1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của đầu tư đến tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội đà nẵng

40 496 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 420,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN Trong các kết quả đã đạt được trên đây,những kết quả là tài sản vật chất, tài sản trí tuệ là nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò q

Trang 1

Đề tài: tác động của đầu tư đến tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội tỉnh Đà Nẵng giai đoạn

Trang 2

Chương I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN

Trong các kết quả đã đạt được trên đây,những kết quả là tài sản vật chất, tài sản trí tuệ là nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi lúc mọi nơi, không chỉ đối với người bỏ vốn mà còn đối với cả nền kinh tế

1.2.Phân loại

Chúng ta có thể chia đầu tư thành 3 loại chủ yếu sau:

Đầu tư tài chính: Là loại đầu tư trong đó người có tiền bỏ tiền ra cho vay hoặc

mua chứng chỉ có giá để hưởng lãi suất định trước hoặc lãi suất phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của công ty phát hành

Đầu tư thương mại: Là loại đầu tư mà người có tiền bỏ tiền ra mua hàng hoá và

sau đó bán với giá cao hơn nhằm thu lợi nhuận do chênh lệch giá khi mua và khi bán Hai loại đầu tư này không tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, mà chỉ làm tăng tài sản tài chính của người đầu tư Tuy nhiên, chúng đều có tác dụng thúc đẩy đầu tư phát triển

Đầu tư phát triển: Là hoạt động đầu tư mà trong đó người có tiền bỏ tiền ra để

tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và các hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để

Trang 3

tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội Đó chính là việc bỏ tiền ra để xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế - xã hội, mua sắm trang thiết bị, bồi dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội.

1.3.Đầu tư phát triển là gì?

Đầu tư phát triển là loại hình đầu tư quyết định trực tiếp sự phát triển của nền sản xuất xã hội, là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời, tồn tại và tiếp tục phát triển của mọi cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ Hơn nữa hoạt động đầu tư phát triển

là tiền đề để thúc đẩy hoạt động đầu tư tài chính và đầu tư thương mại.Chính vì thế nhà nước cũng như các doanh nghiệp luôn rất chú trọng vào hoạt động đầu tư phát triển

Đối tượng của đầu tư phát triển là tập hợp các yếu tố được chủ đầu tư bỏ vốn thực hiện nhằm đạt những mục tiêu nhất định Có nhiều loại đối tượng đầu

tư phát triển tùy theo cách phân chia Theo phân công lao động xã hội có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là đầu tư theo ngành và đầu tư theo lãnh thổ Theo tính chất và mục đích đầu tư có hai nhóm đối tượng đầu tư chính là công trình vì mục tiêu lợi nhuận và công trình phi lợi nhuận Theo mức độ quan trọng đối tượng đầu tư phát triển được chia làm ba nhóm chính là loại được khuyến khích đầu tư, loại không được khuyến khích đầu tư và loại cấm đầu tư Theo góc độ tài sản, đối tượng đầu tư chia thành 2 nhóm chính là tài sản vật chất (tài sản thực)

và tài sản vô hình.Tài sản vật chất ở đây là những tài sản cố định được sử dụng cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nền kinh tế và tài sản lưu động Tài sản vô hình như phát minh sang chế, uy tín, thương hiệu…

Kết quả của đầu tư phát triển là sự tăng thêm về tài sản vật chất (nhà xưởng, thiết bị…), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học kỹ thuật…) và tài sản vô hình (những phát minh sáng chế, bản quyền…) Mục đích của đầu tư phát triển là vì sự phát triển bền vững của quốc gia, của nhà đầu tư

Trang 4

cũng như của toàn thể cộng đồng.

1.4.Phân loại đtpt

Có nhiều tiêu thức phân loại đầu tư phát triển

- Theo bản chất của các đối tượng đầu tư, hoạt động đầu tư phát triển bao gồm đầu tư cho các đối tượng vật chất (đầu tư tài sản vật chất hoặc tài sản thực như nhà xưởng, máy móc, thiết bị…) và đầu tư cho các đối tượng phi vật chất (đầu tư tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực như đào tạo, nghiên cứu khoa học…) Đầu tư cho đối tượng vật chất là điều kiện tiên quyết, cơ bản làm tăng thêm tiềm lực của nền kinh tế, đầu tư tài sản trí tuệ và các nguồn nhân lực là điều kiện tất yếu để đảm bảo cho đầu

tư các đối tượng vật chất tiến hành thuận lợi và đạt hiệu quả kinh tế - xã hội cao

-Theo phân cấp quản lý, đầu tư phát triển được chia thành đầu tư theo các

dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C Trong đó, dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định, dự án nhóm A do Thủ tướng Chính phủ quyết định,

dự án nhóm B và C do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định

-Theo lĩnh vực hoạt động của các kết quả đầu tư, đầu tư phát triển được chia thành đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng (kỹ thuật xã hội) Các hoạt động đầu tư này

có quan hệ tương hỗ với nhau

-Theo đặc điểm hoạt động của các kết quả đầu tư, hoạt động đầu tư phát triển được chia thành đầu tư cơ bản và đầu tư vận hành Trong đó đầu tư cơ bản nhằm tái sản xuất các tài sản cố định Đầu tư vận hành nhằm tạo ra các tài sản lưu động cho các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ mới hình thành, tăng thêm tài sản lưu động cho các cơ sở hiện có, duy trì sự hoạt động của cơ sở vật chất –

kỹ thuật không thuộc các doanh nghiệp

-Theo giai đoạn hoạt động của các kết quả đầu tư trong quá trình tái sản xuất xã hội, hoạt động đầu tư phát triển được chia thành đầu tư thương mại và

Trang 5

đầu tư sản xuất Đầu tư thương mại là hoạt động đầu tư mà thời gian thực hiện đầu tư và hoạt động của các kết quả đầu tư để thu hồi vốn đầu tư ngắn, vốn vận động nhanh, độ mạo hiểm thấp do trong thời gian ngắn tính bất định không cao, lại dễ dự đoán và dự đoán dễ đạt độ chính xác cao Đầu tư sản xuất là loại đầu tư dài hạn (từ 5 năm trở lên), vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm, thời gian thực hiện đầu

tư lâu, độ mạo hiểm cao vì tính kỹ thuật của hoạt động đầu tư phức tạp, phải chịu tác động của nhiều yếu tố bất định trong tương lai không thể dự đoán hết

-Theo thời gian thực hiện và phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, hoạt động đầu tư phát triển được chia thành đầu tư ngắn hạn và đầu tư dài hạn Đầu tư ngắn hạn là loại đầu tư tiến hành trong một thời gian ngắn, thường do những chủ đầu tư ít vốn thực hiện, đầu tư vào những hoạt động nhanh chóng thu hồi vốn Đầu tư dài hạn là loại đầu tư xây dựng các công trình đòi hỏi thời gian đầu tư dài, khối lượng vốn lớn, thời gian thu hồi vốn lâu Đó là các công trình thuộc lĩnh vực sản xuất, đầu tư phát triển khoa học kỹ thuật, xây dựng cơ sở hạ tầng

-Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư, hoạt động đầu tư phát triển được chia thành đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp Đầu tư gián tiếp là hoạt động đầu

tư mà người bỏ vốn không trực tiếp tham gia điều hành quản lý quá trình thực hiện và vận hành các kết quả đầu tư Người có vốn thông qua các tổ chức tài chính trung gian để đầu tư phát triển Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong

đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình vận hành kết quả đầu tư Loại đầu tư này tạo nên những năng lực phục vụ mới Đây là loại hình đầu tư để tái sản xuất mở rộng, là biện pháp chủ yếu để tăng thêm việc làm cho người lao động, là tiền đề để thực hiện đầu tư tài chính và đầu tư chuyển dịch

- Theo nguồn vốn trên phạm vi quốc gia, có thể chia đầu tư phát triển thành đầu tư bằng nguồn vốn trong nước và đầu tư bằng nguồn vốn nước ngoài

- Theo vùng lãnh thổ có thể chia đầu tư phát triển thành đầu tư phát triển của các vùng lãnh thổ, các vùng kinh tế trọng điểm, đầu tư phát triển khu vực

Trang 6

thành thị và nông thôn.

- Ngoài ra trong thực tế, để đáp ứng yêu cầu quản lý và nghiên cứu kinh tế, người ta còn phân chia đầu tư theo quan hệ sở hữu, theo qui mô và theo các tiêu thức khác nữa

2.Tăng trưởng và triển kinh tế

2.1.Khái niệm

a) Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế thực chất là sự lớn mạnh của nền kinh tế chỉ đơn thuần về

mặt số lượng; đây là sự biến đổi có ý nghĩa tích cực, mặc dù nó cũng giúp cho

xã hội có thêm các điều kiện vật chất cụ thể để đáp ứng các nhu cầu đặt ra của công dân, của xã hội

Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta dùng mức tăng thêm của tổng sản lượng nền kinh tế của thời kì sau so với thời kì trước:

Yo: Tổng sản lượng thời kì trước

Y1: Tổng sản lượng thời kì sau

Mức tăng trưởng tuyệt đổi : delta = Y1 - Yo

Mức Tăng trưởng tương đổi: = Y1/ Yo

b) Phát triển kinh tế

Là sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tích cực dựa trên sự biến đổi cả

về số lượng, chất lượng và cơ cấu của các yếu tố cấu thành của nền kinh tế

Như vậy, đã có phát triển kinh tế là bao hàm nội dung của sự tăng trưởng kinh tế, nhưng nó được tăng trưởng theo một cách vượt trội so sự đổi mới về khoa học công nghệ, do năng suất xã hội cao hơn hẳn và có cơ cấu kinh tế hợp lí

và hiệu quả hơn hẳn

Do đó, khái niệm phát triển kinh tế bao gồm :

+ Trước hết là sự tăng thêm về khối lượng của cải vật chất, dịch vụ và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế và đời sống xã hội

+ Tăng thêm qui mô sản lượng và tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội là hai mặt vừa phụ thuộc lại vừa độc lập tương đối của lượng và chất

Trang 7

+ Sự phát triển là một quá trình tiến hóa theo thời gian do những nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định Có nghĩa là người dân của quốc gia đó phải là những thành viên chủ yếu tác động đến sự biến đổi kinh tế của đất nước.

+ Kết quả của sự phát triển kinh tế - xã hội là kết quả của một quá trình vận động khách quan, còn mục tiêu kinh tế xã hội đề ra là thể hiện sự tiếp cận tới các kết quả đó

2.2.Chỉ tiêu đo lường tăng trưởng và phát triển kinh tế

hàng năm hay bình quân năm của một giai đoạn nhất định

• Nhóm các chỉ tiêu phản ánh sự biến đổi về cơ cấu kinh tế xã hội: chỉ số cơ cấu kinh tế theo ngành trong GDP; chỉ số cơ cấu về hoạt động ngoại thương; tỷ lệ dân cư sống trong khu vực thành thị trong tổng số dân; tỷ lệ lao động làm việc trong các ngành công nghịêp, nông nghiệp và dịch vụ…

Thu nhập bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người

Các chỉ số về dinh dưỡng: số calo bình quân/ người/ năm

Các chỉ số về giáo dục: tỷ lệ người biết chữ, số năm đi học bình quân… Các chỉ số này phản ánh trình độ phát triển giáo dục của một quốc gia và mức độ hưởng thụ dịch vụ giáo dục của dân cư

Các chỉ số về y tế: tỷ lệ trẻ em trong các độ tuổi, số bác sĩ trên một nghìn dân… Các chỉ số này phản ánh trình độ phát triển y tế của một quốc gia và mức độ hưởng thụ các dịch vụ y tế của dân cư

Các chỉ số phản ánh về công bằng xã hội và nghèo đói: tỷ lệ nghèo đói và khoảng cách nghèo đói, chỉ tiêu phản ánh mức độ bình đẳng giới, chỉ số phản ánh công bằng xã hội Ngoài ra, có thể có các chỉ tiêu khác như các chỉ tiêu phản ánh sử dụng nước sạch hay các điều kiện về kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội khác…

Trang 8

II Tác động của đầu tư đến tăng trưởng và phát triển kinh tế

xã hội

1 đầu tư tác động đến quy mô và sản lượng của nền kinh tế( tác động đến tổng cung và tổng cầu)

Tác động đến tổng cầu: để tạo ra sản phẩm cho xã hội trước hết cần đầu tư

Đầu tư là một yếu tố chiếm tỉ trọng lớn trong toàn bộ tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế Theo số liệu của ngân hàng thế giới , đầu tư thường chiếm 24 – 28% trong tổng cầu của tất cả các nước trên thế giới Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư thể hiện rõ trong ngắn hạn Xét theo mô hình vĩ mô, đầu tư là một thành phần có trong tổng cầu Khi tổng cung chưa kịp thay đổi , gia tăng đầu tư (I) làm gia tăng tổng cầu (AD) nếu các yếu tố khác không đổi

Trang 9

Theo đồ thị trên: đường cầu D dịch chuyển sang bên phải thành đường D’ kéo theo sự gia tăng sản lượng cân bằng tăng lên từ Q1 tới Q2

Tác động đến tổng cung:

Tổng cung của nền kinh tế bao gồm hai nguồn chính đó là cung trong nước và cung nước ngoài Bộ phận chủ yếu của cung trong nước là một hàm các yếu tố sản xuất: vốn, lao động , tài nguyên, công nghệ… thể hiện qua phương trình sau:

Q = F (K, L, T, R…)

K: vốn

L: lao động

T: công nghệ

R: nguồn tài nguyên

Như vậy tăng quy mô vốn đầu tư là nguyên nhân trực tiếp làm tăng tổng cung

của nền kinh tế, nếu các yếu tố khác không đổi Mặt khác tác động của vốn đầu

tư còn tác động thong qua nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đổi mới công nghệ… Do đó đầu tư gián tiếp làm tăng tổng cung của nền kinh tế

Trang 10

Nhìn vào đồ thị tác động khi tổng cung tăng làm đường cung dịch chuyển từ S sang S’ Làm thay đổi điểm cân bằng mới dịch chuyển từ E sang E’đồng thời kéo theo sự gia tăng sản lượng lên từ Q1 đến Q2.

2 đầu tư tác động đến tốc độ của tăng trưởng kinh tế thông qua chỉ số ICOR

Vốn đầu tư là yếu tố vật chất quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế Nhưng tăng trưởng kinh tế không chỉ dựa vào lượng vốn đầu tư nhiều hay ít, mà quan trọng hơn là dựa vào hiệu quả sử dụng của lượng vốn này cao hay thấp Phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư có nhiều chỉ tiêu, nhưng tổng hợp nhất là hệ số ICOR

ICOR là một chỉ số cho biết muốn có thêm một đơn vị sản lượng trong một thời kỳ nhất định cần phải bỏ ra thêm bao nhiêu đơn vị vốn đầu tư trong kỳ đó.Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: Muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt từ 15-20% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước

Trang 11

Nếu ICOR không đổi, mức tăng trưởng của GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư.

Ở các nước phát triển, ICOR thường lớn, từ 5-7 do thừa vốn, thiếu lao động, vốn được sử dụng nhiều để thay thế cho lao động, do sử dụng công nghệ hiện đại có giá cao Còn ở các nước chậm phát triển ICOR thấp từ 2-3 do thiếu vốn, thừa lao động nên có thể và cần phải sử dụng lao động để thay thế cho vốn do sử dụng công nghệ kém hiện đại, giá rẻ

Chỉ tiêu ICOR của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo trình

độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nước

3 đầu tư tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế(chuyển dịch theo

hướng nào? Tác động của nó trong cơ cấu giữa các ngành, vùng lãnh thổ, thành phần kinh tế)

Chuyển dịch cơ cấu ngành

Đầu tư vốn vào ngành nào, quy mô vốn vào từng ngành nhiều hay ít , việc sử dụng vốn hiệu quả cao hay thấp…đều ảnh hưởng đến tốc độ phát triển đến khả năng tăng cường cơ sở vật chất của từng ngành, tạo tiền đề vật chất để phát triển các ngành mới… do đó làm dịch chuyển cơ cấu ngành

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng – lãnh thổ

Đầu tư thúc đẩy phát triển kinh tế của một số vùng- lãnh thổ

Một số vùng – lãnh thổ khi có nguồn vốn đầu tư vào sẽ có thể có nhiều cơ hội để sản xuất kinh doanh, tạo đà cho sự tăng trưởng kinh tế của mình Tác động này của đầu tư có thể xem xét trên 2 khía cạnh như sau:

Trang 12

Thứ nhất là: Đầu tư giúp các vùng – lãnh thổ phát huy được tiềm năng, thế

mạnh kinh tế của vùng

Với nhưng vị trí địa lý, đặc thù tự nhiên khác nhau mỗi vùng – lãnh thổ sẽ

có những thế mạnh kinh tế khác nhau, nhưng để phát triển kinh tế thì không chỉ dựa vào những tài nguyên vị trí địa lý sẵn có đó, mà phải có đủ điều kiện để khai thác và sự dụng nó có hiệu quả Điều này đòi hỏi phải có nguồn vốn đầu tư Vì khi được dầu tư thích đáng các vùng sẽ có điều kiện để xây dựng cơ sở hạ tầng, máy móc công nghệ hiện đại, xác định các phương hướng phát triển đúng đắn để tận dụng, phát huy sức mạnh của vùng

Thứ hai là: Đầu tư góp phần nâng cao tỷ trọng đóng góp vào GDP của các vùng

– lãnh thổ được đầu tư

Như phân tích trên đầu tư giúp các vùng tận dụng được thế mạnh của mình, tạo đà cho sự phát triển kinh tế của vùng Khi nền kinh tế phát triển hơn thì khả năng đóng góp vào GDP cũng sẽ cao hơn so với trước kia

Như vậy đầu tư tác động làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng, vùng nào

có sự đầu tư nhiều hơn sẽ có cơ hội phát triển kinh tế nhiều hơn, khả năng đóng góp vào GDP của vùng tăng cao hơn, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của vùng cao hơn các vùng – lãnh thổ ít được đầu tư khác

Trang 13

ngoài nhà nước và giảm tỷ trọng của kinh tế nhà nước phù hợp với chủ trương

đa dạng hoá các thành phần kinh tế nhưng vẫn đảm bảo vai trò quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN

4 đầu tư tác động đến chất lượng nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực được coi là một trong những yếu tố quan trọng của quá trình phát triển kinh tế , và có có tác động to lớn tới quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh

tế

Nguồn nhân lực mà có trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thì khả năng tư duy sáng tạo, và tinh thần làm việc cũng như tinh thần trách nhiệm và tính tự giác sẽ cao hơn, khả năng tiếp thu khoa học công nghệ cũng cao hơn Đây là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy khoa học kỹ thuật trong các ngành sản xuất phát triển, cải tiến công nghệ sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và nâng cao năng suât lao động, thúc đẩy các ngành dịch vụ kỹ thuật cao phát triển, do đó làm cho các ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh hơn Tỷ trọng các ngành này trong nền kinh tế cũng tăng lên tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế được đi đúng hướng , thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế

Ngược lại, nguồn nhân lực mà có trình độ văn hoá và chuyên môn nghiệp vụ thấp thì sẽ không đủ khả năng để tiếp thu khoa học công nghệ hiện đại Khoa học kỹ thuật thì lạc hậu, năng suất lao động thấp sẽ làm cho tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ công nghệ cao thấp và quá trình chuyển dịch

cơ cấu kinh tế cũng sẽ diễn ra chậm chạp hoặc “ dậm chân tại chỗ” thậm chí có khi còn thụt lùi, nền kinh tế sẽ phát triển một cách chậm chạp

Do đó, để phát triển đất nước thì việc đầu tiên cần làm là nâng cao trình độ cho người lao động và đào tạo nguồn nhân lực là một việc làm cấp thiết cần phải được quan tâm đúng mức Nhất là trong hoàn cảnh hiện nay của nước ta thì điều này càng cần phải được quan tâm nhiều hơn Nước ta là nước nông nghiệp và chỉ vừa tiến hành đổi mới nền kinh tế chưa lâu, đang trên con đường thực hiện

Trang 14

công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Khoa học, kỹ thuật còn rất lạc hậu trình

độ học vấn và trình độ chuyên kỹ thuật còn nhiều hạn chế Do đó để có thể theo

kịp được các nước trên thế giới và khu vực thì nước ta cần phải đầu tư phát

triển các nguồn lực đất nước nhiều hơn nữa trong đó quan trọng nhất là phát triển nguồn nhân lực vì đây là nhân tố bên trong quan trọng quyết định

tới sự phát triển của đất nước

5 đầu tư tác động đến tiến bộ khoa học công nghệ

Đầu tư là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đổi mới và phát triển khoa học, công nghệ của một doanh nghiệp và quốc gia Công nghệ bao gồm các yếu tố cơ bản: phần cứng (máy móc thiết bị), phần mềm (các văn bản, tài liệu các bí quyết…), các yếu tố con người (các kỹ năng quản lý, kinh nghiệm), yếu tố tổ chức… Muốn có công nghệ cần phải đầu tư vào các yếu tố cấu thành

Trong mỗi thời kỳ các nước có bước đi khác nhau để đầu tư phát triển công nghệ Ban đầu sử dụng các lọai công nghệ sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu sau đó giảm dần thông qua việc tăng dần hàm lượng đầu tư vào công nghệ Đến giai đoạn phát triển, xu hướng đầu tư mạnh vốn thiết bị và gia tăng hàm lượng tri thức chiếm ưu thế tuyệt đối Tuy nhiên quá trình chuyển từ giai đoạn một sang giai đoạn ba là quá trình chuyển từ đầu tư ít sang đầu tư lớn, thay đổi

cơ cấu đầu tư Không có vốn đầu tư đủ lớn sẽ không đảm bảo sự thành công của quá trình chuyển đổi và sự phát triển của khoa học công nghệ

Công nghệ là do doanh nghiệp nhập khẩu từ bên ngoài hoặc do tự nghiên cứu

và ứng dụng Công nghệ được nhập khẩu qua nhiều đường như mua thiết bị, linh kiện rồi lắp đặt, mua bằng chế, thực hiện liên doanh… Công nghệ do tự nghiên cứu và triển khai được thực hiện qua nhiều giai đoạn và từ nghiên cứu đến thí nghiệm sản xuất thử sản xuất thường mất nhiều thời gian rủi ro cao Dù vậy nhập hay tự nghiên cứu để có công nghệ đều đòi lượng vốn đầu tư lớn mỗi doanh nghiệp, mỗi nước khác nhau cần có bước đi phù hợp để lựa chọn công

Trang 15

nghệ thích hợp Trên cơ sở đó đầu tư có hiệu quả để phát huy lợi thế so sánh của từng đơn vị cũng như toàn ngành kinh tế quốc dân.

6 đầu tư tác động đến tiến bộ xã hội

Đầu tư giúp cho kinh tế ngày càng một tăng trưởng và phát triển, con người

có thêm thu nhập và tiến bộ hơn Đầu tư hợp lý, trọng tâm trọng điểm và đồng

bộ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, qua đó nâng cao thu nhập của người dân, cải thiện mức sống vật chất, tiếp cận các dịch vụ cơ bản của xã hội như y tế, giáo dục hoạt động đầu tư cũng trực tiếp cung cấp tạo công

ăn việc làm cho người dân, giảm tỷ lệ thất nghiệp

7 đầu tư tác động đến môi trường

Đầu tư phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật

chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hoá Phát triển là xu thế chung của từng

cá nhân và cả loài người trong quá trình sống Giữa môi trường và sự phát triển

có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường

Trong hệ thống kinh tế xã hội, hàng hoá được di chuyển từ sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm, phế thải Các thành phần đó luôn ở trạng thái tương tác với các thành phần tự nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó Khu vực giao nhau giữa hai hệ thống trên là môi trường nhân tạo

là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhưng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên đang là đối tượng của hoạt động phát

Trang 16

triển hoặc gây ra thảm hoạ, thiên tai đối với các hoạt động kinh tế xã hội trong khu vực

8 tăng trưởng và phát triển tác động đến đầu tư

a) tăng trưởng tác động làm tăng quy mô vốn đầu tư

b) tăng trưởng và phát triển kinh tế cải thiện môi trường đầu tư

c) tăng trưởng và phát triển góp phần xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cải tiến công nghệ,tạo điều kiện tiếp nhận đầu tư

Trang 17

Chương II: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH ĐÀ NẴNG GIAI

ĐOẠN 2001-2012

I khái quát tình hình đầu tư tại Đà Nẵng giai đoạn 2001-2012

Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của đà nẵng có ảnh hưởng đến đầu tư rồi nhấn mạnh ở đây có nhiều lợi thế so sánh và môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn

1.1Môi trường tự nhiên

Thành phố Đà Nẵng ở trung độ của đất nước, cách Hà Nội 759km và thành phố Hồ Chí Minh 960km, nằm trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ (Quốc lộ 1A), đường sắt, đường biển và đường hàng không; phía bắc giáp Thừa Thiên-Huế, phía nam và phía tây giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp biển Đông Thành phố nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm là 25,70C, có diện tích tự nhiên 1.256 km2, dân số năm 2008 là 822.300 người, gồm 6 quận và 2 huyện

Đà Nẵng được thiên nhiên ưu ái cho một vị trí địa lý thuận lợi, là cửa ngõ Đông Tây và là nơi đi lại, giao lưu giữa các vùng miền ở đây, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên rừng, tài nguyên biển, tài nguyên đất rất phong phú Nhờ

có những thế mạnh đó mà Đà Nẵng đang ngày càng được các nhà đầu tư chú ý

và đang hướng tới đầu tư các dự án trên nhiều lĩnh vực nhằm khai thác tối đa lợi thế về tự nhiên của thành phố

1.2Môi trường chính trị

Đà Nẵng là một trong năm thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam, được xếp vào đô thị loại I, thỏa mãn các tiêu chí như tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 85% so với tổng số lao động, cơ sở hạ tầng được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh,

thành phố Đà Nẵng do người dân thành phố trực tiếp bầu lên và là cơ quan

Trang 18

quyền lực nhà nước ở thành phố Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng nhiệm

cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở thành phố, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của

Chính phủ Việt Nam và các nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng hiện có sáu quận, hai huyện bao gồm 45 phường và 11 xã Môi trường pháp luật cũng đang từng bước hoàn thiện hơn để các nhà đầu tư có thể thực hiện dễ dàng và hiệu quả các thủ tục hành chính cũng như có thêm niềm tin vào môi trường chính trị lành mạnh, ít biến động

1.3Môi trường kinh tế

Tăng trưởng kinh tế

Những năm vừa qua, nền kinh tế của thành phố không ngừng tăng trưởng.Sau khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Đà Nẵng luôn đạt tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn bình quân chung cả nước Cùng với đà giảm sút của

cả nước, năm 2000 tốc độ tăng trưởng GDP thành phố giảm còn 9.88%, nhưng

đã nhanh chóng phục hồi và tăng cao đạt mốc 13.81% vào năm 2005

Năm 2011, trong khi tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước giảm còn 5.89%,

Đà Nẵng vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng GDP ở 2 con số 13% Điều này phản ánh sự phát triển năng động và bền vững của thành phố trẻ Đà Nẵng, xứng đáng là thành phố phát triển động lực của khu vực miền Trung- Tây Nguyên

Trang 19

Nhìn vào bảng trên cho ta thấy nền kinh tế của thành phố luôn tăng trưởng ở mức tương đối cao so với cả nước và giữ được ở mức ổn định.

Quy mô thị trường

Dân số Đà Nẵng khoảng 1 triệu dân và ở đây thu nhập của người dân khá cao nên thị hiếu và mức tiêu dùng đang còn là một tiềm năng đối với các nhà đầu

tư nếu muốn chiếm lĩnh thị trường hằng năm, ngoài người dân bản xứ còn có một lực lượng dân lao động đến định cư và có cầu tiêu dùng cao Đà Nẵng còn là một xứ sở của du lịch nên lượng khách nước ngoài đến thăm quan, mua sắm tương đối nhiều

Đà Nẵng là một trong những tỉnh thành trong cả nước có các chỉ số phát triển giáo dục cao với hệ thống giáo dục khá hoàn chỉnh, tạo nền tảng thuận lợi và vững chắc cho việc phát triển nguồn nhân lực của thành phố nhằm thực hiện các mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng cuộc

Trang 20

sống Thành phố đã hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở và đang tiến tới thực hiện mục tiêu phổ cập giáo dục phổ thông trung học Thành phố

có 14 trường đại học, cao đẳng và 15 trường trung học chuyên nghiệp với gần 140.000 sinh viên Hệ thống các trường này thực hiện chuyên ngành đào tạo trên hầu hết các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ thông tin, kinh tế, quản trị kinh doanh, ngoại ngữ và sư phạm Đại học Đà Nẵng còn hợp tác với trường đại học của các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến như Pháp, Mỹ, Nhật Bản, Australia, Canada, New Zealand trong việc đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cũng như đưa sinh viên sang học tập tại các nước này

Trung tâm Công nghệ phần mềm Đà Nẵng hiện là một trong những đơn vị sản xuất phần mềm hàng đầu tại Việt Nam và là trung tâm đào tạo công nghệ thông tin hàng đầu của khu vực miền Trung Trong những năm qua, Trung tâm Công nghệ phần mềm Đà Nẵng đã hợp tác chặt chẽ với các công ty của

Ấn Độ (Aptech) và Nhật Bản (AOTS) để đào tạo lập trình viên, kỹ thuật viên

và kỹ sư công nghệ thông tin đạt trình độ quốc tế

Ngoài ra thành phố còn có khoảng 55 trung tâm dạy nghề thường xuyên cung cấp các khóa đào tạo ngắn hạn về tin học, may công nghiệp, cơ khí, điện - điện tử, kỹ thuật xây dựng, vv

Hàng năm các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề tại Đà Nẵng đã đào tạo hàng ngàn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật, trình

độ tay nghề đáp ứng được nhu cầu về nguồn nhân lực không chỉ cho thành phố mà còn cho cả khu vực miền Trung Đây cũng là một lợi thế cạnh tranh của thành phố trong thu hút đầu tư nước ngoài

Cơ sở hạ tầng

Thành phố Đà Nẵng là một đầu mối giao thông quan trọng của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước với hệ thống sân bay quốc tế, cảng biển nước sâu, các tuyến đường bộ, đường sắt Bắc Nam đã phát triển hoàn chỉnh

và thuận lợi

Ngày đăng: 21/03/2016, 13:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w