1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tiểu luận môn tài chính tiền tệ lý thuyết bộ ba bất khả thi

17 408 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 340,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo lý thuyết bộ ba bất khả thi, một quốc gia không thể đồng thời đạt được cả ba mục tiêu chính sách vĩ mô : chính sách tiền tệ độc lập, tỷ giá cố định và tự do hoá dòng vốn hội nhập t

Trang 1

MỤC LỤC

Mục lục

Mục lục 1

I Lý thuyết bộ ba bất khả thi 2

II Phân tích các thành phần trong bộ ba bất khả thi 2

1.1 Chính sách tiền tệ độc lập 2

1.2 Ổn định tỉ giá (hay còn gọi là tỉ giá cố định) 3

1.3 Tự do hóa dòng vốn 4

III Chứng minh vì sao gọi là bộ ba bất khả thi 6

IV Thực tiễn áp dụng 7

4.1 Tác động của bộ ba bất khả thi với Việt Nam 8

4.2 Giải pháp để thực hiện hai mục tiêu: kiềm chế lạm phát, ổn định thị trường chứng khoán 10

4.3 Bộ ba bất khả thi dưới góc nhìn của nhà đầu tư 11

4.3.1 Tự do hóa dòng vốn 11

4.3.2 Tỷ giá cố định 12

4.3.3 Chính sách tiền tệ độc lập 14

4.4 Gắn kết bộ ba bất khả thi với lãi suất ở Việt Nam 15

Trang 2

I Lý thuyết bộ ba bất khả thi

Bộ Ba Bất Khả Thi Là Gì?

Bộ ba bất khả thi là một trong những lý thuyết rất quan trọng của tài chính quốc tế,được phát triển dựa trên những ý Tưởng của Robert Mundell và Marcus Fleming vào thập niên 1960 Cho tới những năm 1980, khi vấn đề kiểm soát vốn bị thất bại ở nhiều quốc gia cùng với mâu thuẫn giữa việc neo giữ tỷ giá và chính sách tiền tệ độc lập ngày càng rõ ràng thì lý thuyết bộ ba bất khả thi đã trở thành nền tảng cho kinh tế học vĩ mô của nền kinh tế mở Những nghiên cứu lý thuyết này cho thấy hiệu quả của chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá phụ thuộc vào cơ chế tỷ giá hối đoái và mức độ kiểm soát vốn Chẳng hạn, một quốc gia nếu cho phép dòng vốn chuyển dịch tự do và giữ tỷ giá cố định, thì các nhà quản lý không thể theo đuổi một chính sách tiền tệ độc lập.Từ những phát hiện trên, Krugman (1979) và Frankel (1999) đã mở rộng mô hình Mundell-Fleming thành “mô hình bất khả thi”

Theo lý thuyết bộ ba bất khả thi, một quốc gia không thể đồng thời đạt được cả ba mục tiêu chính sách vĩ mô : chính sách tiền tệ độc lập, tỷ giá cố định

và tự do hoá dòng vốn ( hội nhập tài chính hoàn toàn)

Chúng ta có thể hình dung giống như việc chúng ta không thể nào chặn ba góc của một tấm vải bị gió tung lên chỉ bằng hai hòn đá Nghĩa chúng ta chỉ có thể chặn tối đa hai góc của tấm vải ấy mà thôi, hoặc có thể là không thể chặn được vì gió quá mạnh Nền kinh tế như tấm vải ấy, ba góc của tấm vải như là

ba yếu tố của bộ ba bất khả thi Và hai viên đá chính là công cụ, chính sách của nhà nước, mà chỉ có thể dùng được hai công cụ là tối đa để điều tiết hai trong ba yếu tố của bộ ba ấy và buộc phải thả nổi yếu tố còn lại

II Phân tích các thành phần trong bộ ba bất khả thi

1.1 Chính sách tiền tệ độc lập

Chính sách tiền tệ độc lập là những chính sách mà nhà nước thực hiện nhằm mục đích điều tiết kinh tế, nhưng không quan tâm đến những chính sách đến tỉ giá tăng hay giảm, hay các biến số vĩ mô khác

Trang 3

Độc lập tiền tệ giúp cho chính phủ chủ động sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ để thực hiện chính sách phản chu kỳ kinh tế Chẳng hạn nếu nền kinh tế

có dấu hiệu phát triển nóng, chính phủ sẽ tăng lãi suất hoặc thắt chặt cung tiền

và ngược lại Trong các trường hợp này chính phủ không quan tâm đến tỷ giá tăng hay giảm và các biến số kinh tế vĩ mô khác Chính vì sự độc lập tiền tệ này

mà nhiều nhà kinh tế tin rằng chúng sẽ giúp nền kinh tế tăng trưởng ổn định hơn Tuy nhiên độc lập tiền tệ quá mức có thể là một cái cớ để chính phủ lạm dụng thực hiện các chiến lược tăng trưởng méo mó trong ngắn hạn

Độc lập tiền tệ nhiều hơn vì vậy dễ dẫn đến bất ổn định trong tăng trưởng và tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao Đó là chưa kể độc lập tiền tệ quá mức có khả năng làm cho chính phủ tiền tệ hóa chi tiêu chính phủ bằng cách phát hành tiền trang trải cho thâm hụt ngân sách Hậu quả là nền kinh tế rơi vào mất ổn định với tình trạng lạm phát

1.2 Ổn định tỉ giá (hay còn gọi là tỉ giá cố định)

Ổn định tỷ giá giúp tạo ra cái neo danh nghĩa để chính phủ tiến hành các biện pháp ổn định giá cả Cái neo này làm cho nhận thức của nhà đầu tư đối với rủi ro của nền kinh tế giảm đi, làm tăng thêm niềm tin của công chúng vào đồng nội tệ Tất cả giúp làm cho môi trường đầu tư tốt lên Tuy nhiên tỷ giá cố định hay ổn định quá mức có mặt trái của nó Tỷ giá quá ổn định làm cho chính phủ mất đi một công cụ để hấp thụ các cú sốc bên trong và bên ngoài truyền dẫn vào nền kinh tế

Ví dụ lạm phát cao trong nước mà tỷ giá gần như cố định dễ dẫn đến nguy cơ hàng hóa mất sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, hậu quả là xuất khẩu giảm và nhập khẩu tăng lên Ngoài ra tính quá cứng nhắc của tỷ giá còn ngăn cản không cho những nhà làm chính sách sử dụng công cụ chính sách phù hợp với thực tế diễn biến cả nền kinh tế, nhất là khi đang có dấu hiệu bong bóng tài sản Ví dụ vào những tháng đầu năm 2008 kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng lạm phát tăng tốc 2 con số Lúc bấy giờ tỷ giá dao động mức 1 USD=16.500 VND Nhiều nhà kinh tế lúc bấy giờ đưa ra đề xuất để cho tỷ giá

Trang 4

giảm xuống mức 1 USD = 15.500 VND để nhập khẩu lạm phát thấp ở nước ngoài về.Tỷ giá giảm làm cho giá hàng nhập khẩu giảm đi Kết quả của việc giảm tỷ giá, tức để cho đồng nội tệ lên giá, kéo theo giá hàng nhập khẩu giảm đi (nếu các yếu tố khác không đổi) Vào thời điểm này do dòng vốn chảy vào nền kinh tế Việt Nam quá nhiều nên tỷ giá có lúc đã giảm xuống khoảng 1 USD = 15.500 VND.Vấn đề là thay vì nhập khẩu các vật tư cần thiết cho sản xuất giúp

hạ nhiệt lạm phát thì các doanh nghiệp Việt Nam lại nhập khẩu quá nhiều ô tô Nhìn chung tỷ giá quá cứng nhắc chẳng những có khả năng dẫn đến bất ổn trong tăng trưởng, rủi ro lạm phát cao mà còn dẫn đến phân bổ sai nguồn lực và tăng trưởng không bền vững

1.3 Tự do hóa dòng vốn

Tự do hóa dòng vốn (hay tự do hoá thị trường vốn) là quá trình giảm thiểu và dỡ bỏ dần các biện pháp hạn chế giao dịch vốn ở thị trường, giảm thiểu

sự can thiệp trực tiếp của Chính phủ vào các quyết định phát hành và đầu tư vốn trên thị trường chứng khoán, cho phép rộng rãi các ngân hàng và các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các giao dịch chứng khoán ở thị trường trong nước, dỡ bỏ kiểm soát các luồng vốn vào và luồng vốn ra khỏi nền kinh tế

Tự do hóa dòng vốn giúp dòng vốn lưu thông dễ dàng trên thị trường, phát huy tối đa vai trò của vốn Vốn từ nơi thừa đến nơi cần vốn một cách thuận tiện Các doanh nghiệp có thể huy động vốn một cách nhanh chóng, kịp thời đáp ứng được nhu cầu về vốn

Ta có thể xem xét về từng mặt như sau:

Giảm thiểu và dỡ bỏ dần các biện pháp hạn chế giao dịch vốn ở thị trường

Điều này nhằm tạo điều kiện cho dòng vốn được lưu thông trên thị trường

từ đó phát huy tối đa vai trò, chức năng của vốn Vì nếu vốn không được đem ra giao dịch rộng rãi, quay vòng thì đồng vốn đó đã không được sử dụng hiệu quả, gây tổn thất cho nền kinh tế

Trang 5

Giảm thiểu sự can thiệp trực tiếp của Chính phủ vào các quyết định phát hành và đầu tư vốn trên thị trường chứng khoán

Điều này giúp người cần vốn và người thừa vốn dễ dàng tìm đến với nhau

Từ đó thị trường chứng khoán trở thành kênh huy động vốn hữu hiệu của nền kinh tế

Cho phép rộng rãi các ngân hàng và các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các giao dịch chứng khoán ở thị trường trong nước

Đây là yêu cầu quan trọng vì việc cho phép các định chế tài chính nước ngoài tham gia đầu tư sẽ mở cửa dòng vốn vào một cách thông thoáng hơn

Quá trình dỡ bỏ kiểm soát các luồng vốn vào và luồng vốn ra khỏi nền kinh tế

Đây là quá trình cao nhất của tự do hóa dòng vốn Là điều kiện hoàn hảo của thị trường vốn do thị trường tự nó vận động mà không cần sự can thiệp của chính phủ thông qua các biện pháp kiểm soát vốn Tuy nhiên trong sự biến động của nền kinh tế toàn cầu, điều này khó thực hiện vì bản thân mỗi nền kinh tế luôn có sự tác động lẫn nhau, nên dù hệ thống an ninh tài chính của một quốc gia có tốt đến đâu cũng chịu ảnh hưởng dù ít

dù nhiều từ các nền kinh tế khác

Các luồng vốn vào gồm:

Các khoản đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), bao gồm vấn đề chuyển tiền và rút vốn của quỹ đầu tư, trả cổ tức, thanh toán hoàn trả các khoản vay trực tiếp với nước ngoài của các dự án FDI;

Các luồng vốn vào được đầu tư theo danh mục qua thị trường chứng khoán, bao gồm vấn đề chuyển tiền vào và rút vốn ra, về vay nợ, cổ phần, cho vay ngoại tệ đối với công dân nước sở tại;

Các luồng vốn ra gồm:

Trang 6

Luồng vốn FDI ra nước ngoài, bao gồm cả việc mua sắm của các công dân nước sở tại;

Luồng vốn ra được đầu tư theo danh mục qua thị trường chứng khoán, vấn đề sở hữu trái phiếu bằng đồng nội tệ của người nước ngoài và luồng vốn ra của các khoản vay bằng ngoại tệ;

Tự do hóa dòng vốn cho phép vốn tự do luân chuyển giữa các nước và tạo sự linh hoạt cho nền kinh tế Nhưng quá trình này cũng làm cho nền kinh tế trở nên

dễ bị tổn thương Vì thế, tại những nước đang phát triển, việc tự do hoá tài khoản vốn thường bị hạn chế để giữ lại tiết kiệm và phục vụ cho đầu tư trong nước, cũng như hạn chế tác động của các cuộc khủng hoảng từ bên ngoài

III Chứng minh vì sao gọi là bộ ba bất khả thi

Hình trên là sự minh hoạ về nguyên tắc hoạt động của bộ ba bất khả thi Mỗi cạnh thể hiện cho các mục tiêu tốt nhất, lần lượt là: chính sách tiền tệ độc lập, sự ổn định của tỷ giá, và tự do hóa dòng vốn (hội nhập tài chính hoàn toàn) Đối nghịch với mỗi cạnh (hay mỗi mục tiêu) là các công cụ chính sách tại các đỉnh Mục tiêu Tự Do Hóa Dòng Vốn đối ngược với đỉnh kiểm soát vốn;

Kiểm Soát Vốn

Chính sách tiền tệ độc lập Ổn định tỷgGiá

Tự Do Hóa Dòng Vốn

Tam Giác Bộ Ba Bất Khả Thi

Trang 7

mục tiêu ổn định tỷ giá đối ngược với đỉnh thả nổi tỷ giá; mục tiêu chính sách

tiền tệ độc lập đối ngược với đỉnh liên minh tiền tệ Bất kỳ cặp mục tiêu nào

cũng có thể đạt được bởi một đỉnh nằm giữa Ví dụ,mục tiêu chính sách tiền tệ

độc lập và tỷ giá ổn định đạt được bởi đỉnh kiểm soát vốn hoàn toàn Mục tiêu

chính sách tiền tệ độc lập và hội nhập tài chính hoàn toàn có thể khả thi với

đỉnh thả nổi tỷ giá

Nguyên lý hoạt động của bộ ba bất khả thi

Tự do hóa dòng vốn Chính sách

tiền tệ độc lập Tỷ giá cố định Ví Dụ

cách 07/2005

Dựa vào bảng tóm tắt ta có thể thấy rằng một quốc gia không thể thực hiện

đồng thời ba mục tiêu Nếu đạt được mục tiêu dòng vốn lưu động hoàn toàn và

hệ thống tỉ giá cố định thì nhà nước phải thực hiện kế hoạch kiểm soát vốn, và

như vậy thì dòng vốn không thể chảy vào nền kinh tế một cách tự do được,

nghĩa là không thực hiện được mục tiêu dòng vốn lưu động tự do Tương tự,

một khi thực hiện được mục tiêu hệ thống tỉ giá cố định và dòng vốn lưu động

vào nền kinh tế tự do thì không thể thực hiện được mục tiêu chính sách tiền tệ

độc lậpvì phải thực hiện liên minh tiền tệ ( liên minh tiền tệ có thể được hình

dung giống như việc các quốc gia lien minh các chính sách tiền tệ giống như

khối EU hiện nay) Và còn lại, để cóđược mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập, và

tự do hóa dòng vốn thì phải hi sinh hệ thống tỉ giá cố định Và khi đó thì phải

thực hiện biện pháp để tỉ giá thả nổi

IV Thực tiễn áp dụng

Nước Mỹ đã chọn hai mục tiêu đó là sử dụng chính sách tiền tệ và lưu

chuyển dòng vốn tự do vào nền kinh tế Mọi người Mỹ đều có thể dễ dàng đầu

Trang 8

tư ra nước ngoài, đơn giản nhất là gửi tiền cho 1 quỹ đầu tư tương hỗ quốc tế và người nước ngoài có thể dễ dàng mua chứng khoán, trái phiếu tại Mỹ Mặt khác, Cục dự trữ liên bang Fed cũng sử dụng chính sách tiền tệ để góp phần tạo việc làm và ổn định giá cả Tuy nhiên, kết quả của quyết định này là sự bất ổn đối với giá trị của đồng đôla trên thị trường ngoại hối

Ngược lại, Trung Quốc lại có 1 cách lựa chọn khác Ngân hàng trung ương nước này thực hiện chính sách tiền tệ và duy trì kiểm soát chặt chẽ đối với giá trị trao đổi của đồng nhân dân tệ Nhưng để hoàn thành 2 mục tiêu này, Trung Quốc phải hạn chế dòng vốn quốc tế, bao gồm cả việc hạn chế công dân Trung Quốc chuyển tài sản ra nước ngoài Nếu không có những hạn chế đó, tiền sẽ chu chuyển ra và vào đất nước, khiến lãi suất trong nước bằng với mức lãi suất do các ngân hàng trung ương nước ngoài thiết lập

Phần lớn các nước châu Âu đã chọn cách thứ 3.Bằng cách sử dụng đồng euro để thay thế cho đồng franc Pháp, mác Đức, lira Italia những nước này đã loại bỏ những biến động tỷ giá hối đoái trong khu vực của họ.Thêm vào đó, dòng vốn tự do di chuyển trong các quốc gia này.Nhưng cái giá của sự lựa chọn này là việc từ bỏ khả năng sử dụng chính sách tiền tệ

4.1 Tác động của bộ ba bất khả thi với Việt Nam

 Gia tăng lạm phát

Trong bối cảnh thị trường mở còn yếu kém thì số tiền mà NHNN thu về thông qua việc mua bán các chứng khoán gần như là không đáng kể so với khối lượng cung tiền đã tung ra, điều này đã dẫn đến một sự gia tăng trong lạm phát Thể hiện qua số liệu các năm từ 2006 đến 2010 ( % tăng , giảm so với năm

trước)

 Căng thẳng vấn đề lãi suất

Từ sau tết nguyên đán (tháng 02/2008), lãi suất trở thành vấn đề thời sự Lãi suất trên thịtrường liên ngân hàng liên tục nóng sốt và tăng cao chưa từng

có trong lịch sử Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng có lúc lên đến 40%/năm

và phổ biến ở mức 15%-17%/năm Lãi suất cho vay tiêu dùng là 24%/năm, cho

Trang 9

vay mua nguyên vật liệu cũng lên đến 16,2%/năm Sự khan hiếm VNĐ khiến cho nhiều ngân hàng tham gia vào cuộc đua huy động lãi suất, buộc NHNN phải đưa ra trần lãi suất 12%

Nguyên nhân của hiện tượng này là do tác động của dòng vốn ngoại Thứ nhất, sự gia tăng của dòng vốn ngoại đã làm tăng nhu cầu chuyển đổi từ ngoại tệ sang nội tệ để đầu tư vào TTCK và bất động sản Thứ hai, việc TTCK trở thành một kênh đầu tư có mức sinh lợi cao trong năm 2006, đã khiến cho các ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay cầm cố chứng khoán Khi chỉ thị 03 được ban hành nhằm kiềm chế hoạt động này, các ngân hàng đã lập tức lách luật bằng cách tăng dư nợ tín dụng để đạt được mục tiêu dư nợ cho vay cầm cố chứng khoán không vượt quá 3% tổng dư nợ Sự gia tăng của hoạt động tín dụng đã khiến cho các ngân hàng nhanh chóng rơi vào tình trạng khan hiếm VNĐ Và buộc phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao hoặc tăng lãi

suất huy động

 Thị trường chứng khoán tụt dốc

Năm 2009, Đã có thời điểm chỉ số Vn - Index leo một mạch từ hơn 200 điểm lên ngưỡng 600 điểm nhưng ngay sau đó lại bất ngờ tuột dốc trong những tháng cuối năm Dù những tháng cuối năm, thị trường điều chỉnh giảm do tác động của chính sách thắt chặt tiền tệ của Chính phủ nhưng với một chu kỳ tăng điểm kéo dài trong 8 tháng trước đó thì năm 2009 vẫn được đánh giá là năm tăng trưởng ấn tượng của thị trường chứng khoán Việt Nam So với các kênh đầu tư khác như vàng, USD, bất động sản hay tiết kiệm thì kênh đầu tư chứng khoán vẫn hết sức hấp dẫn và được coi mang lại lợi nhuận nhất trong năm 2009 Nếu tính từ đáy thấp nhất của Vn-Index trong năm 2009 là 234,66 điểm trong phiên giao dịch ngày 24/2 và đỉnh cao nhất là 633,21 điểm (ngày 23/12) thì chỉ

số này đã tăng gần 2,7 lần Tương tự, HNX - Index tăng 2,8 lần trong năm nếu

so với mức đáy 78,06 điểm và mức đỉnh là 218,38 điểm Năm2010 Thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2010 gặp nhiều khó khăn khi sụp giảm so với năm

2009 Đóng cửa phiên giao dịch ngày cuối cùng của năm 2010, vào hôm thứ

Trang 10

sáu (31.12), VN-Index tăng 3,26 điểm lên 484,66 điểm (+0,68%), giảm 10,14 điểm so với năm 2009, tương đương giảm 2% HNX-Index tăng 1,6 điểm lên 114,24 điểm (+1,42%); giảm 32% so với mức đóng cửa năm 2009 là 168,17 điểm

4.2 Giải pháp để thực hiện hai mục tiêu: kiềm chế lạm phát, ổn

định thị trường chứng khoán

 Mục tiêu lạm phát: Chính sách tiền tệ

Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, phối hợp hài hòa giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để kiềm chế lạm phát; điều hành và kiểm soát để bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2011 dưới 20%, tổng phương tiện thanh toán khoảng 15 - 16%; tập trungưu tiên vốn tín dụng phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, công nghiệp

hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa; giảm tốc độ và tỷ trọng vay vốn tín dụng của khu vực phi sản xuất, nhất là lĩnh vực bất động sản, chứng khoán

Điều hành chủ động, linh hoạt, hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ, nhất là các loại lãi suất và lượng tiền cung ứng để bảo đảm kiềm chế lạm phát.Điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối linh hoạt, phù hợp với diễn biến thị trường Tăng cường quản lý ngoại hối, thực hiện các biện pháp cần thiết để các tổ chức, cá nhân trước hết là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước bán ngoại tệ cho ngân hàng khi có nguồn thu và được mua khi có nhu cầu hợp

lý, bảo đảm thanh khoản ngoại tệ, bình ổn tỷ giá, đáp ứng yêu cầu ổn định, phát triển sản xuất kinh doanh và tăng dự trữ ngoại hối

 Mục tiêu về thị trường chứng khoán

Chính sách kiểm soát đầu tư Nhà nước có thể áp dụng biện pháp hành chính cấp phép, hạn chế hay cấm FPI ở một số lĩnh vực, ngành hay ở một số loại cổ phiếu trái phiếu nhất định Chính sách tỷ giá hối đoái Nới rộng biên độ dao động của tỷ giá khiến cho tỷ giá trở nên linh hoạt hơn, gần sát với tỷ giá thực tế và cơ bản phải phản ánh được quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối

Ngày đăng: 21/03/2016, 19:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình trên là sự minh hoạ về nguyên tắc hoạt động của bộ ba bất khả thi. - Tiểu luận môn tài chính tiền tệ lý thuyết bộ ba bất khả thi
Hình tr ên là sự minh hoạ về nguyên tắc hoạt động của bộ ba bất khả thi (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w