đủ để duy trì hệ thống cơ sở hạ tầng; bảo đảm thực hiện các chức Nhà nước công quyền, bảo vệ an ninh - quốc phòng, an toàn xã hội Nghĩa là NSNN chỉ giới hạn trong tiêu dùng nằm ở khâu sau phân phối lại kết quả sản xuất kinh doanh Hiện nay, quan điểm được nhiều quốc gia áp dụng là NSNN không chỉ phân phối lại kết quả sản xuất kinh doanh mà trước khi phân phối lại, NSNN đã tham gia phân phối các yếu tố đầu vào của quá trình kinh tế (đầu tư hạ tầng KTXH, ĐTPT nguồn nhân lực, hỗ trợ phát triển thị trường, xúc tiến thương mại…) Với đặc điểm này, NSNN chủ động thúc đẩy nền kinh tế phát triển
1.1.3 Phân cấp quản lý ngân sách Nhà nước
1.1.3.1 Khái niệm
Phân cấp quản lý NS là quá trình Nhà nước trung ương và cấp tỉnh phân giao những nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm cho các cấp chính quyền ở địa phương trong hoạt động quản lý thu, chi NSNN
Phân cấp quản lý NSNN được xem như là một trong những biện pháp quản lý NSNN Thực chất của việc phân cấp quản lý NSNN là việc phân chia trách nhiệm, quyền hạn trong quản lý hoạt động của NSNN cho các cấp chính quyền nhằm làm
Trang 16cho hoạt động của NSNN được lành mạnh và đạt hiệu quả cao Phân cấp quản lý thu, chi NSNN được thực hiện theo nguyên tắc thống nhất, tập trung dân chủ
Tư tưởng chỉ đạo trong phân cấp quản lý nhà nước theo Luật NSNN là phân định cụ thể nhiệm vụ thu chi cho NS mỗi cấp
Trong đó nội dung chính về phân cấp quản lý thu NSNN: Tập trung đại bộ phận nguồn thu lớn, ổn định cho NSTW, đồng thời tạo cho NSĐP có nguồn thu gắn với địa bàn Trên tinh thần đó, nguồn thu được chia làm 3 loại:
- Các khoản thu NSTW hưởng 100%
- Các khoản thu NSĐP hưởng 100%
- Các khoản thu điều tiết theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa NSTW và NSĐP
1.1.3.2 Các nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN: Có 4 nguyên tắc chính
- Thứ nhất, phù hợp với phân cấp KTXH, quốc phòng - an ninh và năng lực
quản lý của mỗi cấp trên địa bàn
- Thứ hai, đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTW và vị trí độc lập của NSĐP
trong hệ thống NSNN thống nhất
- Thứ ba, phân định cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi của từng cấp ngân sách;
làm rõ nguồn thu và nhiệm vụ chi nào gắn với NSTW, nguồn thu và nhiệm vụ chi nào gắn với NSĐP; từ đó làm rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cấp, tạo điều kiện cho các cấp chính quyền địa phương, nhất là các cấp cơ sở chủ động thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, hạn chế tình trạng trông chờ, ỷ lại của ngân sách cấp dưới và bao biện của ngân sách cấp trên
- Thứ tư, bảo đảm nguyên tắc công bằng trong phân cấp NSNN
1.2 Cơ sở lý luận về thu ngân sách Nhà nước
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của thu ngân sách Nhà nước
1.2.1.1 Khái niệm
Thu NSNN là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quỹ NSNN nhằm thỏa mãn các nhu cầu của Nhà nước Xét về hình thức, thu NSNN là một hoạt động, là quá trình của nhiều hành vi, hành động của Nhà nước Xét về nội dung, thu NSNN là quá trình Nhà nước sử dụng các quyền lực có được của mình để động viên, phân phối một bộ phận của cải của xã hội dưới dạng tiền tệ về tay Nhà nước nhằm hình thành nên quỹ NSNN [4]
Trang 171.2.1.2 Đặc điểm
Thu NSNN có những đặc điểm sau đây:
- Thu NSNN gắn liền với quyền lực của Nhà nước (mà chủ yếu là quyền lực chính trị);
- Thu NSNN được xác lập trên cơ sở luật định và vừa mang tính chất bắt buộc; vừa không mang tính chất bắt buộc;
- Nguồn tài chính chủ yếu của thu NSNN là thu thập các thể nhân và pháp nhân, được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước dưới nhiều hình thức, nhưng chủ yếu là thuế;
- Thu NSNN gắn chặt với thực trạng kinh tế và các phạm trù: Giá cả, thu nhập, lãi suất…
- Thu NSNN gắn liền với hoạt động của Nhà nước Nhà nước đề ra chủ trương, phương hướng, mục tiêu thu NSNN trong một thời kỳ nhất định, xác định rõ thu ở đâu? Lĩnh vực nào là chủ yếu? Hình thức nào là tốt nhất? Xác định rõ tỷ lệ thu hoặc một con số thu cụ thể nào đó Từ đó Nhà nước đề ra cơ chế, chính sách, luật lệ
về thu NSNN nhằm đạt được phương hướng, mục tiêu đề ra Đồng thời Nhà nước tổ chức bộ máy thu, tổ chức thu và đảm bảo các điều kiện cho công tác thu
Tóm lại, thu NSNN thực chất là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội dựa trên quyền lực chính trị của Nhà nước nhằm giải quyết hài hòa các mặt lợi ích kinh tế Sự phân chia đó là tất yếu khách quan xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước, cũng như thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình Đối tượng phân chia là thu thập xã hội - đây là kết quả lao động sản xuất trong nước tạo ra dưới hình thức tiền tệ
1.2.2 Phân loại và chức năng của thu ngân sách Nhà nước
1.2.2.1 Phân loại Ngân sách Nhà nước
Ngân sách Trung ương (TW) bao gồm các đơn vị dự toán của cấp này Mỗi
bộ, cơ quan trung ương là một đơn vị dự toán của Ngân sách Trung ương
Ngân sách Trung ương cung ứng nguồn tài chính cho các nhiệm vụ, mục tiêu chung cho cả nước trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hỗ trợ chuyển giao nguồn tài chính cho ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Trang 18Vay và VT nước ngoài
Các khoản do
NN vay
để bù đắp bội chi Các tổ chức Các cá nhân
Ngân sách địa phương (NSĐP) là tên chung để chỉ ngân sách của các chính quyền địa phương phù hợp với địa giới hành chính các cấp Ngân sách xã, phường, thị trấn vừa là một cấp ngân sách, vừa là một bộ phận cấu thành của ngân sách huyện và quận, thị xã Ngân sách huyện, quận, thị xã vừa là một cấp ngân sách, vừa
là bộ phận cấu thành của ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc Trung tương NSĐP cung ứng nguồn tài chính để thực hiện các nhiệm vụ của chính quyền Nhà nước ở địa phương và hỗ trợ chuyển giao nguồn tài chính cho chính quyền cấp dưới
* Phân loại thu Ngân sách Nhà nước
Việc phân loại thu NSNN có ý nghĩa thiết thực trong việc phân tích, đánh giá
và quản lý các nguồn thu NSNN Để thấy rõ sự phát triển và tính hiệu quả của nền kinh tế, chúng ta phân loại thu NSNN theo nội dung kinh tế
Thu NSNN bao gồm: Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; Các khoản tu từ hoạt
động kinh tế của nhà nước; Các khoản đóng góp của các tổ chức và các cá nhân; Các khoản viện trợ; Các khoản thu khác theo quy định của Pháp luật ở mỗi quốc
gia, có thể chia thu Ngân sách thành hai nhóm (hình 1.1)
Việc phân loại theo các khoản thu ngân sách trên cho phép đánh giá được mức độ huy động các nguồn thu ở các khu vực kinh tế khác nhau trong nền kinh tế; cũng như tổng quan thu trong nước, ngoài nước Từ đó có chính sách, biện pháp khai thác các nguồn thu hợp lý ở các khu vực, cân đối trong và ngoài nước
Hình 1.1: Các khoản thu Ngân sách Nhà nước
- Căn cứ vào nội dung kinh tế, các khoản thu NSNN ở nước ta gồm:
+ Thuế, phí, lệ phí do tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật
Trang 19+ Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước theo quy định của pháp luật (tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế; thu hồi tiền cho vay; thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế…)
+ Thu từ hoạt động sự nghiệp; tiền sử dụng đất; thu từ hoa lợi công sản và đất công ích; Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước; thu từ bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước
+ Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, các cá nhân trong và ngoài nước
+ Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam, các cấp chính quyền và các cơ quan, đơn vị nhà nước
+ Thu từ Quỹ đất dự trữ tài chính; thu kết dư ngân sách
+ Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
Cách phân loại này giúp cho việc xem xét từng nội dung thu theo tính chất và hình thức động viên vào ngân sách, đánh giá tính cân đối, bền vững, hợp lý về cơ cấu các nguồn thu Trên cơ sở đó giúp cho việc hoạch định chính sách cũng như tổ chức điều hành ngân sách phù hợp với các mục tiêu nhà nước theo đuổi trong từng thời kỳ
1.2.2.2 Chức năng thu Ngân sách Nhà nước
Hệ thống cơ quan trong bộ máy cơ quan quản lý thu ngân sách nhà nước bao gồm cơ quan chủ quản Bộ tài chính Dưới Bộ Tài chính có các cơ quan cùng cấp là: Kho bạc Nhà nước, Tổng cục thuế, Tổng cục hải quan, Sở Tài chính Ở cấp Kho bạc Nhà nước lại quản lý theo thứ tự giảm dần bao gồm Kho bạc Nhà nước tỉnh và Kho bạc Nhà nước quận, huyện, thị xã Dưới Tổng cục thuế có Cục thuế và Chi cục thuế Dưới Tổng cục hải quan gồm có hải quan tỉnh, thành phố và hải quan cửa khẩu Dưới Sở Tài chính có phòng tài chính và ban tài chính Có thể khái quát hệ thống cơ quan quản lý qua hình 1.2
NSNN là thành phần chủ đạo trong tài chính công, gắn liền với vai trò và chức năng của nhà nước trong quản lý vĩ mô nền kinh tế Đó là ba chức năng, phân
bổ nguồn lực, phân phối thu nhập và điều chỉnh kiểm soát Trong đó, thu NSNN tham gia rõ nét vào chức năng phân bổ và phân phối thu nhập
a Chức năng phân bổ nguồn lực
Chức năng phân bổ nguồn lực của NSNN là khả năng khách quan mà nhờ vào đó các nguồn tài lực thuộc quyền chi phối của Nhà nước được tổ chức, sắp xếp, phân phối
Trang 20Tổng cục
Hải quan
Kho bạc Nhà nước Tổng cục Thuế
Cục Hải quan
tỉnh, TP
Kho bạc Nhà nước tỉnh, TP
Chi cục Thuế huyện, quận, TX
KBNN quận, huyện, thị xã
Các đơn vị sử dụng NS
Bộ Tài chính
một cách có tính đến hiệu quả kinh tế - xã hội của việc sử dụng các nguồn tài lực đó đảm bảo cho nền kinh tế phát triển vững chắc và ổn định theo các tỷ lệ cân đối đã định của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
Trong đó, hình thành chức năng này của NSNN, quá trình thu đóng vai trò huy động, tập trung một phần những nguồn lực mà xã hội sử dụng một cách hợp lý
có tính đến khả năng của các đối tượng huy động cũng như thể hiện thái độ của Nhà nước với những thành phần đó
Hình 1.2: Hệ thống cơ quan quản lý
Ở nước ta, trong những năm trước thời kỳ đổi mới, nền kinh tế vận hành theo
cơ chế kế hoạch hóa tập trung Nhà nước thực hiện chế độ bao cấp nguồn tài chính
Trang 21từ ngân sách cho phần lớn các hoạt động kinh tế - xã hội Bởi vậy, ngân sách nhà nước được hiểu như là ngân sách của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Toàn bộ nguồn lực xã hội đều tập trung trong tay nhà nước, và việc sử dụng các nguồn lực này
không mang lại hiệu quả như mong muốn
Kết quả trực tiếp của việc vận dụng chức năng phân bổ nguồn lực là các quỹ ngân sách được tạo lập, được phân phối và sử dụng Việc tạo lập, phân phối và sử dụng một cách đúng đắn, hợp lý các quỹ ngân sách đó chính là sự phân bổ một cách tối ưu các nguồn lực tài chính thuộc quyền chi phối của các chủ thể công, nó tác động mạnh mẽ tới việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực tài chính của toàn xã hội: thúc đẩy hoàn thiện cơ cấu sản xuất, cơ cấu kinh tế xã hội bằng việc tính toán, sắp xếp các tỷ lệ cân đối quan trọng trong phân bổ các nguồn tài chính Một sự phân bổ như thế sẽ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững và ổn định của nền kinh tế
Chức năng phân bổ của thu NSNN, thể hiện ở việc thu ngân sách phải trên
cơ sở thực lực nguồn lực tài chính của toàn xã hội, có cân nhắc cho phù hợp với đặc điểm, tình hình của đất nước trong từng thời kỳ và theo sát các kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước cũng là một tiêu chuẩn quan trọng Phân bổ nguồn lực tài chính phải nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế vĩ mô là hiệu quả,
ổn định và phát triển kinh tế
b Chức năng phân phối lại thu nhập
Chức năng phân phối lại thu nhập của thu NSNN là khả năng khách quan mà nhờ vào đó ngân sách được sử dụng vào việc phân phối và phân phối lại các nguồn tài chính trong xã hội nhằm thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong phân phối và hưởng thụ kết quả của sản xuất xã hội
Trong chức năng này, chủ thể phân phối là Nhà nước trên tư cách người có quyền lực chính trị, còn đối tượng phân phối là các nguồn tài chính đã thuộc sở hữu công cộng hoặc đang là thu nhập của các pháp nhân và thể nhân trong xã hội mà Nhà nước tham gia điều tiết
Tuy nhiên, trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, do những yếu tố sản xuất của các chủ thể kinh tế hoặc các cá nhân không giống nhau, sức khỏe, trình độ, hoàn cảnh, không giống nhau mà thu nhập của các chủ thể kinh tế hoặc của các cá
Trang 22nhân có sự chênh lệch Sự chênh lệch thu nhập này vượt quá giới hạn nào đó sẽ dẫn đến bất công bằng xã hội Như vậy, mặc dù đạt đến sự công bằng về mặt kinh tế thì vẫn có sự bất công bằng về mặt xã hội Yêu cầu công bằng xã hội là duy trì sự chênh lệch trong phạm vi hợp lý, thích ứng với từng giai đoạn mà xã hội có thể chấp nhận được
Trong lĩnh vực này, thu NSNN được sử dụng làm công cụ để điều chỉnh lại thu nhập mà các chủ thể trong xã hội đang nắm giữ Sự điều chỉnh này được thực hiện theo hai hướng là điều tiết bớt các thu nhập cao và hỗ trợ các thu nhập thấp Đối với những thu nhập do thị trường hình thành như tiền lương của người lao động, lợi nhuận doanh nghiệp, thu nhập về cho thuê, thu nhập về tài sản, thu nhập
về lợi tức cổ phần thì chức năng của thu NSNN là thông qua việc phân phối lại để điều tiết Những nhu cầu như y tế, bảo vệ sức khỏe, phúc lợi xã hội, bảo đảm xã hội thì được đáp ứng thông qua phân phối tập trung từ nguồn thu NSNN
Trong việc điều tiết thu nhập, thu thuế là biện pháp chủ yếu Thông qua các thứ thuế gián thu để điều tiết tương đối giá cả của các loại hàng hóa, từ đó điều tiết sự phân phối các yếu tố sản xuất của các chủ thể kinh tế Thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp để điều tiết lợi nhuận của doanh nghiệp Thông qua thuế thu nhập cá nhân để điều tiết thu nhập lao động và thu nhập phi lao động của cá nhân (thu nhập về tài sản, tiền cho thuê, lợi tức ) Thông qua công cụ thuế, các thu nhập cao được điều tiết bớt một phần và được tập trung vào NSNN
Khác với chức năng phân bổ nguồn lực, chức năng phân phối lại thu nhập được đề cập với sự quan tâm nhiều hơn đến khía cạnh xã hội của sự phân phối Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là cần nhận thức và xử lý hợp lý mối quan hệ giữa mục tiêu công bằng và mục tiêu hiệu quả của kinh tế vĩ mô Trong nhiều trường hợp, để đạt mục tiêu công bằng, sự phân phối lại làm tổn hại tới mục tiêu hiệu quả Chẳng hạn, một sự đánh thuế quá cao vào thu nhập sẽ hạn chế tác dụng thúc đẩy tăng tiết kiệm
và tăng đầu tư của tư nhân, đồng thời, có thể dẫn đến hiện tượng tìm cách trốn thuế
do tình trạng quá tải của thuế mang lại Hay một sự trợ cấp xã hội tràn lan, thiếu tính toán cân nhắc dễ dẫn đến tâm lý chờ được cứu tế, giảm tính tích cực lao động, đồng thời làm giảm tác dụng tăng tiết kiệm của khu vực công
Trang 23Do đó, một sự tính toán cân nhắc trong chính sách phân phối và tái phân phối thu nhập để có thể đạt tới mục tiêu công bằng trên cơ sở đảm bảo tính hiệu quả kinh
tế là rất quan trọng nhằm sử dụng có hiệu quả NSNN trong thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô
1.2.3 Yêu cầu và nội dung của thu ngân sách Nhà nước
1.2.3.1 Yêu cầu của thu ngân sách Nhà nước
a Đảm bảo cơ cấu thu ngân sách hợp lý
Cơ cấu thu ngân sách là tương quan, tỷ lệ giữa các bộ phận của các nguồn thu ngân sách cấu thành quỹ ngân sách, mối quan hệ giữa chúng với nhau và quan
hệ với tổng thu NSNN trong một chỉnh thể thống nhất Cơ cấu thu NSNN bao gồm các chỉ tiêu phản ánh nội dung thu NSNN được sắp xếp theo những tiêu thức nhất định gọi là tiêu thức phân loại thu NSNN, như: thu ngân sách đối với thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác… Về định lượng, các khoản mục thu NSNN được lượng hóa thông qua các số đo cụ thể bằng tỷ lệ phần trăm của từng khoản mục so với tổng thu NSNN hàng năm hoặc so với GDP Những tỷ lệ này được gọi là tỷ trọng của từng khoản thu trong tổng thu NSNN hoặc trong GDP; thông qua đó để xác định được vị trí, quy mô của từng khoản thu so với tổng thể nền kinh tế Từ đó, thấy được mức độ quan trọng của từng khoản thu, phản ánh sự lựa chọn, mức độ ưu tiên của Nhà nước trong cơ cấu thu, tỷ trọng các nguồn thu trong NSNN ở mỗi thời kỳ
Cơ cấu kinh tế thể hiện tính chất và trình độ phát triển của hệ thống kinh tế một quốc gia nó được thể hiện thông qua tỷ trọng các bộ phận và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế Cơ cấu kinh tế thường được chia thành cơ cấu theo ngành, cơ cấu theo vùng, lãnh thổ và cơ cấu thành phần Mỗi ngành, mỗi vùng, thành phần kinh tế trong điều kiện nhất định tạo ra mức tích lũy khác nhau do vậy cần có những chính sách để có thể huy động hiệu quả các nguồn lực cho phát triển Khi cơ cấu kinh tế thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi về tỷ lệ động viên các nguồn lực tài chính trong nền kinh tế
Cơ cấu thu ngân sách, đặc biệt là cơ cấu thuế thể hiện mức độ huy động tập trung các nguồn lực tài chính, đó là quá trình phân phối các kết quả của quá trình sản xuất, do quy mô cơ cấu kinh tế quyết định Nếu quy mô kinh tế lớn thì sẽ mở rộng khả năng huy động từ các chủ thể trong xã hội
Trang 24Về cơ cấu, thu NSNN phải có một tỷ lệ áp đảo các nguồn thu từ thuế đánh vào các hoạt động kinh tế trong nước (thu nội địa), phải đạt trên 75% tổng thu ngân sách, trong đó thu nội địa từ thuế, phí và lệ phí đạt khoảng 66% không kể các yếu tố như; Các khoản thu chịu nhiều tác động của các yếu tố ngoại sinh như (thuế XNK, dầu mỏ,…) phải chiếm tỷ trọng nhỏ; Các khoản thu không thường xuyên (như thu
từ đất đai, thu bán tài sản công…) cũng phải chiếm tỷ trọng thấp trong tổng thu NSNN Một NSNN bền vững, xét về phía nguồn thu, phải dựa chủ yếu vào các khoản thu từ thuế đánh trên nền tảng các hoạt động kinh tế trong nước Ðể bảo đảm NSNN bền vững thì thu NSNN cũng cần được đẩy mạnh, đặc biệt thực hiện cơ cấu lại NSNN theo hướng tăng thu từ kinh tế trong nước, giảm dần sự phụ thuộc nguồn thu từ tài nguyên, dầu thô và xuất nhập khẩu bởi các khoản thu này khó bền vững
do phụ thuộc nhiều vào biến động thị trường thế giới Nếu tỷ suất thu thuế, phí trực tiếp từ các hoạt động kinh tế trong nước chiếm tỷ trọng thấp trong tổng thu NSNN cũng cho thấy chính sách thuế tuy có phần yếu kém, thiếu cơ sở bền vững, không ngăn chặn các hành vi tăng trưởng không bền vững, tăng trưởng bằng mọi giá từ
đó, không góp phần thúc đấy kinh tế phát triển bền vững thì cuối cùng cũng làm mất tính bền vững của NSNN, vừa không đóng góp làm tăng một cách hợp lý quy
mô thu NSNN, cải thiện tích cực phần tỷ trọng các nguồn thu có tính bền vững trong kết cấu thu NSNN, cần sớm được hoàn thiện để ổn định bền vững nguồn thu NSNN nhưng hệ thống thuế đó cũng khá ưu ái đối với các doanh nghiệp
b Đảm bảo cán cân ngân sách cơ bản
Cán cân ngân sách cơ bản chính là chênh lệch giữa thu thường xuyên và chi thường xuyên của NSNN Nếu thu thường xuyên bằng chi thường xuyên, ngân sách cơ bản được cân bằng, không có thâm hụt, cũng không có thặng dư Nếu thu thường xuyên lớn hơn chi thường xuyên, ngân sách cơ bản có thặng dư Nếu thu thường xuyên nhỏ hơn chi thường xuyên, ngân sách cơ bản bị thâm hụt (thâm hụt ngân sách cơ bản) Cán cân ngân sách cơ bản được đảm bảo, sẽ làm tăng khả năng thanh toán của ngân sách nhà nước Theo thông lệ, thu thường xuyên bằng tổng thu
từ thuế, phí, lệ phí và các khoản thu ổn định theo luật của NSNN, không kể tiền
Trang 25vay Chi thường xuyên bao gồm tất cả các khoản chi của NSNN (kể cả chi trả lãi) trừ chi đầu tư phát triển
Ngân sách được xem là bền vững khi gánh nặng thuế và các lợi ích do các chương trình chi tiêu của Chính phủ có sự công bằng và bình đẳng giữa các thế hệ khác nhau Sẽ là không công bằng nếu chính sách ngân sách đem lại lợi ích cho thế hệ này song lại làm gia tăng gánh nặng thuế cho các thế hệ tiếp theo, tăng thu trong thời kỳ này mà làm ảnh hưởng tới nguồn thu cho ngân sách nhà nước trong tương lai Cần phải đảm bảo được rằng các thế hệ người dân là người nộp thuế trong tương lai không phải đối mặt với các nghĩa vụ thuế mà bản thân họ không thể chấp nhận được khi Chính phủ thực hiện các chương trình chi tiêu hiện tại Một chính sách ngân sách bền vững cũng cần phải “đảm bảo phân bổ nguồn lực quốc gia một cách công bằng giữa các thế hệ khác nhau trong tương lai” Chính sách ngân sách khi xét về yếu tố bền vững cần phải đảm bảo được yêu cầu là các chương trình chi tiêu ngân sách và huy động nguồn thu qua thuế có sự công bằng
cả trong phạm vi một thế hệ dân và giữa các thế hệ dân khác nhau trong tương lai
Ngân sách bền vững giúp kích thích tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đưa nền kinh tế thoát ra khỏi khủng hoảng, phát triển ổn định và bền vững, tác động gia tăng thu nhập, cải thiện tình trạng nghèo đói, bình đẳng và công bằng xã hội, nâng cao
c Đánh giá quan hệ mức thu và đối tượng thu
Trong nền kinh tế phát triển hiện nay chúng ta thường hay nhắc đến một khái niệm xuất hiện từ rất lâu đời đó là thuế, xuất hiện từ thời kì đầu của chế độ phong kiến, nhằm tập trung nguồn công quỹ cho nhà vua và đất nước, cho đến ngày nay thuế vẫn giữ một vai trò rất quan trọng trong NSNN Phân tích vai trò của khoản thu
về thuế trong hệ thống các khoản thu ngân sách nhà nước Thuế là khoản thu mang tính cưỡng chế do nhà nước huy động từ các tổ chức, cá nhân và tập trung vào quỹ ngân sách nhà nước, thu từ thuế là nguồn thu chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng ngân sách nhà nước.Theo khoản 1 điều 2 Luật ngân sách nhà nước năm 2002: Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí… Thuế luôn chiếm vai trò chủ đạo trong khoản thu ngân sách nhà nước Thuế đánh vào hầu hết các hoạt động
Trang 26sản xuất, chế tạo sửa chữa,chế biến thuế đánh vào cả các khoản thu nhập thường xuyên và bất thường của những người có thu nhập cao, và bởi thuế còn đánh vào cả hoạt động tiêu dùng xã hội Ngân sách có thể huy động bằng nhiều cách khác nhau như đi vay, bán tài nguyên, viện trợ, phí lệ phí nhưng không có nguồn thu nào mang tính chất bền vững như thuế, đặc biệt trong tình hình hiện nay, nguồn thu từ nước ngoài đã giảm nhiều, kinh tế đối ngoại chịu sức ép của quan hệ mua bán sòng phẳng
có vay, có trả thuế phải là công cụ quan trọng góp phần tích cực giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát, ổn định kinh tế - xã hội, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho việc phát triển đất nước lâu dài Thuế phải trở thành nguồn thu chủ yếu, bộ phận cơ bản của nền tài chính quốc gia lành mạnh Với nền kinh tế nhiều thành phần, hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế Thuế phải bao quát được hầu hết các hoạt động kinh doanh, các nguồn thu nhập trong xã hội Thuế chính là công cụ tác động vào sự phân bổ nguồn lực trong xã hội Thuế gắn liền với sự tồn tại
và phát triển của nhà nước và là công cụ quan trọng mà bất cứ quốc gia nào cũng sử dụng để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình
Quan điểm chiến lược thu NSNN theo hướng tăng thu tức là thu nhưng không làm suy yếu các nguồn thu quan trọng mà phải bồi dưỡng phát triển và mở rộng các nguồn thu một cách vững chắc, lâu bền Điều đó nghĩa là cần xác định mức thu hợp lý, vừa đảm bảo NSNN có nguồn thu vừa cao vừa đảm bảo các đối tượng NSNN có đủ điều kiện tài chính tiếp tục phát triển Nguồn thu thuộc khu vực kinh tế quốc doanh và có ý nghĩa đặc biệt thì cần chú ý bồi dưỡng thông qua các biện pháp hỗ trợ đầu tư, trợ giúp về khoa học kỹ thuật, công nghệ và nhân lực trong một chừng mực không bao cấp Trước mắt, lĩnh vực nông nghiệp và một số ngành công nghiệp trọng yếu, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, kỹ thuật hạ tầng cần được trợ giúp để phát triển nhanh và ổn định vững chắc Các chính sách thu NSNN vào những khu vực này cần lưu ý về quan điểm bồi dưỡng kích thích phát triển
Thứ hai không tận thu NSNN quá mức để bao cấp trong cấp phát mà chỉ thu trong chừng mực tốt nhất để đáp ứng các nhu cầu chi của nhà nước Đối với những ngành, những địa phương có thất thu lớn thì cần tăng cường thu và tận thu,
Trang 27những quan điểm bao trùm thì không phải tận thi, vì điều đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng của nền kinh tế
1.2.3.2 Nội dung thu ngân sách Nhà nước
a Xác định nguồn thu ngân sách Nhà nước
Để tồn tại và phát triển, Nhà nước cần tập trung vào tay mình lượng của cải vật chất dưới dạng tiền tệ nhất định Nhưng lấy nó ở đâu? Từ nguồn nào?
Nguồn thu của NSNN là nơi cung cấp số thu cho NSNN thông qua quá trình tác động vào đối tượng thu để điều tiết một phần của cải về cho Nhà nước
Hiện nay chúng ta có các nguồn sau để thu ngân sách nhà nước:
- Thuế do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật
- Phần nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật từ các khoản phí, lệ phí
- Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước theo quy định của pháp luật, gồm: Tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế; Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi); Thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế, kể cả thu từ lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ về thuế của các tổ chức kinh tế có sự tham gia góp vốn của Nhà nước theo quy định của Chính phủ
- Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các hoạt động sự nghiệp
- Tiền sử dụng đất; thu từ hoa lợi công sản và đất công ích
- Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước
- Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật
- Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước
- Thu từ huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 của Luật Ngân sách nhà nước
- Phần nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật từ tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước
- Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam, các tổ chức nhà nước thuộc địa phương theo quy định tại Điều 50 của Nghị định này
- Thu từ Quỹ dự trữ tài chính theo quy định tại Điều 58 của Nghị định này
- Thu kết dư ngân sách theo quy định tại Điều 69 của Nghị định này
Trang 28- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, gồm: Các khoản di sản nhà nước được hưởng; Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản phạt, tịch thu; Thu hồi dự trữ nhà nước; Thu chênh lệch giá, phụ thu; Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên; Thu chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách năm trước chuyển sang; Các khoản thu khác
b Quy trình thu ngân sách Nhà nước
Quy trình thu NSNN hiện nay đã từng bước được cải tiến và hoàn thiện dần,
cụ thể theo trình tự sau:
* Đối với cơ quan thu: Xây dựng dự toán thu NSNN (năm, quý, tháng), lập
danh sách đối tượng nộp thuế, số bộ thuế, ra thông báo thuế, đôn đốc và kiểm tra tình hình thực hiện thu NSNN
* Đối với cơ quan thực hiện: Tổ chức thu nhận trực tiếp các khoản thu
NSNN Thực hiện hạch toán và điều tiết các khoản thu cho ngân sách các cấp; bảo đảm phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời theo đúng mục lục NSNN và phân cấp quản lý NSNN
* Đối với người nộp thuế: Chủ động nộp thuế vào KBNN theo lịch thông báo
(nộp chuyển khoản qua ngân hàng hoặc KBNN; hoặc nộp trực tiếp vào KBNN bằng tiền mặt, ngân phiếu thanh toán; hoặc nộp qua cơ quan thu nộp vào KBNN)
* Ở đây còn đặc biệt quan tâm đến công tác phối hợp thường xuyên giữa KBNN với cơ quan thu (Thuế, Hải quan), cơ quan Tài chính trên địa bàn trong công tác tổ chức thu, kiểm tra, đối chiếu và xử lý kịp thời các khoản thu để quản lý tập trung, đầy đủ, kịp thời các nguồn thu NSNN; giúp cho cơ quan tài chính và chính quyền các cấp có kế hoạch chủ động cấp phát kinh phí
c Tổ chức bộ máy thu ngân sách Nhà nước
Trên cơ sở nhiệm vụ thu cả năm được giao và nguồn thu dự kiến phát sinh trong quý, cơ quan thu lập dự toán thu NS quý chi tiết theo khu vực kinh tế, địa bàn
và đối tượng thu chủ yếu, gửi cơ quan tài chính cuối quý trước
Trang 29Thu NSNN được thực hiện theo Luật (các luật thuế, pháp lệnh phí và lệ phí…) Tất cả các nguồn thu đều được thực hiện thông qua hệ thống KBNN
Cơ quan thu bao gồm: cơ quan Thuế, Hải quan, Tài chính và các cơ quan khác được Nhà nước giao nhiệm vụ thu NS Các khoản thu có tính chất nội địa như thuế, phí, lệ phí thường do cơ quan Thuế thực hiện Cơ quan Hải quan tổ chức thu thuế xuất khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu Cơ quan Tài chính và các cơ quan thu khác được ủy quyền thu các khoản thu còn lại của NSNN
Tổ chức bộ máy thu nộp có ảnh hưởng trực tiếp đến thu NSNN Tổ chức bộ máy thu nộp dựa trên các nguyên tắc sau:
* Nguyên tắc ổn định lâu dài: Trong điều kiện hoạt động kinh tế bình thường
thì phải ổn định mức thu, ổn định các sắc thuế, không được gây xáo trộn trong hệ thống thuế; đồng thời tỷ lệ động viên của NSNN phải thích hợp, đảm bảo kích thích nền kinh tế tăng trưởng, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu Thực hiện nguyên tắc này có ý nghĩa tạo thuận lợi cho việc kế hoạch ngân sách nhà nước và tạo điều kiện
để kích thích người nộp thuế cải tiến đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh
* Nguyên tắc đảm bảo tính công bằng: Thiết lập hệ thống thuế phải có quan
điểm công bằng đối với mọi người chịu thuế, không phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế Do đó việc thiết kế hệ thống thuế chủ yếu dựa trên khả năng thu nhập của người chịu thuế Để đảm bảo được nguyên tắc công bằng trong thiết kế hệ thống thuế phải kết hợp sắc thuế trực thu với sắc thuế gián thu
* Nguyên tắc rõ ràng, chắc chắn: Nguyên tắc này đòi hỏi trong thiết kế hệ
thống thuế các điều luật của các sắc thuế phải rõ ràng, cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đánh thuế, phương pháp tính thuế…Các từ ngữ được sử dụng của văn bản phải thông dụng, dễ hiểu không chứa đựng nhiều hàm ý để tất cả mọi người đều hiểu được và chấp hành giống nhau
Đảm bảo nguyên tắc này giúp cho việc tổ chức chấp hành luật thống nhất, tránh được tình trạng lách luật, trốn lậu thuế
* Nguyên tắc giản đơn: Nguyên tắc này đòi hỏi trong các sắc thuế cần hạn
chế số lượng thuế suất, xác định rõ mục tiêu chính, không đề ra quá nhiều mục tiêu trong một sắc thuế Có như vậy mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai luật thuế vào thực tiễn, tránh được những hiện tượng tiêu cực trong thu thuế
Trang 30d Kiểm tra, giám sát hoạt động thu ngân sách Nhà nước
Chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động thu NSNN có vai trò quan trọng, không thể thiếu trong hoạt động quản lý NSNN Việc kiểm tra, giám sát hoạt động thu NSNN có rất nhiều chủ thể cùng tham gia, để thực hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau Cụ thể là:
Cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, HĐND) chịu trách nhiệm quyết định dự toán, giám sát quá trình chấp hành thu ngân sách và phê chuẩn quyết toán NSNN
Chính phủ, UBND các cấp chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động thu NSNN trên cơ sở dự toán NSNN đã được cơ quan quyền lực nhà nước thông qua và các văn bản pháp quy khác về quản lý thu NSNN hiện đang có hiệu lực thi hành
Các cơ quan chức năng (tài chính, thuế, kho bạc, hải quản…) được giao nhiệm vụ trực tiếp quản lý từng mặt hoạt động của thu NSNN có trách nhiệm thực thi tốt các việc đã được phân công trong thực hiện chu trình NSNN;
Các đơn vị, các ngành trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân chịu trách nhiệm trước chính phủ hoặc UBND các cấp về nghĩa vụ thu nộp, quản lý, sử dụng NSNN
và các yêu cầu trong quá trình quản lý thu NSNN
Các cơ quan thanh tra, kiểm tra tính tuân thủ trong việc chấp hành các chính sách, chế độ quản lý thu NSNN Cơ quan KTNN thực hiện nhiệm vụ kiểm toán NSNN các cấp và có trách nhiệm báo cáo với Quốc hội, chính phủ
Việc quản lý, kiểm tra, giám sát thu NSNN đòi hỏi phải quản lý theo quy trình thu NSNN, đồng thời các khâu này lại có tác động qua lại lẫn nhau, bổ trợ nhau trong quản lý nhằm đảm bảo quản lý hoạt động thu NSNN một cách hữu hiệu
và có hiệu quả cao Kiểm tra, giám sát hoạt động thu NSNN là một hoạt động quan trọng, bảo đảm cho hoạt động thu NSNN được quản lý chặt chẽ, tuân theo các quy định của pháp luật, đúng mục đích và có hiệu quả Mặt khác, công tác kiểm tra, giám sát hoạt động thu NSNN sẽ góp phần kiểm nghiệm tính phù hợp của pháp luật
về thu NSNN, phát hiện những bất cập, lạc hậu hoặc sơ hở trong các văn bản quy phạm pháp luật nhằm bổ sung, sửa đổi kịp thời và sát với thực tiễn, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu quản lý hoạt động thu NSNN
Trang 311.2.4 Các yếu tổ ảnh hưởng tới thu ngân sách
1.2.4.1 Tăng trưởng kinh tế
Đây là nhân tố quan trọng, phản ánh mức độ phát triển nền kinh tế có ảnh hưởng đến thu và cơ cấu thu, là căn cứ để xác định mức độ huy động thu ngân sách phù hợp Nền kinh tế càng phát triển, khả năng tích lũy, tiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng trong nền kinh tế càng lớn làm cho số thu ngân sách càng cao Sự tăng trưởng, phát triển ổn định của nền kinh tế tạo tiền đề cho sự tăng trưởng ổn định và bền vững của nguồn thu NSNN Ngược lại, với nền kinh tế còn lạc hậu, giá trị sản xuất, đầu tư, tiết kiệm, tích lũy còn thấp thì khả năng huy động nguồn thu ngân sách chỉ ở mức hợp lý, không được vượt quá khả năng của nền kinh tế
Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện hàng loạt vấn
đề kinh tế, chính trị, xã hội Trước hết, tăng trưởng kinh tế thể hiện bằng sự tăng lên về số lượng, chất lượng hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất ra nó, do đó tăng trưởng kinh tế là tiền đề vật chất để giảm bớt tình trạng đói nghèo Tăng trưởng kinh tế nhanh là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với mọi quốc gia trên con đường vượt lên khắc phục sự lạc hậu, hướng tới giàu có, thịnh vượng, làm cho mức thu nhập của dân cư tăng, phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của cộng đồng được cải thiện như: kéo dài tuổi thọ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ em, giúp cho giáo dục, y tế, văn hoá phát triển, tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm, giảm thất nghiệp Chính sách ngân sách hoặc chính sách tài chính công sẽ không bền vững nếu việc thực hiện các chính sách này khiến cho sản lượng của nền kinh tế trong tương lai xuống mức thấp hơn mức mà nền kinh tế đáng ra có thể đạt được Cách thức tốt nhất để Chính phủ của một quốc gia đáp ứng được các nghĩa vụ tài chính của mình trong tương lai là phải có một nền kinh tế phát triển năng động có khả năng tạo thêm nguồn thu cho Chính phủ
từ sự phát triển này, nhất là trong bối cảnh gánh nặng của nghĩa vụ nợ ngày càng tăng Nếu sự mất cân đối về tài chính cản trở tăng trưởng trong tương lai, sự đóng góp cho ngân sách từ tăng trưởng kinh tế sẽ nhỏ dần và theo đó Chính phủ
sẽ trở nên khó khăn hơn trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình
Như vậy, trong tổng thu NSNN phải coi trọng nguồn thu trong nước là chủ yếu Khái niệm sản xuất ngày nay được hiểu bao gồm không chỉ các hoạt động sản
Trang 32xuất vật chất, mà còn do các hoạt động dịch vụ tạo ra Ở các nước phát triển và các xã hội văn minh, các hoạt động dịch vụ phát triển rất mạnh và nguồn của cải
xã hội được tạo ra ở đây có xu hướng ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng cao Đối với Việt Nam, xu hướng đó cũng là tất yếu Như vậy, cùng với hoạt động sản xuất vật chất, các hoạt động dịch vụ là nơi tạo ra nguồn thu chủ yếu của NSNN
Do đó, để tăng thu NSNN, về lâu dài con đường chủ yếu là phải nâng cao trình
độ phát triển, tìm cách mở rộng sản xuất, tăng lên về số lượng, chất lượng hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất ra nâng cao hiệu quả sản xuất của nền kinh tế
Đối với công tác thu NSNN của một tỉnh, thành phố, nhân tố quyết định tới nguồn thu NSNN trên địa bàn cơ bản vẫn là thực trạng phát triển của nền kinh tế trong phạm vi lãnh thổ Tuy nhiên, khác với NSNN, nguồn thu trên địa bàn tỉnh còn chịu tác động của phạm vi địa giới, những chính sách qui đinh riêng và nhiều đặc điểm khác Chẳng hạn, tuy sự hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp không nằm trên địa bàn, nhưng trụ sở doanh nghiệp nằm trên phạm vi lãnh thổ tỉnh cũng mang lại nguồn thu theo quy định, và do đó nguồn thu này không gắn liền với sự tăng trưởng kinh tế trên địa bàn Vì lý do đó, khi xem xét sự tác động của nhân tố sự tăng trưởng nền kinh tế trên địa bàn tới nguồn thu NSNN phải loại bỏ các nhân tố đó
Có thể khẳng định, quy mô và tốc đố tăng trưởng kinh tế vừa đem lại nguồn thu NSNN vừa là đối tượng tác động của chính sách thu Nhận thức đầy đủ sự ảnh hưởng của nhân tố này, trong công tác thu, phải tránh tình trạng thu theo chủ quan, thu tách rời thực trạng tăng trưởng của nền kinh tế, phải đặt lợi ích kinh tế lên hàng đầu, thực hiện thu phải tạo được điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế
1.2.4.2 Hệ thống, chính sách pháp luật trong lĩnh vực thu ngân sách
Nếu như kết quả hoạt động nền kinh tế tạo ra nguồn thu cho NSNN, cơ chế, chính sách về nguồn thu và tổ chức thu chính là căn cứ là quy định để chúng ta biết thu như thế nào, thu những gì ở nguồn thu ấy
Các luật lệ do Nhà nước qui định về nguồn thu và tổ chức quản lý thu là căn cứ cho quá trình động viên vào ngân sách Các qui định về nguồn thu bao gồm các luật thuế, các qui định về phí, lệ phí về bán tài nguyên, tài sản quốc gia, về các doanh nghiệp Nhà nước
Trang 33Yêu cầu đối với chính sách huy động nguồn thu NSNN là phải đảm bảo tập trung một bộ phận nguồn lực tài chính quốc gia vào tay Nhà nước để trang trải các khoản chi phí cần thiết cho việc vận hành bộ máy cũng như thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Đồng thời đảm bảo khuyến khích, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo nguồn thu ngày càng lớn
Chính phủ có quyền đánh thuế, vì thế Chính phủ có thể tăng thuế để trả nợ Nhưng tăng thuế quá mức sẽ tác động không tốt đến tăng trưởng, làm triệt tiêu nguồn thu trong tương lai, chính sách thuế sẽ không bền vững nếu việc thực hiện các chính sách này khiến cho sản lượng của nền kinh tế trong tương lai xuống mức thấp hơn mức mà nền kinh tế đáng ra có thể đạt được Mục tiêu cơ bản bao trùm của chính sách thuế là tính công bằng Điều này có thể được thực hiện thông qua việc thực thi các chính sách phát triển kinh tế xã hội, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, kích thích tăng trưởng để tăng nguồn thu; mục tiêu công bằng sẽ mang tính lâu dài Muốn thực hiện được các mục tiêu mang tính xã hội thì cần phải có tiềm lực đủ mạnh, đảm bảo bằng sự tăng trưởng và phát triển của kinh tế trên cơ sở đó thực hiện mục tiêu công bằng và đảm bảo nguồn thu Do vậy, mục tiêu kinh tế phải là ưu tiên hàng đầu, sau đấy đến mục tiêu công bằng và cuối cùng là đảm bảo nguồn thu Thực hiện các mục tiêu trên cần phải áp dụng vào từng chính sách thuế cụ thể Tuy nhiên, mỗi chính sách thuế đảm nhận chức năng và vai trò khác nhau, nên thứ tự mục tiêu có thể khác nhau, nhưng mục tiêu huy động nguồn thu nên đặt lên hàng đầu
Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, để xác định mức thu NSNN đúng đắn cần phải có sự phân tích, đánh giá cụ thể các nhân tố tác động đến nó, trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của địa phương trong cùng thời kỳ Tỷ suất thu NSNN được xem là hạt nhân cơ bản của chính sách thu nên cần phải được nghiên cứu, xem xét trên nhiều khía cạnh kinh tế, chính trị, xã hội
Về nguyên tắc, trong những điều kiện hoạt động bình thường thì phải cẩn ổn định mức thu, ổn định các sắc thuế không được gây xáo trộn lớn trong hệ thống thuế, đồng thời tỷ lệ động viên của nhà nước phải thích hợp, đảm bảo kích thích nền kinh tế tăng trưởng, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu Để thực hiện được nguyên tắc này đòi hỏi phải có sự lựa chọn đối tượng tính thuế sao cho đối tượng đó ít có sự biến động Từ đó sẽ thuận lợi cho việc kế hoạch hóa NSNN, tạo điều kiện để kích thích người nộp thuế cải tiến, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 34Việc thiết lập hệ thống thuế phải có quan điểm công bằng đối với mọi người chịu thuế, không phân biệt địa vị xã hội, thành phần kinh tế, chủ yếu dựa trên khả năng thu nhập của người chịu thuế Để đảm bảo được nguyên tắc công bằng trong thiết kế hệ thống thuế phải thiết kết hợp giữa sắc thuế trực thu với sắc thuế gián thu
Trong thiết kế hệ thống thuế các điều luật của các sắc thuế phải rõ ràng, cụ thể ở từng mức thuế, cơ sở đánh thuế…để tránh tình trạng lách luật, trốn thuế Hơn nữa việc sửa chữa, bổ sung các điều khoản trong sắc thuế không phải lúc nào cũng thực hiện được, cho nên các điều khoản trong luật phải bao quát và phù hợp với các hoạt động của nền kinh tế xã hội, điều này giúp cho việc tổ chức chấp hành luật thống nhất, tránh được tình trạng lách luật, trốn thuế
Cần hạn chế số lượng thuế suất, xác định rõ mục tiêu chính, không đề ra quá nhiều mục tiêu trong một sắc thuế, có như vậy mới tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai luật thuế vào thực tiễn, tránh được những tiêu cực trong thu thuế
1.2.4.3 Tổ chức, quản lý thực hiện thu ngân sách
Tổ chức bộ máy thu gọn nhẹ, đạt hiểu quả cao, chống thất thu do trốn, lậu thuế sẽ là nhân tố tích cực làm giảm tỷ suất thu NSNN mà vẫn đáp ứng nhu cầu chi tiêu của NSNN
Các yếu tố chuyên môn, nghiệp vụ kỹ thuật trong quản lý ngân sách cũng
có tác động đáng kể đến tăng thu bền vững, đó là cách thức và phương pháp phân loại thu, chi NSNN, phương pháp cân đối ngân sách, phương pháp hạch toán kế toán ngân sách
Một hệ thống thu, chi NSNN được tổ chức phân loại tốt, được theo dõi, quản lý, hạch toán đúng phương pháp cũng sẽ tác động không nhỏ tới tăng thu ngân sách bởi chính những điều đó không những luôn cung cấp được những hình ảnh trung thực, sống động về tình hình thu, chi NSNN, từ đó có cái nhìn đúng đắn
về thực trạng của NSNN có được những quyết sách đúng đắn mà còn luôn tạo điều kiện cho việc xây dựng hệ thống quản lý thu hiệu quả NSNN, góp phần bảo đảm tăng thu bền vững và ngược lại
Hệ thống NSNN, nếu được tổ chức quản lý tốt, sử dụng phương pháp kế toán dồn tích, có hệ thống kế toán thống nhất (bao gồm kế toán KBNN, kế toán NSNN và kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp thụ hưởng NSNN) thì không những phản ánh đúng và thống nhất thực trạng thu chi trong tổng thể
Trang 35NSNN toàn quốc, phù hợp với thực tế diễn biến hoạt động kinh tế mà còn ngăn chặn được tình trạng chạy kinh phí vào cuối năm và tránh được tình trạng xé lẻ quỹ NSNN về hàng chục ngàn két, quỹ nhỏ tại các đơn vị thụ hưởng
1.2.4.4 Phân cấp ngân sách cho địa phương
Luật NSNN cũng quy định NSNN là một hệ thống thống nhất, bao gồm: ngân sách Trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (ngân sách địa phương) Như vậy, hệ thống ngân sách Việt Nam gồm 4 cấp: ngân sách Trung ương, ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh), ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện), và ngân sách cấp xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã) Có thể khái quát hóa hệ thống ngân sách theo sơ
đồ được thể hiện dưới hình 1.3
Hình 1.3: Hệ thống NSNN ở Việt Nam
Giữa các cấp ngân sách có quan hệ chặt chẽ với nhau theo quy định của pháp luật Ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương được phân định cụ thể về nguồn thu, nhiệm vụ chi, thực hiện ngân sách cấp trên bổ sung ngân sách cấp dưới, đảm bảo công bằng phát triển giữa các vùng, địa phương Đồng thời, để tăng tính
Trang 36hiệu quả, chủ động và trách nhiệm của các cấp trong việc quản lý thu chi ngân sách từng cấp, luật NSNN cũng quy định về chế độ phân cấp quản lý ngân sách Theo
đó, phạm vi, thẩm quyền, trách nhiệm về nguồn thu, các khoản chi, quá trình chấp hành ngân sách (lập dự toán, chấp hành, điều chỉnh và quyết toán NSNN) của từng cấp được quy định cụ thể và chi tiết
1.3 Kinh nghiệm về quản lý thu ngân sách của một số nước và bài học rút ra
1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước
1.3.1.1 Kinh nghiệm của Trung quốc
Trung Quốc là nước được đánh giá là có nền kinh tế đang chuyển đổi và đã thu được những thành tự to lớn, đồng thời Trung Quốc cũng là một nước có tỉ lệ tăng trưởng GDP trong những năm vừa qua cao nhất thế giới Sự tăng trưởng này là điều kiện cho việc tăng thu ngân sách quốc gia Trong công tác quản lý tài chính, NSNN nói chung cũng như thu NSNN đã có những chuyển biến đáng chú ý:
Trước 1980, hệ thống tài chính Trung Quốc có đặc điểm là phân cấp trong việc thu thuế và lợi nhuận cho chính quyền địa phương nhưng toàn bộ các khoản thu này lại được tập trung ở TW, sau đó được chuyển về ngân sách địa phương để chi tiêu theo Quyết định của TW Theo cơ chế này, chính quyền cấp tỉnh, thành phố, khu
tự trị (gọi tắt là tỉnh) ít có quyền hạn tự chủ trong việc phát triển kinh tế của tỉnh Từ
1980, Trung Quốc đã chuyển sang cơ chế hợp đồng thu ngân sách Theo cơ chế này, mỗi cấp chính quyền đều phải hợp đồng với cấp cao hơn để xác định mục tiêu thu ngân sách Có thể nói đây là cơ chế phân chia nguồn thu giữa các cấp chính quyền, gắn liền với lợi ích kinh tế của các cấp chính quyền trung ương và tỉnh, góp phần tích cực vào việc tận thu thuế, trang trải các khoản chi đồng thời tăng cường được việc kiểm tra, giám sát thu, chi NSNN của các địa phương, giảm gánh nặng cho NSNN
Từ đầu năm 1994, Trung Quốc thực hiện cải cách lại hệ thống giám sát thuế quan và quản lý thu thuế của trung ương và các khoản thuế phân chia giữa trung ương và tỉnh và thực hiện mở rộng tỉ lệ phân chia đối với các khoản thuế mới Tỉ lệ phân chia thuế VAT giữa TW và địa phương là 75-25(%), các khoản thu mới phát sinh tăng thêm so với năm 1993 là 70 -30(%) Cải cách các cơ quan tài chính và thuế vụ của Trung Quốc được tiến hành đồng thời với cải cách thể chế tài chính dựa trên nguyên nguyên tắc kinh tế thị trường được áp dụng rộng rãi trên thế giới và lý
Trang 37luận về tài chính công cộng Bộ tài chính và các Sở tài chính cấp tỉnh của Trung Quốc đã có những thay đổi cơ bản là chấm dứt tình trạng chỉ làm cụ thể về thu- chi giống như thủ quĩ của Chính phủ chuyển sang đóng vai trò điều tiết thu nhập, thực hiện các chính sách lớn liên quan đến toàn xã hội; thực hiện phân bổ và sử dụng vốn ngân sách theo yêu cầu của cơ chế thị trường và tập trung vào các lĩnh vực công cộng, xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển văn hoá, khoa học, giáo dục, bảo hiểm, ý
tế, bảo vệ môi trường; thực hiện chi ngân sách đúng pháp luật, đảm bảo tính công bằng và công khai; tuân thủ nguyên tắc tinh giản và hiệu quả cao, làm đúng trách nhiệm được giao, không làm những việc của cơ quan khác và doanh nghiệp
Hệ thống giám sát tài chính: Trên cơ sở phân cấp tài chính, Trung Quốc thực hiện hệ thống giám sát tài chính thông qua hệ thống luật bao gồm: Hiến pháp, Luật kiểm toán Nhà nước và Quyết định của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về việc tăng cường công tác kiểm tra giám sát dự toán TW Đây là những yếu tố tạo nên hệ thống luật cơ bản về cơ cấu, phương thức thực hiện và giám sát tài chính ở Trung Quốc hiện nay
Quan hệ giữa ngân sách TW và ngân sách địa phương: Việc thi hành thể chế tài chính theo chế độ phân cấp vào năm 1994 đã xác định khuôn khổ quan hệ giữa ngân sách TW và ngân sách địa phương có đặc sắc Trung Quốc Theo đó, các nguồn thu của TW, địa phương, tỷ lệ điều tiết giữa các khoản thu chung của TW và địa phương được qui định rõ ràng, giúp cho chính quyền địa phương các cấp chủ động trong việc cân đối ngân sách và sử dụng ngân sách Theo Hiến pháp, Trung Quốc thực hiện qui định mỗi cấp chính quyền là một cấp dự toán ngân sách, xây dựng hệ thống tổ chức dự toán 5 cấp : TW, tỉnh (khu tự trị, thành phố trực thuộc), thành phố thuộc khu (châu tự trị), huyện (huyện tự trị, thành phố không thuộc khu, khu trực thuộc thành phố), xã(xã dân tộc, thị trấn) Cơ quan quản lý tài chính ở TW bao gồm các ngành dự toán cấp TW, cơ quan quản lý ngân sách địa phương bao gồm cấp tỉnh và dưới tỉnh Năm ngân sách tài khoá của Trung Quốc bắt đầu từ ngày 1/1 đến 31/12 hàng năm
* Đặc điểm Thu NS ở Trung Quốc
Một là, Thống nhất chỉ đạo, phân cấp quản lý Có nghĩa là trên cơ sở thống nhất phương châm, chính sách, chế độ và kế hoạch ngân sách của TW cho
Trang 38phép địa phương thực hiện đầy đủ quyền điều tiết dự toán thu chi của tỉnh và quyền quản lý tài chính của tỉnh cho thích hợp, quyền sử dụng linh hoạt nguồn lực tài chính, quyền thi hành những biện pháp tài chính cụ thể phù hợp với tình hình thực tế địa phương
Hai là, Kết hợp chức trách với quyền lợi, có nghĩa là trên cơ sở xác định rõ quyền hạn cơ bản để định ra phạm vi và chức trách cụ thể
Ba là, Quản lý theo luật, chủ yếu dựa vào Hiến pháp và Luật dự toán
Bốn là, Hệ thống tài chính cấp tỉnh rất phức tạp: Chính quyền cấp tỉnh sử dụng
đa dạng các công cụ tài chính, một số công cụ tài khoá như phân bổ thuế dựa trên sở hữu doanh nghiệp và những vùng phát triển kinh tế kém hơn, trợ cấp đặc biệt và hỗ trợ theo ngành dọc của cấp tỉnh đến các cấp huyện, xã (Đào Công Thanh, 2011)
1.3.1.2 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Hàn Quốc là một nước nghèo khoáng sản, chỉ có một ít than mỡ và quặng Trên 70% diện tích tự nhiên là rừng núi, tiềm năng về nông nghiệp không có gì đặc biệt Với diện tích 990.000km, nằm ở phía Đông Bắc, giáp biển Thái Bình Dương Lợi thế duy nhất của Hàn Quốc là có một vị trí thuận lợi cho giao thông quốc tế và phát triển du lịch Với dân số là 48,2 triệu người, Hàn Quốc là một trong các quốc gia đông dân nhất của các nước NICs Do lịch sử để lại, những năm giữa thế kỷ 20, nước này bị chia cắt thành Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên và Hàn Quốc Kế hoạch phát triển kinh tế của Hàn Quốc lần thứ nhất 1961-1965 đã lựa chọn chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu 1966-1971 là chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu, năm 1972-1976: chiến lược sản xuất các loại hàng thâm dụng tư bản như công nghiệp nặng, công nghiệp hoá chất Bước sang những năm 1980 Hàn Quốc chuyển sang sản xuất những sản phẩm có kỹ thuật cao, từ 1982-1986 các kế hoạch phát triển đều được xem xét ở 2 nội dung chính là kinh tế và xã hội Năm 1991 thu nhập bình quân đầu người của Hàn Quốc là 6.690 USD/1 người, đến 1997 đã đạt 11.390USD/1 người Do khủng hoảng của tài chính, tiền tệ thu nhập bình quân đầu người có giảm, nhưng đến năm 2000 vẫn giữ ở mức 8.910 USD/1 người/1 năm Ngày nay, Hàn Quốc đang nổi lên như một Quốc gia phát triển vào hàng ngũ mạnh nhất Năm 1996 Hàn Quốc được kết nạp vào tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển OECD
và xếp loại thứ 15 trên thế giới về chất lượng cuộc sống Con người Hàn Quốc chính
Trang 39là nhân tố làm nên những thành công của nước này Họ cần cù, chịu khó, tiết kiệm, tự tôn dân tộc và ham học hỏi, chịu ảnh hưởng nhiều của nền văn hoá Khổng giáo Trong lĩnh vực quản lý ngân sách, Chính phủ giao nhiệm vụ cho Bộ Tài chính và kinh tế là cơ quan giúp Chính phủ đưa ra dự báo về thu ngân sách
Để đáp ứng nhu cầu dự báo thu NSNN chính xác, phục vụ cho hoạch định chi ngân sách, năm 1992 Chính phủ Hàn Quốc đã thành lập Học viện Tài chính công Hàn Quốc Đây là một viện nghiên cứu dưới hình thức hợp đồng (không thuộc Nhà nước) Nhiệm vụ chính là đưa ra các số liệu dự báo thu cung cấp cho các bộ, ngành liên quan tham khảo trong lập kế hoạch ngân sách, đồng thời là cơ quan đối trọng với Bộ Tài chính và kinh tế trong việc đưa ra dự báo thu hàng năm Qui trình dự báo thu như sau: Vào ngày 20/7 - 15/9 hàng năm, Bộ Tài chính và kinh tế thực hiện dự báo thu của mình và đưa ra phương án dự báo thu cuối cùng vào ngày 15/9 hàng năm (tham khảo phương pháp và số liệu dự báo thu của Học viện tài chính công) Từ ngày 15-9 đến 25/9, Bộ tài chính và kinh tế
có thông báo gửi Bộ kế hoạch Ngân sách để tổng hợp trình Tổng thống duyệt trình ra Quốc hội Trên cơ sở phương án dự báo thu do Bộ tài chính và kinh tế lập kết hợp với tổng dự báo thu thuế nội địa do Học viện tài chính công dự báo,
Bộ kế hoạch và Ngân sách xem xét, tổng hợp và lập dự toán Ngân sách trình Tổng thống duyệt để trình ngân sách ra Quốc hội quyết định Dự báo thu này sử dụng để xác định khung dự toán chi ngân sách Không phải chỉ tiêu pháp lệnh giao cho các địa phương thực hiện
Theo phân cấp của Chính phủ Hàn Quốc thì chính quyền địa phương có quyền chủ động rất cao trong lĩnh vực thu NSNN Thu địa phương bao gồm: Thuế địa phương, thu ngoài thuế và trợ cấp liên chính quyền Luật pháp bảo đảm quyền chủ động một phần đối với thuế địa phương: Dự luật thuế địa phương qui định diện thuế và thuế suất đối với thuế địa phương Hiến pháp qui định địa phương có thể qui định thuế suất địa phương trong một khung nhất định thường là trên dưới 50% thuế tiêu chuẩn Tuy nhiên trên thực tế thì quyền
Trang 40chủ động đối với thuế địa phương chưa được thực hiện nên khi các chính quyền địa phương cần tăng thêm ngân sách, họ thường yêu cầu thêm từ thuế phân chia hoặc tăng thêm trợ cấp Từ 1995 đến nay chưa địa phương nào tăng thuế suất địa phương (Đào Công Thanh, 2011)
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm về thu Ngân sách Nhà nước rút ra từ nghiên cứu
1.3.2.1 Bài học thành công
Trên cơ sở lý luận về thu NSNN và những nghiên cứu, phân tích kinh nghiệm thu NSNN của của Trung Quốc, Hàn Quốc, có thể rút ra một số nội dung có
ý nghĩa tham khảo, có thể vận dụng vào thu NSNN của Việt Nam:
Một là, Tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp luật, nâng cao hiệu quả thu
NSNN là một yêu cầu lớn của cải cách hành chính Nhà nước nói chung và cải cách tài chính công ở nước ta nói riêng trong quá trình thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Cải cách hành chính trong lĩnh vực thu NSNN bao gồm việc cải cách thủ tục hành chính, cơ chế quản lý thu, qui trình và bộ máy quản lý thu phải được phân định rõ ràng và thể chế hoá thành Luật
Hai là, Nhận thức, vận dụng kinh nghiệm về thu NSNN của các nước vào
hoạt động thu NSNN trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhất là trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay là rất cần thiết Chúng ta cần nâng cao hiệu quả điều tiết của Nhà nước và muốn thu NSNN tốt thì trước hết các cơ quan quản lý phải thường xuyên đổi mới phương thức và biện pháp thu NSNN như tập trung vào phân cấp quản lý thu NSNN ở các cấp chính quyền địa phương, đổi mới qui trình, các biện pháp và công cụ quản lý để khai thác các khoản thu NSNN,
sử dụng có hiệu quả các tài sản hiện có, đồng thời huy động các nguồn lực trong dân cư và các tổ chức trong và ngoài nước Gắn kết quả thu NSNN với chi NSNN theo kết quả đầu ra để bồi dưỡng nguồn thu cho NSNN
Ba là, Tiếp tục đổi mới nhận thức, nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ,
công chức trong bộ máy quản lý thu NSNN: Tạo điều kiện để các cán bộ tiếp cận và hiểu biết về các kiến thức quản lý hiện đại, rèn luyện kỹ năng trong việc lập kế