1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo cáo lí luận đề tài tính phù hợp của hệ thống pháp luật việt nam

18 466 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 154 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

I.Khái niệm của “ Tính phù hợp với các điều kiện xã hội”:Hiệu quả của hệ thống pháp luật không thể đánh giá thông qua việc nó ghi nhận “càng nhiều càng tốt” những ước muốn hướng thiện của nhà lập pháp. Một hệ thống pháp luật hoàn thiện là hệ thống pháp luật phù hợp với đời sống xã hội trong phạm vi điều chỉnh của nó. Một mặt, nó phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế xã hội theo đường lối chính trị. Mặt khác nó phải phù hợp với các yếu tố khác như lịch sử, đạo đức, tập quán, phong tục, tâm lý dân tộc, trình độ dân trí của quốc gia, đồng thời phải có tính khả thi.Ví dụ: Trong phần thừa kế của Bộ Luật Dân Sự có quy định về việc thừa kế theo di chúc mà những chủ thể pháp luật quy định mà nội dung di chúc để lại không phù hợp thì lúc này luật sẽ điều chỉnh lại sau cho có sự phù hợp hài hòa giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật này ( Điều 669_ Bộ Luật Dân Sự 2005 ).

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Đất nước chúng ta đang từng ngày từng ngày bước vào kỷ nguyên phát triển, bắt đầu chuyển mình dần dần hội nhập với quốc tế Với sự phát triển vượt bậc của thành tựu khoa học hiện đại ngày nay càng hứa hẹn hơn nữa sự bức phá ngoạn mục của đất nước ta trong tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa Vì lí do đó trong tương lai có thể thấy Xã Hội của chúng ta cũng sẽ có những chuyển biến đáng kể

cả về mặt đối ngoại lẫn đối nội Nhưng chắc rằng cũng sẽ phát sinh thêm nữa những khó khăn khi những hành vi tiêu cực trong xã hội ngày gia tăng vì thế lúc này pháp luật hơn bao giờ hết thấy được tầm quan trọng của nó Nhưng một quốc gia mà có ngành luật “ Tốt” thì nó sẽ giúp cho cho đất nước đó càng phát triển hơn còn một đất nước mà có hệ thống pháp luật “ Không tốt” hay không phù hợp với tình hình xã hội hiện tại thì nó lại sẽ trở thành thứ kìm hãm lại sự phát triển của đất nước đó Nhưng để đánh giá được một ngành luật nào đó chúng ta cần phải dựa trên những phương diện gì ? Khía cạnh nào? Để có thể biết nó có phù hợp hay không?

Vâng và đó là vấn đề hôm nay nhóm em muốn nhắc đến trong bài báo cáo

về một trong những tiêu chí để đánh giá một hệ thống pháp luật nào đó Để đánh giá một hệ thống pháp luật thì có nhiều tiêu chí như tính phù hợp, tính toàn diện, tính đồng bộ và thống nhất, tính ổn định, Và như chúng ta đã thấy bất cứ thứ gì chẳng hạn như chúng ta chọn ngành học cũng vậy nó phải phù hợp với sở thích, khả năng, năng lực, trình độ thì khi học chúng ta mới có thể phát huy được hết khả năng của mình và đem lại kết quả tốt nhất Vì thế mọi sự vật sự việc trong cuộc sống cũng vậy nếu chúng ta biết chọn lựa sắp xếp phù hợp nó sẽ mang lại những hiệu quả cao nhất Từ đó làm bật lên tầm quan trọng của “ Tính phù hợp” trong đời sống và càng không thể thiếu tính này khi đánh giá một hệ thống pháp luật nào đó Và đây cũng chính là chủ đề của nhóm em hôm nay, Chủ đề: “ Tính phù hợp của hệ thống pháp luật Việt Nam”

I Khái niệm của “ Tính phù hợp với các điều kiện xã hội”:

Hiệu quả của hệ thống pháp luật không thể đánh giá thông qua việc nó ghi nhận “càng nhiều càng tốt” những ước muốn hướng thiện của nhà lập pháp Một hệ thống pháp luật hoàn thiện là hệ thống pháp luật phù hợp với đời sống xã hội trong phạm vi điều chỉnh của nó Một mặt, nó phản ánh đúng trình độ phát triển kinh tế

-xã hội theo đường lối chính trị Mặt khác nó phải phù hợp với các yếu tố khác như lịch sử, đạo đức, tập quán, phong tục, tâm lý dân tộc, trình độ dân trí của quốc gia, đồng thời phải có tính khả thi

Ví dụ: Trong phần thừa kế của Bộ Luật Dân Sự có quy định về việc thừa kế theo di chúc mà những chủ thể pháp luật quy định mà nội dung di chúc để lại

Trang 2

không phù hợp thì lúc này luật sẽ điều chỉnh lại sau cho có sự phù hợp hài hòa giữa các chủ thể trong quan hệ pháp luật này ( Điều 669_ Bộ Luật Dân Sự 2005 )

II.Tính phù hợp của hệ thống pháp luật hiện nay:

Hiện nay, trong hệ thống pháp luật của nước Việt Nam ta trải qua năm bản hiến pháp kể từ khi thống nhất đất nước đến giờ cũng có nhiều bộ luật mới được ban hành, thay thế hay sửa đổi thì nhìn chung tất cả đều hướng đến ngày càng làm sao cho hệ thống pháp luật Việt Nam ngày càng hoàn thiện hơn thống nhất hơn để

có thể là “ Kiến trúc thượng tầng” phía trên cao đồ sộ bổ sung làm nền và củng cố cho “ Cơ sở hạ tầng” phía dưới giúp đất nước ngày càng phát triển và giảm thiểu tối đa được các hành vi tiêu cực trong xã hội Khi nói về tính phù hợp của hệ thống pháp luật Viêt Nam thì gồm nhiều ngành luật đan xen nhau có mối liên hệ chặt chẽ

bổ sung cho nhau và đều có những chức năng nhiệm vụ riêng cho từng ngành luật Nhưng một số ngành luật giữ vai trò chủ chốt chi phối toàn bộ cho các ngành luật quan trọng ở Việt Nam và làm khung cơ sở cho tính phù hợp của hệ thống pháp luật Việt Nam là: Ngành luật Hiến Pháp, Ngành luật Dân Sự, Ngành luật Hình Sự, đây đều là những một trong những ngành luật chủ đạo của đất nước

2.1 Trong nghành luật Hiến pháp

Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện ở nội dung của hệ thống pháp luật luôn có sự tương quan với trình độ phát triển kinh tế xã hội, điều kiện chính trị của đất nước, đường lối, chính sách của Đảng và các điều ước Quốc tế

Hệ thống pháp luật hiện nay mà điển hình là Hiến pháp đã tương đối phù hợp

a) Xét về mặt kinh tế - xã hội:

So với các bản Hiến Pháp trước, các quy phạm pháp luật trong Hiến Pháp 2013

đã có nhiều điểm mới phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đồng thời tạo điều kiện cho pháp luật được thực hiện dễ dàng góp phần thúc đẩy

sự phát triển kinh tế- xã hội Cụ thể như sau:

 Lao động và việc làm là một trong những quyền trọng tâm của hệ thống quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân Chương II Hiến pháp năm 2013 đã thay thế những quy định dài dòng, mang tính hô hào, “khẩu hiệu” về lao động, việc làm trong Điều 55, 56 Hiến pháp năm 1992, thay vào đó là những quy định thực chất hơn, rõ ràng hơn, đặc biệt là bám sát các điều khoản liên quan trong Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 Cụ thể, theo Điều 35 Hiến pháp năm 2013 thì quyền về lao động, việc làm bao gồm: quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc; quyền được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi Điều 35 Hiến pháp năm

2013 quy định nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động… Những quy định mới và rõ ràng này trong Hiến pháp năm 2013 có giá trị xã hội to lớn bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong

Trang 3

điều kiện phân công lại lao động xã hội, tái cấu trúc nền kinh tế và hội nhập kinh tế thế giới đang diễn ra sôi động trên đất nước ta

 Điều 10 Hiến pháp năm 2013 quy định Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ

sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế

-xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ,

kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vị trí, vai trò của Công đoàn Việt Nam đã được ghi nhận từ Hiến pháp năm 1959, 1980 và

1992 Điều 10 Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của tổ chức đại diện người lao động trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay ở nước ta Trong quá trình hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế - xã hội đất nước, việc khẳng định và phát huy vai trò của tổ chức Công đoàn có ý nghĩa to lớn Một mặt, bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động, mặt khác tạo cơ chế để Công đoàn tham gia chủ động và tích cực vào các quan hệ lao động, đặc biệt là quan hệ ba bên Nhà nước - doanh nghiệp - người lao động, đáp ứng những yêu cầu bảo vệ người lao động trong nền kinh tế thị trường và trong bối cảnh toàn cầu hóa

 Nếu như tại Điều 83 của Hiến pháp năm 1992 trước đây quy định: “ Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp” và Điều 147 quy định:

“ Chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp ” thì tới Hiến pháp năm 2013 đã

bỏ

một số nội dung trên và thay vào đó là quy định về sự kết hợp giữa thẩm quyền lập hiến của Quốc hội, sáng kiến lập hiến của các cơ quan Nhà nước, của đại biểu Quốc hội với quyền lập hiến của nhân dân dưới hình thức trưng cầu ý dân về Hiến pháp tại khoản 4 Điều 120 “… việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định ” Như vậy, Hiến pháp năm 2013 mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa,

khẳng định mạnh mẽ chủ quyền nhân dân

 Điều 57

1 Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động

2 Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định

 Điều 58

1 Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của

N hân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn

Trang 4

2 Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người

mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình

b) Xét về mặt chính trị, ngoại giao:

Hiến pháp 2013 cũng đã có nhiều điểm mới phù hợp với điều kiện chính trị của đất nước, các đường lối chính sách của Đảng và các điều ước của Quốc Tế như;

 Nếu Hiến pháp năm 1992 (Điều 6) quy định nhân dân chỉ thông qua hình thức dân chủ đại diện thì Hiến pháp năm 2013 (Điều 6) quy định rõ những cách thức để nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước là dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Quy định này của Hiến pháp năm 2013 đặt nền tảng cho việc hoàn thiện một hình thức dân chủ cao nhất là chế định bầu cử, qua đó, thực hiện đầy đủ hơn, thực chất hơn quyền bầu cử của công dân và trách nhiệm của đại biểu dân cử

 Chủ thể xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp là nhân dân; Điều 2 Hiến pháp năm 2013 khẳng định nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do nhân dân làm chủ, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…

 Hiến pháp năm 2013 xác định nhiệm vụ chủ yếu của Nhà nước là phải bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc,

có điều kiện phát triển toàn diện (Điều 3); trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức là phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân (Điều 8)

 Đáng chú ý là khoản 3 Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung “ kiểm soát ” vào thiết chế tổ chức quyền lực để bảo đảm tổ chức bộ máy được tổ chức có hiệu lực, hạn chế lạm quyền dẫn đến vi phạm quyền con người, quyền công dân:

“ Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp ”

 Điều 12 hiến pháp 2013 cũng đã nhấn mạnh sự phù hợp của pháp luật nước

ta với các điều ước quốc tế

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa,

đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội

bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới

Trang 5

c) Xét về mặt quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân:

Hiến pháp 2013 cũng đã có rất nhiều điểm mới phù hợp với quyền,nghĩa vụ thực tế của con người và phù hợp với các công ước Quốc Tế về nhân quyền

Hiến pháp năm 2013 đã đổi tên Chương là “Quyền con người, quyền và nghĩa

vụ của công dân”, so với tên gọi cũ của Chương này trong Hiến pháp năm 1992 là

“quyền và nghĩa vụ công dân” Từ xác định tên Chương, Hiến pháp năm 1992 chỉ

bàn chủ yếu đến quyền công dân, chưa bao quát hết nội dung cần có là quyền con người Hiến pháp năm 2013 đã khắc phục nhược điểm này, đã hiến định những yêu cầu cơ bản về bảo đảm quyền con người và quyền công dân, trong đó quyền con người lần đầu tiên được đưa vào tên Chương ở cụm từ đầu tiên trong tên gọi của Chương

 Quyền con người và quyền công dân là hai khái niệm cùng loại, đồng dạng nhưng không đồng nhất mà có những giá trị xã hội khác nhau Hiến pháp năm

2013 không còn đồng nhất quyền con người và quyền công dân như ở Điều 50

Hiến pháp năm 1992 khi quy định quyền con người “…thể hiện ở quyền công dân” Hiến pháp năm 2013 đã sử dụng cả 2 thuật ngữ “quyền con người” và

“quyền công dân” với những nội dung được xác định rõ ràng, thể hiện các quyền

và tự do hiến định để bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân Quan điểm khẳng định mạnh mẽ giá trị, vai trò quan trọng của quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp năm 2013 là một quan điểm được đồng thuận cao trong lần thảo luận để ban hành Hiến pháp lần này ở Việt Nam

 Nếu Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định chủ thể quyền là công dân thì Hiến pháp năm 2013 quy định chủ thể quyền không chỉ là công dân mà quyền của con người,

của mọi người, quyền của mỗi người đều có chứ không chỉ công dân Như vậy, với

những quyền này, không chỉ công dân Việt Nam mà tất cả, mọi người, mỗi người với tư cách thành viên xã hội, người nước ngoài có mặt trên lãnh thổ Việt Nam… cũng được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền con người Hiến pháp năm 2013 xác định rất rõ ràng về tính riêng biệt của quyền con người, quyền công

dân Trong 36 điều của Chương II khi dùng “mọi người” tức là chủ thể của quyền

con người, bao gồm cả công dân Quyền con người nói chung (bao gồm cả công

dân) được nhắc đến trong “mọi người”, trong tất cả những “không ai”, “tổ chức, cá nhân”, “Người Việt Nam ở nước ngoài”, “người nước ngoài cư trú ở Việt Nam”.

Trong tất cả những điều khoản không nhắc đến chủ thể hoặc đối tượng cụ thể thì đều được hiểu chủ thể của quyền không chỉ là công dân Những quy định mới này phù hợp với Luật nhân quyền quốc tế, các điều ước quốc tế về nhân quyền và với chủ trương, chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế toàn diện của Đảng, Nhà nước Việt Nam

Nếu Hiến pháp năm 1992 chỉ đề cập đến nghĩa vụ tôn trọng ở Điều 50, thì Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng ghi nhận cả ba nghĩa vụ của nhà nước là nghĩa vụ tôn trọng, nghĩa vụ bảo vệ và nghĩa vụ bảo đảm thực hiện quyền con người Quy định

Trang 6

này được thể hiện trong các Điều 3 và Điều 14 Hiến pháp năm 2013 tương ứng với các quy định về nghĩa vụ quốc gia trong Luật nhân quyền quốc tế Sự bổ sung mới này của Hiến pháp năm 2013 có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ bảo đảm sự hài hòa giữa pháp luật Việt Nam với luật nhân quyền quốc tế mà còn tạo cơ sở hiến định ràng buộc các cơ quan nhà nước phải thực hiện đầy đủ và nghiêm túc những nghĩa vụ và trách nhiệm của nhà nước về quyền con người, quyền công dân trong

thực tế, đặc biệt là hai nghĩa vụ bảo vệ và bảo đảm thực hiện chứ không chỉ là tôn trọngchung chung như cách hiểu của Điều 50 Hiến pháp năm 1992.

Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định nguyên tắc về giới hạn quyền tại

khoản 2 Điều 14 mà trong các Hiến pháp trước đây quy định chưa rõ Đây là nguyên tắc đã được nêu trong Luật nhân quyền quốc tế và trong Hiến pháp của một

số quốc gia, chẳng hạn tại Điều 29 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm

1948, Điều 4 Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 và một số điều trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966

3/Đề xuất xây dựng tính phù hợp:

 Trong xã hội Việt Nam hiện nay tồn tại nhiều giai cấp tầng lớp khác nhau và lợi ích của họ cũng khác nhau Vì vậy để đảm bảo xã hội phát triển ổn định hơn thì đòi hỏi pháp luật phải quy định một cách hài hòa, phù hợp với lợi ích của tất cả Các nhà làm luật phải quy định sao cho tương quan giữa lợi ích của các tầng lớp xã hội khác nhau, phải làm sao cho lợi ích của giai cấp này không xung đột với lợi ích của giai cấp khác

 Vd: Trong các trường hợp thu hồi đất vì lợi ích chung của nhà nước, thì pháp luật phải quy định các chính sách đền bù sao cho phù hợp và thỏa đáng với lợi ích của người dân Điều 54 Hiến pháp 2013- “ Nhà nước thu hồi đất do tổ chức, cá nhân đang sử dụng trong trường hợp thật cần thiết do luật định vì mục đích quốc

phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Việc thu

hồi đất phải công khai, minh bạch và được bồi thường theo quy định của pháp luật” Nếu không có những đền bù thỏa đáng thì sẽ làm cho người dân xa rời nhà nước và pháp luật

 Trong xã hội ngoài pháp luật còn có các công cụ khác như đạo đức,phong tục tập quán,tín điều tôn giáo,… những công cụ này cùng pháp luật luôn có tác động rất lớn lên các quan hệ xã hội Sự tác động của các quy phạm khác nhau lên các quan hệ xã hội luôn không đơn giản, chúng có liên quan, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Do vậy, hệ thống pháp luật nhà đòi hỏi phải phù hợp với phong tục tập quán, thuần phong mỹ tục của đất nước, truyền thống tốt đẹp của dân tộc phù hợp với giá trị đạo đức văn hóa cao đẹp của đất nước

 Ví dụ: Bộ luật Hình Sự nghiêm cấm các hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến thân thể, nhân phẩm, danh dự,

2.2 Ngành luật Dân Sự:

Trang 7

a Những hạn chế cơ bản trong quy định tại Phần “Tài sản và quyền sở hữu”

- Thứ nhất, chưa bao quát hết các loại quyền đối với vật (vật quyền) đang tồn tại một cách khách quan trong nền kinh tế nước ta Điều này thể hiện ở chỗ, trong Phần này chỉ tập trung quy định về quyền sở hữu (với tư cách là loại vật quyền trọng tâm, quan trọng và phổ biến nhất của hệ thống vật quyền) mà có ít quy định

về các loại vật quyền khác mà thế giới gọi là các vật quyền hạn chế, còn ở nước ta thì gọi là quyền của người không phải là chủ sở hữu tài sản (Điều 173 Bộ luật dân

sự năm 2005);

- Thứ hai, việc xác định các hình thức sở hữu trong BLDS hiện hành là chưa khoa học, tạo ra sự phức tạp không cần thiết trong việc điều chỉnh pháp luật đối với các hình thức sở hữu này Theo Bộ luật hiện hành, ở nước ta có 6 hình thức sở hữu, bao gồm: (1) sở hữu nhà nước; (2) sở hữu tập thể; (3) sở hữu tư nhân; (4) sở hữu chung; (5) sở hữu của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; (6) sở hữu của tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp Việc phân chia hình thức sở hữu dựa vào tính chất, chức năng, nhiệm vụ của các chủ thể như vậy là không hợp lý, cần phải thay đổi Trên thực tế, ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên thế giới, chỉ có 3 hình thức sở hữu chủ yếu là sở hữu nhà nước, sở hữu riêng và sở hữu chung;

- Thứ ba, còn có sự không thống nhất trong việc đặt tên cho quyền sở hữu đối với một số tài sản đặc biệt như đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý với tư cách là tài sản công Cụ thể là, theo BLDS hiện hành thì các tài sản này thuộc sở hữu nhà nước (Điều 200), trong khi đó, theo Hiến pháp thì các tài sản này lại thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý (Điều 53);

- Thứ tư, một số hình thức sở hữu trên thực tế là không tồn tại, ví dụ, sở hữu tập thể Cần phải nghiên cứu để quyết định việc tiếp tục duy trì hay bỏ hình thức sở hữu này trong BLDS mới;

- Thứ năm, BLDS hiện hành đã ghi nhận các hình thức sở hữu như sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể nhưng chưa quy định đầy đủ các cơ chế pháp lý cụ thể để thực thi một cách hiệu quả các hình thức sở hữu này Trên thực tế, mặc dù được quy định trong BLDS nhưng các hình thức sở hữu này lại được ghi nhận và thực thi thông qua một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật khác như pháp luật về doanh nghiệp nhà nước; về hợp tác xã; về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; về đất đai; về đầu tư Hậu quả là, BLDS chưa đóng được vai trò là nguồn pháp luật cơ bản về chế định sở hữu ở Việt Nam;

- Thứ sáu, tên gọi Phần thứ hai của BLDS hiện hành không tương ứng với nội dung chứa đựng trong Phần này Ngoài quyền sở hữu thì trên thực tế, BLDS đã quy định về các loại vật quyền khác như quyền sử dụng đất, địa dịch, Do đó, phải thay đổi tên gọi mới cho phù hợp, theo hướng, tên gọi của Phần thứ hai phải

Trang 8

là “Vật quyền” hoặc một tên gọi khác chứ không thể là “Tài sản và quyền sở hữu” như hiện hành

b Một số hạn chế cơ bản trong phần “những quy định chung” của bộ luật hiện hành thể hiện tính không phù hợp của pháp luật

chưa tạo được cơ chế pháp lý phù hợp để bảo đảm tính khái quát, tính dự báo và tính khả thi trong quy định của Bộ luật dân sự, qua đó chưa bảo đảm được hài hòa giữa yêu cầu về tính ổn định của Bộ luật và yêu cầu về đáp ứng kịp thời sự phát triển thường xuyên, liên tục của các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự

chưa tạo được cơ chế pháp lý đầy đủ, phù hợp để kịp thời công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền dân sự của người dân, nhất là cơ chế tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự khi không có quy định của Luật, trong áp dụng các phương thức bảo

vệ quyền dân sự và trong bảo vệ người yếu thế, người thiện chí, ngay tình trong quan hệ dân sự

trong các quy định cụ thể nhiều nội dung còn chưa phù hợp với thực tiễn giao lưu dân sự ở nước ta và yêu cầu về hội nhập quốc tế

Một số ví dụ cụ thể

+ Về người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự (Điều 62 BLDS ): trong thực tiễn xét xử, có rất nhiều trường hợp người vợ hoặc người chồng xin ly hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự, theo quy định tại Điều này thì người vợ, người chồng đó lại là người giám hộ cho người mất năng lực hành vi dân sự Như vậy, người xin ly hôn có thể nói là “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, rất dễ gây thiệt hại cho người bị mất năng lực hành vi dân sự, quyền lợi của người được giám hộ sẽ không được bảo đảm Như vậy, điều luật này chỉ có ý nghĩa đối với trường hợp người giám hộ thực sự vì quyền lợi của người được giám hộ mất năng lực hành vi dân sự đối với người thứ ba mà không dự liệu được các quan

hệ liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ giữa người giám hộ và người được giám hộ bị mất năng lực hành vi dân sự

+ Về giao dịch dân sự: Điều 130 BLDS quy định “khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện người

đó, Toà án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu…”, như vậy, khi xác lập giao dịch loại này thì chỉ có người đại diện của người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân

sự mới có quyền yêu cầu tuyên bố giao dịch đó vô hiệu, điều này có vẻ không công bằng đối với người đã xác lập giao dịch với người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, hoặc loại bỏ quyền của những người có liên quan khác đến giao dịch này

+ Về đại diện theo uỷ quyền: Điều 143 BLDS quy định “1 Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể uỷ quyền cho người khác xác lập, thực

Trang 9

hiện giao dịch dân sự” điều luật chỉ giới hạn hai chủ thể của pháp luật dân sự là cá nhân và pháp nhân có thể uỷ quyền cho người khác trong khi chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự ngoài hai chủ thể nêu trên thì còn nhiều chủ thể khác như hộ gia đình, tổ hợp tác Vậy đại diện theo pháp luật của các chủ thể này có thể uỷ quyền cho người khác hay không? Phạm vi uỷ quyền chỉ trong việc xác lập và thực hiện giao dịch dân sự Ngoài việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự thì các việc khác như thay đổi, chấm dứt giao dịch dân sự có được thực hiện hay không?

+ về quy định bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện:Theo quy định tại Điều 162 BLDS, khi có một trong các căn cứ quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 162 BLDS thì thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại Tuy nhiên, do Điều luật không quy định rõ khi hết thời hiệu mà xuất hiện các căn cứ tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 162 BLDS thì có tính lại hay không nên đã dẫn đến vướng mắc

c Những hạn chế cơ bản trong quy định tại Phần thứ ba “Nghĩa vụ và hợp đồng” Qua thực tiễn thi hành pháp luật cho thấy, quy định tại Phần này còn có những bất cập, hạn chế nhất định, như:

- Một số quy định còn làm thay các luật riêng trong điều chỉnh quan hệ dân sự cụ thể hoặc thiếu quy định để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh đối với những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đời sống nhân dân, dẫn tới chưa bảo đảm được tính bao quát, ổn định trong quy định của Bộ luật;

- Một số quy định không phù hợp với thực tiễn giao lưu dân sự hoặc chưa đáp ứng được yêu cầu của hội nhập quốc tế

- Hiện nay nền kinh tế của nước ta đang hội nhập với khu vực và thế giới, vì vậy

hệ thống pháp luật về hợp đồng cần phải có tính tương đồng với pháp luật các nước Trong quy định về trách nhiệm dân sự do không chấp hành nghĩa vụ theo hợp đồng không còn phù hợp với sự phát triển của kinh tế thị trường, vì thiệt hại trong kinh doanh có thể là cơ hội kinh doanh bị mất và các loại thiệt hại khác có thể xẩy ra Trong khi đó PICC (Nguyên tắc hợp đồng trong thương mại quốc tế của UNIDROIT) và CISG (Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hóa quốc tế) Điều 7.4.2.PICC quy định: "Bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu bên kia bồi thường toàn

bộ những tổn thất gây ra do việc không thực hiện hợp đồng Những tổn thất này bao gồn tổn thất phải gánh chịu và những lợi ích đáng lẽ phải có từ việc thực hiện hợp đồng có tính đến những chi phí tổn thất mà bên vi phạm tránh được"

- Trong Phần Nghĩa vụ và hợp đồng còn những quy định chưa phù hợp với thực tiễn như quy định về lãi suất tại Điều 476 về lãi quá hạn bằng lãi suất cơ bản, quy định này chưa phù hợp, bởi lẽ lãi trong hạn cho phép vượt 150% lãi suất cơ bản, nhưng lãi quá hạn bằng lãi suất cơ bản Điều này dẫn đến hậu quả người vay cố tình không trả nợ đúng hạn để trả lãi suất thấp hơn lãi suất đi vay

d Những hạn chế cơ bản trong quy định tại Phần thứ tư” Thừa kế”

Trang 10

- Khoản 3 - Điều 642 BLDS quy định: “Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng,

kể từ ngày mở thừa kế Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế” Quy định này rất khó áp dụng vào thực tế vì thường các vụ tranh chấp về thừa kế khởi kiện là sau 06 tháng kể từ ngày thừa kế mở Lúc này thì mới phát sinh việc ai muốn hoặc từ chối nhận thừa

kế Trong trường hợp nếu một người liên quan trong vụ án thừa kế có văn bản từ chối nhận kỷ phần thừa kế của mình thì Tòa án áp dụng Điều 642 không chấp nhận yêu cầu này với lý do đã quá thời hạn 06 tháng nên đương sự không được quyền từ chối Như vậy là không thuyết phục và can thiệp quá sâu vào quyền của đương sự

- Khoản 2 - Điều 664 BLDS quy định: “Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình” Trên thực tế, khi lập chung di chúc, vợ chồng thường định đoạt, phân chia tài sản cho các thừa kế thường là không đều nhau như khi Tòa chia thừa

kế Tài sản chung của vợ chồng là hợp nhất nên không thể xác định phần tài sản của mỗi người (vợ/chồng) cụ thể là tài sản nào; tài sản của chồng là cho ai, tài sản của vợ là cho ai Do đó, nếu một người đã chết, người còn lại thay đổi di chúc thì coi như toàn bộ di chúc không có giá trị pháp lý vì không thể xác định được di chúc có hiệu lực ½ là như thế nào Trong trường hợp nếu người còn sống có tài sản riêng thì khi lập di chúc phần tài sản riêng của họ cũng sẽ được nhập vào phần tài sản chung và được phân chia cụ thể Do đó, nếu người còn sống được quyền thay đổi di chúc đối với phần tài sản của mình thì nội dung di chúc sẽ không còn đúng với ý chí, nguyện vọng, định đoạt của người đã chết

- Điều 668 BLDS 2005 quy định: “Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết” Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi cho người vợ / chồng còn sống, giúp cho tài sản chung không bị phân chia ngay sau khi có một người chết trước Tuy nhiên, qua thực tế xét xử các vụ án tranh chấp thừa kế, nhận thấy quy định này cũng bộc lộ hạn chế

Đó là, sau khi một người chết, người vợ (chồng) còn lại có thể còn sống 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn Trong khi đó người sẽ được hưởng thừa kế đang có hoàn cảnh rất khó khăn, chờ đến khi người còn lại chết rồi mới được hưởng phần di sản thừa

kế thì cũng bất cập Thiết nghĩ, cần phải cân bằng lợi ích của các bên khi xét đến quy định này

e.Tính phù hợp trong luật Dân Sự:

 Quy định thời hiệu về thừa kế trong Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi phù hợp với thực tiễn xã hội

- Dự thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi có quy định mới về thời hiệu thừa kế được

dư luận đồng tình Thay vì từ chối, tòa vẫn phải thụ lý, giải quyết và tuyên bố đương sự được hưởng quyền dân sự hay miễn trừ nghĩa vụ dân sự…

Ngày đăng: 21/03/2016, 16:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w